Quy mô được mở rộng khi có phong trào toàn dõn tự học” Thư gửihội thảo khoa học nghiên cứu sự phát triển tự học, tự đào tạo 6/1/1998Nghị quyết của Trung Ương Đảng lần II đã khẳng định: “
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang cùng nhõn loại trải qua những năm đầu thế kỉ XXI, thế
kỷ với đặc trưng là sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàncầu, thế kỉ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ Nền kinh tế trithức đòi hỏi con người phải có nhiều kiến thức mới, kỹ năng mới và trình độtích cực để làm chủ cuộc sống
Trong bối cảnh chung toàn cầu như vậy, Đại hội IX của Đảng cộngsản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh
tế xã hội 2001-2010 là: “đưa đất nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém pháttriển, nõng cao rừ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhõn dõn, tạonền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại hoá” Để đạt được mục tiêu này, giáo dục và khoa họccông nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết
Sau gần 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thànhquả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hoá các hệ thống giáo dục, nõngcao cơ sở vật chất cho nhà trường…Song vẫn cũn nhiều bất cập cần phải bàntới, đặc biệt là chương trình sách giáo khoa cũn mang nặng tớnh hàn lõm,phương pháp dạy học cũn truyền thống-truyền thụ một chiều, chưa phát huyđược tớnh tích cực học tập của học sinh, “sức ỳ” trong học tập của học sinh làrất lớn Hoạt động tự học của học sinh chưa được quan tõm đúng mức, trongkhi đõy là hoạt động quan trọng quyết định đến chất lượng cũng như hiệu quảcủa quá trình học tập
Hoạt động tự học luôn giữa vai trò quan trọng trong quá trình học tậpcủa mỗi con người, bàn về tự học Tổng bí thư Đỗ Mười: “Tự học tự đào tạo làcon đường phát triển suốt cuộc đời mỗi con người, trong điều kiện kinh tế xãhội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý bỏu của dõntộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nõng cao khi tạo ra được
Trang 2năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành tựgiáo dục Quy mô được mở rộng khi có phong trào toàn dõn tự học” (Thư gửihội thảo khoa học nghiên cứu sự phát triển tự học, tự đào tạo 6/1/1998)
Nghị quyết của Trung Ương Đảng lần II đã khẳng định: “Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, đào tạo thường xuyên và mở rộng khắp trong toàn dân nhất là thanh niên”
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, dạy cho họcsinh cách tự học và kiểm tra đánh giá kết quả tự học của mình là một hướngđổi mới tích cực trong giai đoạn hiện nay, cần được đẩy mạnh thực hiện trongtất cả các lĩnh vực, các môn học của nền giáo dục Đặc biệt, môn Lịch sử ởtrường trung học phổ thông-một môn khoa học xã hội, với những dặc trưngriêng như: mang tính quá khứ, tớnh không lặp lại, tớnh hệ thống….Việc họctập lịch sử là rất cần thiết trong việc đào tạo, rốn luyện đạo đức, bồi dưỡngnhững con người có lý tưởng, con người Xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên thựctrạng dạy và học lịch sử trong những năm gần đõy đã được báo chí, cácphương tiện truyền thông đề cập đến với mức độ đáng báo động: học sinhkhông thích học lịch sử, kết quả kiểm tra hiểu biết lịch sử thật đáng buồn…Thiết nghĩ, việc dạy cho học sinh cách tự học lịch sử là rất quan trọng để nõngcao chất lượng dạy và học môn học này
Việc tự học, tự đào tạo ngày càng có vai trò quan trọng đối với giáodục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhõn nói riêng Việctỡm ra các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học chongười học…là nhu cầu bức thiết và mang ý nghĩa thiết thực đối với lợi íchtrước mắt và lõu dài, nó không chỉ giúp học sinh rốn luyện và nõng cao khảnăng độc lập, sáng tạo trong học tập trong cuộc sống mà cũn góp phần tíchcực thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, giúp Việt Nam rút ngắn
Trang 3khoảng cách, vươn lên ngang tầm với các nước có nền giáo dục tiên tiến trongkhu vực và trên thế giới.
Chớnh vì những lí do trên, em quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu
cho khoá luận tốt nghiệp của mình với tên: “Dạy tự học-Xõy dựng quy trình
kiểm tra đỏnh giá kết quả tự học môn lịch sử ở trường Trung học phổ thông (chương trình lịch sử thế giới lớp 11-Chương trình cơ bản)”
2 Mục đớch nghiên cứu.
Dạy cho học sinh cách tự học và cách tự kiểm tra-đánh giá kết quả củaquá trình tự học
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT (cụthể là chương trình lịch sử thế giới lớp 11)
- Đối tượng nghiên cứu: cách tự học và kiểm tra-đánh giá kết quả tựhọc môn lịch ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
- Mỗi HS đều có một kiểu học tập của mình và có thể xác định kiểu họcnày một cách khoa học
- Việc xác định được kiểu học của HS là cơ sở giúp cho việc dạy HSbiết cách tự học hiệu quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tỡm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở khoa học của việc dạy tự học cho
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Nhúm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp điều tra, quan sát
Trang 47 Cấu trúc của khoá luận.
Khoá luận gồm có: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của khoá luận.
Chương 2: Hiện trạng về việc tự học và cách kiểm tra đánh giá kết quả tự học
môn lịch sử (lớp 11) của học sinh trường THPT Chu Văn An-Hà Nội
Chương 3 Dạy cách tự học và kiểm tra đánh giá kết quả tự học của học sinh
8 Kế hoạch thực hiện khoá luận
STT Nội dung công việc
Thời gian (Tháng/Năm)
Trang 5CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY TỰ HỌC VÀ XÂY DỰNG QUY TRèNH KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TỰ HỌC CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài.
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1.1 Trên Thế giới.
Trong lịch sử giáo dục, tự học là một vấn đề được nhiều nhà nghiêncứu trên thế giới quan tõm Song trong thời kỳ giai đoạn lịch sử nhất định, nóđược đề cập dưới các góc độ và hình thức khác nhau Các tác giả đã làm rừvai trò của hoạt động tự học, tự nghiên cứu, khám phá của bản thõn người tựhọc, nó là cơ sở cho mọi sự thành công trong học tập
Khổng Tử (551-479 TCN) rất quan tõm đến kích thích sự suy nghĩ, sángtạo của học trò, cách dạy của ông gợi mở để học trò tỡm ra chõn lý Theo ông,Thầy giáo chỉ tỡm ra cho học trò cái mấu chốt nhất, cũn mọi vấn đề khác họctrò phải từ đó mà tỡm ra, người thầy giáo không được làm thay học trò Ông
đã từng nói với học trò mình rằng: “Không giận vì muốn biết thì không gợi
mở cho, không bực vì không rừ được thì thầy vẽ cho, vật có 4 góc bảo chobiết 1 góc, mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa”
Socrate (469-390 TCN), nêu khẩu hiệu: “Anh hóy tự biết lấy anh” qua
đó ông muốn học trò phát hiện ra “chõn lý” bằng cách đặt cõu hỏi để dần dầntỡm ra kết luận
J.A.Comenxki (1592-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, ngườiđặt nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, nhà giáo dục lỗi lạc củaTiệp Khắc và nhõn loại dã nêu ra các nguyên tắc, phương pháp giảng dạytrong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy áp đặt giáo điều làm chohọc sinh có thói quen không tự giác trong học tập
Trang 6Thế kỉ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng như J.J.Rousseau(1712-1778), Pestalogie (1746-1827), Usinxki (1824-1873)…đều có chung quanđiểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt kiến thức bằng cách tự tìm tòi và sáng tạo.
Những năm gần đõy trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng củacác tác giả đi trước, các nước phương Tõy nổi lên cuộc cách mạng để tỡmphương pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “lấy người học làm trung tõm”
để phát huy năng lực nội sinh của con người Đại diện cho tư tưởng này làJohn Dewey (1859-1952) Ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh
nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”, một loạt các phương pháp dạy học theo
tư tưởng quan điểm này đã được đưa vào thực nghiệm: Phương pháp tích cực,phương pháp hợp tác, phương pháp cá thể hoá Nói chung, đõy là các phươngpháp người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc
mà còn từ hoạt động tự học, tự tỡm tòi kiến thức…Giáo viên chỉ là ngườitrọng tài, đạo diễn thiết kế, tổ chức giúp cho học sinh biết cách làm, cáchhọc
T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong nhữngnăm 30 của thế kỉ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quátrình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh, giáo dụcxét như là quá trình hướng dẫn học sinh tự học”
RajaRoy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm ‘Giáo dục cho thế
kỉ XXI, những triển vọng của chõu Á-Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm
về quá trình “Nhận biết dạy-học” và ông chủ trương rằng người học phải làngười tham gia tích cực vào quá trình: Nhận biết dạy-học
Vấn đề tự học của học sinh đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch
sử giáo dục và nó vẫn cũn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáodục hiện đại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết địnhmọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chấtlượng của quá trình đào tạo giáo dục
1.1.1.2 Ở Việt Nam.
Trang 7Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định ‘Cách học tập…cách học làmcốt”, Người cũn nhấn mạnh: “Phải nõng cao và hướng dẫn việc tự học” vàNgười khuyên “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa, phải biết
và rất nhiều luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục trong những năm gần đõy đềcập đến nhiều khớa cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổchức hoạt động tự học với mục đích nõng cao hiệu quả tự học của học sinh, từ
đó nõng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Mặc dù có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu tự học khái quát ở trên,Song hoạt động dạy tự học cũng như cách kiểm tra-đánh giá kết quả tự họccủa học sinh vẫn cũn bỏ ngỏ, cần nghiên cứu
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.2.1 Hoạt động dạy-học
Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh chiếm lĩnh kháiniệm khoa học, bằng cách đó phát triển và hình thành nhõn cách Dạy có haichức năng thường xuyên tương tác với nhau, thõm nhập vào nhau, sinh thành
ra nhau, đó là hoạt động truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học tập
Học là lao động mà người tiến hành nhằm mục đích chiếm lĩnh một sốkiến thức và kỹ năng mà loài người chưa biết Học cũn được hiểu theo nghĩarộng: là sự tổng hợp của người học theo nghĩa trên và sự cố gắng rốn luyệnnhõn cách, xét trong mối quan hệ tác động qua lại giữa một bên là kiến thức,
kỹ năng một bên là nhõn cách người học
Trang 8Dạy và học có những mục đích cụ thể khác nhau Nếu học nhằm vàoviệc chiếm lĩnh khái niệm thì dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập.
Quá trình Dạy-Học là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản:khái niệm khoa học, dạy và học Khái niệm khoa học là nội dung của một bàihọc và là đối tượng của sự lĩnh hội bởi học sinh, nó là 1 trong 2 yếu tố quantrọng khẳng định logic của bản thõn quá trình Dạy-Học về mặt khoa học.Hoạt động dạy gồm 2 chức năng truyền đạt và điều khiển, luôn tương tác
và thống nhất với nhau Dạy phải xuất phát từ logic khoa học của khái niệm
và logic sư phạm của tõm lý học lĩnh hội Hoạt động học là yếu tố khách quanthứ hai qui định logic của quá trình dạy học về mặt lý luận dạy học, nghĩa là
độ trí dục và quy luật lĩnh hội và tự điều khiển
Khái niệm khoa học
Cấu trúc của quá trình dạy học
Quá trình Dạy-Học là một hệ thống toàn vẹn, các thành tố của nó luônluôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thõm nhập vào nhau, quiđịnh lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội kiến thức và tự điều khiển trong học
Trang 91.1.2.2 Hoạt động dạy - tự học
* Khái niệm tự học
“Tự học” ngay trong nội hàm của khái niệm này cũng cho ta thấy tựhọc đề cập đến tớnh chủ động của chủ thể trong việc học, đó là việc ngườihọc phải tự mình vận động, tỡm tòi lĩnh hội kiến thức một cách chủ động,hiệu quả Đó là quá trình mà bản thõn người học phải tự giác, tích cực chiếmlĩnh tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào cuộc sốngmột cách linh hoạt, hiệu quả Đề cập đến khái niệm “Tự học” có rất nhiềuquan điểm, định nghĩa khác nhau, cụ thể như:
Theo Giáo sư Vũ Văn Tảo: “ Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp
hoặc ngoài trường lớp, có thầy hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải là sự tự học…Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mỡnh” Tự học là nội lực của người học, nhõn tố quyết định sự phát
triển bản thõn người học Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từchỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề
và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếmlĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của bản thõn người học Nhờ có tựhọc, người học mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụngnhững tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống
“ Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ
năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo Đõy là phương thức học tập cơ bản của giáo dục không chính quy, giáo dục thường xuyên còn là bộ phận không thể tách dời của quá trình học tập có hệ thống trong các trường Nhằm đào sâu,
mở rộng để nắm vững kiến thức cơ bản của học sinh” (1)
(1) Từ điển giáo dục, NXB Bách Khoa HN-tr 126
Trang 10Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cũng đưa ra nhiều khái niệm về tự học,
như cuốn “Học và cách dạy học” Tác giả cho rằng: “Tự học là một hình thức
hoạt động của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trỡnh sỏch giỏo khoa” (2) Trong cuốn “Luận bàn về kinh nghiệm
tự học”, Giáo sư cho rằng; “Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cựng cỏc phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Việc
tự học được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh tri thức đú” (3)
Theo GS-TS Phạm Viết Vượng thì: Tự học là hình thức học sinh học
ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không
có mặt giáo viên Tự học được tiến hành tại gia định hay thư viện, cách học theo phương pháp tự nghiên cứu”
GS Phan Ngọc Liên lại có cách định nghĩa về tự học: “Tự học của HS
là phải nắm vững kiến thức một cách chớnh xác, vững chắc được suy nghĩ vànhận thức sõu sắc và có thể võn dụng một cách thành thạo Việc tự học phảiđược tiến hành với sự hứng thú say mê, ý thức trách nhiệm tinh thần, lao độngcần cù, trong việc tự học quan trong nhất đối với HS không chỉ nắm vữngkiến thức, hiểu sõu kiến thức mà cũn hình thành ở các em tư cách, phẩm chấtcủa người lao động kiên nhẫn, tự tin, sáng tạo
Các định nghĩa trên đều đề cập đến tính chủ động, tự vận động cácnăng lực mà mỡnh cú vào trong việc học Nhưng mỗi định nghĩa cựng cú đềcập sâu về một nội dung nào đó như: hình thức, phương tiện hay nhằm đếnmục tiêu và hiệu quả mà người học tiến tới Tổng hợp những định nghĩa trên,
xin đưa ra định nghĩa về tự học: Tự học là tự động não, huy động tất cả mọi
năng lực trí óc, tinh thần, tình cảm, sức khoẻ và sử dụng tối đa những điều
(2) Học và cách dạy học -tr 111
(3) Luận bàn về kinh nghiệm tự học- tr 59-60
Trang 11kiện khách quan có thể có vào hỗ trợ cho việc chiếm lĩnh tri thức Việc tự học của mỗi chủ thể phải được tiến hành một cách say mê, hứng thú với tinh thần trách nhiệm cao nhanh chóng hiệu quả không chỉ nhằm đạt đến chuẩn mực chính xác về kiến thức mà còn hình thành phẩm chất lao động tốt đẹp.
* Các hình thức tự học
Hoạt động tự học diễn ra dưới ba hình thức cơ bản sau:
Hình thức 1: Có sách, tài liệu tham khảo người học tự tỡm ra kiến thức
để thoả món nhu cầu nõng cao, mở rộng hiểu biết của riêng minh, bổ sung,
mở rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường, đõy là mụcđích cao
Hình thức 2: Có sách, có tài liệu có thêm ông thầy ở xa hướng dẫn tự
học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện viễn thông khác Hướng dẫn tựhọc chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, đó là tự học
có hướng dẫn
Hình thức 3: Có sách và giáp mặt thầy một số tiết trong ngày, trong
tuần Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của thầy
và các phương tiện kĩ thuật trên lớp Đõy là học giáp mặt trên lớp và về nhà
tự học có hướng dẫn
1.1.2.3 Hoạt động dạy- tự học.
Chúng ta thường đề cập đến chu trình dạy-tự học là một hệ thống toànvẹn gồm 3 thành tố cơ bản: Thầy (dạy), Trò (học) và tri thức Ba thành tố cơbản này luôn luôn tương tác với nhau, thõm nhập vào nhau theo những quyluật riêng nhằm kết hợp chương trình tự học làm cho dạy và tự học cộnghưởng với nhau tạo ra chất lượng, hiệu quả cao
Chu trình Dạy-tự học bao gồm chu trình tự học của trò dưới tác độngcủa chu trình dạy của thầy nhằm biến tri thức kho tàng văn hoá nhõn loạithành học vấn riêng của bản thõn người học
Trang 12Chu trình tự học của học trò là chu trình gồm có 3 thời (1)
Thời 1 H1: Tự nghiên cứu
(1)Nguyễn Ngọc lan Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng tự học của sinh
viên trường Đại học Công Đoàn Luận văn thạc sĩ
Tự học
H221
Trang 13Chu trình dạy (1)
D1: Hướng dẫn → H1 Tự nghiên cứu
D2: Tổ chức → H2 Thực hiện
D3: Trong tài cố vấn, kiểm tra đỏnh giá → H3: Tự kiểm tra đỏnh giá, tự điều chỉnh
Theo lý thuyết tương tác sư phạm: Thầy-Trò-Tri thức, tớnh chất trithức của người học chiếm lĩnh được qua từng thời kì sau:
Thời 1 - KT1: Tri thức mang tớnh cá nhõn
Thời 2 - KT2: Tri thức mang tớnh chất xã hội (xã hội hoá lớp học)Thời 3 - KT3: Tri thức mang tớnh khách quan khoa học
Như vậy, tự học-trò học, cái cốt lừi là tự học, học cách học, cách tưduy Thầy dạy cốt lừi là dạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của Thầy làngoại lực đối với sự phát triển của người học Theo quy luật của sự việc ngoạilực dù có quan trọng đến đõu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhõn tố hỗ trợ, thúcđẩy, tạo điều kiện Nội lực mới là nhõn tố quyết định phát triển bản thõn sựvật Sự vật đó đạt trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng với nhau
Hoạt động tự học có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người vàbằng mọi cách khác nhau
1.1.2.4 Quy trình kiểm tra-đỏnh giá kết quả học tập của học sinh
(1)Nguyễn Ngọc lan Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng tự học của sinh viên trường Đại
học Công Đoàn Luận văn thạc sĩ
Trang 14Khái niệm kiểm tra
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học đã đưa ra khái niệm kiểmtra là: “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” Kiểm tra cũng có thểhiểu là thu thập các dữ liệu, thông tin về một lĩnh vực nào đó làm cớ sở choviệc đánh giá Theo GS Phạm Viết Vượng: Kiểm tra là quá trình xem xét sựphù hợp của sản phẩm với các tiêu chí đã định Kiểm tra trong dạy học là sựxem xét một cách thường xuyên hoặc không thường xuyên trong quá trìnhhọc tập của HS theo các tiêu chí đã đề được định sẵn
Kiểm tra là khõu quan trọng nhất của quá trình dạy học, là quá trìnhxem xét thực tiễn, nhận xét phán đoán thực trạng nhằm khuyến khích cái tốt,phát hiện những lệch lạc trong quá trình nhận thức của học sinh cũng nhưtrong quá trình dạy của GV điều chỉnh hoạt động dạy và học sao cho phù hợpvới mục tiêu đề ra
Khái niệm đỏnh giá
Đỏnh giá là một khái niệm cơ bản của khoa học chuẩn đoán sư phạm.Thuật ngữ đánh giá trong tiếng anh có:
+ Assessment: Sự đánh giá, sự ước định, (thuật ngữ này thường đượcdùng khi nói về lý thuyết chung của đánh giá) Ví dụ: Đánh giá là gì?
+ Evaluation: Sự định giá, sự ước lượng, định giá trị (thuật ngữ nàythường được dùng khi đánh giá một chương trình, một hệ thống hay một vấn
đề cụ thể)
+ Estimate: Sự đánh giá, sự ước lượng, ước tớnh
+ Appreciate: Đỏnh giá đúng, đánh giá cao,hiểu rừ giá trị
Trong các thuật ngữ trên các thuật ngữ hay được sử dụng trong giáodục là Assessment và Evaluation
Như vậy có thể đưa ra khái niệm đánh giá như sau: đánh giá là quátrình phán đoán, đo lường sự vật và thuộc tớnh của nó dựa trên các quan điểm
về giá trị, tức phán đoán các tớnh chất của con người và sự vật như: Tốt, xấu,thật giả Đánh giá đồng nghĩa với chúng ta đo lường được giá trị của sự vật
Trang 15Trong giáo dục, Kiểm tra-đánh giá là thu thập các thông tin về kết quảhọc tập của người học, đối chiếu với mục tiêu của bài học, môn học để chođiểm và xếp hạng người học Kết quả kiểm tra-đánh giá thành tích của ngườihọc phải chớnh xác, thể hiện được năng lực của họ đồng thời cũn phải phảnánh được chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như nội dung kiến thứcgiảng dạy.
Trong giáo dục nói chung, đánh giá giáo dục là quá trình thu thậpthông tin và dữ liệu một cách có hệ thống nhằm mục đích giúp người hoạchđịnh chớnh sách lựa chọn một phương án khả thi để tiến hành công việc củamình Trong nhà trường, đánh giá là xác định giá trị khách quan mà HS đạtđược (học tập, hạnh kiểm ) bằng cách so sánh với một tiêu chuẩn sẵn có (cácmục tiêu môn học, các tiêu chuẩn đạo đức, phẩm chất )
Trong dạy học, đánh giá kết quả học tập là xác định giá trị khách quankết quả học tập của HS bằng cách so sánh với các riêu chuẩn đã (có thể làmục tiêu môn học, hay mục tiêu của đơn vị kiến thức cần đạt, thường diễn đạtbằng thang điểm) và gán cho nó một điểm hoặc một lời nhận xét
Từ số đo và lượng giá, chúng ta tiến hành đánh giá theo chuẩn, là sosánh số đo của mỗi cá nhõn trong tổng hợp chung của lớp
Lượng giá theo tiêu chí: Đõy là đối chiếu số đo của một Học sinh vớinhững tiêu chí đề ra
+ Quy trình kiểm tra-đỏnh giá:
Trang 16Theo từ điển tiếng việt thì quy trình là trình tự phải tuõn theo để tiếnhành 1 công việc nào đó Quy trình kiểm tra đánh giá là hệ thông các biệnpháp, hình thức kiểm tra đánh giá được thực hiện một cách liờn tục, đồng bộ,
hỗ trợ nhau để đánh giá kết quả học tập của học sinh đối chiếu với hệ mụctiêu môn học (và các thông tin cần thiết) Hay nói một cách khác, quy trìnhkiểm tra-đánh giá chớnh là các bước, các hình thức kiểm tra được thực hiện 1cách liên tục, kế thừa hỗ trợ nhau để có thể kiểm tra kết quả học tập của họcsinh đối chiếu với toàn bộ mục tiêu
Do số mục tiêu lớn và đa dạng nên cần có một quy trình kiểm tra-đánhgiá liên tục bao gồm: hệ thống kiểm tra đánh giá thường xuyên, hệ thốngkiểm tra đánh giá định kì (kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, giữa kì )
Quy trình kiểm tra đánh giá thường có 5 bước cơ bản sau:
1 Xác định mục đích
2 Xõy dựng mục tiêu (chuẩn)
3 Xõy dựng bộ công cụ (bộ cõu hỏi, tets kiểm tra)
4 Tổ chức thi (để thu thập thông tin)
5 Xử lý kết quả thu được
1.2 Cơ sở khoa học của việc dạy tự học và kiểm tra đánh giá kết quả tự học của học sinh
1.2.1 Lý thuyết về phong cách học tập
Để đạt hiệu quả trong việc dạy học hay dạy tự học, trước tiên người
GV phải hiểu được đối tượng người học của mình như thế nào, hay nóicách khác phải xác định phong cách học tập của từng học sinh Việc xácđịnh phong cách học tập của HS không phải là điều ngẫu nhiên cảm tính
mà dựa trên một cơ sở lý thuyết khoa học- lý thuyết các kiểu học (phongcách học tập)
1.2.1.1 Nền tảng lý thuyết về phong cách học tập
“Chúng ta thừa nhận mỗi người có một phương pháp và một kỹ nănghọc khác nhau Trong cả cộng đồng thường có sự xáo trộn về phương pháp
Trang 17học: một số người có thể nhìn thấy một phương pháp học phù hợp với mình,nhiều người khác lại sử dụng phương pháp khác nhau trong những hoàn cảnhkhác nhau”(1) Chớnh điều đó tạo nên hiệu quả học tập cho một số HS vàngược lại Lý thuyết về phong cách học tập có nguồn gốc chớnh là từ hai lýthuyết học tập khác biệt: lý thuyết về kiểu nhận thức và lý thuyết về tư duynóo trái và tư duy nóo phải.
- Lý thuyết về nhận thức chỉ ra rằng mỗi cá nhõn tiếp nhận thông tinmột cách khác nhau dựa trên các đặc điểm vốn có hay học được tức là từnhững tiền đề về những kinh nghiệm đã trải qua, chúng ta xõy dựng nên trithức của mình về thế giới mà ta đang sống Các nghiên cứu đã chứng minh sự
đa dạng của lĩnh vực nhận thức: tư duy độc lập/phụ thuộc, phõn tích/tổng hợp,đồng thời/kế tiếp
- Lý thuyết về tư duy nóo trái và tư duy nóo phải; lý thuyết này chorằng bộ nóo có hai phần khác nhau điều khiển hai cách thức tư duy khác nhau,mỗi phần có chức năng trội với phần tư duy cũn lại
Theo tác giả JeanMare Denome và Madeleine Rog đã chỉ ra rằng: chức
năng không đồng nhất thuộc về bán cầu não phải, nó thực tại hoá một tiềm năng, các yếu tố thay đổi, trong khi chức năng đồng nhất thuộc về bán cầu não trái mà phạm vi hoạt động của nó tập trung vào các yếu tố ổn định (2) Chớnh bán cầu phải nhận và lưu giữ tất cả các tri giác, nhớ các kỉ niệm, cáckinh nghiệm của cuộc sống Bán cầu trái cố định các thực tại trong cái màchúng có không thay đổi và nhớ các tri giác, các kỉ niệm (dấu ấn), các kinhnghiệm dưới hình thức khái niệm, ký hiệu và không giác quan của chúng Sựkhác nhau giữa nóo trái và nóo phải được thể hiện rừ qua bảng sau:
Mang tính logic Mang tính ngẫu nhiên
Có sự liên hệ Mang tính trực quan
(1) Learning- tr 1
(2) Sư phạm tương tác-tr55
Trang 18Khách quan Chủ quan
Mang tính bộ phận Mang tính tổng thể
Cũng về vấn đề này, nhà khoa học người Nga AlexanderLuria (1973)
và nhà khoa học người Mĩ: RogerSperry (1968) khẳng định thêm: bán cầunóo trái có liên quan đến khả năng ngôn ngữ và dãy số Trong khi đó bán cầunóo phải liên quan đến xúc giác và không gian
- Giữa các dạng nhận thức và đặc điểm của HS đều chịu ảnh hưởngcủa môi trường nhất định Như trong yên tĩnh, môi trường ánh sáng tốt, chỗngồi đúng tư thế có một ít ăn nhẹ thì quá trình phõn tích nóo trái đạt hiệu quảcao Tương tự như vậy, các HS có quá trình nóo phải chỉ có thể đạt điểm caokhi tập trung được trong một thời gian tương đối ngắn và học nhanh hơntrong điều kiện ánh sáng nhẹ, có nghỉ ngơi, không cần chỗ ngồi đúng tư thế,
ăn nhẹ
Nhiều cá nhõn cú sự nổi trội về một kiểu tư duy nhất định Tuynhiên, một số cá nhân lại sử dụng cả tổng thể bộ não và có sự cân bằng trongviệc sử dụng cả 2 bán cầu Nói chung, các trường học thường ưu tiên đối vớiviệc sử dụng mô hình tư duy của bán cầu não trái, trong khi làm giảm hoạtđộng của bán cầu não phải Các môn học trong nhà trường sử dụng bán cầunão trái thường tập trung vào tư duy logic, phân tích và sự chính xác Cácmôn học sử dụng bán cầu não phải thường tập trung vào cỏc mụn mỹ học,cảm nhận và sáng tạo
Giữa lý thuyết về kiểu nhận thức và lý thuyết về tư duy nóo trái và tưduy nóo phải thì lý thuyết về bán cầu nóo là một vấn đề mới, cũn tiếp tục gõytranh luận Dù sao, có điều rừ ràng là con người bắt đầu tập trung, xử lý vàghi nhớ thông tin dưới các điều kiện môi trường học tập và các kiểu học khácnhau Vì vậy, mô hình kiểu học được dựa trên các cơ sở lý thuyết sau:
- Hầu hết các cá nhõn đều có thể học
Trang 19- Môi trường giáo dục, nguồn động lực, cách học đều phù hợp vớiđiểm mạnh của các kiểu học khác nhau của mỗi người
- Mọi người đều có điểm mạnh nhưng mỗi người lại có nhiều điểmmạnh khác nhau
- Hoạt động giáo dục của cá nhõn có tồn tại và có thể xác định mộtcách tin cậy
- Đưa ra môi trường giáo dục, nguồn động lực và cách học phù hợp sẽgiúp HS đạt được hiệu quả học tập cao hơn so với các phương phápkhông thích hợp
- Các GV có thể học và sử dụng các kiểu học tập để giúp cho việcgiảng dạy của mình đạt hiệu quả cao hơn, nhất là giúp HS trong việc
1.2.1.2 Khái niệm phong cách học tập (kiểu học)
Hoạt động học tập là hoạt động trí óc điển hình, do vậy nó cũng chịu
sự chi phối của thói quen hoạt động động trí óc và thói quen về các kiểu hoạtđộng trí óc Ở những chủ thể khác nhau, với những thói quen hoạt động vàkiểu hoạt động trí óc khác nhau sẽ có những kiểu học khác nhau Nhiều họcgiả trên thế giới đã có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểu học
* Định nghĩa của Litzinger và Oif
Litzinger và Oif mô tả kiểu học là “các cách thức khác nhau để conngười tư duy và học tập” Mỗi người đều phát triển các hoạt động và phươngpháp phù hợp với việc học Để hiểu rừ hơn quá trình học tập, họ chia nhỏthành các quá trình:
- Nhận thức: Bằng cách nào một người tiếp thu được kiến thức
Trang 20- Quan niệm: Bằng cách nào một người xử lý được thông tin Đó là quátrình họ luôn tỡm ra các mối liên hệ giữa những sự việc tách biệt Mỗi sự kiệncon người luôn có vô số các ý tưởng.
- Yếu tố ảnh hưởng: động cơ, hứng thú của mỗi người tạo nên các kiểuhọc Thêm vào đó các hoạt động tình cảm sẽ góp phần định nghĩa được kiểuhọc của họ rừ hơn
* Định nghĩa của Litzinger và Oif mới chỉ mô tả được bề ngoài củakiểu học tập Ho chưa thể hiện được một cách cụ thể các kiểu học được biểuhiện như thế nào, đặc điểm ra sao Chớnh vì vậy định nghĩa này cần phảiđược tiến hành nghiên cứu bổ sung thêm về kiểu học
Một số học giả khác cho thấy nhiều giáo viên đã không nhận ra mộtđiều là các học sinh rất khác nhau trong cách hiểu và xử lý thông tin Sự khácbiệt này biểu hiện trong việc học tập được gọi là kiểu học Các nhà nghiêncứu xếp thành những loại sau:
- Nhõn cách: các đặc điểm cơ bản hay khuynh hướng cá nhõn, ví dụ:khuynh hướng nội/ hướng ngoại trong khi đi học
- Xử lý thông tin: cách học sinh có xu hướng phản ứng và hoạt độngtrong lớp học, ví dụ: khi giáo viên đưa ra các kinh nghiệm cụthể/khái niệm trừu tượng thì học sinh sẽ thấy dễ hiểu hay khó hiểu
- Hoạt động giảng dạy: học sinh thích phương pháp giảng dạy nào củagiáo viên, ví dụ: phương pháp thuyết trình/thảo luận nhúm
Nhìn chung các nhà khoa học này mới chỉ được ra các yếu tố chungảnh hưởng đến kiểu học mà chưa xác định được cụ thể đó là những yếu tố vàkiểu học gồm những thành tố ra sao Do đó theo quan điểm của tôi cần có sựnghiên cứu sõu hơn nữa về kiểu học
* Định nghĩa của Dun và Dunn
Theo Dun và Dunn (1993) “Kiểu học là cách học sinh bắt đầu tậptrung, xử lý, tiếp thu và ghi nhớ kiến thức khó và mới”
Trang 21Restak (1979), Thies (1979,1999/2000) và Dunn (1992,1993) cho thấykiểu học bao gồm cả đặc điểm phát triển và sinh học tạo thành phương pháp,môi trường học tập, có ảnh hưởng đến một số người và không ảnh hưởng đếnmột số khác Hầu hết mọi người đều có một kiểu học tập xác định những cáckiểu này khác nhau một cách đáng kể về kết quả học tập, giới tớnh, tuổi tác,nền văn hoá, thói quen hoạt động trí óc của mỗi người.
Trong các định nghĩa trên có thể nói định nghĩa của Dun và Dunn đầy
đủ và khái quát hơn cả, dựa vào đó chúng tôi đưa ra định nghĩa về kiểu học:
“Kiểu học là cách thức HS dử dụng các cách tư duy khác nhau để tập trung,
xử lý, tiếp thu, ghi nhớ kiến thức khó và mới tuỳ thuộc vào thói quen hoạtđông trí óc, môi trường, động cơ học tập của mỗi người”
1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểu học
Kiểu học chịu sự tác động của các nhõn tố sau:
- Các phản ứng đối với môi trường học tập xung quanh-õm thanh/tĩnhlặng, sáng vừa đủ/ánh sáng yếu, nhiệt độ ấm/mát mẻ, ngồi đúng tư thế/khôngcần ngồi đúng tư thế ngồi học Có những HS thấy rằng trong khi học đượcnghe những giai điệu õm thanh bài hát quen thuộc sẽ dễ dàng tiếp thu hơn.Hoặc có những em phải ngồi học đúng tư thế, trong phòng riêng và hoàn toànyên tĩnh Lại có những HS muốn vừa học bài vừa đi lại như đang diễn thuyếtcho người khác nghe Có HS phải ngồi dưới gốc cõy nơi thoáng mát như côngviên mới học được Các phản ứng của cá nhõn đối với môi trường học tậpxung quanh có ảnh hưởng đến kiểu học, kết hợp với một số yếu tố khác dễquyết định xem đó là người học thuộc kiểu học nào: õm thanh, ngôn ngữ, vậnđộng, logic, hình ảnh
- Nhõn tố thứ hai ảnh hưởng đến kiểu học là động cơ học tập, tớnhcách cá nhõn, sự kiên trì, tinh thần trách nhiệm Những HS nào có động cơhọc tập vì chớnh mình (động cơ bên trong) có sự kiên trì trong khi học, cótinh thần trách nhiệm cao đều có kiểu học khác biệt so với người khác
Trang 22Một số yếu tố khác cũng tác động tới kiểu học đó là đặc điểm sinh các điểm mạnh của tri giác (nghe, nhìn, vận động) và trí tuệ Mỗi người cóloại trí tuệ tương đối độc lập (Trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ õm nhạc, trí tuệ logic,trí tuệ thị giác không gian, trí tuệ vận động, trí tuệ liên cá nhõn và trí tuệ nộitõm Chớnh điểm mạnh của mỗi cá nhõn về từng loại trí tuệ sẽ quy định vềcác kiểu học Một người có kiểu học hình ảnh sẽ thiên về kiểu học hình ảnh.Một người có kiểu học ngôn ngữ sẽ thiên về kiểu học ngôn ngữ chớnh đặcđiểm hoạt động trí óc là nhõn tố cơ bản nhất tác động đến kiểu học của mỗingười
lí-Các nhõn tố ảnh hưởng đến kiểu học không phải tác động một cách táchbiệt mà có sự tổng hợp Như vậy, kiểu học của mỗi người là chiều hướngriêng biệt cá nhõn và chịu ảnh hưởng của nhõn tố môi trường học tập, điềukiện học tập, đặc điểm sinh lý, thói quen hoạt động trí óc, quá trình nóo phõntích tổng hợp
1.2.1.4 Phân loại kiểu học
Từ cuối thế kỉ XIX người ta đã khám phá ra rằng các chức năng củatrí tuệ nằm ở các vùng khác nhau của bộ nóo Các nhà khoa học đã nỗ lực chitiết hoá các thành tố của trí tuệ và khẳng định có nhiều dạng khác nhau tiêubiểu là ý kiến của GS Garedner cho rằng con người có 7 loại trí thông minh
khác nhau:.
Bằng lời nói-trí thông minh ngôn ngữ
Tính logic- trí thông minh toán học
Thị giác-thuộc không gian
Cơ thể-thuộc về vận động
Âm nhạc- thuộc về nhịp điệu
Giữa cá nhõn với nhau – Là khả năng giao tiếp và quan hệ giữangười với người
Trang 23 Trong một con người- thuộc về tõm trạng, trạng thái bên trong
Có rất nhiều cách phõn chia kiểu học khác nhau thậm chí có ngườicho rằng con người ta có hơn 400 kiểu học Tuy nhiên, xin đưa ra cáchphõn chia kiểu học khá phổ biến hiện nay, đó là cách phõn chia kiểu học rathành 7 loại
1.2.2 Mối quan hệ giữa các kiểu học và tự học
Xác định các kiểu học (phong cách học) có ý nghĩa cực kỳ quan trong
trong quá trình dạy-học HS sẽ vận dụng được điểm mạnh trong kiểu học của
mình, từ đó tỡm ra phương pháp học phù hợp nhằm nõng cao hiệu quả tự họccủa bản thõn Đối với mỗi HS không chỉ có một kiểu học duy nhất mà là sựtổng hợp của nhiều kiểu học nhất định, mỗi HS có cách học hiệu quả là ngườibiết vận dụng thế mạnh của tất cả các kiểu học trong quá trình học của mình
Xác định kiểu học của HS sẽ giúp giáo viên định hướng cho HS cáccách tự học phù hợp với mỗi kiểu học Việc xác định kiểu học của HS nêntiến hành ngay đầu năm học hoặc đầu cấp học để có thể nắm bắt được cáckiểu học để có kế hoạch giúp đỡ tư vấn phương pháp tự học hiệu quả nhất chotừng HS Đồng thời tỡm ra các cách kiểm tra đánh giá phù hợp với các kiểuhọc đó nhằm nõng cao hiệu quả dạy tự học Có thể thể hiện vai trò của người
GV trong việc xác định kiểu học và hướng dẫn tự học quan sơ đồ cụ thể sau:
GV GVXác định kiểu
học
Trang 24Có nhiều kiểu học khác nhau, nhưng phổ biến nhất là cách phõnchia kiểu học thành 7 kiểu cơ bản Dưới đõy là sơ đồ mô hình hoá các kiểuhọc thường gặp ở HS phổ thông
Những người có kiểu học logic thường thích là việc thí nghiệm, làm
việc với những con số và tìm hiểu mối quan hệ giữa các con số Họ có khảnăng sắp xếp lại các phần theo thứ tự, từ đó tạo ra sự kết nối giữa các thông
Trang 25tin, suy nghĩ những khái niệm trỡu tượng để tỡm ra mối quan hệ giữa cái nàyvới cái kia trình bày những chuỗi các bộ phận, giải quyết tốt các vấn đề phứctạp Những người này có khả năng trở thành những nhà hàng hải, điêu khắc,
kỹ sư lập trình máy tớnh, kế toán, nhà toán học
Những người có kiểu học logic thường thích đọc, thích viết và thích
kể chuyện Họ thường có thói quen đọc bất kỳ tài liệu nào mà họ bắt gặp, cókhả năng gõy hài hước hiểu ý nghĩa và cú pháp của từ, thuyết phục ngườikhác quan điểm mình trong cả khi viết lẫn nói Bạn có thể tỡm ra nghĩa củanhiều từ từ đó tỡm ra nhiều nghĩa mới khác Xu hướng nghề nghiệp củanhững người này là: có thể trở thành nhà văn, nhà thơ, nhà báo, GV, chớnh trịgia, nhà phiên dịch
Kiểu học hình ảnh: Đõy là những người thích học theo kiểu hình ảnh,
sơ đồ Họ thích vẽ và xõy dựng các đồ vật, thích xem tranh và rất mơ mộng.Thích sử dụng hình ảnh tranh màu và vẽ sơ dồ để tiếp cận với thông tin vàgiao tiếp với người khác Bạn có thể dễ dàng tưởng tượng những mục đích, kếhoạch hiệu quả trong mắt bạn Bạn có một giác quan tốt về không gian, nógiúp bạn tri giác trực tiếp bạn có thể tỡm thấy con đường của mình xungquanh việc sử dụng bản đồ và hiếm khi bạn đánh mất nó như bạn đi ra ngoàimột cái thang máy tự nhiên bạn biết đường nào để quay lại Những người cókiểu học này có thể trở thành nhà điêu khắc, nghệ sỹ mỹ thuật, nhà phát minh,kiến trúc sư thiết kế nội thất, kỹ sư cơ khí, kỹ sư xõy dựng
Kiểu học âm thanh: Những người có kiểu học này thường có sở thích
nghe nhạc hát, chơi các đạo cụ õm nhạc, huýt sáo Họ có khả năng nhớ rất tốtcác giai điệu nhạc, có cảm giác tốt về nhịp điệu lên xuống của các õm thanh.Đối với bạn, õm nhạc tạo nên một cảm xúc mạnh mẽ, thường tỡm thấy trongcác bài hát có giai điệu nhẹ nhàng hoặc một bài hát Pop trong đầu mà khôngcần nhắc lại
Kiểu học hoạt động: Những người có kiểu học này thích đi lại vận
động cơ thể, tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ cơ thể Họ có khả năng rất tốt trong
Trang 26các hoạt động thể thao đồng thời là những người rất khéo léo trong các hoạtđộng chân tay Họ thích đề ra kết quả, ý kiến và những khó khăn trong khiluyện tập, thích tản bộ nếu như có vài thứ gì đó vây quanh mình hơn là ngồimột chỗ ở nhà Bạn thớch dựng những cử động bằng tay và ngôn ngữ cơ thể đểgiao tiếp (nháy mắt, lắc đầu ) Khi đang học một chủ đề bạn thích nhảy vàoviệc thể hiện ngôn ngữ của cơ thể nếu có thể ví dụ: bạn tháo một động cơ sau
đó lắp lại như cũ hơn là nhìn vào bản đồ để làm việc Những người có kiểu họcnày thích hợp với các nghề như: vận động viên, giáo viên thể chất, diễn viênmúa, diễn viên điện ảnh, thợ thủ công lành nghề
Kiểu học nhóm: Nếu bạn có kiểu học này tức là bạn có khả năng liên
kết và hiểu người khác Bạn có khả năng trong việc nhận ra cách nghĩ và cảmnhận của người khác, có vốn hiểu biết rộng và có khả năng lôi kéo ngườikhác Bạn thích nghe những lời cố vấn hoặc những lời khuyên của ngườikhác, thích học nhúm trong lớp, thích ở xung quanh lớp và thích nói chuyệnvới người khác.Nghề nghiệp phù hợp với bạn là trở thành nhà cố vấn, chớnhtrị gia, doanh nhân
Kiểu học độc lập: Là người có khả năng tự thể hiện và nhận thức tình
cảm bên trong của mỗi non người Bạn có thể tập trung tốt bằng việc tập trungsuy nghĩ về những điều bạn cảm nhận được trong chủ đề của mình.Bạn có thể
tự lập trong mọi công việc như mua sắm, đọc sách Bạn thích làm việc ởnhững nơi yên tĩnh trong điều kiện khó khăn, thớch đeo đuổi những thamvọng cá nhõn Đôi khi bạn cố gắng dùng nhiều thời gian vào giải quyết nhưngviệc mà lẽ ra nó dễ dàng hơn nhiều nếu bạn chia sẻ với người
Như vậy cách phõn chia kiểu học cụ thể chi tiết như thế sẽ giúp họcsinh có thể xác định được kiểu học của bản thõn mình từ đó có thể tận dụngtối đa những điểm mạnh của bản thõn để đạt được hiệu quả cao hơn trongquá trình học và tự học
* Kết luận chương 1
Trang 27Hoạt động dạy-tự học: Hoạt động tự học là hoạt động tự giác của mỗihọc sinh, không ai có thể học thay cho mình được Tuy nhiên để hoạt động tựhọc của HS đạt được hiệu quả và chất lượng cao rất cần sự giúp đỡ, hướngdẫn của giáo viên giảng dạy Hoạt động dạy-tự học cho HS được tiến hànhtheo chu trình 3 thời: Hướng dẫn-Tổ chức-Kiểm tra, đánh giá để phù hợp vớichu trình tự học của học sinh: Tự nghiên cứu-Tự thực hiện-Tự kiểm tra, điềuchỉnh Hoạt động dạy- tự học này thực chất là giáo viên dạy cho HS cách học,cách tư duy và học sinh học cách học, cách tư duy đó Trong đó, ý thức tự họccủa HS là yếu tố nội lực, nhõn tố quyết định Cũn GV đóng vai trò là hỗ trợ,thúc đẩy và tạo điều kiện cho hoạt động tự học của học sinh đạt kết quả cao.
như vậy hoạt động tự học là một hình thức học nhưng cũng là mộtphương pháp, tuy nhiên hoạt động dạy-tự học này cần phải phù hợp vớiphong cách học (kiểu học) của từng học sinh Theo lý thuyết về phong cáchhọc thì mỗi người có một kiểu học khác nhau, không ai giống ai, tuy nhiên cóthể phõn chia và xếp lại thành 6 kiểu học cơ bản (kiểu học õm thanh, kiểu họchình ảnh, kiểu học vận động, kiểu học độc lập, kiểu học nhúm, kiểu họclogic) Mỗi kiểu học này đều có đặc điểm nhận thức cơ bản, khi tiến hành dạy
tự học phải chú ý đến các đặc điểm đó để có thể đưa ra những hướng dẫn cụthể, phù hợp với đối tượng (người học) Có được sự kết hợp giữa việc dạy tựhọc với kiểu học của HS chắc chắn sẽ mang lại kết quả học tập khả thi
Trước khi tiến hành hoạt động dạy tự học, phải tiến hành điều tra,phong cách học (kiểu học) của học sinh thông qua phiếu điều tra (theo chuẩnquốc tế) Từ đó, lên kế hoạch cụ thể cho việc dạy tự học Kế hoạch này phải
có sự đồng nhất giữa nội dung môn học, mục tiêu môn học với phong cáchhọc của từng học sinh Có như vậy hoạt động dạy tự học mới đạt hiệu quả.Tuy nhiên hoạt động dạy- tự học này phải đi liền với việc kiểm tra đánh giákết quả tự học của học sinh, để có những chỉ dẫn trong quá trình thực hiện,đồng thời là động lực thúc đẩy, kích thích HS tự học một cách hăng hái, tích
Trang 28cực hơn Không có kiểm tra đánh giá, hoạt động dạy - tự học sẽ không đạtđược hiệu quả cao.
Trang 29Chương 2
HIỆN TRẠNG DẠY TỰ HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
TỰ HỌC MễN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHẤT LƯỢNG CAO
CHU VAN AN-HÀ NỘI
2.1 Khái quát đụi nét về trường THPT chất lượng cao Chu Văn An (Hà Nội)
Trường THPT Chất lượng cao Chu văn An- Số 10 Thuỵ Khê- TõyHồ- Hà Nội
Được thành lập vào niên học 1907-1908: trường Trung học Bảo hộ(trước là Collốge sau là Lucộne) được mở ra cho toàn Đông Dương, nhưngdõn trí Hà Nội không “ưa” chữ “bảo hộ”, nên chỉ gọi nôm là trường bởi vìtrường đóng ở địa điểm Thuỵ Khê-Bưởi-Tõy Hồ Muốn vào trường, các họcsinh phải vượt qua kì thi căng thẳng nên hầu hết đều học giỏi, học chăm và cóchí tiến thủ, tiếp thu tri thức như công cụ khoa học, để cứu nước khỏi ách nô
lệ Lúc mới thành lập, trường chỉ dạy bằng tiếng Pháp, tiếng Việt bị coi làngôn ngữ yếu Nhưng các học sinh trường Bưởi luôn tỡm học các tác phẩmnổi tiếng của các tác giả Việt Nam cổ điển, bảo vệ tiếng mẹ đẻ Nhiều họcsinh trong trường đã tham gia hoạt động cách mạng tiêu biểu là các chiến sĩtiền bối như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn ĐứcCảnh Nhiều học sinh trường Bưởi sau này trở thành các trí thức uyên bác,nhà thơ, nhà văn hoá nổi tiếng như Hoàng Xuõn Hãn, Tạ Quang Bửu, NguỵNhư Kon Tum, Tôn Thất Tùng
Đến năm 1945, một trang sử mới được mở ra, trường được vinh dựmang tên danh nhân văn hoá Chu Văn An Nhiều thế hệ học sinh lớn lêntrong bão táp cách mạng, trong hai cuộc kháng chiến Phải kể đến các nhàthơ, nhà văn Lữ Huy Nghiên, Trần Nhật Lam, Bựi Bỡnh Thi
Hiện nay trường Chu Văn An được coi một trong ba trường điểm củaquốc gia, trường đã được nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quý bởi chất
Trang 30lượng dạy và học Năm 1998 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định xây dựngtrường thành trường Trung học phổ thông chất lượng cao Chu Văn An Năm
1946 trường đã vinh dự được chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Năm 1967 đượcnhận Huân chương lao động hạng 3, năm 1982 được nhận Huân chương laođộng hạng nhì và đến năm 1998 được nhận Huõn chương lao động hạng nhất.Năm 2004 trường được công nhận là di tích văn hoá lịch sử quốc gia
Về cơ cấu tổ chức: Trường có tổng số 2091 học sinh với 131 giáoviên Toàn trường có 51 lớp bao gồm: 18 lớp chuyên (là các lớp D1 với cácmôn chuyên là Toán, Pháp, Anh, Tin, Văn và Sử), 5 lớp song ngữ (là các lớpF), 19 lớp chất lượng cao (từ lớp A1 đến A8) và 9 lớp mở rộng (từ lớp D6 đếnlớp D9) Tổ chuyên môn của trường được chia thành hai tổ: tổ Tự nhiên và tổ
Xã hội Trong đó tổ Tự nhiên bao gồm tổ Toán và tổ Tự nhiên (Lý, Hoá,Sinh), tổ xã hội cũng chia thành tổ Văn và tổ Xã hội (Sử, Địa, Giáo dục côngdõn)
Trường có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao và nghiệp
vụ sư phạm giỏi Bên cạnh đó, nhà trường có cơ sở vật chất tương đối hoànthiện: có hệ thống lớp học thực hành đầy đủ các dụng cụ thí nghiệm, lớp học
đa năng với các phương tiện công nghệ hiện đại như: máy chiếu, máy vitớnh phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy và học tập của giáo viên vàhọc sinh trong trường
Về thành tích: Trường đã đạt được rất nhiều thành tích cả về hoạtđộng dạy - học và hoạt động ngoại khoá Về thành tích học tập thì trườngđược đánh giá là trường điểm quốc gia, với số lượng lớn học sinh đạt giảiquốc gia và thành phố trong nhiều năm liền Năm học 2006-2007 Trườngđứng thứ 2 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải quốc gia và thành phố,trong đó có 9 học sinh đạt giải quốc gia và hơn 200 học sinh đạt giải thànhphố Về các hoạt động ngoại khoá trường cũng được đánh giá là có phongtrào mạnh với nhiều thành tích Trong các hoạt động văn nghệ, thể thao trongphạm vi thành phố, trường đã liên tục đạt được các thứ hạng cao Trong nhiều
Trang 31năm liền trường đã đạt danh hiệu thi đua: Chi bộ Đoàn vững mạnh, chi bộ cơ
sở vững mạnh, đoàn thanh niên vững mạnh
Có thể khẳng định, trường THPT chất lượng cao Chu Văn An là ngôitrường có bề dày truyền thống về dạy và học Chất lượng học sinh ở mức độkhá cao, được tuyển chọn khắt khe ngay từ đầu vào Với đội ngũ giáo viên cótrình độ chuyên môn cao và cơ sở vật chất tương đối hiện đại là cơ sở chochất lượng học tập của học sinh trong trường đạt hiệu quả cao
2.2 Đặc điểm, Vị trí môn LS ở trường THPT và yêu cầu của việc tự học lịch sử
2.2.1 Đặc điểm vị trí môn lịch sử ở trường THPT
Mac và Enghen cho rằng “ LS bắt đầu từ đõu thì quá trình tư duy phảibắt đầu từ đó” Quá trình nhận thức của con người gắn liền với ý thức lịch sửcủa bản thõn, của gia đình, của dõn tộc Mỗi thế hệ trẻ phải được trang bịnhững kiến thức về quá khứ của mình thì mới có thể hướng vào tương lai Vìvậy việc giảng dạy lịch sử của dõn tộc được thực hiện từ trong thời kì phongkiến của dõn tộc ta
Chương trình môn LS được xõy dựng theo kết cấu đồng tõm kết hợpvới đường thẳng, cụ thể như sau:
Ở trường THCS, HS được tỡm hiểu có hệ thống LS dõn tộc từ buổibình minh, từ thời đầu dựng nước cho đến ngày nay Về LS thế giới, HS chỉhọc một cách khái quát lịch sử xã hội nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại, sau đótập trung vào phần lịch sử cận đại, hiện đại
Ở trường THPT, phần lịch sử từ nguồn gốc dõn tộc đến năm 1858 đượctập trung vào một số vấn đề văn hoá, văn minh, truyền thống dõn tộc trên cơ
sở những kiến thức đã học ở THCS và nõng cao về mặt kiến thức, phần lịch
sử từ 1858 đến nay được học một cách hệ thống, sõu hơn Về LS thế giới, HSđược tỡm hiểu một cách hệ thống từ xã hội nguyên thuỷ cho đến ngày nay
Trang 32Theo yêu cầu đổi mới chương trình môn lịch sử THPT đã được xõydựng lại hợp lý hơn và đang được thí điểm tại một số trường THPT trên địabàn Hà Nội.
LS là một môn học quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm,đạo đức, thẩm mỹ cho HS Nhiều HS thậm chí cả GV, các bậc phụ huynhđều cho rằng LS là môn phụ, điều này đã dẫn đến ý thức học tập của HS bịcoi nhẹ Ngày nay chúng ta cần cho HS thấy rừ ý nghĩa của môn học này đốivới việc phát triển nhõn cách cho HS LS không chỉ giáo dục truyền thốngdõn tộc mà cũn giáo dục thế hệ trẻ lòng tự hào dõn tộc, biết ơn đối với tổ tiênvới những người có công với đất nước LS giáo dục thế hệ trẻ trách nhiệm vớinhững giá trị văn hoá, tinh thần của dõn tộc ta, đồng thời giáo dục lý tưởng,chớnh trị, niềm tin đối với Đảng và Nhà nước
Theo tác giả Trịnh Đỡnh Tựng thỡ tri thức LS có những đặc điểm sau đõy:Tớnh quá khứ: LS là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúccon người và xã hội hình thành cho đến nay Nói đến lịch sử là nói về quákhứ, chúng ta không thể quan sát được quá khứ cũng như không thể quan sátđược lịch sử, mà chỉ nhận thức được một cách gián tiếp thông qua các sử liệu.Đặc điểm này đã gõy nhiều khó khăn cho GV trong việc giảng dạy bộ mônnày cùng như khó khăn cho HS trong việc tự học lịch sử
Tớnh không lặp lại: mỗi tri thức LS đều không thể lặp lại cả về thờigian lẫn không gian, bởi vì sự kiện lịch sử chỉ xảy ra trong một không gian vàmột thời gian xác định
Tớnh cụ thể: LS là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của cácnước các dõn tộc khác nhau và quy luật của nó Mỗi dõn tộc lại có những đặcđiểm khác nhau về mặt địa lý, điều kiện tự nhiờn, chủng tộc làm cho lịch sửcủa mỗi dõn tộc này khác nhau Vì vậy LS càng trở nên phong phú, đa dạngsong cũng hết sức cụ thể
Tớnh hệ thống: Nội dung lịch sử hết sức đa dạng bao gồm mọi mặt củacuộc sống Nội dung đó có mối quan hệ chằng chịt, phức tạp vì vậy GV phải
Trang 33chú ý đến mối quan hệ đó để cung cấp cho HS những tri thức mang tớnh hệthống và hoàn chỉnh.
Tớnh thống nhất giữa “sử” và “luận”: đó là sự thống nhất giữa trình bày
sự kiện với giải thích bình luận, gắn với hệ tư tưởng của giai cấp
Những đặc điểm này có mối quan hệ thống nhất với nhau, có hiểu đượcnhững đặc điểm của tri thức lịch sử GV mới có thể tỡm được con đường hìnhthành tri thức lịch sử cho HS Hiểu được tri thức LS giáo viên mới có thể đưa
ra những hướng dẫn cụ thể, chớnh xác giúp HS tự học lịch sử đạt ở mức độcao cũng như có các cách kiểm tra đánh giá hoạt động tự học đó phù hợp,kích thích lòng yêu thích học tập môn lịch sử cho học sinh
2.2.2 Các yêu cầu của tự học lịch sử
Dạy học lịch sử là một quá trình Đó là một quá trình nhận thức đặcthù, trong đó thầy giáo tổ chức, dẫn dắt học sinh một cách có mục đích, có kếhoạch để học sinh nắm vững những tri thức, cơ sở văn hoá, khoa học và kĩnăng cơ bản, phát triển năng lực nhận thức dần hình thành cơ sở thế giới quanduy vật biện chứng và nhõn cách đạo đức
Quá trình dạy học lịch sử là quá trình thống nhất của hai khõu có tácđộng, ảnh hưởng đến nhau-giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.Quá trình này là quá trình nhận thức sự kiện, quy luật của quá trình lịch sử rút
ra bài học kinh nghiệm lịch sử đối với hiện tại Quá trình dạy học lịch sử tuõntheo những quy luật của nhận thức Những quy luật này không phải là quyluật của bản thõn hiện thực lịch sử, tuy nhiên , hai loại quy luật này-quy luậtnhận thức và quy luật lịch sử-có liên quan với nhau Phương pháp dạy họclịch sử, được tiến hành trên cơ sở quy luật nhận thức nói chung, quy luật lịch
sử nói riêng, nó sẽ giúp học sinh nắm vững bản thõn hiện thực quá khứ vớiquy luật vận động và phát triển của xã hội
Môn LS có tầm quan trọng đặc biệt, được coi là một trong bốn mônquan trọng giáo dục thế hệ trẻ (Lịch sử, địa lý, tiếng mẹ đẻ và toán học), việc
Trang 34dạy học lịch sử có những đặc thù riêng do đó việc tự học Lịch sử cũng cónhững yêu cầu của riêng mình, đó là:
- HS nắm kiến thức một cách chớnh xác, sõu sắc có thể vận dụng vàothực tế Điều này có nghĩa việc tự học ở đõy không phải là học thuộc lòngkiến thức mà là đi vào tỡm hiểu, nghiên cứu bản chất của vấn đề, của sự kiệnlịch sử Từ đó có sự vận dụng, liên hệ vào đời sống thực tế một cách linh hoạt
và rừ ràng
- Tự học được tiến hành với hứng thú say mê và ý thức lao động cần
cù, sáng tạo và kiên nhẫn
Theo nguyên lý: hứng thú say mê nghiên cứu học hỏi chớnh là động
cơ học tập và hoàn thiện tri thức Từ những hứng thú say mê này các em thấyđược sự lôi cuốn thú vị của kiến thức và tỡm cách chiếm lĩnh tri thức đó, chođến khi thành công các em được thoả món một phần sau đó các em lại mongmuốn chiếm lĩnh những tri thức cao hơn Học tập với hứng thú say mê tạo rahưng phấn, các em ít bị căng thẳng tõm lý, không nản trí trong học tập, đồngthời cũn tạo ra sự cần cù, kiên nhẫn cũng như sáng tạo trong việc chiếm lĩnhkiến thức một cách nhanh và hiệu quả nhất
- Hoàn thành được nhiệm vụ mà GV giao phó khi tiến hành tự học vớinhiệm vụ mà GV giao phó sẽ định hướng cho các em cần phải học theo hướngnào là đúng là cần, là đủ, đâu là kiến thức các em cần chiếm lĩnh, đâu là kiếnthức nên bỏ Vì vậy mặc dù đã học tấp với hứng thú, với say mê, cần cù, sángtạo kiên nhẫn để chiếm lĩnh kiến thức sâu, vững chắc thì phần nhiệm vụ hoànthành mà giáo viên giao phó cũng là điều kiện vô cùng cần thiết với các em
- Tạo hứng thú học tập trong học tập môn lịch sử: Thực tế hiện nay chothấy rằng các em không thích tự học lịch sử, điều này dẫn đến kết quả học tậpmôn lịch sử không được tốt Tự học phần lớn khắc phục được những nhượcđiểm trong lời truyền đạt truyền thống của GV có nhiều thời gian cho việcnghiên cứu, có thể tỡm hiểu thêm những vấn đề mà mình thích
Trang 35Nắm được yêu cầu của tự học sẽ giúp GV có phương pháp dạy và đặcbiệt kiểm tra đánh giá kết quả tự học phù hợp.
2.3 Khái quát thực trạng tự học và dạy tự học-kiểm tra đỏnh giá kết quả
tự học của HS THPT chất lượng cao Chu Văn An
Trong khoảng thời gian thực tập 8 tuần ở trường THPT chất lượngcao Chu văn An (từ 26/2 đến 8/4/2007), được nhà trường phõn công trực tiếpthực tập giảng dạy khối 11, và một số tiết được đứng lớp 10 và 12 Em đã tiếnhành điều tra học sinh lớp 11 về thực trạng tự học lịch sử của các em ở nhàcũng như trên lớp (phiếu điều tra-phụ lục)
Tiến hành điều tra 150 Học sinh, thuộc 4 lớp: 11A1, 11A2, 11A3, 11 A5.Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu
Số phiếu thu vào là 120 phiếu
Qua xử lý số liệu xin đưa ra một vài kết luận về thực trạng tự học- dạy
tự học và kiểm tra đánh giá kết quả tự học lịch sử của học sinh trường THPTCLC Chu Văn An như sau:
2.3.1 Thực trạng tự học lịch sử của HS THPT CLC Chu Văn An.
- Học sinh THPT Chu Văn An nhìn chung không thích học môn lịch
sử Có bảng số liệu về sự yêu thích học tập môn lịch sử của HS Chu Văn An:
- Mức độ tự học lịch sử của HS (ý thức tự giác) không cao
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Trang 36- Học sinh không thường xuyên tự học lịch sử, đa số là thỉnh thoảngmới tự học, cũn lại đến 40 HS (33.3%) không bao giờ tự học.
* Trong đó Lý do HS tự học lịch sử lại không phải do các em yêuthích học môn học này mà là do yêu cầu phải trả bài trên lớp
+ Có 8 % HS tự học LS là do yêu thích môn học,
+ cũn có tới 58 % là do phải trả bài trên lớp
→ Mục đích tự học chỉ là lấy điểm, xuất phát từ nhu cầu bên ngoài(lấy điểm, do GV yêu cầu) chứ không phải do nội lực bên trong (do ý thích)của bản thõn HS
* Khi tự học LS, HS gặp phải nhiều khó khăn, trong đó đa số các em đềcập đến vấn đề “cách học” Các em đều chưa biết cách tự học lịch sử như thếnào cho phù hợp, đều cảm thấy học lịch sử rất khó vì dài và “khó hiểu”
2.3.2 Thực trạng dạy tự học và kiểm tra đỏnh giá kết quả tự học môn lịch
sử của HS THPT CLC Chua Văn An
Đa số các thầy cô giáo dạy môn lịch sử ở trường THPT Chu Văn Anđều cho rằng vấn đề tự học của học sinh là rất cần thiết và quan trọng, nóquyết định đến kết quả học tập của học sinh Đặc biệt đối với môn lịch sử-môn học thuộc khối khoa học xã hội, với những đặc trưng riêng, thì vấn đềyêu thích, tự giác học tập là nhõn tố quan trọng để làm nên thành công củaquá trình học tập lịch sử Tuy nhiên hiện trạng dạy tự học cũng như kiểm trađánh giá kết quả tự học của học sinh ở trường vẫn chưa được chú ý đúng mức
và hiệu quả đạt được là không cao
* HS khi được đặt cõu hỏi : Thầy (cụ) cú hướng dẫn học sinh tự họclịch sử không? Có tới 80/120 HS trả lời là thỉnh thoảng, có 40 em cho rằnggiáo viên chưa bao giờ hướng dẫn, dạy học sinh cách tự học lịch sử Không
có học sinh nào chọn phương án “giáo viên thường xuyên” dạy tự học lịch sử
Rừ ràng, giáo viên chưa chú ý đến việc hướng dẫn HS tự học lịch sử.Chủ yếu chỉ có các cách định hướng, dẫn dắt các em giải quyết vấn đề trênlớp (trong thời gian tiết học) nhưng thời lượng đưa ra là rất ít Còn việc học ở
Trang 37nhà của học sinh là hoàn toàn tự một mình, các em tự học theo cách riêng củamình mà không có hướng dẫn cụ thể, trong đó đa số là học thuộc những gìghi trong vở.
* Việc hướng dẫn HS tự học lịch sử của giáo viên chỉ dừng lại ở việc rabài tập, nhiệm vụ để HS tỡm hướng giải quyết mà chưa chú ý đến việc hướngdẫn HS học như thế nào với phong cách học (kiểu học) của mỗi học sinh đểđạt được hiệu quả cao nhất Học sinh tự nghiên cứu vấn đề và tỡm hướng giảiquyết các nhiệm vụ mà giáo viên yêu cầu, trong đó có nhiều nhiệm vụ các emkhông thể giải quyết được do không biết cách học như thế nào Vì vậy hiệuquả học tập môn lịch sử của HS đạt được là chưa cao
* Các bài kiểm tra đánh giá môn lịch sử phù hợp với sức học của HSnhưng chỉ đơn thuần là các bài kiểm tra-đánh giá để lấy điểm (điểm miệng,điểm 15 phút hay điểm kiểm tra 1 tiết) mà chưa có hình thức kiểm tra đánhgiá kết quả tự học của HS Các bài kiểm tra đánh giá được thông báo trướcnội dung để HS học, hôm sau đến lớp làm bài kiểm tra Việc tự học của HSkhông được giám sát, theo dừi và kiểm tra dưới bất kì hình thức nào
* Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả tự học môn lịch sử của HSkhông được GV chú ý, kiểm tra thường xuyên, thậm chí có những nhiệm vụgiao về nhà nhưng GV không hề kiểm tra, nên HS làm bài tập chỉ mang hìnhthức đối phó, kết quả không cao, đồng thời cũn gõy tõm lý ‘chán học lịch sử”trong học sinh
2.4 Giải thích nguyên nhân
Thực trạng của việc HS không tự học lịch sử, hoặc có học nhưngkhông thường xuyên và không hiệu quả là do các nguyên nhân sau:
+ Không có sự hướng dẫn của giáo viên
Trong quá trình dạy học lịch sử, giáo viên lịch sử chỉ chú trọng đếnviệc cung cấp các kiến thức mới mà chưa chú ý đến việc hướng dẫn các em tựhọc ở nhà cũng trên lớp học
Trang 38Trong các tiết học phần lớn thời gian là giáo viên tổ chức cho học sinhtiếp nhận kiến thức bằng các phương pháp dạy truyền thống: thuyết trình-minh hoạ, vấn đáp ở trường THPT Chu Văn An đã có sử dụng các phươngpháp dạy học mới vào hoạt động giảng dạy như: phương pháp dạy học theonhúm Tuy nhiên giáo viên vẫn là người làm việc là chớnh, học sinh vẫn chỉ
là người thụ động tiếp nhận kiến thức Các em không được hướng dẫn để tựmình có thể học được các phần kiến thức mới thông qua việc tự học trên lớpcũng như ở nhà
Giáo viên chưa chú ý đến việc hướng dẫn cho học sinh giải quyết cácvấn đề mà các em có thể tự học ngay trên lớp hay tự làm ở nhà Học sinh tựmình nghiên cứu các tài liệu một cách độc lập mà không nhận được sự hướngdẫn cụ thể của GV: phần nội dung nào HS có thể tự học được, phần nội dungnào phải có sự hướng dẫn của GV
+ Giáo viên không dạy học sinh cách tự học
Vỡ không chú trọng việc tự học của HS ở nhà và trên lớp, GV lịch sửkhông dạy các em cách học như thế nào cho phù hợp khi học lịch sử
Vấn đề này xuất phát từ chớnh hiểu biết, kinh nghiệm của giáo viên Đa
số các thầy (cô) được hỏi đều cho rằng vấn đề tự học là rất quan trọng đối vớihọc sinh đặc biệt đối với môn lịch sử (môn học có các đặc điểm: tớnh quákhứ, tớnh hệ thống khó tạo hình ảnh đối với học sinh) Nhưng vấn đề dạy tựhọc thì chưa có cơ sở lý thuyết hay công trình nghiên cứu nào đề cập đến mộtcách khoa học, hay hướng dẫn cụ thể nào Các thầy cô chỉ đơn thuần ra bàitập về nhà cho học sinh, hôm sau kiểm tra Đánh giá học sinh thông qua kếtquả các em làm được mà không chú ý đến việc các em làm như thế nào
Học sinh hoàn toàn tự mình làm việc ở nhà, chỉ nhận được sự giúp đỡcủa giáo viên khi cần tỡm tài liệu, các nguồn thông tin cần thiết Cũn việc tổchức học, thu nhận kiến thức mới như thế nào không được hướng dẫn, khôngđược dạy cụ thể Các em không biết nên bắt đầu học từ đõu, học như thế nào
Trang 39và đặc biệt là học cái gì? Chớnh yếu tố này là nguyên nhõn căn bản dẫn đếntình trạng học sinh rất ít khi tự học lịch sử.
Việc dạy cho học sinh cách tự học lịch sử là điều cần thiết song chưađược thực hiện một cách đúng đắn, khoa học Các giáo viên chỉ hướng dẫncác em cách học theo kinh nghiệm của chớnh bản thõn mình thông qua quátrình học tập và giảng dạy lõu năm trong nghề
+ Không có sự kiểm tra-đỏnh giá kết quả tự học của học sinh
Vỡ không dạy và không hướng dẫn học sinh tự học nên tất yếu giáo viênlịch sử không hề có việc kiểm tra cũng như đỏnh giá việc tự học của học sinh
Các bài kiểm tra môn lịch sử được thực hiện để lấy đủ điểm số cho họcsinh, mà không có việc kiểm tra-đánh giá kết quả tự học của học sinh
Để hoạt động tự học của học sinh đạt hiệu quả cao nhất thiết phải có sựkiểm tra- đánh giá của giáo viên Học sinh có thể tự mình kiểm tra đánh giákết quả tự học của mình song nếu có sự can thiệp giúp đỡ của giáo viên sẽ đạthiệu quả cao hơn Vì không phải học sinh nào cũng có đủ khả năng để tựmình kiểm tra, hay có kiểm tra nhưng không đạt được hiệu quả
Qua điều tra thực trạng tự học của học sinh trường Chu Văn An, thìmột trong các nguyên nhõn căn bản khiến học sinh không tự học lịch sử ở nhà
là do giáo viên không kiểm tra-đánh giá kết quả tự học của học sinh một cáchthường xuyên Các hình thức kiểm tra được giáo viên lịch sử sử dụng tronggiảng dạy là khá phong phú, nội dung kiểm tra khá phù hợp với sức học củahọc sinh, song phần lớn là các bài kiểm tra theo định kì (bài kiểm tra 15 phút,một tiết, cuối kì), học sinh được báo trước về thời gian và nội dung giới hạn
mà không có việc kiểm tra đánh giá việc tự học của học sinh Các bài tập giáoviên giao về nhà cho học sinh làm là không nhiều, và không thường xuyênđánh giá, cho điểm
Trong vấn đề tự học rất cần hoạt động kiểm tra đánh giá để giám sátquá trình học tập của HS Giáo viên phải đóng vai trò là người hướng dẫn, tổchức đồng thời là người trọng tài để theo dừi sự tiến bộ của HS Hoạt động
Trang 40kiểm tra đánh giá kết quả tự học của HS ở trường Chu Văn An chưa được chú
ý đúng mức, chưa được GV coi trọng đã dẫn đến hiện trạng tự học lịch sử của
HS không diễn ra thường xuyên và kết quả không cao
Chính hiện trạng trên đưa đến một yêu cầu cho các nhà nghiên cứu giáodục là nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết dạy tự học và xây dựng quy trình kiểmtra kết quả tự học của học sinh THPT, để có cơ sở lý thuyết và cơ sở khoa họcvững chắc phục vụ cho quá trình dạy học, dạy tự học cho học sinh đạt hiệu quảcao GV lịch sử trên cơ sở lý thuyết chung về hoạt động dạy tự học, có sựnghiên cứu, ứng dụng thực tế vào việc giảng dạy môn chuyên ngành
Hoạt động tự học phụ thuộc nhiều vào ý thức học tập của mỗi cá nhân(nội lực), người GV phải thấy rừ được điều đó và có các biện pháp hỗ trợ,giúp đỡ các em tỡm thấy hứng thú, niềm đam mê trong khi tỡm hiểu cácnguồn tri thức mới Hướng dẫn các em tự học, tự kiểm tra kết quả học tập củamình là một cách thức thúc đẩy, kích thích niềm đam mê đó