1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Thành tựu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô trong giai đoạn 1945 đến đầu những năm 70

26 1,7K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 140,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lúc nhân dân Liên Xô đang thực hiện kế hoạch 5 nămlần thứ tư, ngày 22 tháng 6 năm 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô nhân dânLiên Xô phải tạm dừng công cuộc xây dựng đất nước để t

Trang 1

A MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công đưa nước Nga bướcvào thời kì mới thời kì khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chấtcho chủ nghĩa xã hội Trong suốt thời gian từ 1921 đến 1941, Liên Xô đã thựchiện được các kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiềuthành tựu to lớn Trong lúc nhân dân Liên Xô đang thực hiện kế hoạch 5 nămlần thứ tư, ngày 22 tháng 6 năm 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô nhân dânLiên Xô phải tạm dừng công cuộc xây dựng đất nước để thực hiện cuộc chiếntranh vệ quốc vĩ đại Trong suốt cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939- 1945),Liên Xô luôn giữ vai trò là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ chốt quyết địnhthắng lợi của cuộc chiến tranh thế giới

Trong cuộc chiến tranh chống phát xít, nhân dân Liên Xô đã phải gánhchịu những hy sinh và tổn thất hết sức to lớn: trên 20 triệu người chết, 1710thành phố và hơn 70.000 làng mạc bị thiêu huỷ, 32.000 xí nghiệp bị tàn phá Sauchiến tranh các nước phương Tây do Mĩ cầm đầu, tiến hành bao vây kinh tế, gâycuộc “chiến tranh lạnh” và ra sức chạy đua vũ trang, chuẩn bị phát động mộtcuộc chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.Trong bối cảnh này, vừa phải ra sức củng cố quốc phòng chuẩn bị chống lạinhững âm mưu của các nước phương Tây, vừa phải giúp đỡ phong trào cáchmạng thế giới, nhân dân Liên Xô đã tự lực tự cường bắt tay vào công cuộc xâydựng lại đất nước sau chiến tranh Với tinh thần cố gắng nỗ lực hết mình dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành thắng lợi các kếhoạch 5 năm và trở thành thành trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội trên toàn thếgiới đặc biệt là thành tựu trong giai đoạn 1945- 1975

Trong một tiểu luận nhỏ, tôi không có tham vọng trình bày hết tất cảnhững thành tựu mà nhân dân Liên Xô đạt được trong quá trình xây dựng vàphát triển đất nước Do vậy, tôi đã lựa chọn đề bài cho tiểu luận của tôi là

“Thành tựu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô trong giai đoạn

Trang 2

1945 đến đầu những năm 70” để đi sâu tìm hiểu về một thời kì phát triển và cónhiều ảnh hưởng đối với thế giới đặc biệt là đối với Việt Nam

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là một vấn đề mang tính lịch sử nên tôi chọn phương pháp nghiêncứu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic

Phương pháp lịch sử là phương pháp dựa vào những sự kiện lịch sử, tưliệu lịch sử để trình bày tiến trình lịch sử một cách đầy đủ theo thứ tự thời gian

III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI.

Để có sự liên kết lôgic giữa các vấn đề, sự kiện trước hết tôi sẽ trình bàykhái quát về hoàn cảnh lịch sử của Liên Xô khi bắt tay vào công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

Sau đó làm rõ những nét lớn về thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội Liên

Xô trong suốt thời gian từ 1945 đến đầu những năm 70 Trên cơ sở đó thấy đượcnhững sai lầm và hạn chế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên

Xô, ý nghĩa của những thành tựu đó đối với nhân dân Liên Xô và nhân dân thếgiới

Bằng những dẫn chứng, tư liệu cụ thể nêu lên được mối quan hệ hợp táccủa Liên Xô đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em đặc biệt là đối với ViệtNam Tình hữu nghị hợp tác bền chặt gắn bó giữa Việt Nam và Liên Xô suốt từkhi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến tận ngày nay

Trang 3

IV CẤU TẠO CỦA TIỂU LUẬN

A MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

II Phương pháp nghiên cứu

III Phạm vi nghiên cứu

IV Cấu tạo của tiểu luận

1.1 Công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh

1.2 Thành tựu trên lĩnh vực kinh tế

1.2.1 Giai đoạn từ 1953 đến 1964

1.2.2 Giai đoạn từ 1965 đến nửa đầu những năm 70

2 Thành tựu trên lĩnh vực chính trị, xã hội

3 Những hạn chế thiếu sót trong qúa trình khôi phục và xây dựng chủ nghĩa xãhội của nhân dân Liên Xô

II Chính sách đối ngoại và mối quan hệ hợp tác của Liên Xô đối với các nước

xã hội chủ nghĩa anh em

III Quan hệ quốc tế Việt Nam- Liên Xô

C KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

1.1.Công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh

Những năm sau chiến tranh nhiệm vụ chủ yếu trong đường lối đối nội củaLiờn Xụ là khôi phục nền kinh tế quốc dân Nhiệm vụ này được thực hiện từnăm 1943 khi Liờn Xụ bắt đầu đánh đuổi quân thù vê phía Tây Tuy nhiên côngcuộc khôi phục kinh tế chỉ thực sự được tiến hành từ năm 1946 với kế hoạch 5năm lần thứ IV khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân (1946- 1950)

Về công nghiệp: Liờn Xô đồng thời phải giải quyết ba vấn đề quan trọng:

thứ nhất, phi quân sự hoá nền kinh tế bằng cách chuyển sang xây dựng các côngtrình dân dụng; thứ hai, khôi phục các xí nghiệp bị tàn phá, và thứ ba tiến hànhxây dựng các xí nghiệp mới

Nhiệm vụ thứ nhất căn bản được thực hiện trong năm 1946- 1947 Đã tiếnhành loại bỏ một số cơ quan công nghiệp chiến tranh (như xe tăng, mỡn, phỏo),thay vào đó là một số cơ quan (từ 1946 gọi là bộ) sản xuất dân sự như chế tạomáy giao thông, máy nông nghiệp, thiết bị phụ tùng Các quân nhân giải ngũđược điều đến làm trờn cỏc cụng trường của kế hoạch 5 năm Việc giải trừ quân

bị được ban hành từ tháng 6 năm 1945 và hoàn tất năm 1948 Từ 11,4 triệungười năm 1945 xuống còn 2,9 triệu người năm 1948 Tuy nhiên năm 1950 khichiến tranh Triều Tiên diễn ra, số lượng quân đội lại được huy động lên tới 5,8triệu người

Vị trí quan trọng nhất trong sự phục hồi công nghiệp là điện khớ hoỏ, trái timnăng lượng của cỏc vựng công nghiệp Các phương tiện lớn đã được huy độngvào việc phục hồi các nhà máy điện, đặc biệt là Nhà máy thuỷ điện Đơnhiep.Nhờ những cố gắng không mệt mỏi của nhân dân Liờn Xụ, sự thiệt hại đã đượckhôi phục trong thời gian ngắn nhất Năm 1947, nhà máy đã cho phỏt dũng điệnđầu tiên và đến năm 1950 đã phục hồi hoàn toàn công suất thiết kế

Trang 5

Giữa các ngành công nghiệp mũi nhọn có cả công nghiệp than và luyện kim,trước hết là mỏ than Đụn bát và các nhà máy luyện kim ở phía Nam nhưĐaporode và Adop.

Trong việc phục hồi nền sản xuất bị tàn phá, các nhà máy và nhân dân cácdân tộc miền đông đất nước đã đóng một vai trò to lớn (nhất là Trung Á)

Trong những năm sau chiến tranh, Đảng và nhà nước Xô viết cũng đặcbiệt quan tâm tới công nghiệp quốc phòng, trước hết là nhằm chế tạo bomnguyên tử Năm 1948, lò phản ứng sản xuất Pluton đã được xây dựng ở vùngChialibin Tới mùa thu 1949, Liờn Xụ đã chế tạo thành công bom nguyên tử,đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của khoa học quân sự Xô viết Sự kiện đó đã phátan thế độc quyền bom nguyên tử của Mĩ, tạo thế cân bằng chiến lược về vũ khínguyên tử giữa Liên Xô và Mĩ Liên Xô đạt được thế cân bằng chiến lược về sứcmạnh quân sự nói chung và sức mạnh hạt nhân nói riêng với phương Tây, Liên

Xô và Mĩ được xem là hai siêu cường về kinh tế và quân sự

Những thành tựu đạt được của Liên Xô có ý nghĩa to lớn, làm đảo lộntoàn bộ chiến lược của Mĩ và đồng minh của Mĩ Ngay trong năm 1949, Liờn

Xô đã ra tuyên bố cấm sử dụng vũ khí nguyên tử một cách vô điều kiện Từ cuốinhững năm 40, Liờn xụ quyết định sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đíchhoà bình Lần đầu tiờn trờn thế giới nhà máy điện nguyên tử Ôpbơninxki ởngoại ô Matxơcơva với công suất 5000 kw đã được xây dựng và đi vào hoạtđộng vào mùa hè 1954

Nhìn chung, công nghiệp đã phục hồi vào năm 1947, đạt mức trước chiếntranh (1940) Tới cuối kế hoạch 5 năm lần thứ IV đã tăng sản lượng công nghiệplên 73% (kế hoạch dự kiến 48%) Hơn 6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xâydựng mới đi vào hoạt động Tuy nhiên công nghiệp nhẹ vẫn lạc hậu và khônghoàn thành kế hoạch

Về nông nghiệp: Khác với những năm 20, trong những năm sau Chiến tranh

thế giới thứ hai chính phủ Liờn Xụ đứng đầu là Xtalin đã tiến hành khôi phụckinh tế không phải từ nông nghiệp mà là từ công nghiệp nặng Nhà nước tăng

Trang 6

các nghĩa vụ đối với nụng dõn Sự khuyến khích lao động mạng tính tượngtrưng Các nông trang viên buộc phải sống chủ yếu do ngân sách kinh tế phụ.Tuy nhiên nhà nước đã nhanh chóng xem xét lại sự phát triển kinh tế phụ,cho rằng điều đú có nguy cơ cho sở hữu xã hội chủ nghĩa Tháng 9 năm 1946,Hội đồng bộ trưởng Liờn Xụ và Ban chấp hành Trung ương Đảng đó có chỉ thị

về các biện pháp chống lại sự vi phạm điều lệ nông trang Kinh tế phụ khôngnhững bị hạn chế mà các nông trang viờn còn phải nộp nhiều thuế quá mức baogồm thuế đất và nộp một số lượng nhất định các sản phẩm thịt sữa, trứng và cácloại nông sản khác Nhà nước thực tế chưa quan tâm đúng mức với các nôngtrang viên, họ không được hưởng lương hưu, không được cấp phát hộ chiếu,không được phép rời bỏ làng ra đi nếu không được chính quyền đồng ý

Khôi phục và phát triển nông nghiệp được tiến hành không dựa trên sự quantâm lợi ích vật chất mà bằng các biện pháp hành chính Năm 1947, chính phủ đãban hành các biện pháp thực hiện sự lao động bắt buộc trong các nông trang(như những năm 30) Tất cả cỏc dõn cư trong nông thôn, ai không làm việctrong cơ quan nhà nước đều phải đi làm trong các nông trang Ai không thựchiện luật lao động sẽ bị tập trung cải tạo hoặc xử lí hành chính

Trong những năm đó đã thi hành đường lối tập trung hoá sản xuất nôngnghiệp, coi nó là đũn bẩy để phát triển nông nghiệp và củng cố nông trang Theo

đó số lượng các nông trang giảm xuống hơn hai lần Qui mô các nông trang tănglên (từ 255.314 nông trang năm 1950 xuống còn 125.294 năm 1951, tới cuối

1953 còn 93.000)

Mặc dù vậy nông nghiệp vẫn là lĩnh vực lạc hậu của nền sản xuất quốc dân

Nú khụng đáp ứng được các đòi hỏi của đất nước về lương thực và nguyên liệu.Khoảng cách giữa công nghiệp và nông nghiệp ngày một tăng

Kế hoạch 5 năm lần thứ IV của phát triển nông nghiệp không hoàn thành.Tuy nhiên mức sản xuất nông nghiệp năm 1950 cũng đạt mức trước chiến tranh(1940)

Ba vấn đề gay cấn trong nông nghiệp là: lúa mì, thịt, trứng, sữa Đất nướckhông đủ sản phẩm chăn nuôi Năm 1949, chính phủ đã tìm cách giải quyết vấn

Trang 7

đề đó bằng cách đưa ra kế hoạch 3 năm phát triển chăn nuôi (1949- 1951) Dựkiến trong 3 năm sẽ nâng sản lượng đàn gia súc và trứng sữa lên một cách đáng

kể Đến năm 1951 kết quả đạt được rất lớn, ngang mức năm 1928 (trước khi tậpthể hoá) Tuy nhiên tình hình không duy trì được lâu dài Năm 1952, do không

đủ thức ăn, số lượng đàn trâu bò lại bắt đầu giảm

Trong khoa học nông nghiệp, quan điểm của nhóm bác học hành chính doViện sĩ T Lưxencô thắng thế Công nghệ di truyền, khoa học then chốt của tựnhiên học hiện đại bị phê phán

Trong những năm 40- 50 đã diễn ra các chiến dịch cải tạo nông thôn cácnước cộng hoà mới sát nhập vào Liên Xô trước chiến tranh (Ban Tích, Mônđavi,miền Tây Ucraina, Bêlôrutxia) Công cuộc tập thể hoá được tiến hành ồ ạt Kếtquả là cơ cấu nông thôn truyền thống ở đây bị phá vỡ nhanh chóng, gây ra sựhỗn loạn trong cư dân các vùng này

Những sự kiện quan trọng của năm 1947 là cuộc cải cách tiền tệ và xoá bỏchế độ tem phiếu về lương thực và hàng tiêu dùng

1.2 Thành tựu trên lĩnh vực kinh tế

1.2.1 Giai đoạn từ 1953 đến 1964.

Trong nông nghiệp: Từ nửa sau năm 1953, ở Liên Xô đã diễn ra các cuộc cải

cách để lại nhiều mặt tích cực trong sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như đờisống nhân dân

Đường lối đó được thông qua vào tháng 8 năm 1953 tại kì họp Xô viÕt tốicao Liên Xô Tại đây, người đứng đầu nhà nước Malencốp đã nêu ra vấn đÒphát triển nền kinh tế vì lợi Ých con người, về sự quan tâm hàng đầu của nhànước đối với phúc lợi nhân dân thông qua sự phát triển nông nghiệp và sản xuấthàng tiêu dùng

Sau một tháng, tháng 9- 1953, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đãhọp phân tích thực trạng của nông nghiệp N Khơrutsóp đợc bầu làm Bí thư thứnhất Ban chấp hành Trung ương Đảng

Vào đầu năm 1954 đã tiến hành đờng lối khai hoang nâng cao diện tíchgieo trồng nhằm giải quyết một cách cÊp bách vấn đề tăng nhanh sản lượng ngũ

Trang 8

cốc Hàng chục nghìn những người nhiệt tình từ các trung tâm của nước Nga,Ucraina và các nước cộng hoà khác đã đến khai phá trên các vùng đất hoang.Nhiều nông trường ngũ cốc mới được xây dựng.

Để củng cố độị ngũ cán bộ lãnh đạo cho các nông trang, Đảng đã cử đếnđây hơn 30 nghìn người làm công tác Đảng, hơn 120 chuyên gia nông nghiệp(một số tình nguyện, một số bắt buộc)

Năm 1958, bắt đầu cải tổ lại các trạm máy kéo Kĩ thuật, máy móc đượccấp cho các nông trang Những biện pháp đó đã củng cố cơ sở vật chất cho cácnông trang và thủ tiêu tình trạng "Hai chính quyền" về ruộng đất, củng cố quyềnlực các nông trang và phát huy sáng kiến của họ

Nhìn chung, những biện pháp lớn trong lĩnh vực ruộng đất đợc tiến hành

từ 1953 đến 1958 gồm có:

- Nâng cao đáng kể giá cả thu mua

- Xóa bỏ nghĩa vụ các năm trớc

- Nâng cao ngân sách nhà nớc

- Xoá bỏ thuế kinh tế phụ và nâng cao 5 lần sai phạm vi của nó

- Tuyên bố nguyên tắc kế hoạch hoá từ dưới

- Thực hiện chế độ hưu trí cho nông trang viên

- Cấp hộ chiếu cho nông dân

- Các nông trang có quyền thay đổi điều lệ của mình phù hợp với điềukiện địa phương

Cuối cùng, sau 5 năm đã thực hiện đợc 42 triệu ha đất khai hoang và bỏhoang

Tuy nhiên, từ cuối những năm 50, yếu tố kinh tế như là đòn bẩy của sựphát triển đã bị thay thế bằng sự cưỡng bức hành chính

Hai đòn nặng nề từ trên giáng xuống kinh tế nông thôn làm thất bại quátrình sản xuất đang mở rộng là: thứ nhất, các kĩ thuật (trạm máy kéo) không đưacho nông trang nữa mà bắt mua với giá cao trong thời hạn ngặt nghèo Thứ hai,thay cho sự mở rộng và củng cố kinh tế phụ, người ta bắt đầu tấn công nó (lần

Trang 9

thứ ba kể từ khi tập thể hoá) Đường lối đó được củng cố trong kì họp tháng 12năm 1958 Ban chấp hành Trung ương theo đề nghị của Khơrutsốp.

Khơrutsop kêu gọi nông dân bán gia súc riêng của mình cho nhà nướchoặc nông trang, thay vào việc mua của họ các sản phẩm thịt sữa Bắt đầu cuộcxáo động mới trong nông dân Liên Xô Kết quả tới giữa những năm 60 kinh tếphụ của các gia đình nông dân trong nhiều vùng đã bị suy giảm tới mức thấphơn nửa đầu những năm 50 Chính sách ruộng đất của Liên Xô áp dụng tháng 9-

1953 đã không được tiếp tục, mang tính nửa vời do đó đã bị thất bại (lấy quảngcanh thay cho thâm canh)

Năm 1962, chính phủ quyết định nâng giá thịt lên 1,5 lần để khuyến khíchchăn nuôi Giá mới không nâng cao được sản lượng thịt mà gây ra sự phẫn nộtrong các thành phố

Năm sau tai hoạ ập đến không chỉ có thịt, sữa mà cả bánh mì nữa Nhữnghàng người xếp dài trước các cửa hiệu bánh mì Xuất hiện tâm lý chán nản, bấtmãn Đến lúc đó chính phủ quyết định rút khỏi cuộc khủng hoảng lương thựcbằng việc mua ngũ cốc của Mĩ Biện pháp tạm thời này không ngờ đã trở thànhchính sách của nhà nước cho đến khi Liên Xô tan rã

Kế hoạch 7 năm phát triển kinh tế quốc dân (1959- 1965) trong nôngnghiệp đã thất bại hoàn toàn, thay cho tăng trưởng 70% theo kế hoạch, chỉ đạt

có 15%

Trong công nghiệp: Liên Xô đã trở thành một quốc gia công nghiệp hùng

mạnh Vẫn như trước đây, chỗ dựa của công nghiệp là sản xuất tư liệu sản xuất,tới những năm 60 đã chiếm 3/4 tổng sản lượng công nghiệp Đặc biệt là côngnghiệp vật liệu xây dựng, chế tạo máy, luyện kim, hóa chất, dầu khí, điện năng(tăng 4-5 lần so với nửa đầu những năm 50)

Các xí nghiệp nhóm (B) (trước hết là công nghiệp nhẹ, thực phẩm, chếbiến gỗ, giấy) phát triển chậm hơn Tuy nhiên sản lượng công nghiệp nhómngành này cũng tăng hai lần Nhìn chung tốc độ trung bình sản xuất công nghiệptăng 10% Biện pháp chủ yếu để đạt được tốc độ phát triển đó chủ yếu vẫn làmang tính hành chính mệnh lệnh Ban lãnh đạo đất nước vẫn tin tưởng vào sự

Trang 10

phát triển của đất nước, trong khi các nhà lãnh đạo kinh tế phương Tây đã có dựđoán về sự tất yếu "cạn dần" tốc độ phát triển của công nghiệp Liên Xô.

Mặc dù đã thực hiện cơ giới hoá nền kinh tế nhưng trình độ khoa học kĩthuật của nó bắt đầu lạc hậu Tỉ lệ công nhân, nông dân lao động thủ công nặngnhọc, tay nghề thấp chiếm tỉ lệ cao (trong công nghiệp là 40%, trong nôngnghiệp là 75%) Nhiệm vụ này đã được thảo luận tại Hội nghị trung ương tháng

7 năm 1955 về khoa học- kĩ thuật Sau một số năm, năm 1958 hoá học được đưalên thành khâu chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật

Tuy nhiên, biểu tượng cho sự tiến bộ khoa học kĩ thuật ở Liên Xô là cuộcchinh phục vũ trụ Tháng 10 năm 1957 đã phóng thành công vệ tinh nhân tạođầu tiên Tiếp đó là những tên lửa vũ trụ đã đưa động vật lên vũ trụ, đổ bộ xuốngmặt trăng Và tháng 4 năm 1961, con người đã bước vào vũ trụ, người đầu tiêncủa trái đất, công dân Liên Xô: Iuri Gagarin Sau đó là tên tuổi của G Titốp, A.Nicôlaiep, Valentina Terêscôva

Trong cải cách kinh tế: Cuộc cải cách kinh tế lớn nhất tiến hành vào nửa

sau những năm 50 là cải cách việc điều hành công nghiệp dân sự và xây dựng

Sự chuyển từ nguyên tắc điều hành theo ngành sang sự điều hành theo lãnh thổ

là chủ yếu, loại bỏ 25 bộ công nghiệp thuộc Liên bang và nước cộng hoà liênbang, trong cả nước lập 105 khu hành chính kinh tế, giao các xí nghiệp thuộc bộcho các hội đồng kinh tế do khu hành chính kinh tế lập ra quản lí Năm 1958, lạicải tổ các trạm máy kéo cơ giới nông nghiệp, bán máy kéo cho các nông trangtập thể

Từ sau Đại hội đảng cộng sản Liên Xô năm 1961 cuộc cải cách được đẩymạnh một bước Tiếp tục nêu lên nguyên tắc cải cách cơ chế kinh tế, như mởrộng quyền hạn của các xí nghiệp, tăng cường kích thích kinh tế, lợi dụng đầy

đủ các đòn bẩy kinh tế Được sự ủng hộ của Khơrutsop, năm 1962, báo "Sựthật" đã đăng những kiến nghị của nhà kinh tế học Libécman về xí nghiệp thựchiện nguyên tắc kích thích lợi nhuận Trong gần hai năm, toàn Liên Xô đã thảoluận về việc triển khai cải cách cơ chế kinh tế

Trang 11

Tuy nhiên, cải cách cũng làm yếu mối liên hệ giữa các nước cộng hoà Đểkhắc phục tình trạng lệch lạc của chủ nghĩa địa phương, thúc đẩy sự tiến bộ kĩthuật, Đảng và chính phủ đã dùng đòn bẩy hành chính- mở rộng bộ máy điềuhành thành lập nền kinh tế quốc dân các nước cộng hòa, về sau đổi thành Hộiđồng tối cao kinh tế quốc dân Sự điều hành trở nên cồng kềnh, không cân đối.

Thành công lớn nhất trong lĩnh vực kinh tế dân sự là xây dựng nhà ở Tốc

độ xây dựng nhà ở trong nửa đầu những năm 60 đạt mức kỉ lục chưa hề biết đếntrước đó cũng như sau này Việc xây dựng nhà ở được thực hiện bằng biện phápcông nghiệp, trong một thời gian ngắn đã xây dựng xong hàng triệu km2 nhà ở.Nhiều khu dân cư mới được xây dựng

Sự thể nghiệm lớn về kinh tế quốc dân cuối những năm 50 là chuyển từ kếhoạch 5 năm sang kế hoạch 7 năm Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế quốc dânthông qua năm 1956 sau một vài năm đã thất bại Đảng và chính phủ đã vạch ra

kế hoạch 7 năm- 1959 đến 1965, bao gồm 2 năm cuối của kế hoạch 5 năm lầnthứ 6 và 5 năm tiếp theo

Sù thay đổi mốc kế hoạch đụng chạm tới một số vấn đề nh việc khai thácmiền Đông Liên Xô, tạo đà cho sự tiến bộ khoa học kĩ thuật và bổ sung thêmcác kế hoạch kinh tế quốc dân cho các nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế

Trong 7 năm, công nghiệp Liên Xô tăng lên gần gấp đôi (84% so với kếhoạch là 80%) Tuy nhiên, các xí nghiệp nhóm (B) vẫn không hoàn thành kếhoạch

1.2.2 Giai đoạn từ 1965 đến nửa đầu những năm 70.

Tháng 10 năm 1964, Khơrutsop bị phê phán là "ý chí luận", "chủ quanchủ nghĩa" nên bị lật đổ bằng cuộc đảo chính không đổ máu Trong tháng đó,các chức vụ lãnh đạo được phân công như sau: Bí thư thứ nhất là Brêgiơnhép,Chủ tịch hội đồng bộ trưởng là Côxưgin Chủ tịch đoàn chủ tịch Xô viết tối caoMicôian (từ năm 1965 chuyển sang Pốtgoocnưi) Từ đây chức vụ lãnh đạo Đảng

và chính phủ không tập trung vào một người như trước đây

Từ cuối năm 1964, ban lãnh đạo đất nước lại quyết định khuyến khích lợiÝch vật chất như đòn bẩy sản xuất xã hội bắt đầu từ nông thôn và nông nghiệp

Trang 12

Đường lối này được thông qua tại hội nghị Ban chấp hành trung ương tháng 3 vàtháng 9 năm 1965 Nghị quyết đó đi vào lịch sử là "cuộc cải cách kinh tế 1965".

Hội nghị tháng 3 đã vạch ra các biện pháp về nông nghiệp như: nâng caogiá thu mua nông sản, thiết lập sự thu mua ổn định theo kế hoạch của nhà nướctrong 6 năm (1965- 1970), thực hiện phụ cấp 50% cho sản lượng ngoài kếhoạch, tăng cường đầu tư vào nông thôn, trước hết là xây dựng các trạm máymóc nông nghiệp, xây dựng các điều lệ hợp tác xã nông nghiệp (ác ten) Nhờ tất

cả các biện pháp đó sản xuất nông nghiệp đã được đẩy mạnh, sự gay cấn vềlương thực bước đầu đã được giải quyết

Hội nghị tháng 9 vạch ra sự cải cách về điều hành công nghiệp: trở lạiquản lí theo vùng, đưa các xí nghiệp vào hạch toán kinh tế (tự quản, tự mua, tùtrang trải tài chính); kết hợp tính sáng tạo của nhà nước với sáng kiến địaphương Tháng 10 năm 1965 Xô viết tối cao Liên Xô thông qua đạo luật thànhlập các bộ liên bang và cộng hoà liên bang trong lĩnh vực công nghiệp, loại bỏcác uỷ ban kinh tế quốc dân

Cải cách dự kiến giảm đáng kể số lượng các chỉ tiêu kế hoạch do các bộvạch ra cho các xí nghiệp Các chỉ tiêu chủ yếu cần đạt được là: Khối lượng sảnphẩm thực tế, lợi nhuận sản xuất, tổng số lợi nhuận Để khuyến khích kinh tếcác xí nghiệp đối với lợi nhuận, Nhà nước cho phép thành lập quĩ khuyếnkhích Nó có thể được dùng vào phát triển sản xuất, giúp đỡ vật chất cho côngnhân viên chức, nhu cầu văn hoá xã hội và xây dựng nhà ở Giải quyết vấn đề về nhà ở từ chỗ do nhà nước đảm nhiệm nay chuyển một phầnsang cho các bộ chủ quản

Cải cách kinh tế 1965 được thực hiện thành công trong những năm kếhoạch 5 năm lần thứ 8 (1965- 1970) Tổng sản lượng công nghiệp tăng 56% Đãxây dựng được khoảng 1900 xí nghiệp lớn, trong đó có nhà máy ô tô Tôliachi.Năm 1970 nhà máy bắt đầu cho ra xưởng những chiếc Riguli đầu tiên Sản xuấtnông nghiệp tăng 21%

Tháng 11 năm 1969 ở Matxcơva đã diễn ra Đại hội lần thứ 3 các nôngtrang viên Liên Xô Đại hội đã thông qua Điều lệ mới của các nông trang (thay

Trang 13

cho Điều lệ năm 1935) Điều lệ mới duy trì quyền có kinh tế phụ, thực hiện trảtiền bảo hiểm và lương hưu cho các nông trang viên.

Trong những năm 70, tốc độ tăng trưởng kinh tế lại bắt đầu suy giảm, dẫnđến cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc Cải cách 1965 đã ngừng thực hiện, mặc

dù chưa được bao lâu giờ tuyên bố loại bỏ

Nông nghiệp lại đưa xuống hàng thứ hai, còn trong các lĩnh vực côngnghiệp, sự áp đặt hành chính từ trên xuống các xí nghiệp ngày một tăng Các Bộnắm tất cả các quyền của xí nghiệp, chấm dứt sự tự quản của họ

Tiếp đó, cán bộ vẫn như cũ, thậm chí chính người chủ xưởng của cải cách

là Côxưgin, đứng đầu chính phủ cũng thiếu quan tâm tới nó Cuối cùng, những

sự kiện ở Tiệp Khắc năm 1968- 1969 đã tăng cường phái bảo thủ trong Ban lãnhđạo Xô viết Cải cách kinh tế không được củng cố bằng cải cách hệ thống chínhtrị nên đã bị thất bại

Tóm lại, trong hơn hai thập niên kể từ năm 1950, mặc dù còn có nhữngsai lầm và thiếu sót, Liên Xô đã thu được những thành tựu phát triển to lớn trởthành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ), chiếmkhoảng 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới

Từ 1951- 1975, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp Xô viết hàng nămbình quân đạt 9,6% Tới năm 1970, sản lượng một số ngành công nghiệp quantrọng là: điện lực đạt 740 tỉ kilôoát giờ (gấp 352 lần năm 1913, bằng sản lượngđiện của 4 nước lớn Anh, Pháp, Tây Đức, Italia cộng lại), dầu mỏ đạt 353 triệutấn, than đạt 624 triệu tấn, và thép (năm 1971) đạt 121 triệu tấn, lần đầu tiênvượt Mĩ

Tuy gặp không Ýt khó khăn và phức tạp, sản lượng nông nghiệp đã cóchuyển biến và thu được nhiều thành tích nổi bật Sản lượng nông phẩm trongnhững năm 60 tăng trung bình hàng năm khoảng 16% Năm 1970, sản lượngnông nghiệp Liên Xô đạt được sản lượng và năng suất ngũ cốc chưa từng cótrong lịch sử đất nước với 186 triệu tấn ngũ cốc và năng suất trung bình 15,6 tạmột hécta

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w