1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân tố khoa học - kĩ thuật trong sự phát triển kinh tế ở Nhật Bản giai đoạn 1951 – 1973

117 927 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhật Bản phải phụ thuộc vào nhập khẩu tới 85% các tài nguyên năng lượng.“Thiên nhiên Nhật Bản đẹp, nhưng quả thật khắc nghiệt đối với con người ....con người Nhật Bản như càng được tôi l

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử phát triển, con người không ngừng lao động, khát khaokhám phá thế giới tự nhiên và xã hội để hoàn thiện bản thõn, xõy dựng cuộcsống ngày một tốt đẹp hơn Đã có những thời mà sự màu mỡ của đất đai, sựgiàu có của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự thuận lợi về vị trí địa lýhay sự đông đúc về dõn cư cũng làm nên sự giàu có của các quốc gia và đôikhi trở thành nhõn tố quyết định đến sự phát triển Trong thời đại ngày nay,các yếu tố thuận lợi tự nhiên đó cũng vẫn rất quan trọng nhưng không phải

là duy nhất và quyết định đến sự phát triển của các quốc gia

Thực tế, sự phát triển của lịch sử cho thấy, có những quốc gia, không

có, có rất ít tài nguyên thiên nhiên, không được thiên nhiên ưu đói nhưng vẫn

có thể phát triển giàu mạnh Nguyên nhân cơ bản đưa tới những thành tựuphát triển đú chính là nhờ khoa học - kĩ thuật cùng với những tiến bộ dochúng tạo nên Trong nửa sau thế kỷ XX, nhân loại đang trải qua một cuộccách mạng khoa học - kĩ thuật hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghệ vớiquy mô to lớn, nội dung sâu sắc và toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực Nhữngthành tựu và ứng dụng của khoa học – công nghệ đã làm thay đổi cơ bản cácnhân tố của sản xuất, đưa tới sự phát triển mạnh mẽ cho nhiều quốc gia Ởnhững quốc gia, phát huy tối đa được sức mạnh của khoa học - kĩ thuật, nềnkinh tế có sự phát triển vượt bậc, thậm chí là “thần kỳ” như Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, nằm trải hình cánh cung ở sườnphía đông của lục địa châu Á, gồm khoảng 3000 hũn đảo, trong đó có bốnhũn đảo lớn nhất là: Hokkaido, Hoshu, Shikoku, Kyushu Nhật Bản có mộtdiện tích không lớn,toàn bộ diện tích đất liền tớnh đến tháng 10 năm 1989 là377.688 km2, chỉ lớn hơn Phần Lan hoặc Ý một chút và bằng diện tích banglớn thứ năm của nước Mĩ – bang Montana [3,15] Phần lớn đảo của Nhật

Trang 2

Bản có núi và núi lửa, tiêu biểu là núi Phú Sĩ, cao nhất ở Nhật Bản Với dõn

số 123.612.000 người (năm 1990 ), Nhật Bản là một trong mười quốc gia códõn số lớn nhất thế giới - đứng hàng thứ bảy [3,15] Vùng Tokyô, bao gồmthủ đô Tôkyô và các tỉnh xung quanh có khoảng 30 triệu dõn sinh sống đãtrở thành vùng đô thị tập trung dõn đông nhất thế giới

Nằm trong vành đai lửa Thái Bình Dương, Nhật Bản luôn phải hứngchịu những trận động đất, nhiều núi lửa vẫn đang hoạt động đe doạ cuộcsống của người dõn Ngoài ra, sóng thần, bóo nhiệt đới cũng thường xuyênsảy ra ở Nhật Bản Không được thiên nhiên ưu đãi, Nhật Bản cũn là mộtquốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, hầu như không có dầu lửa, sắt, thanhoặc các tài nguyên khoáng sản khác Nhật Bản phải phụ thuộc vào nhập

khẩu tới 85% các tài nguyên năng lượng.“Thiên nhiên Nhật Bản đẹp, nhưng quả thật khắc nghiệt đối với con người con người Nhật Bản như càng được tôi luyện trong thiên nhiên nghiệt ngã họ đã vươn lên một cách độc đáo, trở thành một trong những dõn tộc đứng đầu thế giới về sự phát triển kinh tế kĩ thuật.” [17, 25]

Lịch sử đất nước Nhật Bản, có thể nói, là lịch sử của quá trình đấutranh không biết mệt mỏi, vươn lên, vượt qua những khó khăn thử tháchnhiều khi tưởng chừng không thể vượt qua nổi

Năm 1868, với cuộc Duy Tõn Minh Trị, đất nước Nhật Bản phongkiến nghèo đói và lạc hậu đã vượt qua khủng hoảng, sự đe doạ xõm lược củacác nước thực dõn phương Tõy vươn lên phát triển theo con đường tư bảnchủ nghĩa Nhật Bản nhanh chóng trở thành nước đế quốc phát triển nhấtchõu Á vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX

Tham gia vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, thuộc phe Trục Phátxít, Nhật Bản gõy nên cuộc chiến tranh ở chõu Á – Thái Bình Dương Cùngvới sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, tháng 8 năm 1945, Nhật Bản buộcphải ký Tuyên bố Potsdam đầu hàng quõn Đồng minh vô điều kiện Một

Trang 3

nước chiến bại sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã bị đè bẹp vềquõn sự, suy sụp về tinh thần, bị kiệt quệ về kinh tế Nhật Bản đã phải gánhchịu những thiệt hại nặng nề nhất từ trước tới giờ Số người chết và bịthương và mất tích lên tới khoảng 3 triệu người Nền kinh tế lõm vào tìnhtrạng kiệt quệ, 40% đô thị, 80% tầu bè, 34% máy móc công nghiệp bị pháhuỷ, 13 triệu người thất nghiệp Thảm hoạ đói rét đe doạ toàn nước Nhật.[40,292]

Trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn tưởng chừng không thể vượtqua nổi ấy, một lần nữa, ý chí quật cường của người dõn Nhật Bản lại đượcthể hiện và chứng minh bằng thực tiễn

Từ đống tro tàn đổ nát của chiến tranh, sau một thời gian ngắn phụchồi, phát triển, đến đầu thập niên Nhật Bản đã vươn lên, trở thành một trong

ba trung tõm kinh tế - tài chớnh của thế giới (cùng với Mĩ và Tõy Âu) Cónhiều quan điểm đánh giá khác nhau về sự phát triển kinh tế của Nhật Bảntrong giai đoạn này nhưng tất cả đều thống nhất, trên phương diện kinh tế,

sự phát triển của Nhật Bản trong những năm 1951 đến năm 1973 là một hiệntượng nổi bật, “thần kỳ”

Sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản (1951 – 1973) là rừ ràng,không thể phủ nhận và để có được sự phát triển đó là đóng góp của nhiềunhõn tố hợp thành Đưa tới sự phát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bảntrong giai đoạn lịch sử này có nhiều nguyên nhõn, trong đó không thể khôngnhắc đến vai trò của nhõn tố khoa học - kĩ thuật hiện đại Những thành tựucủa khoa học - kĩ thuật hiện đại đã được Nhật Bản ứng dụng thường xuyên

và hiệu quả tạo nên tớnh cạnh tranh hơn hẳn cho hàng hoá Nhật bởi sựphong phú, đa dạng, tiện ích, giá cả cạnh tranh và tiết kiệm năng lượng

Như vậy, trong những nguyên nhõn phát triển, khoa học - kĩ thuật làmột nhõn tố quan trọng hàng đầu không thể thiếu, tạo động lực phát triển

“thần kỳ” cho nền kinh tế Nhật Bản

Trang 4

Sau hàng thập kỷ đấu tranh giành và giữ nền độc lập dõn tộc, bị chiếntranh tàn phá nặng nề, nền kinh tế ở xuất phát điểm thấp kém hơn so với cácnước phương Tõy, đất nước Việt Nam ta cũng đang trong quá trình khôiphục và phát triển đi lên Trong quá trình xõy dựng và phát triển kinh tế hiệnnay, tỡm hiểu về sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản là mộtvấn đề hết sức thiết thực, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu tỡm hiểu.Các công trình nghiên cứu đã thấy được sự phát triển “thần kỳ” của NhậtBản, đánh giá một cách khách quan về những nguyên nhõn phát triển củagiai đoạn phát triển này Nghiên cứu riêng về nhõn tố khoa học - kĩ thuật sẽgóp phần làm sõu sắc thêm một trong những nguyên nhõn tạo nên sự pháttriển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản Qua đó, có thể rút ra một số kinhnghiệm cho sự phát triển kinh tế của một số nước đang phát triển, trong đó

có Việt Nam

Đặc biệt, hiểu rừ vai trò của nhõn tố khoa học - kĩ thuật trong pháttriển kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1951 – 1973, khi giảng dạy ở các trườngTHPT sẽ có tác dụng giáo dục to lớn cho các em học sinh về ý thức học tập,tiếp thu những kiến thức khoa học - kĩ thuật cơ bản Trong công cuộc xõydựng và phát triển đất nước hiện nay, trách nhiệm của các em học sinh, chủnhõn tương lai của đất nước là học tập, trau dồi kiến thức, tích cực thu nhậnkiến thức ở nhà trường phổ thông để mai này lập nghiệp, đóng góp công sứcvào công cuộc phát triển đi lên của đất nước Với tất cả những lý do khoa

học và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Nhõn tố khoa học - kĩ thuật trong sự phát triển kinh tế ở Nhật Bản giai đoạn 1951 – 1973” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhật Bản, một quốc gia phong kiến với nền văn hoá truyền thống độcđáo, sớm tiếp thu công nghệ phương Tõy, vươn lên trở thành một cườngquốc ở chõu Á, ngang hàng với các nước tư bản phương Tõy vào cuối thế kỷ

Trang 5

XIX đầu thế kỷ XX Nửa sau thế kỷ XX, thế giới lại một lần nữa nhắc đếnNhật Bản như là một hiện tượng “thần kỳ” trong phát triển kinh tế.

Nghiên cứu lịch sử Nhật Bản nói chung, nghiên cứu sự phát triển

“thần kỳ” của Nhật Bản nói riờng là những vấn đề lịch sử hấp dẫn, thu hútnhiều nhà khoa học, lịch sử trong và ngoài nước nghiên cứu

Giới thiệu về đất nước Nhật Bản, lý giải sự phát triển mạnh mẽ củamình, phải kể đến rất nhiều những công trình nghiên cứu của các nhà khoahọc Nhật Bản

Eiichi Aoki làm chủ biên, đã giới thiệu một cách khái quát nhất về đất

nước Nhật Bản trong cuốn sách Nhật Bản - đất nước và con người Sách

do Nguyễn Kiên Trường dịch, nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2008.Trong tác phẩm gần 500 trang, tác giả đã giới thiệu một cánh khái quát, đầy

đủ nhất về đất nước, con người Nhật Bản Trong phần lịch sử và kinh tế, tácgiả đã nêu lên những nét khái quát về đặc điểm, quá trình phát triển củakhoa học, công nghệ Nhật Bản

Takafusa Nakamura là một nhà nghiên cứu kinh tế Nhật Bản cho xuất

bản nhiều cuốn sách có giá trị khoa học, lịch sử Trong 3 tập của cuốn Kinh

tế Nhật Bản sau chiến tranh: sự phát triển và cơ cấu, Takafusa đã tỡm

hiểu một cánh hệ thống, toàn diện về nền kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranhthế giới thứ hai đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX Tác giả tậptrung nghiên cứu sự thay đổi về cơ cấu, tốc độ phát triển của nền kinh tếNhật Bản qua các thời kỳ: kết thúc chiến tranh, tăng trưởng nhanh và kếtthúc tăng trưởng nhanh Trong các cuốn sách, nhất là ở tập 2, nhõn tố khoahọc - kĩ thuật cũng được đề cập đến trong sự thay đổi về cơ cấu, phát triểncủa ngành công nghiệp hoá chất, công nghiệp nặng thời kỳ tăng trưởngnhanh Sách do Viện kinh tế thế giới, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam ấnhành năm 1988 Năm 1998, nhà xuất bản Chớnh trị quốc gia đã xuất bản

cuốn sách của Nakamura: Những bài giảng về lịch sử kinh tế Nhật Bản

Trang 6

hiện đại 1926 - 1994, Lưu Ngọc Trịnh dịch Cuốn sách đã tập trung trình

bày những biến đổi lớn của nền kinh tế Nhật Bản từ năm 1926 đến năm

1994 Qua việc trình bày các chớnh sách của Chính phủ Nhật Bản nhằmthúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng qua các thời kỳ, độc giả sẽ nhận thấy cácchớnh sách về khoa học - kĩ thuật và tác động của các chớnh sách này đốivới sự tăng trưởng kinh tế

Nhà sử học Seki Mitsuhiro khi trình bày khái quát về sự phát triển củakinh tế Nhật Bản trong bối cảnh phát triển chung của kinh tế thế giới, đặcbiệt là nền kinh tế Đông Nam Á đã trình bày khoa học - kĩ thuật như mộtnguyên nhõn thúc đẩy phát triển kinh tế Nhật Bản và là công cụ để Nhật Bản

kết nối với kinh tế Đông Nam Á trong kỷ nguyên mới Công trình Kinh tế Nhật Bản trong kỷ nguyên Đông Nam Á mới do Phạm Bích Thu và Thang

Bích Liên dịch, nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1998

Hai nhà nghiên cứu Kazushi Ohkawa và Hirohisa Komaha trong công

trình Kinh nghiệm công nghiệp hoá của Nhật Bản và tác dụng của nó đối với các nền kinh tế đang phát triển đã cung cấp cho các độc giả một cách

toàn diện về điều kiện, quá trình công nghiệp hoá của kinh tế Nhật Bản từthời Minh Trị Duy Tân đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX Từ đó tác giả

đã nêu ra một số kinh nghiệm thiết thực cho quá trình công nghiệp hoá củacác nước đang phát triển Tất nhiên, một trong những yếu tố hàng đầu của quátrình công nghiệp hoá là sự phát triển khoa học - kĩ thuật của Nhật Bản Sách

do Bùi Tất Thắng dịch, nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2004

Saburo Okita, trong công trình Các nền kinh tế đang phát triển và Nhật Bản: Những bài học về tăng trưởng, đã tỡm hiểu khoa học - kĩ thuật

như một biện pháp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Nhật Bản qua các thời kỳphát triển Sách do Viện kinh tế thế giới, Uỷ ban khoa học - xã hội Việt Namphát hành năm 1988

Trang 7

Tỡm hiểu một cách toàn diện nền kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranhthế giới thứ hai tới những năm 80 của thế kỷ XX, không thể không nhắc đếncông trình nghiên cứu của tập thể các tác giả thuộc Viện nghiên cứu Đại học

Chuo: Kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai Sách được nhà

nghiên cứu Phạm Hưng Long dịch, nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hànhnăm 1992 Khi trình bày sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản các tác giảcũng đã đề cập đến sự phát triển của khoa học - kĩ thuật như một biểu hiện,nguyên nhõn thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nhật Bản qua các thời kỳ

Cùng các công trình nghiên cứu của Nhật Bản, tỡm hiểu về lịch sử,kinh tế và khoa học - kĩ thuật Nhật Bản phải kể đến nhiều công trình nghiêncứu của các nhà khoa học Mĩ, Anh, Trung Quốc

Ezraf Vogel, với kinh nghiệm của một nhà ngoại giao, một nhà sử học

đã có thời gian sống ở Nhật Bản khá dài, trong cuốn sách Hoa kỳ học gì ở Nhật Bản, đã cho thấy một cách khách quan sự phát triển nhanh chóng của

nền kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập niên 80của thế kỷ XX Từ những nghiên cứu của mình, Ezraf đã rút ra những bàihọc kinh nghiệm cho phát triển kinh tế nước Mĩ mà trong đó nhõn tố khoahọc - kĩ thuật rất được chú trọng Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bảncuốn sách này bằng cả hai thứ tiếng Anh và Việt năm 1990

Martin Wolf, trong cuốn sách Những bài học từ sự thành công của kinh tế Nhật Bản (Nguyên Vũ biên soạn), đã cung cấp cho bạn đọc những

bài học kinh nghiệm bổ ích rút ra từ sự thành công trong phát triển kinh tếNhật Bản Trong những bài học đó, đương nhiên có bài học về sự vận dụng

và sáng tạo khoa học - kĩ thuật của Nhật Bản trong phát triển kinh tế

Nhà sử học Geoge Samson trong trình bày khái quát tiến trình lịch sửNhật Bản từ khởi thuỷ đến hiện đại, khi trình bày sự phát triển kinh tế NhậtBản thời hiện đại cũng đã đề cập đến sự phát triển của khoa học - kĩ thuật

Trang 8

Nhật Bản Ba tập cuốn sách Lịch sử Nhật Bản do Lê Năng An dịch, nhà

xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1994 và 1995

Nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản cũng là vấn đề học giả G.C

Allen tỡm hiểu qua cuốn sách Chớnh sách kinh tế của Nhật Bản Nền kinh

tế Nhật Bản được tác giả đề cập đến dưới góc độ tác động của các chớnhsách của Nhà nước, qua các thời kỳ lịch sử Nhật Bản Trong các chớnh sáchcủa nhà nước, một phần quan trọng là các chớnh sách phát triển khoa học -

kĩ thuật Sách được Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện kinh tế thế giớixuất bản năm 1988

Hai nhà nghiên cứu Trần Bình Phú và Lõm Trác Sử (Trung Quốc),

trong cuốn sách Phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ ở châu Á,

Phạm Quang Huy và Trần Đức Long dịch, nhà xuất bản Khoa học xã hộixuất bản năm 2000, cũng đã nêu ra một số vấn đề lý thuyết và thực tiễntrong phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ châu Á Các tác giả đãphõn tích những vấn đề lý thuyết chuyển giao công nghệ ở Nhật Bản, hệthống chuyển giao công nghệ ở Nhật Bản và kinh nghiệm áp dụng cho cácnước chõu Á

Trong bối cảnh phát triển kinh tế sau chiến tranh với nhiều khó khăn,trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, các nhà khoa học Việt Nam đã cónhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lịch sử và kinh tế Nhật Bản qua cácthời kỳ

Nhúm các tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Đinh Ngọc Bảo, Đỗ thanhBình, Trần Thị Vinh, đã tìm hiểu khái quát về lịch sử đất nước Nhật Bản từ

thời tiền sử tới thời hiện đại qua cuốn sách Lịch sử đất nước Nhật Bản Các

tác giả đã cung cấp cho độc giả những kiến thức khái quát nhất về tự nhiên,lịch sử, đất nước và con người Nhật Bản qua các thời kỳ lịch sử, trong đú có sựphát triển “thần kỳ” của kinh tế Nhật Bản những năm 1951 - 1973

Trang 9

Tiến sĩ Nguyễn Đăng Doanh, năm 1998 đã chủ biên cuốn sách Nõng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước: Kinh nghiệm của Nhật Bản và ý nghĩa áp dụng với Việt Nam Khi tỡm hiểu những

chớnh sách nõng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, các tác giả đã chỉ

ra được những biện pháp thúc đẩy khoa học - kĩ thuật của Nhật Bản qua cácgiai đoạn phát triển

Tỡm hiểu về kinh tế Nhật Bản, nhất là từ sau Chiến tranh thế giới thứhai đến nay phải kể đến những công trình nghiên cứu của nhà khoa học LêVăn Sang Năm 1988, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện kinh tế thế

giới xuất bản cuốn sách Kinh tế Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” của Ông.

Cuốn sách nghiên cứu sự phát triển kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1951 - 1973.Tác giả tỡm hiểu nguyên nhõn phát triển, sự phát triển của nền kinh tế NhậtBản, hậu quả của sự phát triển đó và yếu tố khoa học - kĩ thuật được tác giảtỡm hiểu như một nhõn tố thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản

Tương tự cuốn sách trên, năm 1991, cùng tiến sĩ Lưu Ngọc Trịnh, tiến

sĩ Lê Văn Sang đồng chủ biên cuốn sách Nhật Bản đường đi tới một siêu cường kinh tế dày 342 trang, nhà xuất bản Khoa học xã hội Trong cuốn

sách, các tác giả đã trình bày những bước phát triển của nền kinh tế NhậtBản một cách có hệ thống từ thời Minh Trị (1868) đến nửa đầu những năm

80 của thế kỷ XX Trình bày về sự phát triển kinh tế, yếu tố khoa học kĩthuật được các tác giả tỡm hiểu như một yếu tố cấu thành, biểu hiện pháttriển của nền kinh tế Nhật Bản qua các thời kỳ nói chung

Tiếp theo, phải kể đến các công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Lưu NgọcTrịnh Tìm hiểu về Nhật Bản, nhất là sự phát triển kinh tế, các nhân tố tác độngđến sự phát triển kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho tới nay,

Lưu Ngọc Trịnh cú cỏc công trình Chiến lược con người trong “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996; Kinh tế Nhật Bản: những thăng trầm trong lịch sử, nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1998

Trang 10

Tỡm hiểu riêng về sự phát triển của khoa học - kĩ thuật từ thời cổ đại

cho đến nay là nội dung cuốn sách Lịch sử kĩ thuật và cách mạng công nghệ đương đại Tác giả Hoàng Đại Phu, nhà xuất bản Khoa học - kĩ thuật

xuất bản năm 1997 Trong cuốn sách này, khoa học - kĩ thuật đã được tỡmhiểu một cách khái quát, từ nguyên nhõn ra đời, nguồn gốc phát triển đếnnhững thành tựu, tác động của những thành tựu đó đến cuộc sống của conngười Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hay cũn gọi là cuộc cách mạngcông nghệ đang diễn ra được tác giả nghiên cứu một cách toàn diện, nêu rừnhững thành tựu cũng như những hạn chế, thách thức mà cuộc cách mạngnày đang đặt ra cho nhõn loại phải giải quyết Đặc biệt, tác giả đã dành hẳn

một chương – chương XI, Công nghệ và sự phát triển tại một số nước (hơn

30 trang) để trình bày về chớnh sách của các quốc gia, trong đó có NhậtBản, về phát triển khoa học công nghệ; về những thành tựu, tác động củacuộc cách mạng công nghệ đương đại đối với nền kinh tế và đời sống củacác quốc gia này

Như vậy, rừ ràng đề tài mà chúng tôi nghiên cứu chưa được khai thácmột cách hệ thống, riêng biệt mà mới chỉ nằm rải rác trong những cuốnsách Vì thế, trong quá trình tập hợp tư liệu luận văn, chúng tôi cố gắng trìnhbày một cách có hệ thống, chuyên sõu về những chớnh sách phát triển,những thành tựu mà Nhật Bản đạt được trong khoa học - kĩ thuật và tácđộng, vai trò của nhõn tố khoa học - kĩ thuật đến sự phát triển kinh tế NhậtBản giai đoạn 1951 - 1973 để từ đó rút ra những đặc điểm, kinh nghiệm chocác nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nhõn tố khoa học - kĩ thuật trong sự phát triển kinh

tế Nhật Bản giai đoạn 1951 - 1973 Để làm rừ sự phát triển của khoa học - kĩthuật Nhật Bản giai đoạn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các chớnh

Trang 11

sách của nhà nước nhằm phát huy nhõn tố khoa học - kĩ thuật; Tác động củacác chớnh sách này đối với sự phát triển của các ngành kinh tế Nhật Bảntrong giai đoạn này như thế nào

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài không nhằm mục đích tỡm hiểu toàn bộ nền kinh tế Nhật từ sauChiến tranh thế giới thứ hai đến nay mà tập trung chủ yếu vào nghiên cứunhõn tố khoa học - kĩ thuật trong sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản giaiđoạn 1951 – 1973

Sau một thời gian hàn gắn vết thương chiến tranh (1945 - 1950), đếnnăm 1951, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu phục hồi đạt mức trước chiến tranh

và phát triển “thần kỳ” Trong sự phát triển đó, khoa học - kĩ thuật đóng mộtvai trò quan trọng, như một lực lượng sản xuất trực tiếp Đề tài tập trungnghiên cứu những chớnh sách thúc đẩy khoa học - kĩ thuật phát triển củaChớnh phủ, các công ty, xí nghiệp Nhật Bản; tác động của các chớnh sáchđến sự phát triển khoa học - kĩ thuật và nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1951

- 1973, giai đoạn tăng trưởng nhanh

3.3 Nhiệm vụ đề tài

Trước hết, đề tài tập trung tỡm hiểu về vai trò của nhõn tố khoa học

-kĩ thuật đối với sự phát triển của kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giớithứ hai Thấy được tớnh tất yếu, nhu cầu bức thiết của việc phát triển khoahọc - kĩ thuật của Nhật Bản

Từ yêu cầu của thực tiễn, Nhật Bản có cơ sở và các chớnh sách gì đểphát triển khoa học - kĩ thuật Tác dụng của các chớnh sách này chớnh là sựứng dụng khoa học - kĩ thuật đưa tới sự phát triển kinh tế Nhật Bản

Trên cơ sở những vấn đề nghiên cứu, rút ra nhận xét, thấy đượcnhững ưu điểm và hạn chế của sự phát triển khoa học - kĩ thuật cũng nhưphát triển kinh tế Nhật Bản giai đoạn lịch sử này Từ những đặc điểm, nhận

Trang 12

xét đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển khoa học - kĩthuật, phát triển kinh tế của các nước đang phát triển.

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhận thấy có hainguồn tài liệu chớnh, đó là

Nguồn tư liệu gốc: Các văn bản của Nhà nước, Chính phủ Nhật Bản

có liên quan tới việc phát triển khoa học - kĩ thuật, định hướng phát triểnnền kinh tế giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1973

Nguồn tư liệu tham khảo khác, bao gồm các tài liệu chuyên khảo, các bàiviết của các nhà nghiên cứu phương Tây, Nhật Bản và Việt Nam đăng trờn cỏctạp chí hoặc được dịch trong tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam Nguồn tàiliệu này khá phong phú và mang nhiều quan điểm đỏnh giá khác nhau

Ngoài ra, chúng tôi cũng có tham khảo một số cuốn sách, tập tư liệuchuyên đề được các nhà xuất bản phát hành trong những năm gần đõy

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác –Lênin, theo đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

Tuõn thủ theo phương pháp nghiên cứu đặc thù của bộ môn lịch sử,

đề tài được nghiên cứu trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học Các vấn

đề đưa ra đều được đặt trong bối cảnh lịch sử, thời gian và không gian lịch

sử cụ thế để xem xét, đánh giá

Trên cơ sở xem xét toàn diện, khách quan các vấn đề, có sự liên hệ sosánh rồi rút ra nhận định, đánh giá và bài học kinh nghiệm cụ thể

5 Đóng góp của luận văn

Đề tài đóng góp thêm những hiểu biết về nền kinh tế Nhật Bản tronggiai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ sau Chiến tranh thế giới thứ hai dưới tácđộng của một nhõn tố sản xuất

Trang 13

Đề tài đồng thời cũng cung cấp thêm những hiểu biết về sự phát triểncủa cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật sau chiến tranh thế giới hai, sự pháttriển của nhõn tố này ở một quốc gia, một nền kinh tế cụ thể Đề tài cũngcho thấy rừ vai trò, tác động của khoa học - kĩ thuật, “lực lượng sản xuấttrực tiếp” thời hiện đai, đến sự phát triển của một nền kinh tế điển hình cho

sự tăng trưởng mạnh mẽ - Nhật Bản

Từ sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản, dưới tác độngcủa khoa học - kĩ thuật, rút ra được những bài học kinh nghiệm thiết thựccho các nước cũn đang trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu Trong thời đạikhoa học – công nghệ hiện nay, những bài học kinh nghiệm của Nhật Bản

có khả năng ứng dụng vào công cuộc xõy dựng và phát triển đất nước, đưacác nước thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu

Trang 14

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

TÍNH TẤT YẾU PHẢI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC – KĨ THUẬT CỦA NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

1.1 Khái niệm khoa học - kĩ thuật

Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, xã hội loài người cũng là một hệthống hết sức phức tạp, cấu thành bởi nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hoá, tưtưởng, Tất cả những lĩnh vực đó đều tác động đến hoạt động của con người

và thông qua các hoạt động của con người, mà hoạt động của con người thìbao giờ cũng có ý thức, do ý chí chỉ đạo Trên quan điểm duy vật biện chứng,xuất phát từ đời sống hiện thực của con người là sản xuất ra của cải vật chất,C.Mỏc đã phát hiện ra hai mặt không tách rời nhau: một là quan hệ giữangười với tự nhiên, mặt khác là quan hệ giữa người với người trong sản xuất

“Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau” [19,552]

Quan hệ giữa người với tự nhiên trong sản xuất chớnh là lực lượngsản xuất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của conngười trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất là toàn

bộ các lực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cảivật chất, bao gồm: người lao động (với thể lực, tri thức và kỹ năng lao độngnhất định) và tư liệu sản xuất (công cụ lao động)

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thểcủa quá trình lao động sản xuất Bằng thể lực, tri thức và kỹ năng lao độngcủa mình, người lao động sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ laođộng, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất Cùng với

Trang 15

quá trình phát triển của sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của conngười nhất là trí tuệ ngày càng được nõng cao và dần dần lao động trí tuệ trởthành nhõn tố chớnh, “lực lượng sản xuất trực tiếp”.

Khoa học - kĩ thuật là sản phẩm của hoạt động nhận thức và phát triểntrí tuệ của con người Con người sử dụng khoa học - kĩ thuật để cải tạo đốitượng lao động, bảo vệ thiên nhiên làm ra của cải vật chất, tinh thần phục vụnhu cầu cuộc sống Khoa học - kĩ thuật đồng thời cũng là phương tiện đểcon người hoàn thiện bản thõn mình với tư cách là một lực lượng sản xuấtđặc biệt

Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, ngay từ khi xuất hiện, conngười đã phải lao động, phải sản xuất ra của cải vật chất

Khoa học là “Lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất

ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy” [41,556] Khoa học bao

gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này là: nhữngnhà khoa học với những tri thức và những nhân lực, trình độ và kinh nghiệmcủa họ với sự phân công và hợp tác lao động khoa học; những cơ quan khoahọc, những trang bị thực nghiệm và thí nghiệm; những phương pháp của côngtác nghiên cứu khoa học, hệ thống khái niệm và phạm trù; hệ thống thông tinkhoa học cũng như toàn bộ tổng số những tri thức hiện có với tư cách hoặc làtiền đề, hoặc là phương tiện, hoặc là kết quả của sản xuất khoa học Nhữngkết quả này cũng có thể là một trong những hình thái ý thức xã hội

Theo quan điểm của những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa thực chứngnhận định thì khoa học chỉ bó hẹp vào những ngành khoa học tự nhiên haynói cách khác khoa học chỉ có ở những ngành “khoa học chớnh xác” Thực

tế, trên quan điểm duy vật biện chứng, khoa học được coi là một hệ thốnghoàn chỉnh bao gồm một tương quan cơ động trong lịch sử giữa các bộ mônkhác nhau: tự nhiên học và khoa học nghiên cứu xã hội, giữa phương pháp

và lý luận và nghiên cứu ứng dụng Khoa học là kết quả tất yếu của phõn

Trang 16

công lao động xã hội; nó xuất hiện tiếp theo việc tách lao động trí óc khỏilao động chõn tay, cùng với việc biến hoạt động nhận thức thành một loạicông việc đặc thù của một nhúm người đặc biệt, số người này ban đầu có sốlượng rất ít.

Các nhà nước phương Đông cổ đại (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, TrungQuốc), đã tạo tiền đề cho sự ra đời của khoa học Các quốc gia này đã tíchluỹ và lý giải được những tri thức kinh nghiệm về tự nhiên và xã hội, xuấthiện những mầm mống của thiên văn học, toán học, đạo đức học, logớc học.Những thành tựu này của nền văn minh phương Đông đã được lĩnh hội vàxõy dựng lại thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh ở Hy Lạp cổ đại, nơi mà

từ đầu thế kỷ IV TCN đã xuất hiện những nhà tư tưởng chuyên nghiên cứukhoa học, đoạn tuyệt với hệ thống tôn giáo và thần thoại Từ đó đến trướccách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII, XIX, chức năng chớnh của khoa học

là giải thích, nhiệm vụ cơ bản của khoa học là nhận thức nhằm mở rộngnhón quan về thế giới, về tự nhiên mà con người là một bộ phận trong đó.Chỉ khi sản xuất bằng máy móc trên quy mô lớn ra đời mới có điều kiệnbiến khoa học từ chỗ là một nhõn tố mang tớnh chất tư biện là chủ yếu thànhmột nhõn tố tích cực của bản thõn sản xuất Giờ đõy, nhiệm vụ nhận thứcvới mục đích sửa đổi cải tạo tự nhiên được nêu lên như là nhiệm vụ cơ bảncủa khoa học

Kĩ thuật (hay kỹ thuật) được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt thông

dụng là Tổng thể nói chung những phương tiện và tư liệu hoạt động của con người, được tạo ra để thực hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu cầu phi sản xuất của xã hội [46,501]

Kĩ thuật, technology (tiếng Anh) hoặc technologie (tiếng Pháp) với ýnghĩa khoa học về các kĩ thuật, hoặc sự nghiên cứu có hệ thống về các kĩthuật Cũn thuật ngữ kĩ thuật (technic hoặc technique) thì đã có từ thời HyLạp cổ đại (techne’ ) Thông thường, người ta sử dụng thuật ngữ technology

Trang 17

để chỉ các kĩ thuật cụ thể bắt nguồn từ những thành tựu khoa học như là một

sự phát triển của khoa học trong các ứng dụng thực tiễn, nhằm đưa lại hiệuquả thực tế cho hoạt động của con người Trong thời đại hiện nay tiến bộ kĩ

thuật cũn được phát biểu một cách hết sức nhõn văn là “chỗ gặp nhau giữa cái có thể được thực hiện được về mặt kĩ thuật và cái đáng được mong muốn về mặt xã hội” [31,190]

Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại,khoa học với tư cách là một hệ thống đang được xõy dựng lại một cách mới

về cơ bản Muốn khoa học có thể đáp ứng được nhu cầu của sản xuất hiệnđại, các tri thức khoa học phải trở thành tài sản của một đội ngũ đông đảonhững chuyên gia, kỹ sư, những người tổ chức sản xuất và công nhõn Khoahọc thời hiện đại mang những nét đặc trưng mới Nó không chỉ đơn thuần đitheo sự phát triển của kĩ thuật mà cũn vượt qua kĩ thuật, trở thành lực lượngchủ chốt của tiến bộ sản xuất Toàn bộ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học(trong khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội) đã có tác dụng thúc đẩysản xuất xã hội Nếu như trước kia khoa học phát triển như một thể chế xãhội bị cô lập hoá, thì ngày nay, khoa học xõm nhập vào mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Tri thức khoa học và quan điểm khoa học là cần thiết trong sảnxuất vật chất, trong kinh tế, trong chớnh trị, trong lĩnh vực quản lý, trong hệthống giáo dục Cho nên, khoa học đang phát triển với một nhịp độ nhanhhơn mọi lĩnh vực hoạt động khác

Sự phát triển của khoa học - kĩ thuật đến một mức độ nhất định biếnthành cách mạng Nửa sau thế kỷ XX được lịch sử ghi nhận là thời kỳ nhõnloại đang trải qua một cuộc cách mạng to lớn trong sản xuất: Cách mạng

khoa học - kĩ thuật “Cách mạng khoa học kĩ thuật là sự biến đổi về chất diễn ra trong hệ thống lực lượng sản xuất hiện đại, bảo quản mọi khía cạnh của những quan hệ công nghệ và tiêu biểu ở chỗ kĩ thuật bước vào giai đoạn phát triển mới của mình là giai đoạn tự động hoá”.[41,134] Nếu như

Trang 18

trước kia, sản xuất bằng máy móc bắt buộc con người phải trực tiếp tham dựvào quy trình công nghệ, phải thực hiện những chức năng cơ giới, kĩ thuậtthì nay sản xuất hoàn toàn tự động hoá Ở đó, đối tượng lao động hoàn toàn

là do chớnh hệ thống kĩ thuật gia công, hệ thống này hoạt động không cần

có sự tham gia trực tiếp của công nhõn Bản chất xã hội của cuộc cách mạngkhoa học - kĩ thuật là ở sự biến đổi vị trí vai trò của con người trong sảnxuất Tự động hoá, về nguyên tắc không những không hạ thấp mà cũn nõngcao vai trò của con người trong quá trình sản xuất Con người, được giảiphóng khỏi việc thực hiện những chức năng máy móc, kĩ thuật, có khả năng

để tõm vào lao đông sáng tạo, trình độ văn hoá kĩ thuật của con người đượcnõng cao Chớnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kĩ thuật đã cho phéplực lượng sản xuất tiến những bước khổng lồ Với những tiến bộ vượt bậc,sức mạnh to lớn của mình, khoa học - kĩ thuật giúp con người có điều kiệntốt hơn để học tập, nghiên cứu phát triển trí tuệ và con người, với nhữnghoạt động của mình tác động ngược lại sự phát triển của khoa học - kĩ thuật,thúc đẩy những tiến bộ xã hội

1.2 Các yếu tố đòi hỏi Nhật Bản phải phát triển khoa học – kĩ thuật 1.2.1 Yếu tố khách quan

1.2.1.1 Vai trò của khoa học – kĩ thuật

Suốt hàng chục thế kỷ, trong lịch sử phát triển lõu dài của xã hội loàingười, tiến bộ kĩ thuật và tiến bộ công nghệ diễn ra theo kinh nghiệm, dựatrên sự tích luỹ kinh nghiệm từ thực tiễn sản xuất của con người, không cóhoặc có rất ít sự tham gia của khoa học Nhưng vào khoảng giữa thế kỷ XX,

từ những quá trình chuyên biệt trước đõy, tiến bộ khoa học và tiến bộ kĩthuật phát triển mạnh mẽ, trở thành một quá trình thống nhất – quá trình tiến

bộ khoa học kĩ thuật

Trở lại lịch sử xa xưa, có một thời kỳ dài trong lịch sử, để duy trì sựtồn tại, con người đã phải tạo ra những kĩ thuật và công nghệ cần thiết mà

Trang 19

chưa có một luận chứng khoa học nào cả Chẳng hạn, cuối thời nguyên thuỷ,cuộc cách mạng kĩ thuật đầu tiên thời đá mới với việc phát minh ra dùngthừng, cung tên, kĩ thuật mài, khoan đồ đá, con người biết đến săn bắn, đánh

cá, trồng trọt và chăn nuôi; ở thời cổ đại, thế kỷ VII - VI TCN, cuộc cáchmạng mới bắt đầu bằng việc nấu chảy kim loại, chế tạo công cụ lao độngbằng kim loại thay thế cho công cụ đá; hay cuộc cách mạng kĩ thuật thế kỷ

X - XII với động cơ chạy bằng sức gió và sức nước Những thành tựu trênchứng thực rằng tất cả những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ đó bắt nguồn từkinh nghiệm sản xuất tích luỹ qua nhiều thế hệ chứ không phải có căn cứkhoa học, trải qua hàng triệu, vạn năm phát triển của loài người Chớnh bởivậy, ở giai đoạn phát triển này của xã hội loài người, độ màu mỡ của đất đai,

sự giàu có của các nguồn tài nguyên thiên nhiên tái sinh và không tái sinh,

sự thuận lợi về vị trí địa lý, sự đông đúc của cư dõn đã làm nên sự giàu cócủa các quốc gia khác nhau Trong thời đại của chúng ta, tất cả những yếu tố

đó cũng vẫn rất quan trọng và cũng cần phải tớnh đến, song chớnh tiềmnăng khoa học, kĩ thuật và công nghệ cùng với những tiến bộ do chúng tạonên mới thực sự là những chỉ số có ý nghĩa nhất nói lên trình độ thực tế vàkhả năng tiềm tàng bảo đảm cho sự phát triển nhanh chóng của các lựclượng sản xuất, của sức mạnh kinh tế và quõn sự của mỗi quốc gia

Cuộc cánh mạng khoa học - kĩ thuật đương đại (cách mạng côngnghệ) có nội dung phong phú và phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so vớinhững đổi thay về khoa học kĩ thuật của những giai đoạn lịch sử trước đó.Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay đang phát triển sõu rộng

và diễn ra hết sức sôi động, bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của conngười với những thành tựu to lớn và kỳ diệu, vượt xa những trong đợi và dựđoán của con người

Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật sau Chiến tranh thế giới thứ haiđến nay không chỉ là một hiện tượng thuần tuý về khoa học - kĩ thuật mà

Trang 20

cũn là một hiện tượng lịch sử, một bộ phận quan trọng của sự phát triển của

xã hội, gõy nên những tác động to lớn, làm thay đổi sõu sắc mọi mặt của đờisống xã hội loài người

Khoa học - kĩ thuật trong giai đoạn lịch sử hiện nay đã kéo dài cánhtay con người bằng việc thay đổi các hệ thống kĩ thuật trước đõy, tạo ra cáccông cụ sản xuất mới với hiệu quả rất cao Khoa học kĩ thuật cũn mở rộng

bộ óc và khả năng tư duy, làm tăng lên vượt bậc năng lực nhận thức và cảitạo thế giới của con người Nó cho phép thực hiện những bước nhảy vọtchưa từng có của lực lượng sản xuất và năng xuất lao động; làm thay đổi vịtrí, cơ cấu, các ngành sản xuất và các vùng kinh tế Cuộc cách mạng khoahọc - kĩ thuật này cũng đã đưa tới sự xuất hiện nhiều ngành công nghiệpmới, nhất là những ngành có liên quan đến những tiến bộ của khoa học - kĩthuật đương đại như: công nghiệp vũ trụ, tên lửa, công nghiệp điện tử, vậtliệu tổng hợp, công nghệ vi sinh Những sản phẩm khoa học - kĩ thuật đãlàm thay đổi phương thức sinh hoạt và tiêu dùng trong đời sống xã hội Đờisống thay đổi và mức sống con người ngày càng được nõng cao

Với những tác động mà cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đem lạicho cuộc sống con người, các tiêu chí của sự phát triển cũng đã thay đổi cơbản Thang giá trị phát triển của xã hội không được đỏnh giá bằng những giátrị vật chất đơn thuần như trước kia mà được đỏnh giá bằng trí tuệ Trí tuệnhư một yếu tố khởi động cho guồng máy sản xuất hoạt động theo dạng thứcmới: gia tăng các ngành có hàm lượng khoa học kĩ thuật cao; là các thiết bịmáy móc tự động hoá, hiệu suất cao; là công nghệ sản xuất hiệu quả, chấtlượng cao nhưng lại giảm chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng ít và thânthiện với môi trường Trí tuệ trở thành vật phẩm cao cấp, có giá trị sử dụng

vô giá, có mối giao lưu đặc biệt trong thị trường hiện đại và bản thân nó cũngtạo ra những thị trường riêng biệt có sức hút và cạnh tranh quyết liệt

Trang 21

Với những thành tựu của mình, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuậthiện nay đã làm đảo lộn nhiều giá trị, quan niệm truyền thống.

Cơ cấu kinh tế xã hội loài người có sự thay đổi mạnh mẽ, từ chiềurộng sang chiều sõu, từ nền sản xuất vật chất sang nền sản xuất phi vật chất.Lực lượng sản xuất vì thế được xác lập một cơ cấu và loại hình phát triểnmới sản xuất bằng máy móc, trong đó con người phải bắt buộc phải trựctiếp tham dự vào quy trình công nghệ, phải thực hiện những chức năng cơgiới, kĩ thuật được thay thế cho sản xuất tự động hoá, điều khiển hoá Cácyếu tố của công cụ, công nghệ và tư liệu sản xuất cũng từ đó có sự đổi khác.Tiến bộ khoa học - kĩ thuật đã tạo ra những vật liệu, nguyên, nhiên liệu mới,hạn chế tối đa sự lệ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sảntruyền thống Các nguyên liệu tự nhiên được thay thế bằng các chế phẩmnhõn tạo, tái chế Điều này góp phần vào việc đảm bảo sự cõn bằng sinhthái Vị trí và vai trò của con người - yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất

có những thay đổi nhất định, khả năng tự sáng tạo với tài năng và trí tuệđược khuyến khích đề cao Công cụ, công nghệ sản xuất với hàm lượng chấtxám cao trở thành những mặt hàng, sản phẩm hàng hoá được trông đợi và cókhả năng thu lợi nhuận cao nhất cho các nhà đầu tư

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kĩ thuật dẫn tới những biếnđộng về tương quan lực lượng giữa các nước Những nước đi đầu về khoahọc - kĩ thuật có nhiều cơ hội thuận lợi để khắc phục các cuộc khủng hoảng,đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, giành được nhiều lợi thế về kinh tế vàquõn sự, tăng cường nhanh chóng sức mạnh tổng hợp quốc gia, củng cố vàphát huy vai trò của mình trong nền chớnh trị thế giới Những quốc giakhông tận dụng được cơ hội này sẽ bị tụt hậu, thua kém ngày càng nhiều,mất vị trí và vai trò kinh tế - chớnh trị trước đõy của mình và bị phụ thuộcvào các cường quốc mới

Trang 22

Với những thành tựu to lớn của mình, khoa học - kĩ thuật ngày nay đãtạo ra một nền kinh tế thế giới năng động, quốc tế hoá cao, bao gồm tất cảcác nước, cùng hợp tác, cùng đấu tranh để phát triển Nền kinh tế thế giớiđang vận động trong mối quan hệ đan chéo, phụ thuộc và tác động lẫn nhau.Nhiều quốc gia buộc phải điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế để phù hợp với xuthế mới, đẩy mạnh xu thế chuyển giao công nghệ hiện đại, đầu tư vào cácngành kĩ thuật cao

Với những thành tựu kỳ diệu mà khoa học - kĩ thuật đem lại, conngười bước vào một kỷ nguyên mới của sự phát triển, một nền văn minhmới: “Văn minh trí tuệ” hay cũn gọi “văn minh hậu công nghiệp”

Như vậy, có thể nói, khoa học - kĩ thuật là yếu tố tiên quyết, quantrọng, thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia Trong thời hiện đại ngày nay,với sức mạnh vượt trội của mình, khoa học kĩ thuật cũn mang ý nghĩa sốngcũn, vai trò quyết định không những đối với sự phát triển mà cũn là sự tồnvong của mỗi quốc gia và dõn tộc

1.2.1.2 Sự phát triển khoa học - kĩ thuật và nền kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Do nhu cầu của cuộc sống, để tồn tại và phát triển, con người khôngngừng cải tiến công cụ, kĩ thuật lao động và phát triển khoa học Tinh thầncầu thị, bản năng học hỏi và khám phá của con người đã đưa khoa học - kĩthuật tiến những bước dài trên chặng đường phát triển của lịch sử Và dườngnhư càng thử thách, cam go, ý chí vươn lên, sức sáng tạo của con người lạicàng được chứng tỏ hơn bao giờ Những cuộc cách mạng về kĩ thuật thờinguyên thuỷ, cổ đại, trung đại và cận đại đã cho thấy điều đó Cuộc cáchmạng khoa học - kĩ thuật sau Chiến tranh thế giới thứ hai là một minh chứng

cụ thể nhất

Những tiền đề cho cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật sau chiến tranhthế giới hai đã có từ những năm 30 của thế kỉ XX, sau cuộc đại khủng hoảng

Trang 23

kinh tế thế giới, các nước đã có nhiều biến đổi quan trọng Chủ nghĩa tư bản

đã phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu kinh tế Đi đôi với việc

sở hữu tư bản tư nhõn, hình thức sở hữu nhà nước được nhấn mạnh hơn.Hình thức sở hữu tư nhõn của những người ăn lương dưới dạng công ty cổphần ngày một phổ biến Đõy là một hình thức sở hữu hỗn hợp, cho phéptập trung một khối lượng vốn cần thiết cho yêu cầu đầu tư để phát triển kĩthuật, phát triển sản xuất đồng thời tạo tõm lý thuận lợi gắn bó công nhõnvới xí nghiệp, với công ty Trong một chừng mực nhất định nào đó, ngườicông nhõn làm thuê có thể coi công ty như là của chớnh mình, cống hiếnnhiều hơn cho sự phát triển của công ty

Đi đôi với việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu, hình thức tổ chứcquản lý sản xuất cũng có nhiều biến đổi tương ứng Quá trình sản xuất ra sảnphẩm cuối cùng được chia thành nhiều phần việc nhất định, giao cho từngnhóm công nhõn phụ trách, tự phõn công với nhau và hỗ trợ nhau, tự đảmnhận việc đo lường và kiểm tra chất lượng sản phẩm Cơ chế quản lý cứngnhắc, mệnh lệnh áp đặt từ trờn xuống được thay bằng một cơ chế quản lýhỗn hợp, trên xuống và dưới lên, tỡm cách phát huy sáng kiến của mọingười, gắn trách nhiệm với quyền lợi tới từng người tham gia lao động, tạo

ra sản phẩm lao động

Các nước cũng rất chú trong đến việc nõng cao trình độ công nghệtrong sản xuất, lấy khai thác công nghệ đặc biệt là công nghệ cao làm độnglực chủ yếu để phát triển sản xuất và tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường.Các nước tập trung đổi mới sản phẩm, sáng chế ra những sản phẩm mới đểtạo ra nhu cầu mới, thị trường mới; đổi mới công nghệ chế tạo để tăng năngxuất, nõng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh thắng lợi,thu được lợi nhuận tối đa

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939 – 1945), trong khi thamchiến, các nước đều đi sõu nghiên cứu khoa học - kĩ thuật nhằm phát triển

Trang 24

những hướng công nghệ mới phục vụ cho các yêu cầu của chiến tranh mà hệthống kĩ thuật lúc bấy giờ không đáp ứng được Những thành tựu công nghệtrong chiến tranh như động cơ phản lực, vô tuyến điện và đặc biệt là nănglượng nguyên tử đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho một cuộc cáchmạng khoa học - kĩ thuật sau chiến tranh.

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, những hậu quả

mà cuộc chiến này gõy ra về người và của là khủng khiếp nhất trong lịch sửloài người, bằng tất cả các cuộc chiến tranh của 1000 năm trước cộng lại.Kiến trúc hạ tầng, cơ sở công nghiệp của các nước tham chiến, dù thắng haybại, đều bị phá huỷ nghiêm trọng Tổng số người chết và tàn tật do chiếntranh gõy ra là 150 triệu người, tiêu phí trên 4000 tỉ đôla, tình trạng đói kém,bệnh tật diễn ra tại nhiều nước tham chiến [40,216 - 217]

Để khắc phục những hậu quả nặng nề, những tàn phá ghê gớm củachiến tranh đòi hỏi phải có một khối lượng vật chất - kĩ thuật khổng lồ,những phương tiện kĩ thuật và giải pháp công nghệ có hiệu quả cao để xõydựng lại các thành phố, làng mạc, các xí nghiệp và khắc phục những khókhăn của đời sống nhõn dõn Trong khi đó, ngay sau khi Chiến tranh thếgiới thứ hai kết thúc, các nước trên thế giới lại bị lôi cuốn vào một cuộcchiến tranh mới do Mĩ phát động nhằm chống lại Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa: Chiến tranh lạnh Nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng,chẳng những không chuyển sang phục vụ cho kinh tế và đời sống mà cũntiếp tục được phát triển, được hiện đại hoá lên trình độ cao hơn để phục vụcho các kế hoạch chạy đua vũ trang trong cuộc Chiến tranh lạnh Sự tăng lênđột ngột trên quy mô lớn và nhiều mặt các nhu cầu xã hội đòi hỏi cấp thiết

sự ra đời của các giải pháp công nghệ mới, một hệ thống công nghệ mới cóhiệu quả hơn Những nhu cầu phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh thếgiới hai, đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ Kinh tế thếgiới những năm 50, 60 phát triển nhanh và đều hơn các thập kỷ trước GDP

Trang 25

của Mĩ và các nước Tõy Âu trong những năm 1870 - 1913 chỉ tăng trungbình khoảng 2,7%, những năm 1913 - 1950 chỉ đạt 1,3% thì trong nhữngnăm 1950 - 1960, GDP của thế giới tư bản tăng khoảng 5% Khối lượngthương mại thế giới trong những năm 1870 - 1913 tăng 3,5%, những năm

1913 - 1950 tăng 1,3% thì trong những năm 1950 - 1960 tăng trung bình7,6% [24,39] Sự phát triển của kinh tế và thương mại các nước tăng nhanhnhư vậy là yếu tố thuận lợi cho nền kinh tế Nhật Bản nhanh chóng khôiphục và phát triển dựa vào tăng cường xuất khẩu thương mại

Trong xu thế phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thương mại quốc tế, Quỹtiền tệ quốc tế (IMF) được thành lập Cơ chế tiền tệ có tớnh toàn cầu đựocthiết lập với việc đôla được tự do chuyển đổi ra vàng theo một tỉ giá hối đoáinhất định giữa các loại tiền tệ chớnh trong khi tỉ giá đồng Yên của Nhật Bản

so với đồng đôla rất thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu ồ ạthàng hoá của Nhật Bản sang Mĩ

Nền kinh tế Mĩ là nền kinh tế duy nhất được kích thích phát triểntrong chiến tranh và phát triển vượt bậc sau Chiến tranh thế giới thứ hai Vớinhững mối quan hệ gắn bó với Mĩ sau chiến tranh (bị Mĩ đóng quõn, thựchiện chế độ quõn quản, thực hiện những đơn đặt hàng quõn sự của Mĩ chochiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam ), có thể nói Nhật Bản đã cónhững thuận lợi nhất định để thúc đẩy kinh tế, khoa học kĩ thuật phát triểnvào những năm 50, 60 và đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, vươn lên, trởthành một trong những trung tõm kinh tế - khoa học kĩ thuật hiện đại của thếgiới

1.2.2 Yếu tố chủ quan

1.2.2.1 Địa lý tự nhiên

Nhật Bản là một quần đảo trải dài từ Đông Bắc xuống Tõy Nam,ngoài khơi bờ biển phớa Đông lục địa chõu Á Toàn bộ diện tích đất liềntớnh đến tháng 10/1989 là 377.688km2, chỉ bằng 0,035 diện tích toàn thế

Trang 26

giới, lớn hơn nước Phần Lan hoặc nước Ý một chút và bằng 1/25 diện tíchnước Mĩ và bằng diện tích bang Montana của Mĩ.[3,15]

Về mặt địa hình, đặc điểm chớnh của Nhật Bản là sự bất ổn định củanền địa chất và ít bình nguyên Núi lửa thường xuyên hoạt động, các trậnđộng đất xảy ra thường xuyên, quần đảo Nhật Bản được cấu thành với địahình thẳng đứng, hầu như đều là núi dốc cao, có rất ít bình nguyên

Núi cao đốc đứng từ 1.500 – 3.000m nằm trải dọc ở phái Tõy NamNhật Bản, theo bờ biển Thái Bình Dương Nhiều thung lũng sõu, hình chữ V

bị cắt thành từ những ngọn núi này Trái lại ở phớa Biển Nhật Bản ở phớaTõy Nam là các nhúm cao nguyên và vùng núi thấp với độ cao vào khoảng

500 – 1.500m [3,18]

Số lượng và tớnh đa dạng của núi lửa được tỡm thấy khắp quần đảoNhật Bản tạo nên một đặc điểm đáng chú ý khác Có đến 188 núi lửa đanghoạt động trong thời điểm này hay thời điểm khác từ kỷ địa chất Đệ tứ, vàhơn 40 trong số này vẫn cũn hoạt động [3,22] Nhiều núi lửa có nhiều lầnphun trào mónh liệt như Asamayama, Bandaisan Các núi lửa ở Nhật Bảnthường có sự phát triển ở miệng hoặc hừm chảo như núi lửa Akan, Daisetsu,Hakone, Aso và Aira Núi lửa Aso là núi lửa có hừm chảo có kích thước lớnnhất thế giới

Nhật Bản có không nhiều sông ngòi Chỉ có một số tuyến sụng chớnhtrờn toàn lãnh thổ Nhật như sông Ishikarigawa, Shinano - gawa, Tonegawa,Kisogawa, Yodogawa và Chikugogawa Các con sông này tạo ra cỏc vựngchâu thổ với kích thước tương đối ở các cửa sông Ruộng bậc thang ven biển,sông và miền núi lũ tích phát triển nhiều ở vùng duyên hải, số ruộng này được

sử dụng cùng với đồng bằng để sản xuất nông nghiệp và làm nơi cư trú

Nhật Bản nằm trong vùng gió mùa thuộc vùng biển phớa Đông lụcđịa chõu Á do vậy phạm vi thay đổi nhiệt độ hàng năm rất rộng và lượng

Trang 27

mưa rất lớn Tuy nhiên, vì tớnh phức tạp của cấu tạo địa chất, nên cũn cóthêm sự chênh lệch giữa các vùng trong các mùa.

Mùa Xuõn, khi các vùng áp thấp tràn qua biển Thái Bình Dương củaNhật Bản trong tháng ba, nhiệt độ tăng với mỗi trận mưa rào Khi các vùng

áp thấp bắt đầu mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở khắp Biển Nhật Bản, các trậngió mạnh từ phớa Nam thổi vào đất Nhật Bản gõy ra tình trạng lũ lụt dotuyết trên các ngọn núi bị tan chảy đột ngột, ở vùng Biển Nhật Bản đôi khixảy ra nhiều trận hoả hoạn

Mùa Hạ, là bắt đầu mùa mưa ở Nhật Bản, kéo dài trong tháng 7 hàngnăm Đỉnh điểm mùa hạ là những đợt nắng nóng kéo dài từ cuối tháng 7 đếngiữa tháng 8

Mùa Thu, tháng 9 là tháng của giông bóo Các trận bóo liên tiếp diễn

ra trên nền mưa Đến khoảng tháng 10, thời tiết mới quang đóng và gió đôngbắt đầu thổi

Khi cấu hình áp suất khí quyển thay đổi, gió Tõy Bắc thổi tuyết ào ạtlên các dóy núi và các vùng đồng bằng ở phia Biển Nhật Bản, gió khô thổi ởphớa Thái Bình Dương

Như vậy, với diện tích đất tương đối nhỏ nhưng cấu hình rất phức tạp,khí hậu và hệ động thực vật khác nhau theo từng vùng, kéo dài từ vùng cậnBắc cực ở miền Bắc đến vùng cận nhiệt đới ở miền Nam Thay đổi theo mùa

và cấu trúc địa chất phức tạp đã mang đến cho Nhật bản nhiều thảm hoạthiên nhiên Mưa xối xả và giông bóo trong mùa thu thường gõy lở đất, lũlụt và thiệt hại do giông bóo Mùa đông lạnh giá khắc nghiệt cũng gõy thiệthại không kém mùa thu Những trõn cuồng phong và sóng thần thườngxuyên đe doạ đời sống của những cư dõn ven biển của Nhật Bản

Quần đảo Nhật Bản nằm trong vùng đang diễn ra nhiều chuyển độngcủa vỏ trái đất do vậy, núi lửa, động đất, cuồng phong và sóng thần là nhữnghiện tượng thường xuyên diễn ra

Trang 28

Có rất nhiều núi lửa vẫn đang hoạt động, gõy những mối đe doạ trựctiếp đến đời sống của cư dõn Nhật Gần đõy nhất, tháng 11 năm 1990, núilửa ở Fugendake phun trào và dòng chảy do nham tầng núi lửa tạo thànhnăm 1991 đã làm mất tích 44 người [3,24]

Theo thống kê, có tới gần 10% năng lượng do các trận động đấtphóng thích trên toàn thế giới được tập trung ở Nhật Bản và quanh quần đảoNhật Bản Đõy là nguyên nhõn chớnh của những trận động đất thườngxuyên diễn ra ở Nhật Bản Trong thế kỷ XX, Nhật Bản phải hứng chịu tới 23trận động đất phá huỷ với cường độ trên 6 độ richter Trận động đất Tokyo

1923 đạt đến cường độ 7,9 Tõm chấn ở thủ đô Tokyo và Yokohama, khiến100.000 người chết, thiệt hại tài sản lên tới hàng tỷ đôla [3,3,25]

Cùng với động đất, núi lửa thật không may Nhật Bản còn nằm đúng khuvực thường phát sinh những trận bão lớn, cư dân Nhật Bản thường xuyên phảiđối mặt với những trận cuồng phong, sóng thần kèm theo mưa to

Mặc dù lớn hơn diện tích Việt Nam 15%, song Nhật Bản là một nướcđặc biệt nghèo tài nguyên thiên nhiên Rừng núi chiếm tới 2/3 diện tích cảnước, diện tích đất trồng trọt được chỉ chiếm khoảng 15%, khoáng sản vàcác nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, Nhật Bản hầu như không có gì ngoài

đá vôi và khí sunfua đối với các nguyên, nhiên liệu cơ bản Nhật Bản phảiphụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu từ bên ngoài Đến những năm 70, để bộmáy công nghiệp hoạt động bình thường, Nhật Bản phải nhập khẩu tới 82%đồng, 60% chì, 57% kẽm, 100% nhôm, 100% kền, 91% quặng sắt, 92% thancốc, 100% dầu hoả, 100% uraniom, 78% khí tự nhiên [47,21]

Như vậy, rừ ràng về mặt địa lý tự nhiên, Nhật Bản có rất nhiều khókhăn, bất lợi cho sự phát triển kinh tế Người dõn Nhật Bản phải nỗ lực phấnđấu vươn lên, đối mặt với những khắc nghiệt của tự nhiên để đứng vững vàphát triển Có lẽ do vậy, người Nhật Bản đã chọn ngọn núi lửa Fuji (cónghĩa là “núi rượu trường sinh”) làm hình ảnh tượng trưng cho đất nước

Trang 29

mình Trái núi hùng vĩ hình chóp nún phủ tuyết hiện lên trên bầu trời xanhthăm thẳm có mõy trắng trôi lững lờ, sườn và chõn núi trải ra một tấm thảmmầu lục bao la Đó là hình ảnh của thiên nhiên Nhật Bản, thật hùng vĩ vàngoạn mục nhưng cũng thật dữ dội và đầy biến động

Thiên nhiên tươi đẹp nhưng quả thật quá khắc nghiệt đối với cuộcsống con người Hũn đảo nghèo nàn khoáng sản này không được hưởngthiên thời và địa lợi Yếu tố khoa học - kĩ thuật là một trong những phươngtiện hữu hiệu và quan trọng nhất để Nhật Bản vượt qua khó khăn tự nhiên,phát huy yếu tố con người để phát triển

1.2.2.2 Kinh tế

Tập trung vốn phát triển khu vực sản xuất lớn, hiện đại, phát triểnnhững ngành công nghiệp mới, then chốt là điều kiện quan trọng để thựchiện cách mạng khoa học - kĩ thuật Chớnh cách mạng khoa học - kĩ thuật lạiảnh hưởng trực tiếp đến việc nõng cao hiệu quả vốn đầu tư, đến việc pháttriển các ngành công nghiệp mới có năng suất cao, trở thành nhõn tố quantrọng nhất thúc đẩy kinh tế phát triển

Ngay từ thế kỉ XIX, với cuộc Duy Tõn Minh trị, Nhật Bản đã chứng

tỏ khả năng và tinh thần ham học hỏi kĩ thuật phương Tõy Dưới thời Minh

Trị, với khẩu hiệu lónh đạo fukoku kyohei (làm cho dõn giàu nước mạnh)

Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt các cải cách về thể chế xã hội, chớnh trị vàkinh tế, khoa học - kĩ thuật theo đường lối phương Tõy Hiến pháp năm

1889 mở đường cho chớnh phủ nghị viện thực thi nhiều chớnh sách tiến bộcông nghiệp và xõy dựng quõn đội đủ mạnh để đánh bại Trung Hoa năm

1895 và Nga năm 1905, cũng như giúp Nhật Bản thôn tớnh Triều Tiên năm

1910 Nhật Bản nổi lên như một đế quốc hùng mạnh ở Đông Á cuối thế kỉXIX đầu XX Chớnh sự phát triển của kĩ thuật phương Tõy đã tạo động lựccho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Nhật dù ra đời muộn nhưng không hề thuakém các nước phương Tõy về tốc độ phát triển

Trang 30

Tham gia vào hai cuộc chiến tranh thế giới, lần thứ nhất và lần thứhai, Nhật Bản không đạt được mục đích đặt ra khi tham chiến Ngược lại,kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản là một nước bại trận, chịunhiều hậu quả nặng nề

Nếu được hỏi về kinh nghiệm tệ hại nhất của mình, nhiều người dânNhật Bản sẽ trả lời đó là “năm 1945 và những năm đầu sau Chiến tranh thếgiới thứ hai” Cảnh khổ cực và nỗi đau tinh thần cũng như thể xác mãi ăn sâutrong ký ức những người dân Nhật sinh ra trước, trong và sau chiến tranh

Bị thất bại trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản mất hếtthuộc địa (tương đương 44% diện tích toàn bộ Nhật Bản), nền kinh tế lõmvào tình trạng bị phá huỷ hoàn toàn Đất nước nước tiêu điều, các thành phốlớn như Tôkyô, Ôsaka bị tàn phá nặng nề, hai thành phố Hirụsima vàNagazaki bị xoá sổ bởi hai quả bom nguyên tử của Mĩ Con số thiệt hại cóthể thống kê là: 3 triệu người chết và mất tích, 40% đô thị bị tàn phá, 34%máy móc, trang thiết bị công nghiệp và 25% nhà cao tầng bị phá huỷ.[40,292] Tổng giá trị thiệt hại trong chiến tranh lên tới 64,3 tỉ Yên, chiếm 1/3tổng giá trị của các tài sản cũn lại của đất nước sau chiến tranh và tươngđương với toàn bộ số tài sản tích luỹ được trong 10 năm (từ năm 1935 –1945) Sản lượng công nghiệp năm 1946 giảm sút dưới 1/3 tổng sản lượngnăm 1930 và bằng 1/7 sản lượng năm 1941 [36,84]

Nền kinh tế khủng hoảng, nước Nhật bại trận phải đối mặt với bathách thức lớn trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế

Vấn đề số một là tình trạng thất nghiệp trầm trọng Khi các lực lượngquõn đội bị giải thể, hơn 7,6 triệu binh sỹ bị giải ngũ, không đõu tiếp nhận.Các nhà máy xí nghiệp vốn hoạt động phục vụ vho công nghiệp chiến tranh

bị đình chỉ hoạt động đã đẩy thêm 4 triệu người lõm vào cảnh thất nghiệp.Chiến tranh kết thúc, từ nước ngoài có khoảng 1,5 triệu người hồi hương vềnước Đội quõn thất nghiệp không có việc làm của Nhật Bản sau Chiến

Trang 31

tranh thế giới thứ hai lên tới khoảng hơn 13,1 triệu [43,149] Một số trong đó

có khả năng quay trở lại công việc trước kia đã làm hoặc trở về với côngviệc đồng ruộng làm nông nghiệp thì làm thế nào để giải quyết công ăn việclàm cho hơn 10 triệu người luôn là vấn đề gõy đau đầu của các quan chứcNhật Bản sau chiến tranh thế giới hai.[38,215] Trên thực tế, vì mưu sinh,mọi người dõn đều tỡm cho mình một kế sách gì đó để sinh nhai, như buônbán chợ đen, “quầy hàng ngoài phố” hoặc mưu sinh nhờ vào số tiền tiếtkiệm, dành dụm ít ỏi của họ Nhưng rừ ràng, việc làm không đầy đủ và thunhập thấp, bấp bênh sẽ là những khó khăn, kỡm hóm tăng trưởng của nềnkinh tế cũng như nguyên nhõn dẫn tới những tệ nạn xã hội trầm trọng Nếukhông nhanh chóng tỡm ra biện pháp hữu hiệu nhằm tạo ra việc làm thì sốngười thất nghiệp sẽ cũn tăng lên nhanh chóng hơn nữa, với cấp số nhõn

Vấn đề lớn thứ hai đó là tình trạng thiếu năng lượng và lương thựctrầm trọng Các nguồn năng lượng chớnh lúc bấy giờ là than và thuỷ điện.Mặc dù nhu cầu năng lượng đã giảm xuống rất nhiều do đình chỉ sản xuấtquõn sự nhưng sản lượng than lại bị tụt nhanh hơn so với yêu cầu Sảnlượng than hàng tháng giảm xuống chỉ cũn 1 triệu tấn vào mùa thu năm

1945 trong khi nhu cầu thực tế dù đã giảm vẫn cần 3 đến 4 triệu tấn [42,33]Tình trạng này diễn ra là do những người Trung Hoa, Triều Tiên trước kiaphải làm việc khổ sai trong các mỏ than của Nhật nay đã bỏ về nước hoặckhông chịu làm việc như trước nữa Các mỏ than của Nhật lõm vào tìnhtrạng hoàn toàn tê liệt Do thiếu than, ngành đường sắt bị khủng hoảngnghiêm trọng Cùng với việc thiếu năng lượng, vụ lúa năm 1945 giảm sútkhá nhiều, chỉ bằng 2/3 sản lượng trung bình hàng năm [38,216] Sự thiếuhụt năng lượng và lương thực là không phải hiếm trong lịch sử Nhật Bản,nhưng vấn đề là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Nhật bại trận mất hếtthuộc địa Triển vọng bù đắp thiếu hụt từ nguồn cung cấp lương thực vànăng lượng từ bên ngoài như trước đó là không cũn nữa Mối lo sợ nhiều

Trang 32

người sẽ bị chết đói vì thiếu lương thực và nhiên liệu đã hiện hữu Chínhphủ Nhật Bản nhiều lần đề nghị cho nhập lương thực nhưng lực lượngchiếm đóng không chấp nhận.

Siêu lạm phát là vấn đề lớn thứ ba mà Nhật Bản phải đối mặt KhiChiến tranh thế giới hai bùng nổ, rất nhiều khoản thu nhập của người dõnđược chớnh phủ chi trả bằng các mún tiền tiết kiệm, công trái Khi chiếntranh bước vào giai đoạn chót, Chớnh phủ và Ngõn hàng Nhật Bản, trước sựhoang mang lo sợ của dõn chứng đã phải chiếu cố tung các quỹ công tráinày ra thị trường Thêm vào đó, khi Nhật Bản thua trận, một lượng lớn cácquỹ dùng cho các khoản chi tiêu quõn sự được đưa vào lưu thông: tiềnlương của binh sỹ được trả, các đơn đặt hàng quõn sự đã hoàn thành đượcthanh toán, tiền chi cho các khoản ứng trước, tiền đền bù thiệt hại chiếntranh Những lời đồn đại như về khả năng có đổi tiền, đánh thuế tài sản,không cho rút tiền ở ngõn hàng đã khiến cho dõn chúng đổ xô đi mua véthàng hoá, rút tiền gửi ở các ngõn hàng Hậu quả là tình trang siêu lạm phát

đã xảy ra và ngày càng nghiêm trọng từ giữa năm 1945 đến đầu năm 1949.Nhịp độ tăng giá vài tháng trước khi Nhật đầu hàng quõn Đồng minh đãxuất hiện nhưng tốc độ tăng giá quóng thời gian sau đó là không thể dự báođược Lấy giá cả năm 1945 làm cơ sở thì chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới 515vào năm 1946, 1.655 vào năm 1947, 4.857 vào năm 1948 và 7.889 vào năm

1949 - tổng cộng tăng xấp xỉ 800% [23,84]

Để khắc phục tình trạng lạm phát phi mã này, Chính phủ Nhật Bản đãphải áp dụng những biện pháp tài chính khẩn cấp vào tháng 2 năm 1946 nhưkêu gọi ký gửi tiền mặt ở các cơ quan tài chính, ra lệnh phát hành tiền mới,thực hiện việc chuyển đổi đồng yên mới và chỉ cho phép mỗi gia đình đượcrút 500 yên mỗi tháng để chi tiêu, thu thuế tài sản (dự tính ban đầu thu được

100 tỷ yên nhưng cuối cùng chỉ thu được 30 tỷ) [38,217] Những biện phápngăn chặn này cũng không thể ngăn chặn đà lạm phát đã lên tới mức quá cao

Trang 33

Những khó khăn trầm trọng của nền kinh tế buộc Nhật Bản phải cóbiện pháp giải quyết hữu hiệu, nhanh chóng vực dậy nền kinh tế đang trên

đà sụp đổ Những cải tiến về khoa học – công nghệ, thay đổi bản chất củalực lượng sản xuất sẽ giúp Nhật Bản có thể khắc phục nhanh chóng nhữngkhó khăn và phát triển nhanh chóng trong thời gian kế tiếp

1.2.2.3 Chính trị

Là một quốc đảo, Nhật Bản mang trong mình xu hướng “hướng nội”chú trọng đến sự phát triển quốc gia, dõn tộc Chớnh quyền Nhật Bản vốn cótruyền thống xõy dựng dựa trên nền tảng tri thức

Trước đõy, trong thời kỳ Tôkưgaoa (1600 - 1868), “giới quan lại”(Kanryo) là tinh hoa của giới quý tộc quõn sự Họ được hưởng nhiều ưu đóihơn so với các giới chức khác Đến thời Minh Trị, từ quan lại được đổithành “quan chức”(Kanri) Từ này gợi cho mọi người nghĩ đến vấn đề nănglực, lòng tin cậy Xã hội Nhật Bản là một xã hội thi cử Tất cả đều phảiqua thi cử, chứng minh khả năng và năng lực bản thõn bằng thi cử Quanchức đòi hỏi phải có một trình độ giáo dục, thi cử nhất định Việc một conngười có được nhận vào một vị trí tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vàovấn đề người đó được đào tạo ở trường nào ra, thi đỗ cao hay thấp Cácquan chức Nhật Bản thường được trẻ hoá với quy định đưa về hưu sớmnhững quan chức cao trong bộ máy chớnh quyền Truyền thống lónh đạo trẻ,năng động và coi trọng tri thức là một yếu tố chớnh trị quan trong giúp NhậtBản vượt qua những khó khăn và thử thách to lớn sau Chiến tranh thế giớithứ hai mà Nhật Bản là nước bại trận

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng Hirôhitô tuyên bố đầu hàngkhông điều kiện các nước Đồng minh Ngày 15 tháng 8, nội các Suzuki từchức Ngày 16 tháng 8, Hoàng thõn Higashi Kuni thành lập nội các mới.Chủ nghĩa quõn phiệt Nhật bị tiêu diệt, đánh dấu kết thúc cuộc Chiến tranhthế giới thứ hai trên phạm vi toàn thế giới

Trang 34

Sau khi chấp nhận đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản chịu

sự chiếm đóng của lực lượng Đồng minh Đõy là thời kỳ Nhật Bản thực sự

bị quõn đội nước ngoài đóng quõn, thực hiện chế độ quõn quản Lực lượngquõn Đồng minh không thực hiện chớnh sách “trực trị” mà gián tiếp kiểmsoát thông qua bộ máy chớnh quyền Nhật Bản

Nhiệm vụ chủ yếu của nhà cầm quyền Nhật Bản lúc này là phải thựchiện nghiêm túc những sắc lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng chiếm đóngđưa ra Chính phủ Nhật chỉ giữ là vai trò chớnh quyền thứ hai, đứng sau Bộchỉ huy quõn Đồng minh – cơ quan kiểm soát Nhật Bản sau chiến tranh.Trong Bộ chỉ huy quõn Đồng minh thì người Mĩ nắm vai trò chi phối nênthực chất, Nhật Bản bị lệ thuộc chặt vào nước Mĩ sau Chiến tranh thế giớithứ hai Tướng Mĩ Douglas Mac Arthur (Mác Áctơ) được chỉ định giữ chứcTổng chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng minh - gọi tắt là SCAP

Mục tiêu chủ yếu của lực lượng chiếm đóng là thủ tiêu chủ nghĩa quânphiệt Nhật và dân chủ hoá nước Nhật Bản Về thực chất, phải thực hiện nhữngbiện pháp nhằm thay đổi tính chất xã hội Nhật Bản từ quân chủ sang dân chủ; từquân phiệt, hiếu chiến sang dân chủ, hoà bình; xây dựng xã hội mới

Trong chiến tranh thế giới hai, trên mặt trận Thái Bình Dương, NhậtBản đã nhiều lần bất ngờ tấn công và gõy những thiệt hại vật chất và tinh tầnđáng kể cho quõn đội và nước Mĩ Lúc này, lực lượng chiếm đóng Nhật Bảnchủ yếu là người Mĩ nên chớnh sách của người Mĩ giờ đõy không ngoài mụctiêu đảm bảo Nhật Bản sẽ không thể trở thành mối đe doạ đối với nước Mĩmột lần nữa

Để kiểm soát việc thực hiện Tuyên cáo Potxđam ở Nhật Bản, lựclượng Đồng minh đã thành lập 2 cơ quan đặc biệt là Uỷ ban Viễn Đông ởOasinhtơn và Hội đông Đồng minh ở Tôkiô Hai cơ quan này tồn tại về mặthình thức, quyền lực thực tế là do Mĩ nắm giữ

Lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản bị quõn đội nước ngoài chiếmđóng và kiểm soát chớnh quyền Đõy là một giai đoạn lịch sử đen tối, hết

Trang 35

sức khó khăn đối với người dõn và chớnh quyền Nhật Bản Các chớnh sáchcủa nhà nước đều do Mĩ chi phối và kiểm soát Từ vai trò của một cườngquốc chõu Á, hùng cường, “đất nước mặt trời mọc” đi xõm lược và thống trịcác nước khác, trở thành một nước chiến bại, bị chiếm đóng, bị thống trị, bịchỉ huy Quốc thể bị xõm phạm, lòng tự tôn, tinh thần dõn tộc của mọingười dõn Nhật Bản đã bị xúc phạm nặng nề Vấn đề đặt ra cho toàn thểnhõn dõn, Chính phủ Nhật Bản là phải nhanh chúng thoát khỏi sự lệ thuộc,lấy lại vị thế của quốc gia, dõn tộc Trong bối cảnh bị ràng buộc bởi nhữngđiều khoản cấm tái thiết vũ trang, triệt tiêu sức mạnh quõn sự, vươn lênmạnh mẽ, đứng đầu về kinh tế, khoa học kĩ thuật trở thành mục tiêu, đích tớicủa đất nước Nhật Bản “Hùng mạnh mà không cần sức mạnh quõn sự” trởthành lý tưởng sống cho mọi người dõn Nhật Bản.

1.2.2.4 Xã hội

Sau chiến tranh, vấn đề xã hội hàng đầu của Nhật Bản đó là nạn thấtnghiệp Khoảng 7,2 triệu binh sĩ sẽ được giải ngũ Khoảng 4 triệu công nhõntrong các nhà máy quõn sự bị mất việc làm Thêm 1,5 triệu người Nhật Bảnnữa trở về từ nước ngoài Dù một số người có khả năng quay lại nghề cũhoặc tỡm được việc làm mới thì vẫn có khoảng 10 triệu người đang trongtình trạng thất nghiệp Giải quyết việc làm cho hơn 10 triệu người, chừng17% dõn số, 37% lực lượng lao động là một vấn đề kinh tế - xã hội hàngđầu, cấp thiết của Nhật Bản sau chiến tranh [45,39]

Mọi khó khăn dường như trở nên tồi tệ hơn do vụ thu hoạch quantrọng năm 1945 bị thất bại Sản lượng gạo, loại cõy lương thực chớnh củaNhật, chỉ đạt 6 triệu tấn, bằng khoảng hai phần ba năm bình thường, nêntình trạng đói kém càng trở nên trầm trọng Một người lớn cần 2400 kilocalomột ngày nhưng khẩu phần cung cấp tại 6 thành phố lớn chỉ có khoảng 1000kilocalo/một người/một ngày, bằng ẵ mức bình thường Khoảng 30 - 40%lương thực phải trông chờ vào chợ đen [38,216] Nhật Bản đã yêu cầu cáclực lượng quõn đội Mĩ cho phép nhập khẩu lương thực nhưng lúc đó cũng

Trang 36

xảy ra tình trạng thiếu lương thức trên toàn cầu nên lúc đầu các lực lượngchiếm đóng đã làm ngơ trước yêu cầu của kẻ thù cũ của mình Cuối cùng,một số bột mì đã được nhập khẩu và ở các thành phố lớn cũn có thêm lượnglượng lương thực thừa của quõn đội Mĩ đem ra phõn phối [38,217]

Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp tất yếu kéo theo là những vấn đề xãhội nghiêm trọng Tình trạng mất kiểm soát, mất lòng tin, vô chớnh phủ diễn

ra ngày một phổ biến Các tệ nạn xã hội như buôn bán chợ đen, cờ bạc xuất hiện nhiều hơn bao giờ và ngày càng nhức nhối

Theo cuốn Sách trắng kinh tế tháng 7/1947, do tình trạng kinh tế thấpkém, do sự rệu rã của thiết bị giao thông nên tai nạn xe cộ tăng lên gấp 3 lầntrước chiến tranh [11,29] Tình hình này dẫn tới những tiêu cực xã hội nảysinh và phát triển dẫn tới tình trạng mất kiểm soát của chớnh quyền các cấp.Đõy thực sự là những khó khăn to lớn đặt ra cho xã hội Nhật Bản và là mộtvấn đề cấp thiết đòi hỏi phải giải quyết

Những khó khăn trong xã hội tác động không nhỏ đến sự phát triểnkinh tế và khoa học kĩ thuật của Nhật Bản Sự phát triển của khoa học - kĩthuật của Nhật Bản trong giai đoạn lịch sử này cũng chịu những tác động taihại, gặp nhiều khó khăn

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, do đòi hỏi của các mục đích quõn

sự, các trung tõm nghiên cứu khoa học kĩ thuật được đầu tư phát triển NhậtBản đã có những tiến bộ nhanh chóng về kĩ thuật, đặc biệt là kĩ thuật quõn

sự Sự phát triển của kĩ thuật điện và năng lượng hạt nhõn là những ví dụđiển hình Nhưng, cho đến khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản vẫn cũn rất lạchậu so với các nước tư bản phát triển khác về trình độ khoa học kĩ thuật,nhiều loại hình kĩ thuật đã được ứng dụng rộng rói ở chõu Âu và chõu Mĩvẫn chưa được sử dụng ở Nhật Bản

Với những điều kiện kinh tế, xã hội như vậy cộng với tình trạng mấthết thuộc địa, bị quõn đội Mĩ đóng quõn kiểm soát, lúc này, dù người lạcquan nhất cũng không dám nghĩ Nhật Bản sẽ trở thành cường quốc kinh tế,

Trang 37

khoa học - kĩ thuật trong tương lai Tuy nhiên, một trong những nhõn tốquan trọng hàng đầu đưa đến sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bảnchớnh là con người, các cá thể trong xã hội Nhật Bản.

Cộng đồng dõn cư trên hũn đảo nghèo, khuất nẻo Nhật Bản được ghinhận là một dõn tộc mang nhiều bản sắc văn hoá đặc biệt, một dõn tộc anhhùng trong việc xõy dựng phát triển đất nước thành công từ một nước phongkiến nghèo nàn lạc hậu thành một nước cường quốc thế giới; anh hùng trongviệc đưa đất nước từ đống tro tàn đổ nát của chiến tranh trở thành mộtcường quốc kinh tế tài chớnh sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Ngay từ thời xa xưa, cư dõn Nhật Bản vẫn được ghi nhận là một dõntộc sống có tổ chức và có kỷ cương chặt chẽ Qua các trang sử Trung Hoathời Nguỵ thì ngay thời kỳ đó, Nhật Bản đã thể hiện là một tổ chức xã hội cóquy củ Du khách phương Tõy tới Nhật Bản vào các thế kỷ sau cũng khẳngđịnh điều tương tự W.Ađam, một người Anh đến Nhật Bản vào năm 1611,

đã miêu tả “Dõn Nhật là những người có ý thức, phục tùng tuyệt đối các quan cai trị và cấp trên của họ” [34,41] Một nhà nghiên cứu dõn tộc học

người Mĩ đã rất ấn tượng với sắc thái tôn ti trật tự trong xã hội Nhật Bản, thểhiện ngay trong ngôn ngữ xưng hô và hình thức chào hỏi đối với từng đốitượng xã hội cụ thể: người trên, kẻ dưới, nam, nữ, tuổi tác, cấp bậc

Phải chống chọi với tự nhiên khắc nghiệt, sự hoà trộn giữa tư tưởngKhổng giáo với tư tưởng Thần Đạo (Shintô), đã tạo nên trong cư dõn NhậtBản tớnh cộng đồng cao, trọng đạo đức, thanh danh và tinh thần tiết kiệm,cần cù Mỗi cá nhõn, lấy chuẩn mực đạo đức xã hội làm tiêu chuẩn sống,thước đo Giá trị cao nhất của con người thể hiện trong lao động và trongđức tớnh tiết kiệm của mỗi người Triết lý sống cao đẹp này của người dõnNhật đã được giới cầm quyền tận dụng trong giáo dục nhõn dõn lao động vàlõu dần đã trở thành nếp sống của người dõn Nhật Bản cho tới tận ngày nay,

là động lực quan trọng kéo Nhật Bản thoát khỏi những hậu quả xã hội màChiến tranh thế giới thứ hai để lại

Trang 38

CHƯƠNG 2

SỰ PHÁT HUY NHÂN TỐ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG PHÁT

TRIỂN KINH TẾ Ở NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 1951 - 1973

2.1 Chớnh sách phát huy nhõn tố khoa học kĩ thuật ở Nhật Bản

2.1.1 Cơ sở của chớnh sách phát huy nhõn tố khoa học - kĩ thuật

2.1.1.1 Khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1945 - 1951)

Sau khi thua trận, Nhật Bản đã bị các lực lượng Đồng minh - thực tế

là quõn đội Mĩ chiếm đóng Chính phủ Nhật Bản tuy vẫn được tồn tại, côngnhận và tiếp tục quản lý đất nước nhưng mọi hoạt động thực tế lại chịu sựkiểm soát và chi phối của quõn đội chiếm đóng Thực tế là đã hình thànhloại chớnh quyền kép ở Nhật Bản trong thời gian quõn đội Mĩ đóng quõn

1945 - 1952

Ngày 10 tháng 9 năm 1945, tướng Douglas Mac Arthur công bốnhững chớnh sách cải cách lớn, khá nghiêm khắc và cứng rắn nhằm “dõnchủ hoá” nền kinh tế Nhật Bản, hình thành thị trường tự do, môi trường cạnhtranh bình đẳng trong kinh tế

Chớnh sách cải cách lớn, đáng chú ý nhất là thủ tiêu tình trạng tậptrung quá mức sức mạnh kinh tế Biện pháp để thủ tiêu tình trạng tập trungsức mạnh kinh tế là giải thể các Daibátxư Trong những năm 1946 - 1948,

Ủy ban giải quyết các vấn đề công ty cổ phần (thành lập năm 1945) đã thihành việc giải tán các công ty độc quyền mang tớnh chất phong kiến và cáccông ty lớn, thay đổi bộ máy nhõn sự thông qua thanh lọc kinh tế Mục đíchcủa việc giải thể các tập đoàn Daibátxư là nhằm tiêu diệt sức mạnh quõn sựcủa Nhật Bản cả về mặt tõm lý lẫn thể chế Theo đánh giá của các lực lượngchiếm đóng, các ngành công nghiệp của Nhật Bản trước và trong chiến tranh

đã nằm dưới quyền kiểm soát của các của một vài công ty lớn và đã đượcChính phủ Nhật ưu đói Hơn nữa, công nghiệp tập trung dưới sự kiểm soỏt

Trang 39

của một vài công ty lớn gõy ra “một quan hệ nửa phong kiến giữa chủ vàthợ, kìm hóm tiền lương, cản trở sự phát triển của công đoàn ngăn chặn sựthành lập các hóng kinh doanh độc lập và gõy trở ngại cho sự phát triển lớnmạnh của giai cấp trung lưu ở Nhật Bản” “Tiền lương thấp và các lợi nhuậntập trung do cơ cấu nói trên đẻ ra đã không cũn phù hợp với sự phát triểncủa thị trường trong nước do đó, giới kinh doanh Nhật thấy cần mở rộngxuất khẩu Chớnh lòng ham muốn mở rộng xuất khẩu là động lực đặc biệtthúc đẩy Nhật Bản đi con đường đế quốc chủ nghĩa và xõm lược” [23,50].Các Daibátxư được coi là nguồn gốc của mọi tai hoạ và việc giải thể chúngđược coi là đúng đắn, công bằng và cấp bách nếu muốn việc dõn chủ hoáthành công.

Bốn tập đoàn Daibỏtxư lớn (Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo và Yasuda)cùng với bảy Daibỏtxư khác đã bị SCAP ra lệnh giải tán và cải tổ lại

Công ty Mitsui có một công ty cổ phần tham dự nắm giữ cổ phần cáccông ty con của nó và do đó, tất cả các quyết định quản lý quan trọng đềuphải xin phép công ty cổ phần tham dự Một uỷ ban giải thể các công ty cổphần tham dự đã được thành lập để giám sát việc chuyển giao cổ phần docông ty mẹ nắm giữ cho các công ty con và các công ty cổ phần tham dựMitsui đã bị giải thể Mitsubishi, Sumitomo, Yasuda và các Daibátxư khácnhỏ hơn cũng phải chịu số phận tương tự

Các Daibátxư là những doanh nghiệp lớn, chiếm một tỷ lệ lớn cổ phầncủa các công ty ở Nhật Bản: Năm 1937, bốn Daibátxư lớn đã nắm giữ đến24,6% tổng cổ phần Nhật Bản [43,154] Toàn bộ số cổ phần của cácDaibátxư nắm giữ phải bị chuyển giao trong quá trình giải thể, mang bánnhững cổ phần ấy cho dõn chúng Các thành viên của các gia đình Daibátxư

- kể cả những người chưa nhiều tuổi lắm - đã bị thanh trừng ra khỏi nhữngchức vụ có thế lực trong công ty và bị cấm tham gia vào việc quản lý cácdoanh nghiệp lớn khác Năm 1947, công ty thương mại Mitsui và công ty

Trang 40

thương mại Mitsubishi đã được lệnh giải thể Việc giải thể là triệt để, thậmchí tới mức cũn cấm 100 cựu nhõn viên của các công ty đó không được kếthợp lại để lập ra công ty mới.

Sau đó, một loạt các chớnh sách dõn chủ hoá đối với những hiệp hộicông nghiệp đã được thông qua Cứng rắn không kém việc giải tán cácDaibátxư, theo yêu cầu của Mĩ, tháng 4/1947 Luật chống độc quyền đượcban hành Đõy là một đạo luật nhằm ngăn chặn bọn tài phiệt phục hồi vàcũng là đạo luật thể hiện được những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tếNhật Bản sau chiến tranh Luật này đã được sửa đổi năm 1940 và năm 1953theo chiều hướng nới lỏng dần

Tiếp theo Luật chống độc quyền là Luật thủ tiêu sự tập trung quá mứcsức mạnh kinh tế Luật thủ tiêu sự tập trung qua mức sức mạnh kinh tế đãđược ban hành vào tháng 12 năm 1947 Luật này quy định các công ty hiệnnắm quyền kiểm soát thị trường buộc phải thu hẹp quy mô hoạt động Có 18công ty đã thực sự bị phõn chia thành các tổ chức nhỏ hơn Các công ty nhỏđược khuyến khích thành lập, hoạt động độc lập, có hiệu quả

Những chớnh sách trên đã tác động rất lớn đến toàn bộ nền kinh tếNhật Bản sau chiến tranh Chúng đã tạo ra một nền kinh tế đặc trưng bởi sựcạnh tranh mạnh mẽ trong tất cả các ngành công nghiệp, đặc biệt ở ngànhcông nghiệp nặng và hoá chất Xu hướng cơ bản sau chiến tranh của nềnkinh tế Nhật Bản được tạo ra là “sự tranh giành của những người tí hon chứkhông phải của người khổng lồ tham gia” Điều này đã hình thành nênnhững cơ chế thị trường khá tốt và thuận lợi – nhõn tố quan trọng trong việcthúc đẩy nền kinh tế phát triển

Tiếp đó là cải cách ruộng đất nông nghiệp Trước chiến tranh, khoảng46% ruộng đất của Nhật Bản là đất phát canh Nông dân phải nộp mức tôcao khi mượn ruộng cày cấy [38,206] Từ lõu, Bộ Nông Ngư đã tỡm cáchnõng cao mức sống của tá điền, tháng 11 năm 1945, sau khi Nhật Bản bị

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w