Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 – 1996, Đảng ta tiến hành đại hội lần thứ VIII, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giảipháp đưa sự nghiệp đổi mới đi vào chiề
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu lịch sử địa phương là một việc làm quan trọng để từ đó hiểu
rõ hơn về lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương Trong đó mảng đề tài về kinh tế
xã hội địa phương đang được nhiều người chú ý, bởi qua kinh tế xã hội địaphương ta sẽ thấy được sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong mộtgiai đoạn nhất định
Năm 1986 Đảng ta đã đưa ra chủ trương đổi mới đất nước.Cũng từ đónước ta thu được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xãhội.Sau mười năm tiến hành sự nghiệp đổi mới Việt Nam không nhữngthoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc vào cuối thập niên 70 đầu thập niên 80của thế kỷ trước mà còn vươn lên bắt kịp nhịp phát triển sôi động của nềnkinh tế - khu vực và thế giới.Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với
cơ chế thị trường xó hụị chủ nghĩa, nền kinh tế nhiều thành phần hình thànhphát triển đồng bộ và đạt kết quả mới, niềm tin của nhân dân vào sự tấtthắng của chủ nghĩa xã hội được củng cố
Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 – 1996, Đảng
ta tiến hành đại hội lần thứ VIII, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giảipháp đưa sự nghiệp đổi mới đi vào chiều sâu – công nghiệp hoá - hiện đại hoỏ
vỡ mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”.Chớnh sỏch đổi mới của Đảng đã tác động sâu sắc đến sự phát triểnkinh tế - xã hội của nhiều địa phương trong cả nước, Huyện Lang Chánh nóichung cũng như thị trấn Lang Chánh nói riêng là một trong những địa phươngthực hiện tốt đường lối “Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ” của Đảng
Thị trấn Lang Chánh là thị trấn miền núi vùng cao nằm ở phía Tây, TâyBắc Thanh hoá, được thiên nhiên ban tặng về tài nguyên thiên nhiên phong
Trang 2phú, đa dạng.Hơn nữa, về mặt địa kinh tế, do quốc lộ 15A đi qua nên thị trấnLang Chánh có điều kiện thuận lợi trong giao lưu văn hoá và phát triển kinh tế.
Từ khi có đưởng lối “công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ” của Đảng, thịtrấn Lang Chỏnh đó đún nhận, áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợpvới các điều kiện địa phương, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh vốn cú.Trảiqua hơn 10 năm tiến hành đường lối “công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ”, thịtrấn Lang Chỏnh đó cú những chuyển biến lớn về kinh tế - xã hội.Sự chuyểnbiến đú đó mang lại diện mạo mới cho thị trấn Lang Chánh Đời sống vậtchất cũng như đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng nâng cao, củng cốniềm tin cho nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi đã đạt được, thị trấn LangChánh vẫn có nhiều khuyết điểm, thiếu sót, những hạn chế cần được khắcphục và phát huy mặt tích cực nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện cácnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong việc thực hiệnđường lối phát triển ở những giai đoạn tiếp theo
Tìm hiểu công cuộc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá của thịtrấn Lang Chánh là tìm hiểu quá trình vận dụng đường lối đổi mới đất nướccủa trung ương Đảng, đồng thời khẳng định Đại hội đại biểu lần thứ VIII làhoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và làm rõ những thànhtựu mà công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đem lại cho quê hương.Từ
đó góp một phần nhỏ bé của mình vào việc gợi mở một số giải pháp, hướng
đi cho nền kinh tế thị trấn trong những giai đoạn sắp tới, góp phần làm chonền kinh tế thị trấn phát triển cùng đất nước Mặt khác là người con sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất thị trấn Lang Chánh, với mong muốn tìm hiểu sâuhơn về kinh tế, văn hoá, con người quờ mỡnh để từ đó thờm yờu xóm làng,yêu quê hương, yêu đất nước, góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ trên địa bànthị trấn truyền thống tốt đẹp của quê hương thị trấn Lang Chánh Đồng thời
Trang 3góp một phần thiết thực phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu lịch sửđịa phương ở nhà trường phổ thông của bản thân sau này.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sự chuyển biến kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)” để làm đề tài tốt nghiệp đại học, đồng
thời đóng góp một phần công sức của mình vào việc nghiên cứu, đánh giánhững kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới của thị trấn Lang Chánh
2 Lịch sử vấn đề
Đổi mới là một chủ trương hết sức quan trọng, chủ trương đú đó tácđộng sâu rộng đến từng ngành, từng địa phương trong cả nước.Quỏ trỡnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước tức là tiếp tục thực hiện công cuộc đổimới của đất nước.Chớnh vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về côngcuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước như tác phẩm : “ Con đườngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nụng thụn”- NXB Chính trị quốcgia – Hà Nội – 2002; “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và các nướctrong khu vực” - Phạm Khiêm Ích – NXB Thống Kê – 1994,…Cỏc công trìnhtrờn đã nghiên cứu “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ” ở nhiều khía cạnh nhưng
cú ớt tác phẩm nghiên cứu về một thị trấn, đặc biệt là một thị trấn miền núitrong thời điểm hiện tại Tuy nhiên những tài liệu trên đã cung cấp những kiếnthức về “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ”, giỳp cho người viết có cách nhìnkhái quát về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nghiờn cứu về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thị trấnLang Chánh còn là vấn đề tương đối mới mẻ, chưa thu hút được sự quantâm nghiên cứu đặc biệt của các học giả Tuy nhiên trong một số tác phẩmcũng đã đề cập đến lịch sử hình thành và quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa thị trấn Lang Chánh
- Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ năm 1975 đến nay” do PGS.TSTrần Bá Đệ biên soạn (NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 1998) đã nêu lên
Trang 4nhiều thành tựu, tiến bộ, hạn chế của đất nước khi tiến hành công nghiệphoá, hiện đại hoá.
- Trong cuốn “Đảng bộ và phong trào cách mạng Lang Chánh (1945 –1990)” do Ban chấp hành Đảng bộ Lang Chánh nghiên cứu và biên soạn năm
1991, đã nói lên đặc điểm tự nhiên và truyền thống đấu tranh của nhân dânLang Chánh nói chung và thị trấn Lang Chánh nói riêng trong quá trình lịch sử
- Cuốn “Đảng bộ, nhân dân Lang Chánh phát huy truyền thống cáchmạng đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới (1945 – 1998)”, do ban chấp hành Đảng
bộ Lang Chánh nghiên cứu và biên soạn năm 1999, đã đề cập đến vai tròlãnh đạo của Đảng bộ huyện trong cách mạng và đẩy mạnh công cuộc đổimới của huyện Lang Chánh
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Lang Chánh (1949 – 2004)”, do Banchấp hành Đảng bộ Lang Chánh nghiên cứu và biên soạn năm 2005, cuốnsách đã nêu lên toàn bộ đặc điểm tự nhiên, truyền thống cách mạng, vai tròlãnh đạo của Đảng bộ trong cách mạng và công cuộc đổi mới của huyệnLang Chánh nói chung và thị trấn Lang Chánh nói riêng
Ngoài ra, một số báo cáo của ban chấp hành Đảng bộ huyện LangChánh từ khoá XV và XIX, các báo cáo tổng kết uỷ ban nhân dân huyện, đãđánh giá tổng kết những thành tựu của toàn huyện, các báo cáo tổng kết của
uỷ ban nhân dân thị trấn… chỉ ra những thành tựu và hạn chế của quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá thị trấn Lang Chánh
Nói chung, các tác phẩm và tài liệu nói trên đã làm sáng tỏ được một
số vấn đề của thị trấn Lang Chỏnh.Tuy nhiờn cho đến nay chưa có một côngtrình, hay bài viết nào nghiên cứu cụ thể về sự chuyển biến kinh tế - xã hộicủa thị trấn Lang Chánh từ năm 1996 – 2008.Chính vì thế luận văn tập trungtìm hiểu một cách hệ thống sự chuyển biến kinh tế - xã hội thị trấn LangChánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (từ năm 1996 – 2008)
Trang 53 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển biếnkinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá từ 1996 đến 2008
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu.
Để hoàn thành khoá luận này chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tích luỹnhiều nguồn tư liệu:
- Tài liệu lưu trữ của tỉnh, huyện, thị trấn: Đó là những báo cáo hàngquý, hàng năm; Các nghị quyết, văn bản, các chỉ thị tỉnh uỷ, của uỷ bannhân dân huyện Lang Chánh, uỷ ban nhân dân thị trấn Lang Chỏnh, cỏcphũng ban trong huyện và thị trấn Lang Chỏnh: phũng thống kê, phòngnông nghiệp, và tiểu thủ công nghiệp, phòng địa chớnh…
- Các văn kiện Đảng: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVI,VII,VIII,XIX; Các văn kiện Hội nghị trung ương và các tài liệu kháclien quan đến nội dung khoá luận tìm hiểu
- Các sách báo của Trung ương tỉnh Thanh Hoỏ: Bỏo Thanh Hoỏ cú đưatin về chủ trương, chính sách cũng như tình hình kinh tế huyện Lang Chánh nóichung trong đó có thị trấn Lang Chỏnh.Cỏc luận văn, tạp chí như: tạp chí Nghiêncứu lịch sử, tạp chí cộng sản, các bài chuyờ khảo có lien quan đến luận văn
- Tư liệu điền dã
Trang 6Vì thuộc đề tài nghiên cứu lịch sử địa phương, nên phương phápnghiên cứu chủ yếu được vận dụng là phương pháp lịch sử nhằm tái hiện lạiquá trình phát triển kinh tế của thị trấn Lang Chánh trong giai đoạn côngnghiệp hoá, hiện đại hoá (từ năm 1996 – 2008) Đồng thời sử dụng phươngpháp logic để đi đến nhận định, đánh giá mang tính chất khái quát.
Ngoài ra đề tài của luận văn thuộc đề tài Lịch sử địa phương, nờn khõugiám định tư liệu rất quan trọng.Sau khi sưu tầm tư liệu, phân loại tư liệu theo thờigian và vấn đề rồi phân tích, đối chiếu so sánh và kết hợp với điều tra điền dã
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách toàn diện, cụ thể vềkinh tế - xã hội của huyện Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá từ năm 1996 – 2008
Dựa vào nguồn tư liệu, luận văn đã dựng lại bức tranh toàn cảnh vềkinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh, làm sáng tỏ sự chuyển biến về kinh
tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ 1996 – 2008, qua đó nêulên những thành tựu và hạn chế
Luận văn đã hệ thống được những tư liệu có thể cung cấp về thị trấnLang Chánh Đồng thời, qua luận văn cũng cung cấp tư liệu cho việc giảng dạylịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền thống qua các bài học lịch sử
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)
Chương 3: Những chuyển biến xã hội của thị trấn Lang Chánh trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI
THỊ TRẤN LANG CHÁNH 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên thị trấn Lang Chánh
1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Lang Chánh là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của mộthuyện vùng núi cao - Huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoỏ.Nằm ở phía Tây– Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá, có toạ độ địa lý: từ 20000’13’’ – 20018’15’’ vĩ độBắc; từ 105017’30’’ – 105045’20’’ kinh độ Đông
Thị trấn Lang Chánh nằm trên trục đường quốc lộ 15A - trục đườngquốc lộ nối liền các huyện miền núi phớa tõy tỉnh Thanh Hoá.Thị trấn cáchthành phố Thanh Hoá 101 km, cách đô thị Ngọc Lặc (tương lai là trung tâmcác huyện miền núi phía Tây Thanh Hóa) 16 km, cách huyện Bá Thước 40
km, cách biên giới nước CHND Lào 60 km.Hiện nay khi con đường Hồ ChíMinh được đưa vào sử sụng đã rút ngắn khoảng cách của thị trấn LangChánh với trung tâm thủ đô Hà Nội còn khoảng 170 km cũng như nối liềnthị trấn với sự phát triển của đất nước Thị trấn Lang Chánh có danh giớinhư sau:
Phía Đông Bắc giáp xã Đồng Lương
Phía Tây Nam giỏp xã Quang Hiến
Con đường chính trong thị trấn là đoạn nối từ quốc lộ 15A thẳng lêntrung tâm thị trấn đến ngã 4 đi xó Tõn Phỳc, xó Quang Hiến, xã ĐồngLương.Thị trấn không có giao thông đường thuỷ và đường sắt.Toàn bộ hệthống đường bộ của thị trấn đã rải đường nhựa tạo điều kiện thuận cho việcvận chuyển hàng hoá và sinh hoạt của người dân thị trấn
Trang 9Với vị trí địa lý như vậy ta có thể thấy rằng mặc dù là một thị trấnmiền núi, xa các trung tâm phát triển của đất nước, nhưng thị trấn LangChỏnh cú tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ trong tương lai.
1.1.2 Địa hình, đất đai, sông ngòi
Thị trấn Lang Chánh trước kia là vùng rừng núi với những khu rừng
tự nhiên bao quanh.Nhưng với quá trình phát triển, sự thay đổi của môitrường tự nhiên cùng những tác động của con người, diện tích rừng của thịtrấn giảm mạnh, thay vào đó là những khu nhà mọc lên san sát, những khuđồi cây ăn quả, cây trồng khác và là địa bàn cư trú của dân cư
* Địa hình
Thị Trấn Lang Chánh nhìn từ xa như một lòng chảo, có đồi núibao quanh Đặc điểm địa hình của thị trấn là thuộc vùng thấp và bằngphẳng nhất của huyện Lang Chánh Độ cao trung bình từ 400 – 500m Vìvậy so với cỏc xó trong huyện, thị trấn có những điều kiện thuận lợinhất cho phát triển kinh tế - xã hội
* Đất đai
Đất đai Thị trấn được hình thành, phát triển trờn cỏc núi đá mẹ khácnhau (phiến thạch, sét, sa thạch, phiến sa, phi lớch…) do vậy chất đất ở cáckhu vực cũng có phần khác nhau.Hiện nay thị trấn Lang Chỏnh cú 226,6 hadiện tích tự nhiên trong đó được phân loại như sau:
Trang 10trấn Đất nông nghiệp chiếm 28% diện tích tự nhiên Tỷ lệ đất lâm nghiệp vànông nghiệp gần như bằng nhau (đất lâm nghiệp hơn nông nghiệp 6 ha), điềunày cho thấy thế mạnh của thị trấn là kết hợp phát triển nông – lâm nghiệp.Bỡnhquân diện tích nông nghiệp/người là 0,014 ha/người và 0,05 ha/hộ
Diện tớch đất ở cũng chiếm phần lớn trong diện tích tự nhiên của toànhuyện (chiếm 25,7 %) Đất chưa sử dụng của thị trấn không cũn chứng tỏngười dõn thị trấn đã tận dụng hết đất đai của địa phương Sự phân chia gầnnhư đồng đều giữa đất nông nghiệp, lâm nghiệp, và đất ở cho thấy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu đất ở thị trấn đang diễn ra mạnh mẽ Cùng với quá trìnhtiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thị trấn cũng đang diễn ra quỏtrình đụ thị hoá Đất ở đang có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ lệ cao trongdiện tích tự nhiên.Cùng với đó là sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Đất thị trấn rất thuận lợi cho các loại cây lúa, cây rau màu và các loạicây trồng lương thực khỏc.Những loại cây trồng phù hợp với các loại đấtcủa thị trấn:
- Đất vườn, phù hợp các loại cây như: cây chuối, cây dừa cây bưởi,cây cam, cây chanh, cây xoài, cõy mớt…
- Đất ruộng thị trấn Lang Chánh là những thũng lũng cấy lúa nhỏ hẹpđược khai phá từ ngàn đời của đồng bào các dõn tộc Lang Chánh, phù hợpvới cây lúa, cây ngô, khoai lang.Cõy rau màu vụ đông bao gồm: cải bắp, xuhào, xúp lơ, xà lách, cải củ, cải bẹ, cải cỳc.Cõy rau màu vụ hè phù hợp với:rau ngót, rau đay, bầu, mướp, xu xu, bí
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 63,4 ha, trong đó:
- Diện tích đất trồng lúa là 25 ha:
- Diện tích đất ruộng trồng màu: 5,4 ha
- Đất trồng cây hàng năm: 7 ha
- Đất vườn tạp : 6 ha
- Đất trồng cây lâu năm : 7 ha
Trang 11- Đất có mặt nước nuôi thuỷ sản: 13 ha
(số liệu tính đến tháng 6 năm 2007 theo báo cáo tổng kết UBND thị trấn) Thị trấn có diện tích nương rẫy khá lớn nằm rói rỏc trờn cỏc đồi núithấp Hiện nay nguyên nhõn khiến rừng thị trấn Lang Chánh bị thu hẹp là doviệc đốt phá nương rẫy của người dõn địa phương
1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Thị trấn Lang Chánh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng dođiều kiện tự nhiên chi phối nên hình thành hai mùa khí hậu rừ rệt.Mựa mưa
từ tháng 4 đến tháng 9, còn lại là mựa khụ.Nhiều năm khô hạn, thuỷ văn ởmột số khu vực biến đổi thất thường.Nhiệt độ cao nhất là 380C, nhiệt độtrung bình là 210C, thấp nhất là 40C.Lượng mưa bình quân hàng năm trên2.000 mm, nhưng lượng bốc hơi lên tới 1.000 mm.Bỡnh quõn hàng năm cótới 70 – 80 ngày sương mù.Các cơn bão ít đổ bộ lên thị trấn Lang Chánh
Có 3 con sông, suối đi qua thị trấn Lang Chánh là: sông Âm, suối Cui,suối Xuốm
Dòng sông Âm bắt nguồn từ nước Lào chảy qua xó Yờn Khương và
đi qua thị trấn.Ngày xưa dòng sông đó giỳp cho việc vận chuyển lâm sản từvùng cao xuống thị trấn
Dòng suối Cui, suối Xuốm bắt nguồn từ phía Đông và phía Bắc nỳi
Bự Bằng có tác dụng đắp đập lấy nước sinh hoạt và tưới tiêu cho đồngruộng ở Bản Trải và Bản Lưỡi.Nhưng hiện nay do hạn hán nên dòng suốiCui không cũn tác dụng như trước
Mật độ ao hồ ở thị trấn thưa thớt, các ao hồ chủ yếu dùng vào việcnuôi cá thịt.Mỏng tự nhiên và hồ nhân tạo khụng cú.Năm 1967 xây dựngđập và mương Lãm dài 2.500m.Năm 2003 xây dựng đập và mương Lưỡi dài700m để cung cấp nước cho 2 vùng nông nghiệp trọng điểm của thị trấn làBản Trãi và Bản Lưỡi.Vì vậy ngư nghiệp không phát triển mạnh ở thị trấnLang Chánh
Trang 121.2 Khái quát về lịch sử, văn hoá – xã hội.
1.2.1 Lịch sử hình thành.
Trải qua biến cố của lịch sử, địa giới hành chính Châu Lang Chánhluôn luôn thay đổi.Thời thuộc Hán là phần đất thuộc huyện Đô Lung (CátLung) sau này ghép vào huyện Vụ Biờn.Thời Tam Quốc cho đến nhà Tuỳ(Trung Quốc) thuộc huyện Do Phong.Thời nhà Đường thuộc huyện TrườngLõm.Thời Trần - Hồ gọi vùng này là “Mường Một” thuộc huyện Nga Lạc,Châu Ái.Thời Lê Quang Thuận năm thứ 10 (1469) đặt tên là châu LangChánh, gồm 14 động và thôn Đến thời Tây Sơn đổi thành châu Lươngchính Đến thời Minh Mệnh ghép huyện Thọ Xuân với châu Lang Chánh vàlấy lại tên cũ là châu Lang Chánh thuộc phủ Thanh Đô
Năm 1829 nhà Nguyễn quyết định lập châu Quan Hoá bao gồm châuQuan Gia, châu Tằm (thuộc vùng đất các huyện Quan Hoá, Quan Sơn,Mường Lát) cắt một phần đất Lang Chánh và một phần đất Nông Cống lậpchâu Thường Xuõn, tỏch chõu Lang Chánh ra khỏi phủ Thanh Đô lập châu
lỵ tại Ninh Lương (nay thuộc xã Quang Hiến)
Năm 1834, vua Minh Mệnh đổi động và thôn thành xã và đặt thêmtổng, đồng thời xuống dụ, đặt các thổ ty, lang đạo dưới quyền kiểm soát củaChánh Tổng.Thực chất của chính sách này là do triều đình phong kiến nhàNguyễn muốn hợp pháp hoá vai trò cai trị của thổ ty, lang đạo để phục vụchính quyền phong kiến cỏc cấp.Chõu Lang Chánh được chia thành 4 tổng,
8 mường, hai xã
Sau cách mạng tháng 8 thành công (1945) châu Lang Chánh đổithành huyện Lang Chánh, bỏ Tổng, Mường lập xó, thụn bản và vẫn lấy NinhLương thuộc xã Quang Hiến làm huyện lỵ Đến năm 1954, huyện LangChỏnh cú 6 xó: Yờn Khương, Quyết Thắng, Lê Lai, Giao An, Tõn Phỳc,Đồng Lương.Năm 1964 chia xã Quyết Thắng thành hai xó: Trớ Nang vàQuang Hiến, chia xó Lờ Lai thành hai xã: Lõm Phú và Tam Văn.Năm 1981
Trang 13chia xó Yờn Khương thành hai xó Yờn Thắng và Yên Khương.Năm 1982chia xã Giao An thành hai xã Giao An và Giao Thiện Đến những năm đầuthập kỷ 90 kinh tế châu Lang Chánh phát triển, yêu cầu xây dựng một môhình tổ chức quản lý hành chính mới được đặt ra một cách cấp bỏch.Việcthành lập một thị trấn với quy mô và tính chất phù hợp tạo điều kiện cho khuvực phát triển huyện Theo quyết định của tỉnh Thanh Hoá, tháng 4 – 1991chia xã Quang Hiến thành thị trấn Lang Chánh và xã Quang Hiến Thị trấnhuyện xáp nhập thêm làng Lưỡi Xá Đồng Lương Sự phát triển của thị trấncũng như yêu cầu về một trung tâm kinh tế - xã hội của một huyện, năm 2006thị trấn xáp nhập thêm Bản Trải 2 được tách ra từ làng Chiềng Trại thuộc địaphận quản lý của xã Quang Hiến.Thỏng 11 năm 2006 chính thức trở thành địaphận của thị trấn Lang Chánh với 115 hộ và 634 nhân khẩu.Trong đó dân tộckinh: 127 người; Mường: 451 người ; Thái:56 người.Người Mường chiếm sốđông ở đây và là dân sống ở đõy lõu nhất Đến nay thị trấn Lang Chánh gồm:Làng Lưỡi, Làng Chiềng Trải, Phố Vinh Quang (tiểu khu 1,2,3,4), phố II (tiểukhu 1,2,3) và phố III.
Tổ 1, phố II hình thành là do một số hộ của phố Đồng Lương cũ hìnhthành Đến năm 1991 thì được đặt tên chính thức là tổ 1 phố II với tổng số 144
hộ và 504 nhõn khẩu.Dõn tộc Thỏi cú 8 người, dân tộc Mường có 127 người,dân tộc kinh có 369 người.Dõn tộc Mường là ở lâu đời nhất
Tổ 2, phố II hình thành là do một số hộ cán bộ công nhân viên chức nghỉhưu cũ Lâm Trường Bù Rinh trước được gọi là phố Đồng Lương 2, sau khithành lập thị trấn Lang Chánh được đặt tên chính thức là tổ 2, phố II.Bao gồm
100 hộ và 386 nhân khẩu, trong đó có 5 người Thái, 49 người dân tộc Mường,dân tộc Kinh: 331.Người kinh là ở đây lâu nhất
Phố III.Do một số hộ là cán bộ công nhân viên chức cũ của công ty xâydựng cơ bản về hưu hoặc nghỉ theo chế độ 176 trước đây ở và cùng với một số
hộ dân miền xuôi đến định cư làm ăn ở.Trước 1991 được đặt là phố 3 với tổng
Trang 14số hộ là 105 và 358 nhân khẩu.Trong đó dân tộc Thái: 23 người; Mường: 12người ; Kinh: 323 người.Người kinh sống ở đõy lõu nhất.
Bản Lưỡi được hình thành từ trước năm 1945 do một số hộ dân làng Lãi Ó
và một số dân bản Lưỡi cũ khai phá mở mang.Thời phong kiến cha con Kỳ Tínđặt tên là Làng Lưỡi.Trước năm 1991 khi thị trấn chưa thành lập là một làng của
xã Đồng Lương.Thỏng 4- 1991, thị trấn thành lập được đặt lại là Bản Lưỡi baogồm 66 hộ và 332 nhân khẩu.Trong đó dân tộc Thái là 5 người; dân tộc Kinh: 14người; dân tộc Mường: 314 người.Người Mường sống ở đõy lõu nhất
Bản Trải 1 được chia tách ra từ làng Chiềng Trại, là một phần đấtthuộc xã Quang Hiến Sau khi thị trấn thành lập được đặt lại là Bản Trải 1bao gồm 114 hộ và 598 nhõn khẩu Trong đó dõn tộc Thái là 31 người, dõntộc Kinh là 124 người và dõn tộc Mường là 443 người
Phố I được chia thành: Tổ 1, tổ 2, tổ 3 được hình thành từ tháng4/1991.Nguồn gốc là một số hộ thuộc phố Vinh Quang trước đây tách ra vàmột bộ phận dân cư thuộc xã Quang Hiến quản lý.Bao gồm 1517 nhân khẩu,trong đó dân tộc Mường: 261 người; dân tộc kinh:1181 người; dân tộc Thái:75.Người kinh ở đây lâu nhất
Như vậy, thị trấn Lang Chánh là một thị trấn vừa được thành lập từnhu cầu thiết lập một trung tõm hành chớnh của khu vực Sau khi thành lập,thị trấn có những nhiều biến đổi về tất cả các mặt kinh tế - xã hội, từ đó thịtrấn Lang Chánh không chỉ là trung tõm hành chớnh mà trở thành trung tõmkinh tế - xã hội- văn hoá, là trung tõm huyện lỵ Lang Chánh
1.2.2 Văn hoá – xã hội
* Dân cư và nguồn lao động
Hiện nay thị trấn Lang Chánh gồm 9 phố bản với 1235 hộ và 4329nhân khẩu chiếm 0,99% dân số toàn huyện.Mật độ dân số trung bình là 1775người / km2.Lao động trong độ tuổi là 2.486 người chiếm 57% dân số thịtrấn, chủ yếu là lao động trẻ, khoẻ.Trong đó 6 phố bản chủ yếu là lao động
Trang 15thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, chỉ có 3 phố bản là sản xuất nônglâm nghiệp (Bản Lưỡi, Bản Trải 1, Bản Trải 2).Theo sự phân loại đô thị củanghị định số 72/2002/NĐ-CP (2001) với mật độ dõn số như vậy thị trấnLang Chánh thuộc đô thị loại V của đất nước.Với đầy đủ các yếu tố pháttriển của một đô thị, thị trấn Lang Chánh đang tiến nhanh trên con đườngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thị trấn là mái nhà chung của 3 dân tộc: Thái, Mường, Kinh từ ngànđời nay đã chung lưng đấu cật, đoàn kết gắn bó lao động sản xuất và chiếnđấu, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.Trong đó:
- Dân tộc Mường chiếm 30,2%
- Dân tộc Thái chiếm 7,05%
- Dân tộc kinh chiếm 62,43%
(số liệu này được tính đến tháng 6 năm 2008)
Người Kinh chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số thị trấn (62,43%) là mộtthuận lợi cho sự phát triển của thị trấn Lang Chỏnh.Việc đưa khoa học kỹthuật vào đời sống và sản xuất của địa phương được nhanh chóng hơn.Mặtkhác dân số thị trấn trẻ, với lực lượng lao động hùng hậu như vậy là một điềukiện tốt cho sự phát triển của thị trấn hơn cỏc xó khỏc.Tuy nhiờn chính điềunày dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế cũng như trình độ văn hóa giữa ngườiKinh và dân tộc khác, cũng như của thị trấn với cỏc xó trong huyện
Dân tộc mường với sử thi “đẻ đất đẻ nước” được lưu truyền qua nhiềuthế hệ, với cỏc khỳc dân ca Xướng, với lễ tục Pũụn Pụụng – hỏt mỳa quâyquanh cây hoa, ước mong cuộc sống yên lành với tiếng trống, tiếng kèn và sỏo
ụi âm vang sâu thẳm.Hội “Xộc bựa” với dàn cồng chiêng do các cô gái mườngbiểu diễn…
Dân tộc thái với tiếng nói, chữ viết, trang phục và những khúc dân ca(khắp thái), các điệu múa hát nghi lễ, cỏc trũ: cá sa, phấn chá (múa hát xungquanh cây hoa) coong giàm, kốn bố… đó tạo nên những giá trị văn hoá đặc
Trang 161.3 Vài nét về kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh giai đoạn 1991-1996
* Nông – lâm nghiệp
Trước năm 1996, do diện tích tự nhiên của thị trấn Lang Chánh chưađược mở rộng như hiện nay, chỉ có 186,6 ha.Trong đó, đất nông nghiệp cókhoảng 61 ha chiếm 32,8% diện tích đất tự nhiên
Trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt được coi là thế mạnhcủa thị trấn Nhưng do diện tích nông nghiệp ít, trình độ thâm canh của nhândân còn thấp, nên sản xuất nông nghiệp của thị trấn trong giai đoạn này cũngặp nhiều khó khăn Trước điều đó huyện đã chủ trương đưa giống mới vàosản xuất, mở rộng diện tích trồng cây màu(sắn, ngụ…) Cây công nghiệpcũng được đưa vào sản xuất nhưng chưa phát triển rộng rãi
Về trồng trọt, Năm 1994 diện tích trồng lỳa cú 11,2 ha, đạt năng xuất
3 tấn/ha Thị trấn đó cú sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhưng chưa được
áp dụng mạnh và đạt hiệu quả cao Diện tích cây màu khoảng 18 ha, sảnlượng quy thóc 11 tấn.Tổng sản lượng quy thóc cả năm là 137 tấn = 115 %
kế hoạch Tổng thu nhập cõy công nghiệp khoảng 120 triệu
Về Chăn nuôi, tổng đàn Trâu trong giai đoạn 1991 – 1996 là 157con=103% kế hoạch; Tổng đàn Bò hiện có: 78 con = 100% kế hoạch; Tổngđàn lợn là 1450 con.Tổng sản lượng thịt lợn hơi là 115 tấn đạt 104 % Giaiđoạn này tình trạng chăn nuôi gia súc ở dưới gầm nhà Sàn của người dõn
Trang 17cũn phổ biến nhiều Điều này không chỉ gõy ô nhiễm môi trường sinh hoạt
mà cũn làm giảm năng suất chăn nuôi của người dõn địa phương
Thời kỳ này về ngư nghiệp chủ yếu là thả cá ở sông, suối Việc nuôi
cá lồng chưa được người dõn thị trấn quan tõm
* Về Lâm Nghiệp
Thị trấn Lang Chánh là một thị trấn miền núi nên lâm nghiệp là mộtthế mạnh để phát triển kinh tế thị trấn.Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huỵệncũng như UBND thị trấn, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của hai Lâm trườngđúng trờn địa bàn nhân dân thị trấn đã tập trung vốn, nguồn lực, khoa học kỹthuật vào việc khôi phục và phát triển rừng theo nghị quyết của trung ương,của tỉnh Tổng diện tích đất Lâm nghiệp năm 1995 là 61,4ha UBND thị trấn
đã giao đất cho 41 hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâudài theo quyết định 02 của chớnh phủ.Cả năm lõm nghiệp của thị trấn khaithác được 20 triệu đồng
Trong giai đoạn này người dõn thị trấn đang cũn xem nhẹ việc sảnxuất kinh doanh nghề rừng và chăn nuôi, chưa thực hiện nông – lõm kết hợpchặt chẽ Cùng với đó là nạn phá rừng đang cũn nhiều ở thị trấn Vì vậy kếtquả lõm nghiệp đạt được cũn thấp so với tiềm năng vốn có của thị trấn
* Tiểu thủ công nghiệp.
Bờn cạnh nhịp độ phát triển của nông – lâm nghiệp thì tiểu thủ côngnghiệp cũng được nhõn dõn thị trấn quan tõm Trong giai đoạn 1991 – 1996thủ công nghiệp của thị trấn Lang Chánh bước đầu chuyển biến và đưa lạihiệu quả thiết thực, giá trị hàng năm tăng lên UBND thị trấn tổ chức ranghề rốn, tổ chế biến lâm sản, tổ chức nung gạch, nung vôi phục vụ nhu cầuxây dựng cơ bản và sản xuất
Năm 1994 ngành Mộc dân dụng sản xuất được 80 m3 sản phẩm thànhtiền là 312 triệu.Dụng cụ cầm tay 200 sản phẩm = 30 triệu.Khai thỏc đỏ, cỏt,
Trang 18sỏi: 650m = 200 triệu.Gạch các loại sản xuất được 610 ngàn viên= 170 triệuđồng.Sản xuất vôi cục: 110 tấn=315 triệu đồng.
Nhưng nhìn chung giai đoạn này thủ công nghiệp chưa đóng vai tròquan trọng trong nền kinh tế thị trấn.Giỏ trị thủ công nghiệp đưa lại chongười dân thị trấn còn nhỏ so với nông – lâm nghiệp
* Ngành Dịch vụ
Thực hiện cơ chế đổi mới hoạt động sản xuất, năm 1994 thị trấn đãhình thành các hoạt động dịch vụ chế biến lâm sản, thức ăn gia súc, nhiềuloại hình cưa xẻ, say xát, đan lỏt…đó thu hút được lao động dư thừa Nhưngđõy mới chỉ là những hoạt động dịch vụ nhỏ, lẻ chưa đưa lại lợi nhuận kinh
tế cao Ước tính thu nhập ngành dịch vụ thị trấn khoảng 880 triệu đồng/năm
Tóm lại, hoạt động phát triển kinh tế của thị trấn trong giai đoạn này đạtđược những kết quả đáng phấn khởi.Ngành nghề phát triển thu hút được phầnlớn lao động có công ăn việc làm ổn định.Năng suất cõy trồng, chăn nuôi tăng.Một số hộ nhõn dõn đã từng bước đi vào chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, từ đódẫn đến sự thay đổi trong lĩnh vực văn hoá – giáo dục
1.3.2 Văn hoá – giáo dục
Tháng 4 năm 1996 Thị trấn Lang Chánh được thành lập và trở thànhtrung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của huyện Lang Chánh Là nơi đặt trụ
sở của các cơ quan đầu ngành trong huyện như: UBND Huyện, Nhà văn
Trang 19hoá, Kho bạc Nhà Nước, Công an huyện, Trung tâm y tế huyện,…Chớnh vìvậy tình hình văn hoá – giáo dục của thị trấn phát triển nhất so với cỏc xótrong huyện.
Về giáo dục, trong giai đoạn này trên địa bàn thị trấn có 5 trường:trường mầm non thị trấn, trường tiểu học thị trấn, trường THCS thị trấn,trường phổ thông cấp 2-3, trường bổ túc văn hoá
Trường mầm non đầu tiên của huyện được ra đời tại phố I thị trấn LangChánh bước đầu đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của các gia đỡnh.Nhưng tỷ lệ gửi trẻđến trường trong giai đoạn này còn thấp.Năm 1994 có 281 cháu.Cùng với sựthành lập thị trấn là mô hình trường Phổ thông cấp 2-3, trường bổ túc văn hoácấp III, tạo điều kiện cho con em thị trấn cũng như toàn huyện đến học tập.Tỷ
lệ học sinh lên lớp 89%.Nhưng tình trạng bỏ học trong giai đoạn này tăngnhanh, trung bình 11,2%.Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học đạt 95%, tốt nghiệp phổthông cơ sở 96,6% Hàng năm đều có học sinh giỏi tuyến huyện và tỉnh.Năm
1994 có 3 em thi đậu đại học và 28 em thi đậu vào các trường trung cấpchuyên nghiệp
Hệ thống giáo dục của thị trấn Lang Chánh trong giai đoạn này nhìnchung đã hoàn chỉnh nhưng về chất lượng và cơ sở vật chất còn gặp nhiềukhó khăn Đa số các trường trong giai đoạn này còn là nhà tranh hoặc cấpbốn.Bàn học, ghế, bảng thiếu thốn.Một số trường còn học hai ca như trườngPhổ thông cấp II-III
* Về y tế
Thị trấn Lang Chánh vừa được thành lập nên cũn gặp nhiều khó khăn,trong đó khó khăn nhất là lĩnh vực y tế của thị trấn Trung tâm y tế huyệnvừa được xây dựng nằm trên địa bàn thị trấn Điều này thuận lợi cho nhucầu khám chữa bệnh của người dân địa bàn.Nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật ởđây mặc dù đã được đầu tư nhưng cũn nhiều hạn chế Trang thiết bị y tếchưa hiện đại, người dân thị trấn luụn cú tâm lý xuống Trung tâm y tế Ngọc
Trang 20Lặc khám bệnh vì không yên tâm với kỹ thuật y tế ở đây Đội ngũ thầythuốc năm 1995 là 89 cán bộ, trong đó ngành y là 63 người, bác sỹ 37người, ngành dược 5 người.Tỷ lệ phát triển dân số năm 1995 là 2,1%.
Trạm xá thị trấn đã được xây dựng năm 1992 nhưng điều kiện trangthiết bị chưa đầy đủ cho nên việc thu nhận bệnh nhân tại trạm chưa làm được,chưa thu hút được nhân dân thị trấn đến khám bệnh.Trạm xá lúc này chỉ là haigian nhà cấp 4 với 3 cán bộ y tế.Tổng số lượt khám - chữa bệnh năm 1995 là
766 lượt người trong đú có 131 lượt người chữa bệnh sốt rột.Khỏm bứơu cổ:
370 người, cấp phát thuốc điều trị bệnh 122 người Khám phụ khoa 54 người,đặt vòng 8 người, khám thai 7 người, cấp bao cao su 8 người
Công tác dõn số kế hoạch hóa thị trấn giai đoạn này chưa pháttriển.Tỷ lệ sinh tự nhiên 2%,sinh con thứ ba trở lên chiếm 12,5%
Về đời sống nhân dân mặc dù cao hơn cỏc xó trong huyện nhưng chỉmới dừng lại ở nhu cầu đủ ăn, đủ mặc Nhà văn hoá Huyện Lang Chánhđược xõy dựng nhưng chưa thực hiện rừ vai trò của mình trong đời sống vănhoá của người dõn thị trấn.51% gia đình trong thị trấn đã có tivi và 69% cóđiện thắp sáng
Về cơ sở hạ tầng: Cho đến năm 1995 thị trấn Lang Chánh cơ sở hạtầng cũn kém, chưa có cơ sở hạ tầng đô thị Chỉ có 2/3 hệ thống đường thịtrấn được rải nhựa
Trang 21phát huy, khai thác tốt và đúng hướng, nếu kết hợp với những điều kiện kháchquan sẽ tạo thuận lợi lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá haycũng chính là quá trình đô thị hoá của địa phương.
Nông nghiệp thị trấn từ khi thành lập đến năm 1996 nhìn chung cũng
có bước phát triển.Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo đường lối đổi mớicủa đất nước nhưng còn chậm, sản xuất đang còn độc canh, khoa học kỹthuật mới bước đầu áp dụng vào sản xuất, chưa có sản phẩm hàng hoá, cũnnặng tớnh tự cung tự cấp, chưa có khả năng tự tích luỹ để đầu tư cho thươngnghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp Đi liền với thực trạng kinh tế đó làmột cơ cấu xã hội mà nông dõn vẫn đang cũn chiếm tỷ lệ lớn
Thủ công nghiệp và thương nghiệp của thị trấn bước đầu phát triểnnhưng còn gặp nhiều khú khăn.Nhõn dõn thị trấn chưa phát huy được hếttiềm năng phát triển của địa phương.Người dân đa số còn sản xuất lẻ tẻ, nhỏ
và chưa đầu tư nhiều vào ngành này Thương mại - Dịch vụ xuất hiện vàđem lại nhiều biến đổi cho thị trấn Lang Chánh Nhưng trong giai đoạn nàymới chỉ là những ngành dịch vụ cơ bản
Những thế mạnh kinh tế xuất phát từ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiêncủa thị trấn đã nêu ở phần trên, thực tế chưa được phát huy Nhưng chớnh vịtrí địa lý, điều kiện tự nhiên đã làm tiền đề cho sự phát triển của giai đoạnsau của thị trấn.Vì vậy khi tiến hành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở giai đoạn sau, thị trấn Lang Chỏnh đó đạt được nhiều thành tựu vượt bậc
Trang 22Chương 2
NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ CỦA THỊ TRẤN LANG
CHÁNH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 – 2008)
2.1 Chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xá hội của Đảng, nhà nước trong thời kỳ 1996 – 2008:
2.1.1 Quan điểm chung
Trong giai đoạn này tình hình quốc tế có nhiều biến động đã ảnhhưởng đến công cuộc đổi mới của nước ta
Cuộc cách mạng khoa học kỷ thuật công nghệ đã thúc đẩy nền kinh tếthế giới phát triển nhanh chúng.Quốc tế hoá, đa phương hoá đang trở thành
xu thế mạnh mẽ tác động đến các mặt của xã hội loài người Sự hợp tácquốc tế ngày càng tăng.Việc Việt Nam gia nhập “Hiệp Hội Các Nước ĐôngNam Á” (ASEAN), bình thường hoá quan hệ với Mỹ là điều kiện tốt đểchúng ta phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng đặt nước ta trước nhữngthách thức, khó khăn mới
Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 năm 1996Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ VIII đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mụctiêu, giải pháp đưa sự nghiệp đổi mới của nước ta đi vào chiều sâu – Côngnghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với những tiến bộ khoa học và công nghệtiờn tiến.Vỡ vậy khoa học công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệphoá, hiện đại hoỏ.Mục tiờu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa là xây dựngnước ta trở thành một nước công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, quốc phòng an ninh vữngchắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựngthành công chủ nghĩa xó hụị
Trang 23Tháng 4 năm 2001, Đảng tiến hành Đại hội lần thứ IX đã chỉ ra môhình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Namlà: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường định hướng xó hụị chủ nghĩa Đại hội đã thông qua đường lối pháttriển kinh tế là: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh
tế dân tộc dân chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp Ưu tiên pháttriển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa.Phỏt huy cao nội lực, đồng thời tranh thủnguồn lực bên ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển văn hoá, kếthợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh
Trước những yêu cầu của đất nước nói chung, tỉnh Thanh Hoá nóiriêng, tháng 5/1996 Đảng bộ Thanh Hoỏ đó tổ chức Đại hội đại biểu lầnthứ XV nhằm xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề
ra nhiệm vụ tổng quát soi sáng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá giai doạn đầu tiên trên địa bàn toàn tỉnh: phát huy thành tựu đạt được,tranh thủ thời cơ vận hội, khắc phục khó khăn, thách thức, tạo ra sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế nhanh, mạnh, vững chắc theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá, đẩy mạnh cơ chế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa,khai thác sử dụng tốt nguồn lực, xây dựng đảng và hệ thống chính trị vữngmạnh, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân
Nghiên cứu, học tập đóng góp ý kiến cho văn kiện dự thảo trình đại hộilần thứ IX của Đảng, triển khai thực hiện đường lối của Đảng trong giai đoạnmới, tháng 1 năm 2001 Đảng bộ Thanh Hoá đại hội lần thứ XV, đã tiếp tục đề
ra phương hướng, nhiệm vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoỏtrờn toàn tỉnh Đại hội khẳng định việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới,tăng tốc độ phát triển, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu trên tất cả các lĩnh vực,phát huy nội lực, khai thác các nguồn lực, đặc biệt là nhân lực, ưu tiên phát
Trang 24triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế có tiềm năng lợi thế đáp ứng nhu cầu thịtrường.Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững.Nõng cao hiệu quả vàsức cạnh tranh, tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.Tăng trưởngkinh tế phải gắn liền với phát triển và giải quyết tốt các vấn đề xã hội chủnghió, nâng cao đời sống của nhân dân, từng bước thực hiện công bằng xóhụị.Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng- an ninh, giữ vững ổn địnhchớnh trị.Xõy dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh Đảng
và nhà nước ta đã kịp thời phân tích những biến đổi của tình hình trong nước
và quốc tế để đề ra những đường lối đúng đắn cho quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Đưa nền kinh tế nước ta phát triển đi lên, làm động lựcthúc đẩy xã hội ta tiến lên văn minh hiện đại
2.1.2 Chủ trương và biện pháp của thị trấn Lang Chánh trong việc vận dựng đường lối của Đảng.
Quán triệt đường lối đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và nghịquyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Đảng bộ Lang chánh tiến hành tổchức đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII (3/1996) đề ra phương hướng, mục tiêucho phát triển kinh tế - xã hội của huyện.Công cuộc công nghiệp hoá, hiệnđại hoỏ trờn địa bàn Lang Chánh thực chất là công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp nụng thụn.Trong nông nghiệp bao gồm nông nghiệp và lâmnghiệp, trong nông thôn bao gồm cả kinh tế, văn hoá, xã hội
Ánh sáng của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, của Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XV đã hướng dẫn các Đảng bộ trong tỉnh tiếp tục đưa sựnghiệp đổi mới vào chiều sâu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ ngày 27 đến ngày 29-11-2001 Đảng bộ huyện Lang Chánh tiếnhành Đại hội lần thứ XIX Đại hội đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từngngành Trong phát triển kinh tế Lang Chánh phải phát huy tiềm năng đất đai,tài nguyên, lao động sẵn có, nâng cao tính tự lực, tự cường, tranh thủ sự đầu
Trang 25tư phát triển trồng trọt và chăn nuôi, đưa chăn nuôi đại gia súc trở thànhngành sản xuất hàng hoá, phát triển mạnh mạng lưới dịch vụ - thương mại ởcác tụ điểm dân cư, xây dựng các cụm kinh tế - kỹ thuật, thực hiện tốt các
dự án kinh tế - xã hội Đối với cỏc xã vùng cao: Tập trung quản lý bảo vệrừng phòng hộ đầu nguồn, phát triển chăn nuôi gia súc và các loại cây lúa,cây lấy củ có bột, cây ăn quả phù hợp với điều kiện Đối với cỏc xó vựngthấp: Tập trung thâm canh cây lúa và các loại cây công nghiệp ngắn ngày,phát triển cây ăn quả có chất lượng Đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ chăm sóc
tu bổ, khai thác rừng một cách hợp lý; phát triển chăn nuôi gia súc, giacầm.Từng bước hình thành vùng nguyên liệu giấy theo quy hoạch của tỉnh
đề ra Đặc biệt đối với thị trấn phải phát triển cả lâm – nông – công nghiệp
và dịch vụ, hình thành vành đai thực phẩm, thực hiện quy hoạch dân cư, bảo
vệ môi trường.Về văn hoá – xã hội phải đẩy lùi tệ nạn xã hội, thực hiện tốtchính sách xã hội của Đảng, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhõn tài.Xõy dựngđảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngang tầm với yêu cầucông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Được sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Lang Chánh, uỷ bannhân dân thị trấn Lang chánh đã thực hiện quán triệt đường lối “công nghiệphoá, hiện đại hoỏ” của Đảng cho toàn bộ nhân dân thị trấn.Phải phát huysức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, khai thác hợp lý tiềm năng thếmạnh.Tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội để khai thác hiệu quả tiềm năng củamình.Gần 10 năm đầu tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương,dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thị trấn, toàn thể nhân dân thị trấn LangChỏnh đó tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, hạ thấp tể lệ nôngnghiệp trong GDP, tăng nhanh tỷ lệ thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ,đổi mới kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi phát triển
Trang 26nền kinh tế hàng hoỏ.Cựng với sự phát triển kinh tế, dưới sự lãnh đạo củahội đồng nhân dân thị trấn Lang Chỏnh đó đõỷ nhanh tốc độ phát triển vănhoá, từng bước xoỏ đúi giảm nghèo, nâng cao dân trí, đào tạo lực lượng laođộng, bồi dưỡng nhân tài, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,đảm bảo cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương được tiếnhành trong điều kiện ổn định thuận lợi, bình yên và tạo thành tựu mới to lớn
và đặt nền tảng cho sự phát triển sau này
2.2 Sự chuyển biến kinh tế của thị trấn Lang Chánh - huyện Lang Chánh - tỉnh Thanh Hoá.
Trong những năm truớc 1996 kinh tế của thị trấn Lang Chánh chủ yếu
là kinh tế nông – lâm nghiệp.Kinh tế thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụxuất hiện nhưng đang còn yếu và chưa thực sự trở thành kinh tế cơ bản củathị trấn Nhưng sang những năm đầu thế kỷ XXI, kinh tế thị trấn phát triểnmạnh mẽ, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Bảng 2.2.1: Cơ cấu kinh tế thị trấn Lang Chánh qua các năm
Từ bảng thống kê trên cho thấy kinh tế thị trấn Lang Chánh đang có
sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là mộttất yếu của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất vì có như vậy mớilàm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tớnh chất và trỡmh độ của lực lượngsản xuất Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm biến đổi cơ cấu kinh tế sao cho
Trang 27phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và xu thế phát triển chungcủa thế giới cùng với sự tiến bộ khoa học công nghệ Đó là qúa trình làmthay đổi, điều chỉnh các yếu tố trong cấu trúc kinh tế sao cho phù hợp vớiđiều kiện khách quan của nền kinh tế, nhằm phát triển kinh tế đạt trình độtăng trưởng nhanh, mạnh, bền vững Trên thế giới đã và đang sảy ra hai xuhướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lớn:
- Chuyển dịch từ khu vực sản xuất sang khu vực dịch vụ (chủ yếudiễn ra ở các nước công nghiệp tiên tiến nhất)
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đạihoá diễn ra chủ yếu ở các nước đang phát triển mà chủ yếu là nội bộ khuvực sản xuất vật chất, theo hướng gia tăng sản xuất công nghiệp so vớinông nghiệp
Nước ta từ một nước nông nghiệp, nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếđang theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá Sự chuyển dịch của cơ cấukinh tế của thị trấn Lang Chánh cũng không nằm ngoài quy luật đó
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy rừ quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế của thị trấn Lang Chánh: Tỷ trọng nông – lâm nghiệp giảm, tỷ trọngthủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ tăng.Trong đó tỷ trọng thương mại,dịch vụ tăng nhanh nhất, tăng 11% trong 9 năm, bình quân hàng năm tăng1,2% Thủ công nghiệp tăng 5% trong 9 năm, trung bình mỗi năm tăng0,6% Riờng nông – lâm nghiệp giảm 16%, trung bình mỗi năm giảm 1,8%.Thủ công nghiệp là thế mạnh của kinh tế thị trấn Lang Chánh Việc giảm tỷtrọng nông – lâm nghiệp, tăng tỷ trọng thủ công nghiệp, thương mại và dịch
vụ cho thấy cơ cấu kinh tế của thị trấn Lang Chánh đang có sự chuyển biếntích cực theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Lang Chánh là vùng núi cao thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đó
là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế lâm nghiệp, cây côngnghiệp dài ngày, cây ăn quả và thực hiện nông lâm kết hợp.Từ điều kiện
Trang 28thuận lợi đó, thị trấn Lang Chỏnh đó cú những chủ trương phù hợp, tiếp tụcphát huy nội lực khai thác hợp lý thế mạnh đất đai, tài nguyên lao động đẩymạnh phát triển sản xuất lâm – nông - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ mộtcách toàn diện, ổn định vững chắc theo hướng thâm canh chuyên canh, tăngnăng suất cây trồng, vật nuụi.Tạo ra nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hoỏlõm nông sản phục vụ đời sống nhõn dõn.Xõy dựng, quy hoạch, xác định cơcấu kinh tế bố trí phát triển cây – con hợp lý để nhanh chóng hình thànhvùng, tiểu vùng kinh tế phù hợp với thị trấn Lang Chánh.
2.2.1 Nông – lâm nghiệp.
và góp phần tích luỹ cho nền kinh tế.Nông nghiệp phát triển có ảnh hưởngrất lớn tới các ngành công nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của côngnghiệp.Nụng nghiệp không chỉ sản xuất ra các sản phẩm tiêu dùng trực tiếpcho con người mà còn là nơi cung cấp các tư liệu, nguyên liệu cho cácngành công nghiệp như công nghiệp chế biến nông – lâm, thuỷ sản, côngnghiệp nhẹ, thủ công nghiệp.Nông nghiệp còn là nguồn cung cấp nguồnnhân lực dồi dào cho các ngành kinh tế khác phát triển
Trang 29Riêng đối với nước ta, nông nghiệp luôn là lĩnh vực quantrọng.Những năm gần đây nền nông nghiệp Việt Nam đã làm cho thế giớiphải kinh ngạc.Bởi vì, từ chỗ thiếu ăn triền miờn thì bây giờ Việt Nam trởthành nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo.Sự chuyển biến mạnh
mẽ như vậy là nhờ vào đường lối lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là việc vậndụng đường lối đó vào nông nghiệp nông thôn được tiến hành phù hợp vớiquy luật kinh tế - xã hội
Quán triệt đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng, uỷ bannhân dân thị trấn Lang Chỏnh đó xác định: Trong nông nghiệp phải tích cựcthay đổi mùa vụ, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất,đẩy mạnh thâm canh tăng vụ Đưa tỷ lệ giống lúa lai, ngô lai có năng suấtcao vào sản xuất trên 80% diện tớch.Tiếp tục chỉ đạo sản xuất vụ đông để vụđông trở thành tập quán sản xuất của nhân dân.Việc áp dụng và đưa cungứng vật tư đầy đủ, kịp thời, tập trung đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất đãđạt được nhiều thành tựu quan trọng làm sản xuất nông nghiệp của thị trấn
có những chuyển biến rõ nét.Kinh tế nông nghiệp của thị trấn phải phát triểnmạnh theo hướng chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình thay đổi cácyếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc kinh tế nông nghiệp.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chuyển dịch cả cơ cấu ngành và
cơ cấu thành phần kinh tế
Nông – lâm nghiệp thị trấn Lang Chánh trong giai đoạn này có sựbiến đổi lớn.Tỷ trọng mặc dù có giảm trong cơ cấu kinh tế nhưng vẫn chiếmmột vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân địa phương.Trong chớnh
cú cấu nông nghiệp- lâm nghiệp cũng có sự thay đổi:
Bảng 2.2.2: Cơ cấu ngành nông nghiệp của thị trấn Lang Chánh từ năm
1996 đến năm 2008 (%)
Trang 30Đõy là sự chuyển dịch tích cực trong quá trình tiến hành công nghiệphoá, hiện đại hoá ở thị trấn Lang Chánh Mặt khác không chỉ trong cơ cấukinh tế nông nghiệp có sự biến đổi mà ngay trong cơ cấu ngành nôngnghiệp cũng có sự chuyển dịch.Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệpchính là sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành và nhúm ngành trong nội bộngành nông nghiệp Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp hiệnnay là hướng tới một nền nông nghiệp hàng hoá tạo ra nhiều sản phẩm hànghoá có giá trị.
Công nghiệp hoá nông nghiệp cũng bắt đầu diễn ra mạnh hơn giaiđoạn trước Nông dõn đã chủ động mua sắm máy móc phục vụ sản xuất:
Trang 31máy tuốt lúa, máy gặt …Đặc biệt trong giai đoạn này đã xuất hiện các dịch
vụ nông nghiệp, dịch vụ VAC đẩy mạnh sản xuất
* Trồng Trọt
Trồng trọt của thị trấn Lang Chánh trong giai đoạn này đã có sựchuyển biến rừ rệt: giảm tỷ trọng cõy lương thực, tăng diện tích cõy có giátrị hàng hoá cao phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương Ruộng đấtđược giao cho nhân dân thị trấn và quy định rõ trách nhiệm của người nhậnruộng: nông dân có quyền chủ động đầu tư kinh doanh, sử dụng ruộng đấtsao cho có hiệu quả kinh tế cao.Nụng dõn phải có nhiệm vụ nộp thuế nôngnghiệp như đúng quy định của nhà nước Đồng thời phải sử dụng đất theođúng quy luật đất đai mà nhà nước ban hành Xu hướng độc canh cõy lươngthực đã được hạn chế trong ngành trồng trọt, thay vào đó là việc trồngnhững loại cõy có năng suất cao, có giá trị hàng hoá lớn
Công ty cây trồng Thanh Hoá sớm chủ động hợp tác kinh tế với cácđơn vị, hộ nông dân, để giúp họ về giống, vốn, vật tư kỹ thuật, chuyển giaocông nghệ sản xuất cho người nụng dõn…Điều này đó giỳp cho ngành trồngtrọt của tỉnh Thanh Hoá nói chung và thị trấn Lang Chánh nói riêng pháttriển mạnh trong những năm gần đây
(Nguồn: Báo cáo hàng năm của UBND thị trấn từ năm 1997 đến 2008)
Nhìn vào bảng số liệu cho thấy diện tích cây lúa phát triển khôngđồng đều Tỷ trọng cõy lúa so với cõy hoa màu trong diện tích nông nghiệp
Trang 32bị thu hẹp Năm 1997: 21 ha chiếm 48% diện tích trồng trọt Đến năm 2002tăng lên 23,3 ha chiếm 47 %.Nhưng bắt đầu từ năm 2003, diện tích cây lúa
có xu hướng giảm xong không đáng kể.Năm 2004 cả thị trấn chỉ còn 21,5 hatrồng lúa (quay trở lại mốc năm 1998) Đến năm 2008 diện tích lại tăng lên
25 ha chiếm 48,4%, so với năm 1997 tăng 4 ha.Ngược lại với sự phát triểnkhông đồng đều của cây lúa thì cây hoa màu lại tăng đều mặc dù tăngkhông đáng kể.Năm 1997 toàn thị trấn có 23 ha trồng cây hoa màu (Ngô,khoai, sắn…).Năm 1998: 25,7 ha; Đến năm 2004 tăng lên 26,6 ha chiếm55% trong diện tích trồng trọt.Năm 2008 diện tích trồng cây hoa màu đãtăng lên 27,2 ha, tăng 4,2 ha so với năm 1997.Diện tích trồng trọt tăng lên là
do năm 2006 thị trấn Lang Chỏnh sỏp nhập thêm hai bản: Bản Trải 2 Đây làđịa bàn có diện tích đất nông nghiệp chiếm chủ yếu.Việc mở rộng diện tíchđất nông nghiệp đã nâng mức bình quân lương thực của người dân thị trấnlên mức đủ ăn và dư thừa.Năm 1997 bình quân lương thực đạt 330kg/người/năm Đến năm 2007 tăng lên 480 kg/người/năm
Trong diện tích trồng lúa cũng có sự thay đổi Việc xáp nhập thêm BảnTrải 2 năm 2006 đã mở rộng thêm diện tích trồng lúa ở thị trấn Lang Chánh
Bảng 2.2.4 Diện tích trồng lúa của thị trấn Lang Chánh
(Nguồn: Báo cáo hàng năm của UBND thị trấn từ năm 1996 đến 2008)
Bảng số liệu cho thấy tổng diện tích trồng lúa của thị trấn có tăngnhưng tăng chậm Trong vòng 11 năm diện tích trồng lúa tăng 15.6 ha, bình
Trang 33quân tăng 1,4 ha/năm.Trong đó diện tích vụ chiêm tăng nhanh hơn diện tích
vụ mùa Nguyờn nhân là do UBND thị trấn đã giải quyết tốt công tác thuỷlợi phục vụ cho sản xuất ( năm 2003 xây dựng đập Mương Lãm dài 700m).Năm 1997 diện tích đất vụ chiêm chỉ có 12 ha chiếm 35,2%, còn diện tích
vụ mùa 22 ha chiếm 64,8% Nhưng đến năm 2008 diện tích vụ chiêm đãtăng lên 22 ha, tức là tăng 10 ha trong vòng 12 năm, chiếm 44,3%.Còn diệntích vụ mùa mặc dù cũng tăng nhưng tăng chậm Năm 2008 có 27,6 ha, tăng4,6 ha trong 11 năm và chiếm 45,7% diện tích trồng lúa
Về năng xuất thì tăng một cách rõ rệt Năm 1997 năng xuất mới đạt 3,5tấn/ha, nhưng đến năm 2008 đã tăng lên 5,35 tấn/ha, tăng 1,85 tấn Năng suấttrồng lúa tăng là do người dõn thị trấn đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vàosản xuất như máy tuốt lúa, máy bơm Cùng với đó trạm khuyến nông củahuyện đã cung ứng giống và tập huấn chuyển giao, áp dụng khoa học kỹthuật, đồng thời tuyên truyền khuyến khích nông dân hăng hái sản xuất Bắtđầu từ năm 1996 UBND thị trấn tích cực đưa các giống lúa mới có năng suấtcao chống lại sõu bệnh, hạn hán, phù hợp với đất và khí hậu ở thị trấn LangChánh như : tạp giao, C70, Nghi Hương, VL20… Bình quõn sản lượng lúatrên đầu người là 4,6 tấn/người/năm Điển hình cho việc đưa giống mới vàosản xuất là làng Bản Trải 1, Bản Trải 2, Bản Lưỡi Năm 2005 Đảng bộ nhândân thị trấn được Huyện uỷ trao tặng là địa phương sản xuất giỏi
Năm 1997 UBND thị trấn Lang Chánh đưa cây mía vào trồng trên địabàn.Năm 1999 thị trấn Lang Chỏnh đó cung cấp một khối lượng 1,2 tấn (cảhuyện cung cấp 5 tấn) mía cho công ty mía Đường Lam Sơn.Công ty đườngLam Sơn đã vận dụng đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước giao quyền
tự chủ hoạch toán sản xuất – kinh doanh.Cụng ty đã chủ động hợp tác liênkết với người trồng mía bằng một hệ thống chớnh sỏch: giúp đỡ vốn và máylàm đất, làm đường giao thông, giống mới, xây dựng phương thức mua vàgiá cả hợp lý đảm bảo quyền lợi cho người trồng mía Từ những quan hệ
Trang 34liên kết hợp tác với ngân hàng, với nông trường, với người trồng mía, Công
ty Mớa Đường Lam Sơn đã tạo thuận lợi tốt nhất cho người trồng mía ở thịtrấn Lang Chỏnh phỏt triển.Nhiều mảnh đất đã chuyển từ trồng rừng sangtrồng cây mớa.Phỏt triển cây mía đang là chủ trương của UBND thị trấntrong những năm gần đây
Nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, dệt vải được đưa trở lại vớinông nghiệp thị trấn.Năm 1999 diện tích trồng dâu là 1,7 ha Đến năm 2003tăng lên 2,5 ha, sản lượng sản xuất kén Tằm: 850 kg, giá trị sản phẩm dâutằm cả năm đạt 17,6 triệu.Năm 2006 Bản Trải được đưa vào kế hoạch pháttriển làng nghề dệt vải cổ truyền của người dân địa phương UBND thị trấn
đã có những chính sách cụ thể cho việc phát triển làng nghề dệt vải ở BảnTrói như tạo nguồn vay vốn, khuyến khích nhõn dõn sản xuất…Năm 2008làng nghề dệt vải ở Bản Trải đã đi vào sản xuất và đạt được những thànhquả tích cực, chứng tỏ sự phát triển mạnh cho tương lai nghề cổ truyền dệtvải ở thị trấn Lang Chánh
Trong giai đoạn trước cõy công nghiệp ngắn ngày và cõy công nghiệpdài ngày đã được đưa vào trồng ở thị trấn nhưng chưa phát triển Đa số chỉtrồng xen kẽ trên các thửa ruộng Đến giai đoạn này cõy công nghiệp ngắnngày như cõy đậu tương, lạc …đã phát triển mạnh, đưa lại thu nhập lớn chongười dõn địa phương
Cõy hoa màu chủ yếu trồng ở thị trấn Lang Chánh là sắn, ngô,khoai… Năm 1996 toàn thị trấn mới trồng khoảng 16 ha cõy lương thực,nhưng đến năm 2006 đã tăng lên 19 ha Trong đó, cõy sắn chiếm chủ đạolớn nhất trong cõy lương thực thị trấn vì phù hợp với đất đồi, khí hậu của địaphương Sản lượng cõy lương thực quy thóc tăng nhanh chóng Năm 1996đạt 145 tấn, đến năm 2006 đạt 367 tấn Điều này đã đảm bảo nhu cầu chongành chăn nuôi, đảm bảo nhu cầu lương thực gia súc, gia cầm
Trang 35Việc phát triển hoa màu tại thị trấn Lang Chánh là phù hợp với mộtkhu dân cư có bình quân ruộng canh tác thấp, đáp ứng nhu cầu của thị trường.Năm 1996 thị trấn có 14 ha trồng hoa màu, đến năm 2007 tăng lên 17,6 ha.Hiện nay xung quanh các thửa ruộng đã hình thành nên một vành đai rauxanh, với nhiều chủng loại rau như: khoai tây, bắp cải, su hào, súp lơ, càchua…Từ sản phẩm phục vụ bữa ăn gia đình, mang tớnh chất tự cung tự cấp,rau trở thành hàng hoá chiếm tỉ trọng lớn trong thu nhập của các gia đình.
Bảng 2.2.5: Tổng giá trị trồng trọt của thị trấn qua các năm
Tổng giá trị
(Nguồn: Báo cáo hàng năm của thị trấn Lang Chánh)
Giá trị của ngành trồng trọt tăng nhanh trong những năm gần đõy.Năm 1997 tổng giá trị đạt 545 triệu đồng, đến năm 2008 tăng lên 1,8 tỷđồng, trong 11 năm tăng gần 1,3 tỷ Điều này cho thấy mặc dù trong cơ cấungành nông nghiệp trồng trọt giảm, nhưng vẫn chiếm giá trị lớn đối với thunhập của người dõn
* Chăn nuôi
Do sự phát triển của ngành trồng trọt đã kéo theo sự phát triển củangành chăn nuụi.Ngành chăn nuôi của thị trấn phát triển cả về số lượng vàchất lượng
Thị trấn Lang Chánh là một thị trấn miền núi, có diện tích đất rừng,đất đồng cỏ Đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuụi.Cơ cấuvật nuôi thay đổi đa dạng, phong phú: Trõu, bò, lợn, gia cầm…Chăn nuôitập thể giảm dần nhường chỗ cho chăn nuôi hộ gia đình Đặc biệt một số hộgia đình đã chyển dần sang hình thức chăn nuôi trang trại điển hình như cácchủ trang trại chăn nuôi gà, lợn, vịt theo phương thức công nghiệp
Trang 36Mô hình kinh tế trang trại đã có từ lâu và ngày càng khẳng định được
vị trí, vai trò trong nền kinh tế thị trường Kinh tế trang trại cùng với kinh tếhợp tác xã trở thành nhân tố thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế trong nông nghiệp, nụng thụn.Vỡ vậy để khuyến khích kinh tế trangtrại gia đình phát triển, tỉnh uỷ đó cú nghị quyết 07/NQ/TU ngày 02 tháng
06 năm 1999 và nhiều chủ trương chính sách khỏc đó làm cho kinh tế trangtrại gia đình của tỉnh Thanh Hoá nói chung và thị trấn Lang Chánh nói riêngphát triển
Kinh tế trang trại gia đình phát triển đã thu hút được một phần vốnnhàn rỗi trong dân cư Mặt khác việc xõy dựng kinh tế trang trại cũn tận dụngđược hết diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhưng chưa được sử dụng.Ngoài hiệu quả kinh tế, kinh tế trang trại đó góp phần tạo thêm việc làm chonông dân, hạn chế được tiêu cực trong nông nghiệp, nông thôn.Hiểu được thếmạnh của kinh tế trang trại, UBND thị trấn đó cú những chính sách cụ thểnhằm khuyến khích kinh tế trang trại phát triển như vấn đề đất đai và vốn đầu
tư ban đầu cho người dân Điển hình trong kinh tế trang trại có gia đình côgiáo Nguyễn thị Oanh giáo viên trường tiểu học Quang Hiến ở Bản Trải vàgia đỡnh ụng Lờ Văn Dừa ở Bản Lưỡi đã xây dựng được mô hình kinh tếtrang trại.Toàn huyện hiện nay có 19 trang trại với quy mô lớn và hứa hẹnphát triển tốt (thị trấn có 2 trang trại)
Trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi thị trấn đã đạt được kếtquả đáng ghi nhận
Bảng 2.2.6 Tỡnh hình phát triển đàn Trâu ở thị trấn Lang Chánh (1996 - 2008)
Đơn vị: con
Toàn huyện 8504 8699 8255 8133 8167 8412 8466 8790 8422
Trang 37(Nguồn: Báo cáo hàng năm của UBND thị trấn Lang Chánh từ năm
1996 đến 2008)
Bảng số liệu trên cho thấy đàn trâu của cả huyện và thị trấn phát triểnkhông đồng đều, và đang giảm mạnh.Năm 1961 đàn trâu của thị trấn có 161con chiếm 1,9 % toàn huyện Đến năm 2008 giảm xuống còn 140 con chiếm1,6% toàn huyện.Người dân địa phương nuụi Trâu chỉ nhằm vào mục đíchsản xuất nông nghiệp là chủ yếu.Khi việc sản xuất được ứng dụng khoa học
kỹ thuật thì việc sử dụng con Trâu trong trồng lúa bị giảm mạnh Sự tănggiảm không đồng đều của đàn Trâu còn do ảnh hưởng của thời tiết, do dịchbệnh… làm đàn Trâu chết nhiều
Bảng 2.2.7 Tình hình phát triển đàn Bò của thị trấn Lang Chánh (1996-2008)
để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.Trõu và Bò chưa trở thànhsản phẩm thực phẩm đối với dân thị trấn
Trang 38Nếu như đàn Trâu và đàn Bò của toàn huyện cũng như thị trấn giảm thìđàn lợn lại có xu hướng tăng.Nuôi lợn đã đem lại nhiều lợi nhuận cho ngườidân làm nghề chăn nuụi.Nhiều gia đình giàu lên nhờ vào chăn nuôi lợn.
Bảng 2.2.8 Tinh hình chăn nuôi đàn Lợn của thị trấn Lang Chánh
tự nhiên như trước kia, chăm sóc vật nuôi theo hướng công nghiệp hoá
Do diện tích ao hồ của thị trấn không nhiều nên việc nuôi cá khôngđược chú trọng phát triển Năm 1996 ngành ngư nghiệp chiếm 7 % trongkinh tế nông nghiệp, đến năm 2008 tăng lên 11% Điều này cho thấy ngườidõn thị trấn cũng bắt đầu chú trọng đến ngành ngư nghiệp Nuôi cá lồngphát triển và đạt được nhiều thành tựu.Năm 1998 cả thị trấn có 17 lồng cá,đến năm 2006 tăng lên 25 lồng.Hàng năm thu nhập khoảng 6 tấn cá
Cùng với sự phát triển của chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia cầm ở thịtrấn Lang Chánh cũng có sự chuyển biến sõu sắc
Bảng 2.2.7 Tỡnh hình phát triển gia cầm của thị trấn Lang Chánh
Đơn vị: tấn
Trang 39Bảng 2 2.8 Tổng giá trị chăn nuôi của thị trấn Lang Chánh
Đơn vị: tỷ
Giá trị chăn nuôi tăng nhanh càng ngày chiếm giá trị cao trong tổnggiá trị nông nghiệp của thị trấn Năm 1998 đạt 1,5 tỷ đồng, đến năm 2007tăng lên 3,5 tỷ đồng, tức tăng 1 tỷ trong vòng 9 năm.So với ngành Lâmnghiệp, giá trị của ngành chăn nuôi đem lại cho người dân thị trấn hơnnhiều Năm 2007 giá trị chăn nuôi hơn giá trị trồng trọt là 1,8 tỷ đồng Điềunày cho thấy ngành chăn nuôi ngày càng chiếm ưu thế trong kinh tế nôngnghiệp của người dõn địa phương Chăn nuôi phát triển chứng tỏ đời sốngcủa nhân dân thị trấn tăng cao.Ngoài ra trên địa bàn thị trấn có một số hộ giađình nuôi Thỏ, Nhớm…cung cấp cho nhà hàng phục vụ nhu cầu thực phẩmcủa nhân dân địa phương
Trang 40Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông nghiệp đang đạtđược nhiều thành tựu đáng kể.Kinh tế nông nghiệp thị trấn có bước pháttriển mới làm nền tảng cho sự phát triển của giai đoạn tiếp theo.
2.2.1.2 Lâm Nghiệp
Từ cuối năm 1997 thị trấn đã hoàn thành kế hoạch giao đất lâmnghiệp theo nghị định 02 của chính phủ.Nhiều hộ gia đình xây dựng vườnrừng có hiệu quả thiết thực
Bảng 2.2.9 Diện tích đất lâm nghiệp của thị trấn Lang Chánh
1997 tổng giá trị lâm nghiệp là 25 triệu Đến năm 2003 đã tăng lên 40,7 triệu
và năm 2004: 51,5 triệu (giá trị lâm nghiệp toàn huyện năm 2004 là179.270.000 triệu).Hàng năm đã khai thác được một số lượng lớn luồng, cọc
và gỗ vườn rừng.Năm 2000 khai tác luồng: 2000 cây; cọc luồng:5000 cây;
gỗ vườn rừng: 20m3 Đến năm 2004 đã tăng lên khai thác luồng: 5000 cây;cọc: 4000 cây và gỗ vườn 22m3