1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Quan hệ thương mại của Malacca với Trung Quốc Giai đoạn 1400-1511

23 468 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 470,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA MALACCA VỚI TRUNG QUỐCGIAI ĐOẠN 1400-1511 Phạm ThuỷKhoa Lịch Sử, Trường ĐHKHXH&NV Giai đoạn 1400-1511 có ý nghĩa đặc biệt đối với vương quốc cảng Malacca.Giai đoạ

Trang 1

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA MALACCA VỚI TRUNG QUỐC

GIAI ĐOẠN 1400-1511

Phạm ThuỷKhoa Lịch Sử, Trường ĐHKHXH&NV

Giai đoạn 1400-1511 có ý nghĩa đặc biệt đối với vương quốc cảng Malacca.Giai đoạn này được tính từ khi Malacca được thành lập cho tới khi nó bị Bồ ĐàoNha xâm chiếm Tuy chỉ tồn tại độc lập trong 111 năm, nhưng Malacca đã đóng góp

vị trí quan trong trong hoạt động thương mại không những của Đông Nam Á mà còn

có ý nghĩa đối với hoạt động thương mại quốc tế Do nằm ở vị trí điạ lý quan trọngtrên eo biển Malacca, trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thuận lợi cho hoạtđộng thương mại và sự lãnh đạo sáng suốt của những vị vua Hồi giáo đã đưaMalacca trở thành một trong những thương cảng quan trọng bậc nhất của Đông Nam

Á vào “Kỷ nguyên thương mại” (The Age of Commerce) Có thể coi Malacca là

“trung tâm liên thế giới”, hay là một trạm trung chuyển hàng hoá (Entrepôt), nối liềnthị trường Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Tây Nam Á

Đối với các quốc gia phương Đông thời cổ trung đại, quan hệ thương mại củaMalacca với Trung Quốc là rõ nét hơn cả Bởi, Trung Quốc là một trong hai thịtrường lớn nhất phương Đông (Trung Quốc và Ên Độ) và là thị trường lớn nhất khuvực Đông Bắc Á Thông qua mối quan hệ này ta cỏ thể hiểu được phần nào về quan

hệ của các quốc gia Đông Nam Á nói chung với triều đình Trung Hoa

1 Sự hình thành và phát triển của vương quốc cảng Malacca

Bản thân nguồn gốc của tên gọi Malacca hiện nay vẫn còn là một trongnhững đề tài tranh luận của giới nghiên cứu Có ba giả thuyết chính về nguồn gốccủa tên gọi này: thứ nhất, tên gọi Malacca xuất phát từ tên một loài cá nước mặn(Malagas) là nguồn hải sản đánh bắt chủ yếu của cư dân đại phương; thứ hai, đó là

Trang 2

tên một một loại cây mọc phổ biến ở trên bán đảo này (Pokpok Melaka)1; và thứ ba

là tên một địa điểm (Mulagah) vốn là nơi họp mặt đầu tiên của những thương nhânHồi giáo A Rập ở trên quốc cảng này Theo nhiều học giả, quan điểm thứ ba đáng bịnghi ngờ nhiều nhất vì trong khoảng thời gian thế kỷ XV-XVI thương nhân A Rậpchưa phải là cư dân quan trọng ở Malacca2 Tuy nhiên, theo chúng tôi cũng cần lưu

ý đến giả thuyết này Mặc dù thương nhân Hồi giáo Arập chưa phải là những cộng

đồng cư dân chính của thương cảng Malacca (cư dân đông đảo nhất ở Malacca trong thời gian đó là những người Java và người Mã Lai), nhưng họ lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại và truyền bá Hồi giáo ở Đông Nam Á Theo

tiếng Arập, Mulagah có nghĩa là nơi gặp mặt, là bến cảng, là điểm tụ họp (gathering

point) hay trung tâm thu gom hàng hoá (collecting center) Đó là những từ ngữ rất

hợp để miêu tả về vị trí địa lý, cũng như ý nghĩa của Malacca trong hoạt độngthương mại và tôn giáo Hơn nữa, vương quốc Malacca là vương quốc Hồi giáo

(Sultan Malacca), người đứng đầu vương quốc cũng là người đứng đầu về tôn giáo (Sultanate); những thương nhân đầu tiên của thương cảng này cũng là những thương nhân Hồi giáo Có lẽ một trong những vấn đề được bàn luận tại hội nghị Hồi giáo

lần thứ nhất trên bán đảo Malacca là đặt tên cho vùng đất này và từ Malagah đã

được chọn để đặt tên Tuy nhiên, khi chuyển sang ngôn ngữ Mã Lai nó đã bị biến

đổi thành Malacca vừa để gần với tên gọi của eo biển Malacca vừa phù hợp và

những đặc thù của vùng đất này

Tuy còn nhiều tranh luận về tên gọi, nhưng hầu hết các học giả đều nhất trí vềniên đại thành lập vương quốc Malacca là vào những năm 14003 Người lập ravương quốc này là Paramesvara Ông vốn xuất thân là hoàng tử của Palempang -mét vương quốc ở phía nam Sumatra thần thuộc vương triều Majapahit Trong cuộcchiến tranh bùng nổ năm 1401 giữa vương triều Virabumi của Đông Java và vương

triều Vikaramavardhana của Majapahit, ông ta lánh nạn sang Tumasik (Singapore)

đang thần thuộc Siam Sau một thời gian lánh nạn trên đảo, Paramesvara đã giếtngười chủ của Tumasik và chiếm hòn đảo Các chư hầu của Siam nhân cơ hội đóhợp nhau lại tấn công vào Tumasik Chống cự không nổi, Paramesvara bỏ chạy khỏi

Trang 3

đảo Sau một thời gian sống lang thang trên biển ông ta đã tới được vùng đất mới.Nhận thấy địa thế thuận lợi, Paramesva quyết định đóng quân, lập quốc ở đây và đặttên cho vương quốc là Malacca 4

Malacca ra đời đúng vào lúc thế giới có nhưng biến động lớn Ở phương Tây,trước nhu cầu về những loại hàng hoá xa xỉ từ phương Đông, các nước ven biển ĐịaTrung Hải đang thúc đẩy quá trình khám phá những vùng đất mới và nhu cầu tìmkiếm thị trường Những thương nhân Ên Độ và Tây Á trước nhu cầu khan hiếmnguồn hàng ở châu Âu càng tích cực dong thuyền sang phía đông Tại Trung Quốc,dưới chính sách “đóng cửa” của nhà Minh, quan hệ thương mại với bên ngoài gặprất nhiều khó khăn Thương nhân không thể tự do buôn bán tại thị trường TrungQuốc, nên họ sử dụng Đông Nam Á như là trung gian trong trao đổi hàng hoá.Không chỉ có thế, để bù lấp những thiếu hụt về hàng hoá của Trung Quốc, thươngnhân các vùng phải nhập thêm hàng của Đông Nam Á Đây là cơ hội để những hànghoá của Đông Nam Á gia nhập vào mạng lưới thương mại quốc tế: gốm sứ, tơ lụacủa Việt Nam, Thái Lan, những sản phẩm hương liệu của quần đảo Maluku, nhữngmặt hàng lâm thổ sản … vì thế trở thành những mặt hàng rất có giá trị trong thờigian này Sự chấp nhận của thị trường thế giới đối với những sản phẩm của ĐôngNam Á đã kích thích sự phát triển của kinh tế hàng hoá ở khu vực này

Để thúc đẩy hoạt động thương mại qua eo biển, trước tiên, Paramesvara trấn

áp bọn cướp biển, bắt dân chài phải sống thành từng khu định cư và yêu cầu tất cảtàu thuyền qua eo biển phải nhập cảng để xin giấy phép Ông lập ra một hệ thống

các quan coi cảng gồm 4 vị được gọi theo tiếng Persian là Shahbunder Các

Shahbunder này được chọn lùa trong 4 cộng đồng thương nhân kiểm soát hoạt động

thương mại ở đây Mỗi mét Shahbunder có nhiệm vụ kiểm soát các thuyền từ các hướng khác nhau Mét Shahbunder kiểm soát thuyền từ phía đông: Trung Quốc,

Ryukyu (Lưu Cầu), Champa, Borneo và Siam; vị khác kiểm soát thuyền từ phíanam: Java, Palembang, và quần đảo Indonesia; vị thứ ba trông coi thuyền từ cáccảng phía bắc Sumatra, Bengal, Malabar và bờ biển Cromandel của Ên Độ; vị thứ tưchuyên để kiểm soát thuyền từ Gujarat và từ phía tây của Ên Độ Những thương

Trang 4

thuyền qua lại bến cảng đều phải nép thuế với các mức khác nhau, thường thìkhoảng 6% giá trị hàng hoá Riêng những thuyền từ phía đông tới thì không trảbằng tiền mà bằng quà tặng Ngoài ra, các thương nhân còn phải bán một phần sốhàng với giá ưu đãi cho nhà vua, thường thì số này chiếm tới 20% tổng số hàng hoá.Đổi lại, thương nhân được tự do buôn bán và được pháp luật Malacca bảo vệ Trong

bộ luật Undang - Undang của Malacca, có rất nhiều điều luật quy định cụ thể về

quyền và nghĩa vụ của những thương thuyền ra vào cảng Malacca

Với những nỗ lực trên, chỉ trong một thời gian ngắn Paramesvara đã đưaMalacca từ chỗ chỉ là “một cái chợ buôn bán các hàng hoá không chính đáng (có lẽ

là hàng của bọn cướp biển)”5 thành “trung tâm thương mại quan trọng vào bậc nhất

ở Đông Nam Á”6 Khi đi qua thương cảng này vào đầu thế kỷ XVI, Tomé Pires, mộtthương nhân Bồ Đào Nha đã phải nhận xét “ Malacca là thành phố được lập nên đểphục vụ cho hoạt động buôn bán, (nó) xứng đáng hơn bất kỳ nơi nào khác trên thếgiới vào lúc kết thúc của mỗi đợt gió mùa và bắt đầu của một mùa khác Malaccađược bao quanh và nằm ở vị trí trung tâm, hoạt động buôn bán và thương mại giữacác quốc gia trải hàng nghìn dặm đường qua các trung gian đều phải tới Malacca”7

Có thể nói ở Malacca là nơi hội ngộ của những thương thuyền tới từ những miềnkhác nhau của thế giới, từ khu vực Đông Bắc Á có Trung Quốc, Ryukyu, từ TâyNam Á có Ên Độ, A Rập, Ba Tư, Tamil… và từ các vùng khác nhau của khu vựcĐông Nam Á Malacca vừa đóng vai trò là một trạm dừng chân, vừa là một trungtâm tập kết và phân phối hàng hoá cho hầu hết những thương thuyền đó

2 Quá trình “bành trướng” của người Hoa xuống Đông Nam Á

Quan hệ của Trung Quốc với Đông Nam Á đã có bề dày lịch sử Ngay từtrước Công nguyên, khi hoạt động thương mại giữa Ên Độ và Trung Quốc đượcthiết lập thì Đông Nam Á đóng vai trò là cầu nối giữa hai thị trường lớn nhất lúc bấygiê Để đáp ứng cho sự ăn chơi xa xỉ của triều đình, Trung Quốc xuất khẩu vàng và

tơ lụa, nhập về từ Ên Độ đá quý, vật lạ và đồ thuỷ tinh Những địa điểm tập kết hàng

Trang 5

lúc đó chủ yếu là ở Đông Dương và bán đảo Mã Lai Trong khi Ên Độ cố gắng gâyảnh hưởng của mình ở bán đảo Mã Lai thì Trung Quốc đã chiếm lấy Đại Việt và tìmcách mở rộng xuống phía nam Đông Nam Á Khi Trung Quốc thôn tính được ĐạiViệt thì đồng thời cũng kiểm soát luôn con đường thương mại thông qua bắc ViệtNam nối với Đông Dương Trung Quốc đã làm chủ con đường này cho tới thế kỷ Xkhi Việt Nam giành được độc lập

Vào thế kỷ VIII, thuyền mành của Trung Quốc bắt đầu viếng thăm các cảngthị ở Đông Nam Á Đây là loại thuyền buồm lớn không những chở được nhiều hàng

mà còn có thể tận dụng được những ưu điểm của gió mùa để vượt biển ra xa hơn.Hàng hoá của Trung Quốc vì thế xuất hiện ngày càng nhiều ở Đông Nam Á khiếncho những thương nhân Arập và Ên Độ không còn phải tới tận Trung Quốc mà chỉcần tới các cảng ở Đông Nam Á còng có thể lấy được hàng Những hoạt động trênbiển này đã hỗ trợ cho con đường trên đất liền vốn thường xuyên bị ngưng trệ do sựphản kháng của người Việt Nam

Khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hánnăm 938, con đường thâm nhập của người Hoa xuống Đông Nam Á trên lục địa bịchặn đứng, do vậy thương nhân người Hoa đành phải tăng cường sử dông đườngbiển để đi xuống phía nam Điều này một mặt khuyến khích việc sử dụng những conđường biển truyền thống, mặt khác cũng thúc đẩy việc mở ra những con đường hànghải mới Con đường qua eo Malacca trong thời gian này vì thế mà trở nên nhén nhịphơn với thương nhân Hoa kiều

Quá trình “bành trướng” của Trung Quốc xuống phía nam thực sự tăng mạnh

từ sau thế kỷ X Tiêu biểu nhất là thông qua các cuộc xâm lược của quân Mông Nguyên trong những năm 1280-1290 xuống các nước Đông Nam Á và các cuộcxuất dương của quan lại nhà Minh

-Năm 1258, Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ nhất Một trong những mụctiêu cơ bản của cuộc xâm lược này là để khai thông con đường bộ xuống Đông Nam

Á vốn đã bị đứt đoạn vào thế kỷ X Tuy thất bại, nhưng với vị thế của Đông Nam Á

Trang 6

về chính trị còng nh thương mại, các hoàng đế Mông Nguyên không từ bỏ thamvọng của mình

Năm 1279, khi Mông Cổ thôn tính được Nam Tống và đổi tên là triềuNguyên đã lấy phía nam làm cơ sở cho những cuộc viễn chinh về sau Cùng với việc

mở các cuộc tấn công xâm lược Đại Việt, nhà Nguyên còn mở các cuộc tấn côngxuống các nước Đông Nam Á khác nh Miến Điện, Chămpa, Java, và các nước trênbán đảo Mã Lai

Trong mét ý nghĩa nhất định, việc quân đội Mông-Nguyên gây chiến tranhvới các nước Đông Nam Á đã góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại ở khu vựcnày Với một đội quân đông như Mông-Nguyên thì việc cung cấp đủ lương thực,thuốc men, quần áo đòi hỏi phải có những đoàn thuyền lương rất lớn Do khôngthể chuyên chở trực tiếp từ Trung Quốc, nên bắt buộc quân đội Trung Quốc phảimua nhu yếu phẩm ở nhiều vùng của Đông Nam Á Mặt khác, sau khi rút quân khỏiĐông Nam Á rất nhiều chiến binh trong đội quân Mông-Nguyên không trở lại TrungQuốc mà ở lại Đông Nam Á sinh sống và hoạt động thương mại Đặc biệt, sau khinhà Minh lên thay với chính sách “hải cấm” những người này không còn cơ hộiđược trở về quê hương nên đã dần trở thành một bộ phận quan trọng của cư dânĐông Nam Á

Sang tới thế kỷ XIV-XV, mặc dù nhà Minh có chính sách “cấm hải”, nhưngvẫn không ngăn được làn sóng di cư của người Hoa xuống Đông Nam Á Mục đíchcủa chính sách “cấm hải” là nhằm độc quyền hoạt động ngoại thương, ngăn chặnnhững hoạt động tư thương của các thương nhân người Hoa Chính sách này bắt

nguồn từ việc ngăn chặn cướp biển “Wako” hoạt động rất mạnh ở vùng biển Trung

Quốc, đồng thời ngăn chặn lượng vàng từ Trung Quốc chảy ra ngoài Chính sáchnày trong thời gian đầu được thực hiện triệt để đến mức triều đình không cấp giấyphép cho bất kỳ tư thương người Hoa nào ra nước ngoài hoạt động

Lệnh “hải cấm” cũng được áp dụng với các thương nhân ngoại quốc Theoquy dịnh, các thương nhân ngoại quốc nếu không được phép của chính quyền sẽ

không được cập cảng Trung Quốc Tuy nhiên, sự phát triển của các ngành sản xuất

Trang 7

trong nước không đủ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của giới quý téc và một bộ phận tầng líp trên của xã hội Thêm vào đó, mục tiêu mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc bằng chiến tranh đã không đem lại kết quả Để giải quyết vấn đề này, nhà Minh cùng lúc cử những hạm đội lớn viễn du xuống phía nam và thiết lập hệ thống quan hệ thương mại triều cống.

Mục đích của những chuyến đi này là tiễu trừ nạn cướp biển đang hoạt động

rất mạnh ở “Biển nam Trung Hoa” (South China Sea), và thực hiện việc áp đặt

quyền minh chủ của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á Tuy nhiên, trênthực tế, hoạt động của các hạm đội Trung Quốc đã vượt ra ngoài mục đích chính trị

mà thực hiện cả nhiệm vụ kinh tế Trong những đợt tiến xuống phía nam, rầm rénhất là bảy lần xuất dương của Trịnh Hoà bắt đầu từ 1405 đến 1433

Để khuyếch trương thế lực của mình, nhà Minh đã chuẩn bị rất chu đáo chomỗi chuyến đi Một đội quân hùng hậu được cử vượt biển xuống phía nam Theomột số nguồn sử liệu cuộc viễn chinh lần thứ nhất có 27.000 người, những lần sautăng lên 37.000 người và tới 62 thuyền Ta đã biết, đến thời Minh, kỹ thuật đóng tàucủa người Trung Quốc đã lên đến đỉnh cao Những thuyền mành Trung Hoa khôngngừng được cải tiến để có thể đi xa bờ hơn, chở được nhiều hàng hoá và thuỷ thủđoàn và thương nhân hơn Có những con thuyền có thể chở đến 500 người và khốilượng hàng hoá có thể lên tới 500 tấn Trong các cuộc viễn chinh của Trịnh Hoà,thuyền của Trung Quốc được thiết kế đặc biệt vừa rộng, vừa sâu Theo như ghi chép,

những con thuyền được sử dụng trong các chuyến đi rộng tới 517 feet dài 212 feet

với 4 boong và thân tàu được chia bởi các khoang ngăn nước 8 Các thuỷ thủ và binhlính đều được tuyển lùa rất cẩn thận Hầu hết họ là những người đã từng tham giatrong quân đội Mông-Nguyên khi tiến xuống Đông Nam Á Chính vì thế, họ lànhững người rất có kinh nghiệm đối phó với khí hậu khắc nghiệt ở phương namcòng nh những khó khăn trên biển cả

Khoảng thời gian cho 7 lần xuất dương của Trịnh Hoà kéo dài 27 năm bắtđầu từ 1405 đến 1433 Thường thì phái đoàn bắt đầu đi xuống phương đông vàonhững tháng mùa đông, khi gió mùa Đông - Bắc thổi và trở lại phương bắc và phía

Trang 8

đông vào mùa hạ, khi gặp gió mùa Tây-Nam Chính vì vậy, thời gian của mỗichuyến đi thường kéo dài 2 năm Tuy nhiên, từ cuộc xuất dương lần 3, khi hànhtrình về phía nam càng xa hơn thì thời gian cho mỗi chuyến đi kéo dài hơn 2 năm

Địa điểm xuất phát của những lần viễn dương là từ những thương cảng phíanam Trung Quốc như Phóc Kiến, Quảng Châu Sau khi rời Trung Quốc, đoànthuyền tới các cảng phía nam của Việt Nam, sau đó thẳng xuống bán đảo Mã Laihoặc tới quần đảo Java trước khi vào eo Malacca Sau khi qua eo biển này, đoànthám hiểm sẽ tới các cảng phía nam của Ên Độ và tiến xa hơn về phía tây Trên thực

tế, lịch trình của mỗi chuyến đi thương có sự thay đổi Càng những chuyến về sau,đoàn viễn dương càng tiến xa hơn về phía tây có khi tới các thương cảng thị trênbiển Hồng Hải, biển Đen, và thậm chí tới cực nam của châu Phi

Ta cũng có tổng kết thời gian địa điểm mà đoàn viễn dương của Trịnh Hoà

đã đi qua theo bảng sau

Lần 1 1405-1407 Chăm pa, Java, Palempang, Sumadra, Ceylon, Calicut.

Lần 3 1409-1411 Chăm pa, Java, Malacca, Sumadra, Ceylon, Quilon, Canlicut, * Lần 4 1414-1415 Chămpa, Kelantan, Pahang, Java, Palempang, Malacca, Aru, *

Trang 9

Sumadra, Achin, Ceylon, Kayal, Mandives, Conchin, Canlicut, Vịnh Persian,

Lần 5 1416-1419 Chămpa, Pahang, Java, Palempang, Malacca, Sumadra, Achin,

Ceylon, Mandives, Conchin, Canlicut, Chaliyam Hozmur, Aden, Mogadishu (Somalia-Châu phi),

*

Lần 6 1421-1431 Malacca, Aru, Sumadra, Achin, Kayal, Ceylon, Mandives, Cochin,

Clicut, Ormur, Dijofar, Aden, Mogadisciu và Brawa ở bờ biển châu Phi.

*

Lần 7 1431-1435 Chămpa, Surabaya, Palempang, Malacca, Achin, Weligama,

Calicut, Ormur,

*

Bảy lần xuất dương của Trịnh Hoà

Qua bảng thống kê trên ta thấy, đoàn viễn chinh của Trịnh Hoà đã qua hầu hết cácthương cảng quan trọng ở Đông Nam Á và tới cả những thương cảng lớn ở Tây Nam

Á Để tạo thuận lợi cho các chuyến đi cần phải có căn cứ ở phía nam để làm chỗnghỉ chân và cung cấp lương thực, nước ngọt còng nh để tập kết hàng hoá Trongbối cảnh đó nhà minh đã chọn Malacca làm cơ sở quan trọng Ta thấy, trong 7 lầnxuất quân thì chỉ có lần 1 (năm 1405-1407) là hạm đội không qua eo Malacca vìthực tế trong thời gian này nhà Minh đã cử Doãn Khánh tới Malacca rồi Từ lần haitrở đi, lần nào thuyền của Trung Quốc cũng ghé qua thương cảng Malacca; có khi cả

đi và về đều phải qua bến cảng này Sau mỗi lần cập cảng Malacca, đội quân củaTrịnh Hoà đều cử người ở lại đây để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho hạm đội

đi qua còng nh khi quay về Trong thời gian giữa các chuyến đi của phái đoàn, họtranh thủ hoạt động buôn bán với những cư dân địa phương và với những thươngnhân qua lại thương cảng này Hàng hoá trao đổi rất có thể là những thứ bớt xénđược trong đồ tặng phẩm mà triều đình gửi cho các nước phương nam Cùng vớithời gian, những người Trung Quốc này đã hợp lưu với những người gốc Hoa khác

đã có mặt ở đây từ trước tạo thành một cộng đồng người Hoa ở Malacca ToméPires khi qua thương cảng này có miêu tả về “một nhóm người Trung Quốc sống ởKampung Cina ở bờ nam của sông Malacca Ở đó có nhiều phụ nữ trông giống phụ

nữ Tây Ban Nha Họ đeo những đồ trang sức bằng chì và sơn lên đỉnh của những đồ

trang sức đó Họ được trang điểm đến nỗi mà Seville (tên gọi những đồ trang sức

-TG) gây nên một sự bất tiện cho họ”9

Trang 10

Cho tới thế kỷ XV, người Hoa đã chiếm tỷ lệ đáng kể trong dân số ởMalacca Số dân của Malacca vào thế kỷ XV ước tính lúc đông nhất củng chỉ 25.000người 10 Tuy nhiên, chúng ta không có số liệu về người Hoa ở Malacca vào thời giannày Thông tin cho chóng ta biết vào năm 1642, khi Hà Lan chiếm Malacca, trongđống đổ nát họ tìm thấy 2.150 cư dân, trong đó có 300 đến 400 người Hoa11 Tỷ lệngười Hoa chiếm khoảng 1/6 cư dân ở Malacca Như ta đã biết, sau khi chiếm đượcMalacca, người Bồ Đào Nha sau một thời gian tàn sát người Trung Quốc đã nhận rarằng không thể thiếu người Hoa trong các hoạt động thương mại của mình nên đãliên kết với họ và tạo điều kiện cho người Hoa buôn bán ở Malacca Hơn nữa, chotới thế kỷ XVII, khi chính sách “cấm hải” của nhà Minh đã bị vô hiệu hoá, ngườiHoa tràn xuống Đông Nam Á ngày càng nhiều hơn Trong khi đó, dân số củaMalacca đến thế kỷ XVII còn Ýt hơn thế kỷ XV, chỉ có khoảng 12.000 người 12 doviệc người Hồi giáo bỏ Malacca tới các thương cảng khác Với những biến đổi lớnlao có lợi cho sự nhập cư của người Hoa vào Malacca như vậy, chúng ta có thểkhẳng định rằng: vào thế kỷ XV, chắc chắn tỷ lệ người Hoa so với cư dân ở Malaccacòn Ýt hơn nhiều so với tỷ lệ 1/6 vào thế kỷ XVII Đây là hệ quả tất yếu của việcnhà Minh thi hành chính sách “cấm hải” không cho phép thương nhân ra nước ngoàihoạt động Tuy chiếm số lượng khiêm tốn, nhưng với kinh nghiệm hàng hải, nhữngngười này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động buôn bán của Malacca và ĐôngNam Á.

3 Quan hệ thương mại

Như đã phân tích ở trên, người Hoa chưa phải là bộ phận dân cư chiếm sốđông ở Malacca vào thế kỷ XV Những người đã sống ở thương cảng này chủ yếu

đã đến đây từ trước khi nhà Minh có lệnh “cấm hải” hoặc là những người đã táchkhỏi các phái đoàn của Trịnh Hoà khi đi qua thương cảng Malacca Với chính sáchngăn chặn tư thương của nhà Minh đã làm giảm đi vai trò của thương nhân ngườiHoa trong quan hệ thương mại trực tiếp giữa Malacca và Trung Quốc Họ chủ yếulàm trung gian trong quan hệ giữa triều đình nhà Minh và vương quốc Malacca,

Trang 11

hoặc họ thiết lập quan hệ thương mại thông qua mối quan hệ với các phái đoàn củatriều đình nhà Minh và phái đoàn Malacca

Quan hệ buôn bán giữa Malacca và Trung Quốc trong thế kỷ XV-XVI chủyếu thông qua hai hình thức: thứ nhất, qua các hoạt động cống, tặng; và thứ hai quahoạt động “bất hợp pháp”của tư thương

Đối với hoạt động thương mại thông qua cống, tặng chủ yếu diễn ra dưới

hình thức “thương mại triều cống” Đây là hình thức thương mại diễn ra chủ yếu

trong các nhà nước phong kiến phương Đông Hình thức này không chỉ được ápdụng trong mối quan hệ giữa “nước lớn” đối với “nước nhỏ” (trường hợp TrungQuốc đối với các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á), mà nhiều khi nó còn diễn ragiữa những nước không có, hoặc Ýt ảnh hưởng với nhau về chính trị (trường hợpRyukyu đối với các nước Đông Nam Á, quan hệ giữa các nước Đông Nam Á vớinhau, giữa triều đình Trung Quốc với các nước Nam Á xa xôi)

Trong mối quan hệ giữa “thiên triều” và “chư hầu”, hình thức thương mại nàydiễn ra thường xuyên hơn Tiêu biểu nhất là quan hệ giữa triều đình Trung Quốc vớiĐại Việt, Triều Tiên, Nhật Bản Trong lịch sử, các nước này thường xuyên cử đoàn

sứ giả đem theo cống vật tới triều đình Trung Quốc mỗi khi trong nước có biến cố.Thường thì, sau khi nhận những cống vật, triều đình Trung Quốc sẽ ban quà tặng lại

sứ đoàn triều cống trước khi về nước Khi so sánh giá trị của những cống vật đemtặng với những quà tặng nhận được chúng ta thấy “nguồn lợi luôn luôn ở về phía cácnước chư hầu” 13 Những nước này, qua mối quan hệ triều cống vừa có thể duy trì

được độc lập dân téc mình, lại được lợi từ những vật phẩm mà họ nhận được Điều này giải thích vì sao một số quốc gia xa xôi không có nhu cầu về chính trị cũng cử

sứ bộ đến Trung Quốc.

Triều đình Trung Quốc không phải không biết những “thua thiệt” của mình,nhưng họ lại nhận được những lợi Ých cả về chính trị và kinh tế Thứ nhất, thôngqua các mối quan hệ này các hoàng đế Trung Quốc muốn chứng tỏ cho thần dânthấy được uy quyền của mình có thể vươn tới các nước xa xôi Thứ hai, đây là cơhội để cho hoàng đế và các quan lại thực hiện các hoạt động buôn bán phi chính

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w