1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Chế độ ruộng đất và hình thái kinh tế xã hội Việt Nam cổ trung đại

21 1,6K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 118,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước phong kiến mà đại diện là nhà vua với tư cách là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, đã chi phối đến hầu hếtcác bộ phận ruộng đất khác nhau, tuy nhiên quyền chi phối đó tuỳ thuộc v

Trang 1

Mở đầu

Vấn đề ruộng đất là một nội dung rất cơ bản và xuyên

suốt trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam cả thời kỳ cổ, trung,cận và hiện đại.Những vấn đề ruộng đất như là một cái nềncủa lịch sử dân téc, là cơ sở nền tảng của hình thái kinh tế-

xã hội Việt Nam Vấn đề nông nghiệp- nông thôn- nông dânViệt Nam nói chung và ruộng đất Việt Nam nói riêng từ lâu

đã được đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nứocquan tâm nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu Nhữnghiểu biết về vấn đề ruộng đất Việt Nam là chìa khoá để tìmhiểu và nhìn nhận lịch sử Việt Nam Đối với vấn đề này, cóthể tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau và dùa trên nhiềunguồn tư liệu khác nhau: địa bạ, văn bia, gia phả, điều trathực địa hay tài liệu hồi cố dân téc học

Chuyên đề:"ChÕ độ ruộng đất và hình thái kinh tế xã

hội Việt Nam cổ trung đại"(thuộc chuyên ngành lịch sử Việt

Nam cổ trung) của TS.Vũ Văn Quân đã cung cấp cho chúngtôi những hiều biết sâu sắc về vấn đề ruộng đất, đồng thờigợi mở ra những hướng tiếp cận khác nhau về vấn đề này

Việc phân chia ruộng đất của làng xã là một trong những nội dung quan trọng của chế độ ruộng đất Việt Nam.

Trong phạm vi của một tiểu luận, tôi mong muốn được tìm

hiểu vấn đề trên qua tài liệu "Hương ước cổ Hà Tây"

Trang 2

I VÀI NÉT VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT VÀRUỘNG ĐẤT CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM (TRONGLỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI)

Trong cuốn:"Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời

Lê sơ"(Nxb Văn Sử Địa, H,1959), GS Phan Huy Lê đã chỉ

ra rằng ở Việt Nam chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đấttrong từng thời kỳ có những đặc trưng riêng, nhưng nóichung thì có hai hình thái chính: chế độ sở hữu của nhànứơc với chế độ công điền công thổ và chế độ sở hữu tưnhân Trong đó, chế độ sở hữu của nhà nước luôn chiếm ưuthế Nhà nước phong kiến mà đại diện là nhà vua với tư cách

là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, đã chi phối đến hầu hếtcác bộ phận ruộng đất khác nhau, tuy nhiên quyền chi phối

đó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, mà mức độ chi phốikhông giống nhau

Có thể thấy rất rõ từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVchế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất luôn giữ địa vị thốngtrị Đây là cơ sở kinh tế chủ yếu của nhà nước, là nền tảng đểnhà nứơc ban hành hàng loạt các chính sách về ruộng đất đặcbiệt là chính sách quân điền thời Lê Thánh Tông(1460-1496)Bước sang thế kỷ XVI, sù suy yếu của nhà nước phong kiếntrung ương, sự phát triển mạnh mẽ của chế độ sở hữu vàchiếm hữu tư nhân về ruộng đất đã làm phá sản chính sáchquân điền, cơ sở chính của chế độ sở hữu nhà nước về ruộngđất, nhưng trong những thế kỷ tiếp theo nó vẫn được duy trì

và vẫn là chỗ dùa kinh tế chủ yếu cho nhà nước trung ương.Đến thế kỷ XIX, với bản chất của một nhà nứơc phong kiếntập quyền cao độ, nhà Nguyễn đã ra sức khôi phục và củng

cố quyền sở hữu ruộng đất của mình

Trang 3

Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước có hai bộ phận chính làruộng đất do nhà nứơc trực tiếp quản lý và ruộng đất cônglàng xã.

Bộ phận do nhà nứơc trực tiếp nắm giữ- ở đó nhà nước

thực sự là một chủ ruộng - bao gồm nhiều loại khác nhau:ruộng tịch điền, ruộng sơn lăng, quốc khố, đồn điền, quanđiền quan trại Hầu hết bộ phận ruộng đất này đều đượcduy trì dưới hình thức sở hữu nhỏ và ngày càng có xu hướngthu hẹp lại, nhưng không mất đi

Ruộng đất công làng xã là một bộ phận quan trọng của

ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước Bé phận ruộng đất côngnày có một lịch sử lâu dài, hình thành sớm và kéo dài chođến cuộc cải cách ruộng đất mới bị triệt bỏ hoàn toàn Trongsuốt hơn nghìn năm Bắc thuộc, ruộng đất công làng xã trởthành yếu tố kinh tế cố kết cộng đồng làng xã thành những "pháo đài xanh" chống lại chính sách thống trị đồng hoá củaphong kiến phương Bắc, và cho đến buổi đầu độc lập, ruộngđất này vẫn là bộ phận bao trùm trong chế độ sở hữu ruộngđất nói chung

Chế độ phong kiến Việt Nam trải qua một quá trình pháttriển lâu dài, trong đó ruộng đát tư hữu ngày càng phát triển

và ruộng đất công ngày càng suy nhựơc Song song với quátrình đó là quá trình can thiệp ngày càng sâu của nhà nướcvào ruộng đất công làng xã, hay nói cách khác ruộng đấtcông làng xã bị phong kiến hoá ngày càng mạnh mẽ, tuyrằng ở mỗi thời kỳ bộ phận này có một cách gọi khác nhau.Theo GS Trương Hữu Quýnh ở thời Lý - Trần" ruộng đấtcông làng xã tuy thuộc sở hữu nhà nước nhưng vẫn do làng

xã quản lý Đó là lý do khiến nó mang tên"quan điền", "quanđiền bản xã" Cách gọi quan điền đã thể hiện quyền sở hữu

Trang 4

của nhà nước đối với bộ phận ruộng đất công làng xã"[1].Song từ thời nhà Lê nó còn mang tên là"xã dân công điền".

Bộ phận ruộng đất này ngoài tính chất thuộc quyền sở hữunhà nứơc nó còn là ruộng đất của "từng xã thôn, chia chodân trong xã cày cấy, nép tô và chính vì vậy mà nó còn cótên gọi như trên"[2] So với thời kỳ trước đó, đến thời Lê, bộphận ruộng đất này đã giảm sút nhiều, nhưng nó vẫn chiềm

ưu thế, với phạm vi khá rộng so với ruộng đất tư Có thế đây

là một trong những lý do để nhà Lê chỉ đánh thuế vào ruộngđất tư

Đến cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, sự phát triển mạnh

mẽ của chế độ sở hữu và chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đãtác động mạnh mẽ vào các hình thức sở hữu công hữuđương thời mà trước hết là ruộng đất công làng xã, thu hẹpthêm một buớc bộ phận ruộng đất này Sang thế kỷ XVIII ( ởĐàng Ngoài) và đến thế kỷ XIX, nhìn chung tỷ lệ ruộng đấtcông bị thu hẹp đến mức "loại hình sở hữu này không cònđóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế đất nướcnữa"

Như vậy, trong suốt quá trình lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam, xu hướng chung đối với ruộng đất công làng xã làngày càng thu hẹp để nhường chỗ cho chế độ ruộng đất tưhữu ngày càng phát triển Nhưng không vì thế mà vai trò lịch

sử của nó mất đi Bộ phận ruộng đất công làng xã không chỉ

là một trong những nguồn thu nhập chính, là cơ sở kinh tếchính của nhà nước mà xét về chế độ sở hữu thì bộ phậnruộng đất này thể hiện rất rõ vai trò của nhà nứơc trungương cũng như của làng xã địa phương

Về nguyên tắc bộ phận này thuộc quyền sở hữu tối caocủa nhà nứơc Chính sách nhất quán của hầu hết các triều đại

Trang 5

là duy trì, bảo vệ và mở rộng ruộng đất công làng xã Đếnthế kỷ XIX, chính sách này không những vẫn còn tồn tại màcòn có phần tăng lên.Ngay sau khi thiết lập vương triều đượcmột năm, năm 1803 nhà Nguyễn đã khẳng định rằng: "Theo

lệ cũ thì công điền công thổ quân cấp cho dân đem bán là

có tội"[4] Sự kiện này không chỉ cho ta biết trước triềuNguyễn lệ cấm bán ruộng đất công làng xã đã có, mà nó cònchứng tỏ rằng nhà nước đã tuyên bố quyề sở hữu của mìnhđổi với ruộng đất công Ê Sau này ruộng nhà Nguyễn banhành chính sách quân điền( năm 1804 dưới thời Gia Long vànăm 1839 dưới thời Minh Mệnh) cũng chính là một biệnpháp nhằm duy trì và bảo vệ ruộng đất công làng xã

Tuy là của nhà nước, nhưng trong thực tế lịch sử xét trênnhiều phương diện khía cạnh khác nhau thì làng xã mới thực

sự là người chiếm hữu đồng thời là người sở hữu loại ruộngđất công này Cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,trong các khoán ước, hương ước của từng làng xã, ta thườngxuyên bắt gặp những quy định về việc phân chia công điềncông thổ Trong khoán ước được lập ngày 18 tháng 10 nămChính Hoà 12(1691) [5] và vẫn được duy trì bổ sung cho đếnđầu thế kỷ XX của xã Dương Liễu, huyện Đan Phượng,phủQuốc Oai- Hà Tây, ta thấy những quy định rất rõ về việcphân chia này cũng như việc xử phạt rất nghiêm đối vớinhững trường hợp đem bán ruộng đất công làng xã

Như vậy, về nguyên tắc cũng như trong thực tế cả nhànứơc và làng xã đều cố gắng duy trì, bảo vệ ruộng đất cônglàng xã, cố gắng thể hiện vai trò của mình ở đó.Dù nhà nướcnắm quyền chi phối, nhưng trong thực tế quyền sử dụng thực

sự bộ phận ruộng đất này lại thuộc về làng xã Đây là mộtbiểu hiện của " phép vua thua lệ làng" Nhưng mặt khác,

Trang 6

quyền lực của làng xã thể hiện ở bộ phận ruộng đất này dù

có những lúc vượt trội lên thì xét trong toàn bộ quá trình lịch

sử về căn bản, làng xã vẫn chịu áp lực chi phối luật phápcủa nhà nứơc trung ương Vì vậy, dù "phép vua có thua lệlàng" nhưng "lệ làng" cũng không phá vỡ "phép vua"

II.VỀ VIỆC PHÂN CHIA RUỘNG ĐẤT CỦA LÀNG XÃ

QUA TÀI LIỆU "HƯƠNG ƯỚC CỔ HÀ TÂY".

1 Về tài liệu Hương ước và" Hương ước cổ Hà Tây".

Trong nghiên cứu ruộng đất làng xã Việt Nam, tàiliệu hương ước có ý nghĩa quan trọng Hương ước ghi chépthành văn các tục lệ trong làng xã, những ước định của làng

xã về mọi vấn đề trong cuộc sống được quy định rất tỷ mỉ:

từ việc canh phòng làng xóm,lệ lạt cưới hái, tang ma Trong đó vấn đề ruộng đất là quan trọng vừa rất phức tạpđược xử lý hết sức chặt chẽ Các hương ước với những quyđịnh trên là của riêng từng làng xã, chỉ có phạm vi thực hiệntrong làng xã Hương ước còn có thề được gọi bằng nhiềutên khác nhau như: Hương lệ, Khoán lệ, Quy ước, Lệtục Bằng vào các thư tịch cổ, các nhà nghiên cứu đã chothấy rằng đến đời Lê Thánh Tông(1460-1496) triều đình đã

ra sắc lệnh thể chế hoá hương ước, tức là " thành vănhoá"các lệ làng trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước.Các hương ước được lập ra và được bổ sung qua nhiều thời

kỳ Những hương ước sớm nhất là hương ước Quỳnh Đôi( Nghệ An) khoảng năm 1638-1645, hương ước Mộ Trạch( Hải Dương) năm 1665

Về khái niệm Hương ước,năm 1958 PGS Bùi Xuân Đính

cho rằng: lệ làng với tính cách là hương ước " ra đời cùng

Trang 7

với sự hình thành và phát triển của các làng xã cũng như quá trình can thiệp vào làng xã của nhà nứơc phong kiến trung ương, lệ làng có một nội dung rất phong phú( đề cập đến mọi mặt của từng đơn vị tụ cư ở cấp thấp nhất, nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất của người nông dân) tồn tại song song với luật pháp của nhà nứơc phong kiến trung ương và được thừa nhận mặc nhiên như văn bản pháp lý"[6].

Nguyễn Tá Nhí và Đặng Tu trong lời giới thiệu cho tập "

Hương ước cổ Hà Tây"( 1993) cho rằng:" Hương ước là

những quy ước điều lệ của một cộng đồng người chung sống trong cùng một khu vực, để điều hoà quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể hoặc giữa tập thể này với tập thể khác Do đó cần phải xây dựng các quy ước chung."[7]

Theo PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc:" Hương ước ra đời

vừa đáp ứng nhu cầu tự trị, tự quản của làng xã, vừa khẳng định quyền quản lý làng xã của bản thân nhà nứoc thống trị Một hương ước chính thức thành văn luôn luôn đảm bảo

cả hai yếu tố luật làng và lệ nứơc, trong đó lệ làng dù khai thác đến mức tối đa, dù được trình bày hết sức cụ thể chi tiết vẫn phải phục tùng luật nứơc Luật nước là chuẩn mực, là nguyên tắc cơ bản chuẩn định lệ làng[8].

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, cho đến trước cáchmạng Tháng Tám- các hương ứơc được lập ra có thể phânbiệt thành hai loại chủ yếu: các hương ước ra đời trước" cảilương hương chính" và những " hương ước cải lương" ra đờitrong và sau cuộc " cải lương hương chính" do thực dânPháp thực hiện những năm 1921, 1927, 1941 Có thể thấycác hương ước cải lương sẽ mang nhiều tính chế ước của nhànứơc bảo hộ hơn

Trang 8

Năm 1993, nhà nghiên cứu Nguyễn Tá Nhí ở Viện nghiêncứu Hán Nôm đã dịch và công bố tập " Hương ước cổ HàTây"(Bảo tàng tổng hợp sở VHTTTT Hà Tây, 1993) Đây làmột tuyển tập gồm bản dịch ( đối với văn bản chữ Hán) , bảnphiên âm và chú thích (đối với bản chữ Nôm) của 9/389 tàiliệu hương ước hiện đã thu thập đựợc trên địa bàn tỉnh HàTây.Trong 9 bản tài liệu trên có một bản Khoán ước xãDuyên Trường huyện Thanh Trì được viết bằng chữ Nômvào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, còn lại là các vănbản hương ước viết bằng chữ Hán, trong đó có những bảnđược bổ sung nhiều lần trong các năm khoảng từ năm1666(Cảnh Trị 4) đến năm 1910( Duy Tân 10) mà sớm nhất

là Khoán ước thôn Dương Liễu, xã Dương Liễu, huyện HoàiĐức lập ngày 10/7/1666 và muộn nhất là các hương ứơc lậpvào năm 1910 Như vậy, tất cả các hương ứơc, khoán ướcđều ra đời trước khi thực dân Pháp tiến hành cải lươnghương chính đã làm đảo lộn đáng kể cuộc sống xã thôn Chonên các hương ước này có thể coi là phản ánh tục lệ của làng

xã Việt Nam còn mang nhiều tính chất cổ truyền Chính vìvậy, mà tìm hiểu việc phân chia ruộng đất của làng xã quacác tài liệu hương ước này trở nên rất có ý nghĩa

2 Về việc phân chia ruộng đất của làng xã.

Cho đến nay nghiên cứu về vấn đề ruộng đất đã đạt được

nhiều thành tựu Dùa trên những nguồn tài liệu khác nhau

mà nhiều vấn đề được khai mở, phác hoạ tương đối cơ bản

về chế độ ruộng đất ( tất nhiên những nghiên cứu cụ thể vàđầy đủ hơn thì luôn luôn được đặt ra) Các nghiên cứu đãcho phép chóng ta hiều biết về những hình thái khác nhaucũng như sự vận động của các hình thái đó trong chế độ

Trang 9

ruộng đất ở mỗi thời kỳ lịch sử Chế độ tư hữu về ruộng đấtngày càng chiếm ưu thế là xu hướng vận động của lịch sử,song không vì thế mà sở hữu công về ruộng đất nhất làruộng đất công làng xã lại mất đi, nó suy giảm dần nhưngvẫn tồn tại dai dẳng và ảnh hưởng lớn tới đời sống làng xãViệt Nam Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chú ý đếnvai trò, tác động, sự biến đổi cũng như cách quản lý của bộphận ruộng đất công làng xã Tuy nhiên, việc phân chia bộphận ruộng đất này như thế nào(ơ đây nói đến việc phân chiatừng làng, từng xã cụ thể- Các công trình đã nghiên cứu đếnvấn đề này nhưng nhìn chung chỉ tập chung vào việc phântích các quy định , các chính sách của nhà nứơc về việcphân chia ruộng đất của làng xã nói chung, chứ chưa đi vàoviệc phân chia ở từng làng cụ thể) lại chưa được quan tâmnghiên cứu thích đáng, mặc dù tài liệu hương ước cho biếtkhá rõ ràng Vì thế trong khuôn khổ của tiểu luận này, chúngtôi cố gắng tìm hiểu việc phân chia ruộng đất của làng xãqua một số hương ứơc cụ thể được lập trong thế kỷ XI X vàngay đầu thế kỷ XX tại Hà Tây.

Trong 9 hương ước đựơc tuyển chọn trong"Hương ước cổ

Hà Tây" chỉ có 5 hương ước đề cập đến việc phân chia ruộngđất của làng xã là: Khoán ước xã Duyên Trường, huyệnThanh Trì (Thường Tín) ( đầu thế kỷ XX); Hương ước thônDương LiÔu, xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức; Tục lệ làng

La Khê; Phong tục các xã Mộ Lao, Vạn Phóc trong tổng ĐạiMỗ(1910) và Phong tục làng Yên Lé (1910) Các tài liệu này

đã ghi chép cụ thể việc phân chia ruộng đất của làng xã Xinxem bảng thống kê sau:

Trang 10

Bảng1: thống kê việc phân chia ruộng đất của một số làng xã HàTây (Nguồn:"Hương ước cổ Hà Tây"

Thành phần Khac

Lý Trưởng Phólý HươngTrưởng Khánthủ

Xã Duyên Trường 20 10 5 2,5miếng

(HĐ)

Người cày ruộng tế: 230(CĐ, HĐ) -Hội lão: 3(TĐ)

Đất ở ngoài bãi biếu: -Quan tại triều: 4 -Quan viên khaovọng 2kỳ: 2 -Quan viên khao vọng1 kỳ: 1

-Tuần phiên: 1

Trang 11

Bảng 2:Sè làng xã phân chia ruộng đất cho từng đối tượng

đối tượng

Sè làng xã

Lý dịch(kỳ dịch)

Binh lính Dân đinh Thành

phần khác

Trang 12

MỘT VÀI NHẬN XÉT:

1.Quản lý và sử dụng, phân chia ruộng đất là một trong

những sinh hoạt thường xuyên và quan trọng của làng xã.

Qua bảng thống kê trên, ta thấy điểm nổi bật lên là sự khácnhau giữa các làng xã trong việc phân chia ruộng đất cả vềđối tượng phân chia, mức độ phân chia và nguồn gốc củaruộng được phân chia Điều này phản ánh khá rõ sự khácnhau về phong tục trong mỗi làng xã

2 Không có sự thống nhất với nhau về đối tượng được

phân chia ruộng đất.

Trong tổng số 16 đơn vị( xã, làng, thôn) thì có đến 12 nơi

có quy định phân chia ruộng đất cho bộ phận binh lính, có 7nơi phân cấp ruộng đất cho bộ phận lý dịch/ kỳ dịch; trong

đó có duy nhất xã Phó Đô là cấp ruộng đất cho cả hai bộphận này.Bộ phận lý dịch/ kỳ dịch trong làng xã bao gồm: lýtrưởng, phó lý, hương trưởng, khán thủ thì không phải aicũng được phân chia ruộng đất Có làng chỉ cấp ruộng đấtcho lý trưởng, có làng cấp ruộng đất cho lý trưởng và phó lý,hay có làng lại cấp ruộng đất cho cả hai bộ phậ lý dịch

Đối với dân đinh thì chỉ 3 làng xã có quy định về việcchia ruộng đất Trong 13 làng xã và thôn còn lại thì có đến

10 đơn vị ghi cụ thể" dân xã từ xưa đến nay không có lệphân chia công điền, công thổ cho dân đinh"và 3 làng xãkhông thấy ghi vấn đề này trong hương ước

Ơ mét số làng xã(cụ thể là xã Duyên Trường, xã Tây Mỗ,thôn Dương Liễu) ruộng đất còn được phân chia cho một sốthành phần khác như người tế lễ, các giáp trưởng, hội lão;

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Sè làng xã phân chia ruộng đất cho từng đối tượng - tiểu luận Chế độ ruộng đất và hình thái kinh tế xã hội Việt Nam cổ trung đại
Bảng 2 Sè làng xã phân chia ruộng đất cho từng đối tượng (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w