1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Tuyên Quang

91 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 475 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên nó cũng có mặt trái là tạo ra một nền kinh tế tự cung tự cấp đóng kín, tạo nên rào cản cho hoạt động giao lưu buôn bán giữa các làng bản, vùng miền trong và ngoài Tỉnh, dẫn đến

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ở đâu ta cũng thấy hình ảnh những người phụ nữ Việt

Nam "anh hùng bất khuất , trung hậu đảm đang" luôn vượt lên khó khăn thử

thách để khẳng định bản thân và đóng góp công sức vào sự nghiệp chung Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất là truyền thống nổi bật của chị

em đã hình thành từ khi tổ tiên ta bắt đầu dựng nước Trải qua quá trình phát triển lâu dài, liên tục, đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng của giai cấp công nhân ra đời do Hồ Chí Minh lãnh đạo thì truyền thống quý báu đó càng được bồi dưỡng, phát huy một cách đầy đủ, mạnh mẽ hơn, đặc biệt là trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược

Đồng chớ Lờ Duẩn trong tác phẩm “Vai trò cuả phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn mới của cách mạng” đã từng nhận xét: “…đâu đâu cũng có mặt chị em phụ nữ, những người gan vàng, dạ sắt không hề khiếp sợ, không chịu cúi đầu, hiên ngang đến cùng để cứu nước, cứu nhà Hàng vạn nữ thanh niên ngày đêm lăn lội trên khắp nẻo đường của đẩt nước, xông pha lửa đạn, phá bom nổ chậm, sửa chữa cầu đường, giữ vững mạch máu giao thông, phục vụ tiền tuyến Những người vợ, những bà mẹ… hiến dâng những người thân yêu nhất của mình cho Tổ Quốc Sức mạnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa - căn

cứ địa cách mạng của cả nước, có một phần rất quan trọng là sức mạnh của người phụ nữ đã vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ nước nhà" Hay chính bản thân chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: “ nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam –Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta"

Điều đó chứng tỏ: người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử xã hội Do đó công tác nghiên cứu lịch sử phong trào phụ

nữ có ý nghĩa rất quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc Nó góp phần làm sáng tỏ, cụ thể, sinh động lịch sử mỗi địa phương và lịch sử toàn dân tộc

Trong bối cảnh cả nước đang anh dũng chống Mỹ cứu nước, người phụ

nữ Việt Nam hơn bao giờ hết đã biết đoàn kết nhau lại, phát huy khả năng bản thân, biến phong trào của mình trở thành một bộ phận khăng khít của phong

Trang 2

trào chung, đóng góp công sức vào thắng lợi chung của toàn dân tộc Ở miền Nam, chị em trực tiếp tham gia chiến đấu chống địch, giành độc lập dân tộc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước Còn ở miền Bắc, chị em hăng say thi đua sản xuất, xây dựng hậu phương Xã hội chủ nghĩa vững mạnh, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với miền Nam anh hùng Để giành được những thành tựu to lớn ấy chị em các địa phương trên toàn miền Bắc đã không quản ngày đêm, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Ở Tuyên Quang, hoà chung khí thế lao động và chiến đấu sục sôi của cả dân tộc, quân và dân Tuyên Quang cũng không ngừng phấn đấu giành nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá giáo dục, ổn định chính trị, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân Góp phần công lao không nhỏ trong số đó

là những người phụ nữ địa phương thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi Suốt chặng đường dài 1965- 1975, phụ nữ các dân tộc Tuyên Quang đã chiến đấu,

hy sinh anh dũng để xõy dựng Chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại

của đế quốc Mỹ Với những khẩu hiệu: “Tay cày tay sỳng”, “tay búa tay sỳng”, “vừa sản xuất vừa chiến đấu”,… chị em đã không những giỏi việc

nước mà còn đảm việc nhà Từ trong phong trào thi đua sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu giỏi đã xuất hiện hàng chục ngàn chị em là chiến sỹ thi đua, lao động tiên tiến, chiến sỹ quyết thắng, phụ nữ ba đảm đang, …Nhiều cá nhân

và tập thể có thành tích xuất sắc đã được nhà nước, các cấp, các ngành tặng thưởng huân chương lao động, huân chương chiến công, cờ luân lưu, bằng khen,… Đặc biệt, chị em còn vinh dự được nhà nước tặng huân chương lao động hạng 3 Vì vậy công tác tìm hiểu, nghiên cứu về phong trào phụ nữ Tuyên Quang sẽ có tác dụng bổ sung nguồn kiến thức, làm cụ thể, sâu sắc hơn những cống hiến của quân và dân tỉnh nhà trong cuộc kháng chiến kéo dài hơn

20 năm ấy Từ đó tạo cơ sở để dựng lại bức tranh chân thật nhất về cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dõn Tuyờn Quang Đồng thời góp phần tô thắm những trang sử vẻ vang chống xâm lược bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân

cả nước

Trang 3

Mặt khác, nghiên cứu lịch sử phong trào phụ nữ cũn giúp trình bày một cách logic quá trình hoạt động và những cống hiến lớn lao của các thế hệ phụ

nữ trong tỉnh với sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc Qua đó thêm thấu hiểu lòng yêu nước thiết tha, đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, vượt lên gian khổ hy sinh của các me, các chị Chiến thắng mà quân và dõn Tuyờn Quang giành được trong kháng chiến chống Mỹ ở một góc độ nào đó chính là

sự chiến thắng của lòng nhân ái trước bạo lực phi nghĩa Do đó nó khẳng định nguồn sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong đó có lực lượng đông đảo phụ nữ, khẳng định truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng anh dũng của các thế hệ phụ nữ Tuyên Quang

Ngoài ra việc nghiên cứu này cũn giỳp thế hệ trẻ Tuyên Quang hiểu sâu sắc hơn truyền thống cách mạng của chị em phụ nữ tỉnh nhà Từ đó hình thành

ở họ lòng tự hào, ý thức bảo vệ và ý chí quyết tâm phấn đấu vươn lên xây dựng quê hương giàu mạnh , xứng đáng với truyền thống hào hùng của các bà, các

Đề tài “Phụ nữ Tuyên Quang trong kháng chiến chống Mỹ” không phải

là một đề tài hoàn toàn mới mà đã được nghiên cứu, tìm hiểu Tuy nhiên, các tác phẩm nghiên cứu mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề hoặc còn tản mạn ở nhiều cuốn sách khác nhau nên chưa mang tính hệ thống

Cuốn “Truyền thống cách mạng phụ nữ tỉnh Tuyên Quang 2001)” được Hội liên hiệp Phụ nữ Tuyên Quang biên soạn và phát hành năm

(1937-2003 là cuốn sách đầu tiên chính thức đề cập đến vấn đề này Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có việc thiếu nguồn tư liệu mà cuốn sách mới chỉ dừng lại ở việc trình bày truyền thống cách mạng mà thôi Vấn đề phụ nữ Tuyên Quang trong kháng chiến chống Mỹ đã hoạt động cách mạng như thế nào? Những cống hiến của họ đối với sự nghiệp chung là gì? chỉ được đề cập đến một cách sơ lược, rời rạc ở từng năm khác nhau chứ chưa có sự liên kết thành vấn đề lớn Do đó, chưa làm nổi bật được vai trò của họ đối với sự

Trang 4

nghiệp cách mạng của địa phương nói riêng nói riêng và của cả dân tộc nói chung.

Ngoài ra vấn đề còn được nhắc đến trong một vài cuốn sách khác như:

“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang”, “Tuyờn Quang-lịch sử kháng chiến chống Mỹ(1954-1975)”, “Truyền thống phụ nữ Việt Nam”, “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại”,… Tuy vậy, tất cả các cuốn sách này chỉ đề cập vấn đề ở mức

độ sơ lược hoặc rất vụn vặt

Như vậy, tựu trung lại có thể thấy: vấn đề “Phụ nữ Tuyên Quang trong kháng chiến chống Mỹ” mặc dù đã được đề cập đến trong một số tác phẩm

nhưng chưa mang tính hệ thống, khoa học Trong khi đó, đây lại là một vấn đề

lý thú và rất quan trọng nên cần phải được nghiên cứu, nhìn nhận đúng mức

3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Vấn đề được chọn nghiên cứu ở đây thuộc về lịch sử điạ phương mà cụ thể là phụ nữ Tuyên Quang trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Đề tài sẽ nghiên cứu, phân tích và làm nổi bật đóng góp của các thế hệ phụ nữ tỉnh nhà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trờn cỏc lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá giáo dục và tư tưởng; trong việc hoàn thành các nhiệm vụ mà cách mạng đề ra

Phạm vi của đề tài chủ yếu tập trung vào những cống hiến của phụ nữ Tuyên Quang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ(1954-1975)

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:Nguồn tài liệu thành văn: bao gồm các tài liệu của Trung ương và địa phương như: “Truyền thống phụ nữ Việt Nam” - NXB KHXH, “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” - NXB KHXH, “Phong trào phụ nữ ba đảm đang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” - NXB Phụ nữ, “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước(1954-1975)” - Viện LSQSVN, “Miền Bắc Việt Nam trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược” - NXB Sự Thật Các cuốn sách của địa phương như: “Truyền thống cách mạng phụ nữ tỉnh Tuyên Quang(1937-2001)”, “Tuyên Quang-lịch sử kháng chiến chống Mỹ(1954-1975)”, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang”; các tài liệu tuyên truyền, vận

Trang 5

động, học tập của Tỉnh hội phụ nữ Tuyên Quang; các báo cáo tổng kết phong trào ba đảm đang, các phong trào thi đua của Tỉnh hội,…

Ngoài ra, chúng tôi còn khai thác các nguồn tư liệu khác từ các nhân chứng lịch sử, hồi ký cá nhân của các vị lão thành cách mạng

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cung cấp nguồn tài liệu cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương trong các nhà trường phổ thông tại Tuyên Quang

Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống anh hùng cuả địa phương Từ đó, tạo động lực, ý chí quyết tâm xây dựng quê hương giàu mạnh, xứng đáng với truyền thống ấy

6 Bố cục khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 chương chính:

Chương 1: Khái quát về tỉnh Tuyên Quang

Chương 2: Phụ nữ Tuyên Quang trong thời kỳ khôi phục kinh tế, cải tạo

Xã hội Chủ nghĩa, củng cố hậu phương, chống chiến tranh phá hoại lần I (1954

- 1968)

Chương 3: Phụ nữ Tuyên Quang trong thời kỳ chống chiến tranh phá

hoại lần II, chi viện cho miền Nam giành toàn thắng (1969-1975)

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TUYấN QUANG

I Điều kiện tự nhiên – xã hội

1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên

Tuyên Quang là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam, nằm trải dài từ 21.29’ đến 21.42’ vĩ bắc và 104.50’ đến 105.36’ kinh đông Phía bắc tỉnh giáp với Hà Giang, phía Nam giáp với Phú Thọ, phía Đông giáp với Thỏi Nguyờn và Cao bằng, phía Tây giáp với Yờn Bái

Tuyên Quang có tổng diện tích tự nhiên là 5.800 Km2 trong đó có 73.2% là đồi núi, còn lại 20% là đất nông thôn, 6.8% là các loại đất khác Thổ nhưỡng nơi đây dễ bị xói mòn, đa phần là ít thấm nước, có nơi có đá vôi, đỏ xít hay đất sét

Cũng giống như nhiều tỉnh miền núi khác địa hình Tuyên Quang tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc và những dãy núi trùng điệp có xen lẫn các thung lũng sâu Càng đi về phía Bắc càng thấy nhiều núi cao trên 100m như: núi Chàm Chu, núi Pia – Phương, Pia – Hộc, nỳi Khuổi Ma, Khuổi Phầy, núi Thanh Tương … Nhưng càng xuống phía Nam địa hình càng bằng phẳng hơn với đồi núi thấp, thung lũng và đồng bằng nhỏ ven sông suối như: thung lũng Tuyên Quang, đồng bằng Sụng Lụ, sụng Gâm, sụng Phú Đỏy …

Như vậy có thể nói địa hình Tuyên Quang gồm 2 vựng khỏ rõ nét là vùng núi cao phía Bắc rộng 291.497 ha, chiếm hơn 50% diện tích toàn tỉnh với

độ cao trung bình vào khoảng 600m so với mực nước biển và vựng phớa Nam

có độ cao trung bình thấp hơn

Tuyên Quang may mắn được thiên nhiên ưu đãi ban cho một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú Với 73.2% diện tích là đồi núi và thảm thực vật nhiệt đới dày, tươi tốt thuộc nhiều chủng loại, nguồn tài nguyên rừng của tỉnh có thể nói là vô cùng đa dạng phong phú với nhiều loại gỗ quý: đinh, lim, sến, táu, … tập trung chủ yếu ở vùng núi cao phía Bắc Ngoài ra ở đây cũn

cú cỏc loại đặc sản: nấm hương, mộc nhĩ, mật ong, hổ báo, gấu, trăn,… và nhiều động vật quý hiếm khác của quốc gia cũng như của thế giới

Trang 8

Đất đai của tỉnh chủ yếu là đất Ferarit ít màu mỡ, có tính chua, khó thấm nước nhưng dễ bị rửa trôi, do đó không thuận lợi cho việc trồng cây hoa màu, cây lương thực Tuy nhiên tiềm năng kinh tế của Tuyên Quang không chỉ có vậy, ẩn dưới lớp đất chua ấy là vô vàn khoáng sản quý hiếm: vàng, kẽm, thiếc, mangan, cao lanh, đá vôi, cát sỏi … Từ nguồn khoáng sản sẵn có này Tuyên Quang có đủ điều kiện để đẩy mạnh ngành khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, làm giàu cho địa phương.

Tuyên Quang có hệ thống sông suối chằng chịt với nhiều suối và sông lớn nhỏ: Sụng Lụ, Sụng Gâm, Sụng Phú Đỏy, sụng Năng … Trong đó lớn nhất

là sụng Lụ, bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Hà Giang vào địa phận Tuyên Quang rồi xuôi về Phú Thọ hợp với sông Hồng, sụng Gâm tạo nên thành phố ngã ba sông Việt Trỡ Sụng Gâm cũng bắt nguồn từ Trung Quốc sau khi đi qua Cao Bằng, Hà Giang thì đổ vào địa phận Tuyên Quang Ngoài ra những con sông khác như sụng Phú Đỏy, sụng Năng và hàng trăm các con ngòi lạch nhỏ tạo nên một mạng lưới sông ngòi dày đặc Mạng lưới sông ngòi dày đặc đã đem lại cho tỉnh nhiều nguồn lợi Trước hết, nó là nguồn cung cấp nước tưới dồi dào cho nền kinh tế trồng trọt của người dân Sau đó cung cấp thức ăn, thực phẩm cho cộng đồng dân cư sinh sống, đồng thời cũng là một tuyến đường giao thông quan trọng của tỉnh nối liền với Hà nội, Hà Giang và các tỉnh trung du đồng bằng Bắc bộ Bên cạnh đó với ưu thế về độ dốc, lượng nước

và sức nước, sông ngòi còn là nguồn cung cấp điện lâu dài cho đời sống nhân dân và mọi hoạt động của tỉnh thông qua nhà máy thuỷ điện Tuy nhiên mặt trái của nó là độ dốc lớn, nhỏ hẹp, lắm thác ghềnh dẫn đến khó khăn cho việc

đi lại bẳng đường thuỷ Đặc biệt, vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét, ngập lụt gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân

Nằm trong khu vực Đông Bắc của Tổ quốc do đó khí hậu Tuyên Quang mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới rừng núi, lượng mưa trung bình hàng năm lớn, độ ẩm cao Một năm có 2 mùa tương đối rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bình vào khoảng 28ºC, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 với nhiệt độ trung bình vào khoảng 16ºC nhưng cũng cú lỳc xuống đến 10ºC Khí hậu có sự thay đổi thất thường, liên tục nên hay gây ra những trận lũ to hoặc lốc mạnh Môi

Trang 9

trường rừng núi nóng ẩm cũng là tác nhân gây ra các bệnh thấp khớp, sốt rét, bướu cổ hoặc tạo điều kiện cho nhiều dịch bệnh khác phát triển lan tràn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Song nguồn lợi mà kiểu khí hậu này mang lại cũng rất lớn Thảm động thực vật có môi trường thuận lợi để phát triển với rất nhiều loại cây, con thú quý hiếm và có giá trị kinh tế cao như: rừng cây dược liệu, cây công nghiệp, hổ, báo, lợn rừng …

Như vậy có thể nhận thấy rằng rừng và khoáng sản là 2 thế mạnh lớn nhất của Tuyên Quang Điều kiện tự nhiên của tỉnh vừa mang đặc điểm chung của các tỉnh miền núi phái Bắc lại vừa có những nét khác biệt riêng của mình Trong đó không thể phủ nhận rằng điều kiện tự nhiên đó gõy không ít khó khăn cho quá trỉnh phát triển đi lên về mọi mặt của Tỉnh Nhưng cũng chính nó lại tạo ra những ưu thế, thuận lợi đặc biệt cho sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Ngoài ra điều kiện tự nhiên còn chi phối ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, phương thức sản xuất của đồng bào các dân tộc trong Tỉnh Do đó tựu chung lại cũng góp phần tạo ra những nét đặc trưng văn hoá – xã hội của Tỉnh

2 Tình hình kinh tế - xã hội – văn hoá

Yếu tố điều kiện tự nhiên và khí hậu có tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế của Tuyên Quang Địa hình đồi núi chiếm tỷ lệ lớn cộng với kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm làm cho tài nguyên rừng có điều kiện phát triển một cách đa dạng phong phú Do đó nông nghiệp và lâm nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của Tỉnh Ngược lại công nghiệp, thủ công nghiệp lại có mức độ phát triển thấp hơn

Đối với kinh tế nông nghiệp, 73.2% diện tích là đồi núi vì vậy đất canh tác của tỉnh hầu như bị chia cắt làm nhiều mảnh nhỏ, manh mún, không có đồng bằng rộng lớn đặc biệt là vùng núi cao phía Bắc Toàn tỉnh chỉ có một vài đồng bằng nhỏ như Đồng bằng Sụng Lô (thị xã Tuyên Quang), đồng bằng Yên Sơn (Sơn Dương), còn lại chỉ là những bãi soi, bãi bồi, mảnh ruộng nhỏ ven sông suối hoặc ven cỏc chõn nỳi Song do diện tích nhỏ hẹp nờn cỏc đồng bằng này chủ yếu trồng lúa và hoa màu bằng phương pháp thủ công chứ không thể áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại Do đó năng suất đem lại tương đối thấp Sản lượng lương thực thu được hàng năm không đủ đáp ứng nhu cầu

Trang 10

của người dân trong Tỉnh Vì vậy Tuyên Quang vẫn phải nhập lúa gạo từ các tỉnh miền xuôi lên Ở những vùng núi cao người dân canh tác trờn cỏc thửa ruộng bậc thang, họ trồng lúa nương và các cây lương thực khác Sản phẩm lúa nương đã trở thành đặc sản có giá trị kinh tế đối với đồng bào nơi đây Những hoạt động kinh tế này đã xuất hiện từ rất sớm và là nét đặc trưng của Tỉnh Việc tận dụng đất đai đưa vào sản xuất như trên vừa giúp đồng bào chủ động trong việc cung cấp lương thực cho gia đình, giải quyết nạn đói đồng thời góp phần bổ sung vào nguồn lương thực còn thiếu hụt của Tỉnh, ổn định đời sống nhân dân Tuy nhiên nó cũng có mặt trái là tạo ra một nền kinh tế tự cung tự cấp đóng kín, tạo nên rào cản cho hoạt động giao lưu buôn bán giữa các làng bản, vùng miền trong và ngoài Tỉnh, dẫn đến tình trạng duy trì nhiều phong tục, tập quán lạc hậu không phù hợp với thực tế, cản trở sự nghiệp đổi mới và phát triển toàn diện đưa miền núi theo kịp miền xuôi của Đảng cũng như của Tỉnh.

Ngoài cây lương thực và hoa màu ra, nhân dân trong Tỉnh còn trồng một

số cây công nghiệp, cây ăn quả có thế mạnh như: chè, quế, xả, cam, dứa … Sản phẩm chè của Tuyên Quang đã có mặt ở thị trường nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước cũng như một số thị trường nước ngoài đem lại nguồn thu ổn định cho Tỉnh Bà con cũng nuôi một số loại gia súc, gia cầm như trõu, bũ, lợn,

gà … nhưng chủ yếu là để cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và làm thực phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày nên ít có giá trị kinh tế

Đối với ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Tuyên Quang có đủ điều kiện để phát triển ngành công nghiệp chế biến trong đó tiêu biểu là chế biến chè Nhà máy chè Tân Trào (Sơn Dương) đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm khác nhau như chè đen, chè xanh, chố dõy, chố đắng … cung cấp cho cả thị trường trong và ngoài nước đem lại nguồn kinh tế lớn cho Tỉnh đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp của xã hội Ngoài chăn nuôi và trồng trọt, các dân tộc Tuyên Quang còn biết làm nhiều nghề thủ công khác Từ thời Pháp thuộc người Pháp cũng đã từng khẳng định: “kỹ thuật của họ cũng khéo, biết làm rèn, đồ đồng, bạc, làm dao, súng (súng kíp, súng hoả mai, ), làm lưỡi cày, làm đồ nữ trang

do họ tiện lấy”, “họ cũng thông thạo làm các dụng cụ gia đình, làm đồ nữ

Trang 11

trang bằng bạc, tuy thô sơ nhưng rất đặc sắc” Họ cũng biết thêu dệt các mặt

hàng làm từ sợi lông, sợi lanh và vải nhuộm Từ nguồn nguyên liệu có sẵn trong rừng, từ thực tiễn cuộc sống lao động sản xuất, cải tạo thiên nhiên và chiến đấu chống kẻ thù, từ lòng yêu quê hương đất nước cộng với tâm hồn nhạy cảm và đôi bàn tay khéo léo họ đã tạo nên những đường nét tinh xảo duyên dáng, hoa văn sinh động trên những tấm vải thổ cẩm, trang phục, hàng mây tre đan và đồ trang sức Những sản phẩm này chính là cách thể hiện cụ thể, sinh động nhất cho nền văn hoá của mỗi dân tộc sống trong tỉnh nhưng do tính chất của nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp đóng kín nên chưa trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế cao

Như đã nói ở trên, rừng và khoáng sản là thế mạnh của Tỉnh do vậy nó

có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Tuyên Quang Nghề trồng, khai thác và vận chuyển lâm sản là một trong những nghề xuất hiện sớm và đem lại lợi nhuận cho đồng bào Sản phẩm gỗ chủ yếu cung cấp nguyên liệu các nhà máy giấy như: nhà máy giấy Bãi Bằng, … Lợi nhuận mang lại là nguồn động viên lớn cho nhân dân tích cực trồng rừng lấy nguyên liệu cung cấp cho thị trường Tuy nhiên nó cũng lại đặt ra những vấn đề nóng bỏng cần giải quyết đối với các cấp lãnh đạo, đó là nạn chặt phá, khai thác rừng bừa bãi làm giảm diện tích rừng trong toàn Tỉnh, gõy tỏc động xấu đến nhiều mặt khác của xã hội trong đó

có nạn lũ lụt, bão lốc, ô nhiễm môi trường, …

Nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có dưới lòng đất cũng là thuận lợi lớn cho ngành khai khoáng vốn đó cú từ thời pháp thuộc tiếp tục phát triển với một số mỏ lớn như: mỏ thiếc, mỏ kẽm ở Sơn Dương …

Từ lâu Tuyên Quang đã được biết đến như là một địa điểm du lịch hấp dẫn bởi vì nơi đấy có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đẹp, nhiều lễ hội độc đáo như: cây đa Tân Trào, mái đình Hồng Thỏi, Lỏn Nà Lừa, Nha Công an Trung ương, thuỷ điện Na Hang, Thác Mơ, suối nước nóng Mỹ Lâm,

lễ hội Lồng Tồng, … Đó là những thuận lợi cơ bản cho ngành dịch vụ du lịch phát triển mạnh Tuy nhiên hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau mà Tỉnh chưa thể khai thác triệt để tiềm năng này để làm giàu cho nhân dân, làm giàu cho Tỉnh nhà đồng thời đưa nét văn hoá quê hương đến với bạn bè bốn phương

Trang 12

Về mặt xã hội: tính đến ngày 01/04/1999 dân số toàn tỉnh đạt 675.100 người trong đó có hơn 20 dân tộc anh em khác nhau như: Kinh, Tày, Thái, Dao, Cao Lan, Sán Dỡu, Nùng, Hơ Mông Pà Thẻn, Bố Y, Hoa, Giấy … Nhưng đông nhất vẫn là dân tộc Kinh chiếm hơn 50% và Tày chiếm hơn 20% Mật độ dân cư trung bình là 100 người/Km2 Hệ thống giao thông thuỷ bộ của Tỉnh do được quan tâm, chăm lo xây dựng, sửa chữa nên ngày càng phát triển

và hoàn thiện hơn Quốc lộ 2 là con đường huyết mạch nối Tuyên Quang với

Hà Giang và các tỉnh thành phố khác ở miền xuôi Ngoài ra cũn cú quốc lộ 37 (trước đây là tuyến đường 13A) nối từ Bờ Đậu – Thỏi Nguyờn qua Tuyên Quang và sang Yờn Bỏi, tuyến đường 112 từ Thị xã Tuyên Quang đi Sơn Dương – Vĩnh Yên, đường 174 và đường 176 kéo dài từ Km 31 (Thái Sơn, Hàm Yên) qua Chiờm hoỏ lờn Na Hang và từ đó có thể lên Hà Giang, Cao Bằng … Những trục đường chính này đã từng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cơ động lượng, vận chuyển vũ khí, lương thực từ Đông bắc sang Tây bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Đây là những trục đường chính, ngoài ra cũn cú những đường liờn thụn, liên xã, đường dân sinh đa phần đã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá do đó rất thuận tiện cho việc

đi lại giao lưu văn hoá, trao đổi kinh tế giữa cỏc vựng trong tỉnh hay giữa tỉnh với bên ngoài

Hệ thống sông ngòi chằng chịt cũng là một thuận lợi lớn cho tuyến giao thông, đường thuỷ của tỉnh Sụng Lụ là tuyến đường thuỷ duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang, Hà Nội và các tỉnh trung du đồng bằng Bắc bộ Sụng Gâm nối liền các huyện Na Hang, Chiờm Hoỏ với thị xã Tuyên Quang Cả hai con sông này với ưu thế rộng và sâu có thể cho phép tàu xuồng loại nhỏ đi lại

dễ dàng góp phần làm cho việc vận chuyển hàng hoá, lực lượng trong thời chiến cũng như thời bình được cơ động Các con sông nhỏ khác vừa có tác dụng là đường giao thông vừa là nguồn cung cấp thức ăn, nước tưới cho các đồng bào trong Tỉnh

Sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế của Tỉnh đang có những bước phát triển vượt bậc, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Năm học 1998-1999 toàn tỉnh có 280 trường phổ thông, 3 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân được quan

Trang 13

tâm Năm 1998 Tuyên Quang có 4 bệnh viện cấp tỉnh, 7 bệnh viện cấp huyện

và 144 trạm y tế với hơn 1.730 giường bệnh và 1.246 cán bộ y tế trong đó có

284 bác sỹ Hiện nay trang thiết bị y tế hiện đại đang được đầu tư cho các bệnh viện, trạm y tế Mạng lưới y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân được mở rộng đến từng thôn bản, đảm bảo giúp nhân dân có nếp sống vệ sinh sạch sẽ, phòng bệnh tật

Về mặt văn hoá: nhìn chung trình độ dân trí của đồng bào dân tộc còn thấp Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945 toàn tỉnh có đến trên 90% dân số

mù chữ Từ sau cách mạng đến nay, nhờ đường lối, chính sách đúng đắn và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, dân trí của đồng bào được từng bước nâng cao Tuyên Quang đã hoàn thành phổ cập Giáo dục tiểu học và trung học cơ

sở, hiện đang phấn đấu phổ cập trung học phổ thông Tuy nhiên, do một vài nguyên nhân mà hiện tượng tái mù chữ vẫn xảy ra Ở những vùng cao, vựng sõu, vựng xa, dân cư sống thưa thớt, không tập trung, kinh tế xã hội kém phát triển, nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn được duy trì, nhận thức của bà con còn thấp kém Do đó, dễ bị bọn xấu lợi dụng lôi kéo, kích động gây mất trật tự

an ninh, gây khó khăn cho công tác lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền Vì vậy, công tác tuyên truyền chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước được chính quyền Tỉnh đặc biệt chú trọng và đẩy mạnh

Trong đời sống tín ngưỡng, tinh thần: đồng bào các dân tộc Tuyên Quang chủ yếu theo Phật giáo, Đạo giáo, thờ thần, thờ cúng tổ tiờn… với nhiều nghi lễ tôn giáo độc đáo Sự đa dạng, phong phú trong tín ngưỡng, tụn giỏo của họ chính là kết quả của sự kết hợp khéo léo giữa tín ngưỡng truyền thống với các tôn giáo du nhập từ nơi khác về sao cho vừa học hỏi tiếp thu được cái mới vừa gìn gĩư và phát huy được nét đặt trưng của riêng mình

Như vậy, có thể khẳng định rằng yếu tố địa lý, tự nhiên có vai trò rất quan trọng tác động đến xu thế phát triển và trình độ thực tế về mọi mặt kinh tế

- văn hoá – xã hội của Tỉnh Địa hình đồi núi chiếm lỷ lệ lớn, nguồn tài nguyên phong phú cộng với kiểu khí hậu rừng nhiệt đới là điều kiện thuận lợi cho kinh

tế nụng-lõm nghiệp và khai thác khoáng sản phát triển Trên cơ sở của các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong tỉnh, Tuyên Quang đã mạnh dạn đầu tư vào ngành dịch vụ du lịch và thực tế đã gặt hái được những thành công nhất

Trang 14

định, song vẫn chưa phát huy triệt để được tiềm năng sẵn có Kinh tế khởi sắc đã

có tác dụng thúc đẩy văn hoá, xã hội phát triển theo Trình độ dân trí của đồng bào được nâng cao một bước, hệ thống trường lớp được đầu tư phát triển cả về

số lượng và chất lượng, đảm bảo người học được đến trường đúng độ tuổi Nhờ

đó tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở Công tác tuyên truyền vận động đưa chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống được đẩy mạnh Do đó, hạn chế được tình trạng người dân

bị kẻ xấu lợi dụng xúi giục, kích động gây mất trật tự xã hội Đồng thời củng cố vững chắc hơn nữa lòng tin vào Đảng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Mặt khác còn tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc, tăng cường giao lưu học hỏi bạn bè, làm giàu thêm văn hoá của dân tộc mình nói riêng và của Tỉnh nhà nói chung Ngoài ra, yếu tố tự nhiên cũng quyết định truyền thống lịch sử và vị trí của Tỉnh nhà trong tiến trình lịch

Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cuộc sống của người phụ nữ càng trở nên khốn khó, cơ cực dưới hai tầng áp bức phong kiến và thực dân Tiếp tục phát huy truyờn thống lâu đời, phụ nữ Tuyên Quang tham gia đấu tranh chống thuế, đình công, bãi thị, phản đối chính sách thống trị của Pháp Mặt khác, phụ nữ Tuyên Quang lại lo hậu cần, đảm bảo tiếp tế cho quân ta tiêu diệt địch tại Hoà Mục (nay thuộc Yên Sơn), vây hãm chúng tại thành nhà Mạc (thuộc thị xã Tuyên Quang)

Trang 15

Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam phụ nữ Tuyên Quang đã tập hợp nhau lại để đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng bản thân Những năm đầu thập kỷ 30 phụ

nữ toàn tỉnh tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh trực diện với bọn thống trị dưới nhiều hình thức khác nhau như: chống sưu, thuế, lãn công Trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh chống thuế của nhân dân thôn Khe Thuyền, xã Văn Phú, huyện Sơn Dương diễn ra vào năm 1935 Kết quả đã làm cho tên chủ đồn điền Roay-đơ-ba phải nhượng bộ Tiếp đó là hai cuộc đình công của hàng trăm chị em cùng công nhân mỏ than Tuyên Quang năm 1938 và cuộc đình công của công nhân đoàn thuyền sắt năm 1939 buộc bọn chủ phải chấp nhận tăng lương, cải thiện đời sống cho công nhân

Sở dĩ phong trào cách mạng trong tỉnh phát triển mạnh mẽ được như vậy

là có một phần công lao to lớn của những người phụ nữ dũng cảm đó nuụi giấu cán bộ trong nhà, đã lấy gia đình mình là cơ sở liên lạc, tổ chức các cuộc hội họp, cất giấu tài liệu của cán bộ Việt Minh như vợ chồng ông Ninh Văn Kiến Tại nhà ông, chi bộ mỏ than – chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Tuyên Quang được thành lập vào ngày 20/03/1940 với 1/7 đảng viên của chi bộ là nữ Đồng chí Trần Thị Minh Châu đã rất năng nổ, tích cực vận động chị em phụ

nữ Nhờ đó số lượng phụ nữ trong tỉnh được giác ngộ ngày càng tăng Họ hăng hái với phong trào do chi bộ Mỏ than tổ chức, hăng hái tham gia vào các đội cứu quốc và tự vệ để đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, lấy đất lập đồn điền

Đầu 1944, phân khu Nguyên Huệ được thành lập ở Thỏi Nguyờn sau đó chuyển về vùng Thanh La, Trung Yên, Sơn Dương nay thuộc Minh Thanh, Sơn Dương Chị em phụ nữ ở đây đóng góp công sức dựng lán trong rừng làm nhà ở cho cán bộ, quyên góp lương thực, thực phẩm nuôi cán bộ, bảo vệ bí mật

và sự an toàn của các cơ quan lãnh đạo phân khu Tiếp đó, chị em băng qua lửa đạn, hiểm nguy để làm liên lạc cho cán bộ, cùng nhân dân đấu tranh chống địch khủng bố

Sự kiện Nhật đảo chính Phỏp đờm 09/03/1945, chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, cao trào kháng Nhật cứu nước, khởi

nghĩa giành chính quyền từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa do Trung ương

Trang 16

Đảng đề ra đã nhanh chóng đến được với những người dân Tuyên Quang yêu nước, ái mộ Cách mạng.

Đêm 10/03/1945, với sự lãnh đạo của phân khu ủy Nguyễn Huệ, dưới lá

cờ đỏ sao vàng do bà Nghiêm Thị Nhất may, lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân xã Thanh La (nay là Minh Thanh, Sơn Dương) đã khởi nghĩa giành chính quyền thành công Ngay sáng hôm sau, ngày 11/03/1945 chị em phụ nữ trong vùng nô nức tham gia cuộc mít tinh trước đình Thanh La để chào mừng

sự ra đời của Uỷ ban Cách mạng lâm thời xã Tiếp đú,chị em hoà mình vào đoàn quân tiến sang giải phóng cỏc xó lõn cõn và huyện lỵ Sơn Dương Từ tháng 3 đến tháng 6-1945 lần lượt các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tất

cả các huyện trong tỉnh nổ ra và nhanh chóng giành thắng lợi Cỏc chõu, phủ cách mạng được thành lập như: Tự Do, Kháng Địch (Sơn Dương); Khánh Thiện (Chiờm Hoỏ); Xuõn Trường (Na Hang); Hồng Thỏi (Yờn Sơn); Toàn Thắng (Hàm Yên); Quyết Thắng (Yên Bình) Trong Uỷ ban Cách mạng lâm thời đó cú sự tham gia của nhiều chị em Phụ nữ trở thành một lực lượng xung kích trong các đội quân giải phóng, các đội tự vệ vũ trang, trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân vào mặt trận Việt Minh, quyên góp lương thực nuụi quõn, cứu giúp những người bị đói hoặc luyện tập quân sự để canh gác bảo vệ xóm làng mới giải phóng

Tháng 5 – 1945, Bác Hồ chuyển từ Pác Bú – Cao Bằng về Tân Trào – Sơn Dương và chọn đây làm căn cứ trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng

cả nước Bà Lương Thị Khanh và chồng là ông Nguyễn Tiến Sự đã vinh dự được phục vụ Bác trong những ngày đầu Bác mới về Tân Trào Suốt thời gian Bỏc cựng các vị lãnh đạo sống và làm việc tại Tân Trào, nhân dân các dân tộc nơi đây đặc biệt là phụ nữ đã tích cực thực hiện các chính sách của mặt trận Việt Minh, nhiệt liệt ủng hộ cách mạng, tham gia canh gác, giữ gìn bí mật, bảo

vệ Bác Hồ và Trung ương, phục vụ chiến đấu đánh bại các cuộc hành quân càn quét của quân Nhật vào vùng giải phóng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng Mặt khác hội viên hội phụ nữ cứu quốc còn tham gia rải truyền đơn, diễn các vở kịch có nội dung yờu nước, bí mật may cờ Tổ quốc, nuôi giấu cán bộ, vận động quyên góp thuốc men, giấy bút cho chiến khu Đặc biệt chị em còn làm rất tốt công tác địch vận, tuyên truyền giải thích cho lính dõng, lính bảo an

Trang 17

thấy rõ lẽ phải của cách mạng, thấy được bản chất xấu xa lừa bịp của quân Nhật Từ đó, lôi kéo họ ngả về phớa cỏch mang, làm cho lực lượng của ta trở nên đông đảo và mạnh mẽ hơn.

Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào từ ngày 13/08/1945 – 15/08/1945 quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong

cả nước Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập, lệnh tổng khởi nghĩa được ban ra Ngay lập tức tại Tân Trào, từ ngày 16-17/08/1945 Đại hội Quốc dân họp và quyết định bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng tức Chớnh phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ngày 16/08/1945,các đơn vị vũ trang tập kết chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền tại Tỉnh lị Tuyên Quang Lúc này sụng Lụ đang vào mùa lũ lớn, chị em phụ nữ Tuyên Quang đã dũng cảm chèo thuyền đưa tự vệ, bộ đội qua sông, áp sát các mục tiêu cố thủ của Nhật và bọn tay sai

Đêm 16 sáng ngày 17/08/1945 khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Tuyên Quang bùng nổ Nhờ công tác binh vận được chuẩn bị chu đáo mà nhiều binh lính địch đã ra đầu hàng, cai liờn khoỏ giá súng, mở cổng cho quân giải phóng vào chiếm trại lính bảo an Do đó, tới 5h sáng ngày 17/08/1945 quân ta đã làm chủ toàn bộ thị xã, quân Nhật chỉ còn co cụm lại cố thủ trong khu vực thành nhà Mạc Từ ngày 17 – 21/08/1945, trong khi ta bao vây chặt trại lính Nhật ở thành nhà Mạc, chặn đánh quân tiếp viện của chúng từ Phú Thọ lên và từ Hà Giang xuốg thì chị em phụ nữ tổ chức cuộc tuần hành uy hiếp tinh thần quân Nhật, tham gia phục vụ cơm nước cho quân giải phóng Kết quả

đã buộc Nhật phải rút về Hà nội, Uỷ ban Cách mạng lâm thời Tỉnh Tuyên Quang được thành lập, toàn bộ tỉnh được giải phóng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang bước vào 1 thời kỳ mới - thời kỳ độc lập tự do

Ngay sau khi cách mạng thắng lợi, ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật đã kéo theo bè lũ tay sai phản động tiến vào nước ta nhằm tiêu diệt Đảng ta, chống phá mặt trận Việt Minh, lật đổ chính quyền Cách mạng để thay vào đó là một chính quyền tay sai phản động của

mình Lúc này vận mệnh đất nước rơi vào tình thế hiểm nguy “ngàn cân treo sợi túc”, 3 nhiệm vụ cần kíp lập tức được đề ra là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt,

diệt giặc ngoại xâm

Trang 18

Cụ thể đối với nhiệm vụ diệt giặc đói: chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ phát động phong trào tăng gia sản xuất cứu đói Hưởng ứng lời kêu gọi trên Hội Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các cấp hội thực hiện lạc quyên cứu đói Ở khắp mọi thôn xóm, các bà, các mẹ, các chị tích cực tuyên truyền vận động nhân dân tăng gia sản xuất, nhường cơm sẻ áo cứu giúp những người đói rách hay gặp hoàn cảnh khó khăn Những hũ gạo cứu đói được lập ra trong mỗi gia đình đã đem lại hiệu quả cứu đói cao Ngoài ra chị

em phụ nữ cũng thực hiện theo các khẩu hiệu “tất đất tác vàng”, “khụng một tấc đất bỏ hoang” … tận dụng thời gian, nhân lực và đất đai giúp nhau hạt giống, cây giống để trồng lương thực rau màu Đặc biệt, trong “tuần lễ vàng”

từ ngày 17 – 24/09/1945 đã xây dựng "quỹ độc lập" và nền tài chính quốc gia,

các tầng lớp phụ nữ Tuyên Quang với tấm lòng và nhiệt huyết cách mạng đã đóng góp tiền của thậm chí cả hoa tai, nhẫn, vòng kỷ niệm cho quỹ, vận động

các chị em khác cùng tham gia Nhờ đó toàn tỉnh đã quyên góp cho “quỹ độc lập” được 130 lạng vàng, 7650 lạng bạc, góp phần nhỏ của mình vào công

việc xây dựng quỹ quốc gia

Đối với nhiệm vụ diệt giặc dốt: phụ nữ các dân tộc tỉnh Tuyên Quang cũng hăng hái tiến quân vào mặt trận này bằng nhiều cách khác nhau Một mặt các chị quyết tâm theo học và học rất chăm chỉ các lớp bình dân học vụ, mặt khác động viên chồng con và những người thân cũng tham gia Những chị em biết chữ tình nguyện dạy cho những chị em chưa biết gì Hội viên hội phụ nữ nào cũng đều trở thành cô giáo, thành chiến sỹ diệt giặc dốt Các lớp bình dân học vụ được mở ở mọi nơi, đảm bảo tạo điều kiện cho người dân ở mọi độ tuổi trình độ khác nhau đều có thể tham gia Phong trào học chữ diễn ra rầm rộ dưới nhiều hình thức khác nhau: học viết lên bảng lên tường, lờn lỏ chuối, lên mặt đất, ở đường đi, ở cổng chợ, ở nhà, ở ngoài đồng lúc nghỉ trưa, nghỉ giải lao… Thậm chớ cũn cú quy định: người nào biết chữ thì được vào chợ bằng cổng chính, người nào không biết chữ thì phải vào bằng cổng phụ Do vậy, trình độ của chị em ngày một nâng cao, nhiều chị em đã trưởng thành từ các lớp bình dân học vụ

Đối với nhiệm vụ diệt giặc ngoại xâm: ta tích cực tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu và thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với Tưởng

Trang 19

song vẫn sử dụng lực lượng quần chúng để chống các thủ đoạn hành động phá hoại của địch như: với tư cách là người chủ, có chính quyền, tránh xung đột với chúng đồng thời làm vườn không nhà trống để bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân Trước áp lực đấu tranh cách mạng mạnh mẽ của quần chúng nhân dân, ngày 29/08/1945 quân Tưởng đã rút về xuôi kéo theo cả bọn Việt Quốc, Việt Cách phản động Khi địch đã rút quân, ta nhanh chóng củng cố chính quyền, phát triển Đảng, Mặt trận Việt minh và các tổ chức cứu quốc, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương đảm bảo làm tốt công tác xây dựng và bảo

vệ chính quyền Cách mạng

Song song với việc hưởng ứng các chỉ thị, nghị quyết và lời kêu gọi của cấp trên, chị em phụ nữ Tuyên Quang cũng rất tích cực củng cố và phát triển tổ chức hội của mình Năm 1947, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang được thành lập Ban đầu số lượng cán bộ và thành viên cũn ớt nhưng chỉ sau một thời gian ngắn hội đã xây dựng được cơ sở của mình ở các cấp huyện, thị và một số khu phố của thị xã, thị trấn Tinh thần và ý thức của hội viên được nâng cao Chị em vừa giỏi việc nước vừa đảm việc nhà, vừa đấu tranh anh dũng vừa phục vụ chiến đấu chu đáo, đóng góp hàng vạn ngày công giúp vận chuyển hàng hoá tài liệu, xây dựng lán trại cho các cơ quan Trung ương, nuôi giấu và bảo vệ cán bộ cách mạng Trong các ngày 8 và 9/11/1947 hàng chục nữ dân quân, tự vệ đã tham gia vận chuyển đạn pháo từ Đoan Hùng qua Hiên rồi men theo dãy núi Là, tắt qua Thắng Quân để xây dựng trận địa mai phục trên sông

Lô Nhờ đó, quân dân Tuyên Quang đã đập tan cuộc tấn công lớn lên vùng căn

cứ địa Việt Bắc của địch vào mùa đông 1947 bằng những chiến thắng vang dội tại Bình Ca – 13/10; Sụng Lô-11/10 Quân địch kinh sợ đã gọi trận Sụng Lụ là

“biển lửa khe lau” và Tuyên Quang là “cỏi nghĩa địa khổng lồ” Cuối

12/1947 chiến dịch Việt Bắc của Pháp thất bại hoàn toàn, địch vấp phải những thiệt hại nặng nề Hơn 1.000 quân, 10 ca nô, tầu chiến, 1 máy bay đã bị ta tiêu diệt trong chiến dịch sụng Lụ oai hùng Đồng chí Vừ Nguyờn Giỏp trong bài

Nhật lệnh đọc tại buổi duyệt binh đã nêu rõ: “ba mươi năm trước đây, tỉnh Tuyên Quang đã là thủ đô lâm thời của vùng giải phóng mới xây dựng Ngày nay Tuyên Quang cùng Phủ Đoan, Bình Ca, Khe Lau … trên bờ sụng Lụ đó anh dũng chiến thắng thuỷ quân và lục quân của thực dân Phỏp”.

Trang 20

Tháng 5/1949 Pháp huy động 70 lính Âu – Phi, 400 lính nguỵ mở chiến dịch càn quét tiêu diệt quân chủ lực của ta, phá hoại cơ sở kinh tế, ngăn chặn đường tiếp tế từ trung du lên căn cứ địa Việt Bắc với trọng tâm chiến dịch là cuộc hành quân Pômôn thọc sâu vào vùng căn cứ địa Tuyên Quang Phụ nữ Tuyên Quang một lần nữa lại cựng quõn – dân trong tỉnh làm cuộc tiêu th kháng chiến lần 2, vận động thanh niên tòng quân, làm tốt công tác hậu phương quân đội Từ đó nâng cao tinh thần và sức mạnh chiến đấu của chiến sĩ ngoài mặt trận, góp phần không nhỏ vào thành tích chung: diệt gần 200 tên địch, bắt sống 30 tên, làm bị thương 20 tên, đánh tan chiến dịch càn quét của địch.

Phụ nữ Tuyên Quang cũng rất hăng hái đi dân công, vận tải quân lương,

vũ khí, tiếp tế cho tiền phương phục vụ các chiến dịch quân sự như: Biên Giới, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong, Tây Bắc, Điện Biên Phủ,… Riêng chiến dịch Lao- Hà (1949 - 1950) thường xuyên có 600 dân quân Tuyên Quang làm công tác tải lương, tiếp tế và đảm bảo giao thông thông suốt Chiến dịch Tây Bắc – 1952 tỉnh ta đã huy động 3 đợt dân công với 9762 lượt người

đi phục vụ trong đó 1/3 là nữ Chiến dịch Đụng Xuõn 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Tuyên Quang huy động 56.196 lượt người đi dân công, chiếm khoảng 43% dân số, cung cấp cho tiền phương 6.456.955 kg gạo, 52770 kg thịt trâu, 914 kg thịt bò, 41.657 kg thịt lợn, 10

890 kg lạc, 11.282 kg đỗ xanh Những đóng góp đầy tình nghĩa trên của nhân dân Tuyên Quang cùng với tấm lòng của nhưng người Việt Nam yêu nước khác trở thành nguồn động viên lớn cho quân đội ta đánh mạnh, thắng mạnh, làm nên chiến thắng lịch sử Điờn Biờn Phủ chấn động địa cầu, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ 80 năm chống Pháp của dân tộc, đưa toàn thể nhân dân

ta bước vào một thời kỳ mới, đưa lịch sử dân tộc bước sang trang mới với vô vàn chiến công mới

Như vậy: Kể từ khi phong trào cách mạng bắt đầu được xây dựng ở Tuyên Quang (1937) cho tới khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi (7/1954) phụ nữ Tuyên Quang đã có rất nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của phong trào cách mạng ở địa phương Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chị em trở thành một khối thống nhất có sức mạnh phi thường được gắn

Trang 21

kết chặt chẽ bởi lòng yêu nước, căm thù giặc và tinh thần đoàn kết Chị em đã không ngừng học hỏi, trưởng thành về mọi mặt, cống hiến tài năng, sức lực của mình cho sự nghiệp chung, vươn lên khẳng định vị trí – vai trò của mình trong xã hội Thông qua các hoạt động cụ thể dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, chị em phụ nữ Tuyên Quang đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc, phát huy tích cực truyền thống vẻ vang lâu đời của mình trong suốt chiều dài lịch sử tỉnh cũng như lịch sử dân tộc.

Trang 22

CHƯƠNG II

PHỤ NỮ TUYấN QUANG TRONG THỜI KỲ KHÔI PHỤC KINH

TẾ, CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG, CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN 1 (1954 - 1968)

I Khôi phục kinh tế

Sau hiệp định Giơnevơ (20/07/1954) miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, nhân dân miền Bắc bước vào thời kỳ độc lập tự do, khôi phục kinh tế, cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, biến miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Tháng 9/1954 Hội nghị Bộ Chớnh trị Ban chấp hành Trung ương Đảng

họp và chỉ rõ nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách trước mắt của miền Bắc là: “hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế”.

Trong bối cảnh toàn miền Bắc hăng say sản xuất, khôi phục kinh tế vì sự nghiệp chung của dân tộc như vậy, đầu năm 1955 Hội nghị kiểm điểm công tác lãnh đạo sản xuất trong năm 1945 của tỉnh Tuyên Quang được tổ chức Hội nghị đã vạch rõ nhiệm vụ cần kíp của quân dân trong tỉnh nhà là: kiên quyết đẩy mạnh sản xuất để chống đúi, phũng đúi, cải thiện dân sinh, củng cố và phát triển kinh tế, góp phần củng cố miền Bắc, ủng hộ miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng

1 Trong sản xuất nông nghiệp:

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành nông nghiệp, tỉnh uỷ Tuyên Quang đã chỉ rõ: nhiệm vụ của năm 1955 là “ra sức phục hồi kinh tế tài chính, trọng tâm là phục hồi nông nghiệp, chủ chốt là sản xuất lương thực, hàn gắn vết thương chiến tranh, đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu quốc gia, dần dần nâng cao mức sống của nhõn dõn.” Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra, chị

em phụ nữ tỉnh vượt qua khó khăn gian khổ có mặt ở khắp nơi, ra sức khôi phục lại diện tích gieo trồng bằng nhiều biện pháp khác nhau: khai hoang, phục hoỏ,… Mặt khác chị em tiến hành làm cỏ, gỡ hàng rào thép gai và mìn, kéo cày thay trâu bò, dốc sức chống hạn, chống úng, phục hồi và ổn định nhanh chóng việc đồng áng

Trang 23

Nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, tỉnh đội phát động tuần lễ chống hạn Chị em tham gia đóng góp 2290 công, sửa chữa được 290 nương dẫn nước tưới cho 71 mẫu ruộng, sửa chữa 78 cống, 1 mương dài 350 m và gánh hàng ngàn gánh nước cứu lúa bị hạn Bước sang năm 1956 chị em đóng góp được 17.852 cụng, gỏnh 213646 gánh nước tưới mạ, góp 1825 công bắt sâu và 203663 công phục vụ cải tiến kỹ thuật góp phần tích cực vào thắng lợi của cả 2 vụ sản xuất chiờm mựa, đưa năng suất từ 88kg/ sào (1955) lên 136 kg/sào (1956) Trong năm 1955 nạn đói cơ bản được khắc phục, sản xuất nông nghiệp đã phục hồi rõ rệt, diện tích cây lương thực tăng so với 1954.

Những kết quả đạt được như trên tạo cơ sở cho năm 1956 tiếp tục giành nhiều thắng lợi lớn hơn Năm 1956 thu hoạch đạt mức cao nhất trong 3 năm tiến hành khôi phục kinh tế Toàn tỉnh gieo trồng được 21983 ha lúa, thu

47995 tấn thóc, trồng được 5713 ha hoa màu, 790 ha cây công nghiệp Cùng với phát triển trồng trọt chị em còn tận dụng các sản phẩm thừa của sản xuất nông nghiệp để giúp nhau chăn nuôi gia súc gia cầm trong gia đình, đảm bảo nguồn thực phẩm sẵn có, phục vụ nhu cầu hàng ngày

Đầu năm 1957 phong trào thi đua thực hiện lời kêu gọi sản xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các cấp hội đứng ra phát động tổ chức Vụ chiêm năm

đó chị em áp dụng triệt để kỹ thuật ngõm phõn chõn mạ, làm cỏ bỏ phân, cấy nhỏ dảnh để vừa tiết kiệm giống vừa đảm bảo năng suất cao Tiếp tục phát huy những kinh nghiệm đã thu được từ vụ chiêm, sang vụ mùa phụ nữ góp 72.692 công chống hạn, đảm bảo diện tích gieo cấy đạt 97% kế hoạch, cấy nhỏ dảnh được 554 mẫu 6 xào, ngõm phõn chõn mạ được 193 mẫu, 100% diện tích lúa được bón phần và làm cỏ 1 – 2 lần

Để hưởng ứng phong trào sản xuất trong nông nghiệp đang diễn ra sôi nổi, một phong trào khác tiếp tục được phát động: phòng trào làm phân bón ruộng cung cấp cho việc trồng cấy cây lương thực và hoa màu Trong toàn tỉnh, từ cụ già đến em nhỏ, phụ nữ các dân tộc đều hăng hái tham gia Riêng phụ nữ huyện Na Hang thu nhặt được 319.159kg phõn cỏc loại, huyện Yên Sơn chị em làm được 1.519.689kg phân chuồng Thậm chí chị em tiểu thương

và thợ thủ công ở thị xã Tuyên Quang và thị trấn Vĩnh Lộc – Chiờm Hoỏ cũng tham gia Kết quả: thu nhặt được 30585kg phõn cỏc loại cho hợp tác xã nông

Trang 24

nghiệp Những kết quả mà phong trào này mang lại đó giỳp cho bà con nông dân chủ động trong sản xuất, đảm bảo bón phân đúng kỳ hạn và đủ số lượng, làm cho lúa tốt, cho năng suất cao Công tác thuỷ lợi cũng rất được quan tâm vì đây là một yếu tố quan trọng tác động đến việc có tăng được diện tích và năng suất lủa của toàn tỉnh hay không Vì vậy ngoài việc duy trì, phát triển cách làm truyền thống như: dùng cọn nước, gầu sòng, đập nước, mương phai, chị em còn tham gia xây dựng các công trình thuỷ lợi lớn như: mương phai Kim Thắng hoàn thành năm 1951 với chiều dài 8.992m, đảm bảo tưới tiêu cho 545 mẫu lúa chiêm, góp phần cứu đói hàng năm cho 6.472 nhân khẩu của 3 xã An Tường, Kim Thắng, Ỷ La Hàng triệu ngày công của chị em phụ nữ đã đổ ra đồng ruộng để gánh nước chống hạn Ở Sơn Dương và Yên Sơn – hai huyện bị hạn hán nghiêm trọng nhất trong vụ mùa 1958 đó cú 1.391 phụ nữ tham gia chống hạn, trên công trường thủy lợi Trung La thường xuyên có 250 phụ nữ tham gia lao động, cỏc xó Thanh La, Trung Yên, Vĩnh Lợi có 450 chị em góp 4.850 công đào mương, đắp hố, ao; tỏm xó khỏc cũng có hàng ngàn chị em góp 13.201 cụng gỏnh 20.283 gánh nước chống hạn cho lúa Những nỗ lực không ngừng trên của chị em đã cứu hạn được 99,26% kế hoạch về diện tích, 93% kế hoạch về sản lượng, tạo nguồn động viên tinh thần to lớn cho phong trào sản xuất của quần chúng tiếp tục phát triển.

Từ năm 1958 trở đi Tuyên Quang cùng với toàn miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo Xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội Đây là chủ trương hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản, lâu dài của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước Theo chủ trương chung ấy, tỉnh uỷ Tuyên Quang cũng kịp thời ra chỉ thị

nêu rõ “ ra sức củng cố và phát huy những thành tích đạt được trong 3 năm đồng thời tuỳ từng mặt, từng vùng mà có kế hoạch phát triển lên một bước nhằm không ngừng cải thiện, nâng cao dần đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của các dân tộc lờn thờm một bước, chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức và vất chất để tạo điều kiện thuận lợi góp phần xây dựng quê hương tiến dần lên xã hội chủ nghĩa và góp phần vào công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước…”.

Thực hiện theo chỉ thị này, đầu vụ mùa năm 1958, hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của tỉnh được thành lập tại thôn Dàm, xã Tứ Quận, huyện Yên

Trang 25

Sơn Toàn bộ 100% hội viên phụ nữ trong thôn đều vào hợp tác xã Hình thức

tổ chức sản xuất này nhanh chóng được nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh Công tác vận động, giải thích, tuyên truyền, thuyết phục các chị em khác cũng như quần chúng nhân dân của các nữ hội viên được quan tâm xúc tiến, làm cho

“nhân dân các dân tộc quyết tâm theo Đảng đi lên con đường hợp tác hoá xã hội chủ nghĩa”, quyết tâm lao động sản xuất theo kế hoạch và hướng dẫn của

cán bộ, Đảng viên về việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, sử dụng giống mới,… làm tăng năng suất Ở các huyện thị, hội phụ nữ phối hợp với phòng nông nghiệp tổ chức các hội thi cấy để trao đổi kinh nghiệm và động viên phong trào Trong cỏc nụng – lâm trường, ban nữ công kết hợp với công đoàn tổ chức vận động phụ nữ phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tham gia vào công tác quản lý nông – lâm trường,… nhằm đạt hiệu quả lao động cao Thu hoạch nhờ

đó đã không những cung cấp đủ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày mà còn đảm bảo nuụi quõn và có dự trữ quốc gia, hoàn thành kế hoạch năm 1960 Riêng đối với phong trào chăn nuôi, tỉnh hội và các huyện tiến hành mở lớp tập huấn

kỹ thuật cho gần 200 cán bộ hội cấp cơ sở để chị em tích cực giúp đỡ nhau phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Kết quả: năm 1960 đàn lợn của tỉnh đạt 13.619 con, tình hình sản xuất lương thực và hoa màu được phục hồi và bước đầu có sự tăng tiến về số lượng và chất lượng; góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của toàn tỉnh trong tình hình mới: xây dựng quê hương, góp phần củng

cố miền Bắc, đồng thời ủng hộ tinh thần và sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam

Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp, đề

ra đường lối xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữ đối với cuộc cách mạng trong sản xuất, trách nhiệm giải phóng phụ nữ của Đảng ta, tạo điều kiện thuận lợi để chị em tham gia nhiều hơn, hiệu quả hơn vào hoạt động sản xuất và quản lý nhà nước Tiếp đó, 3/1961 Trung ương hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào thi đua 5 tốt là: lao động sản xuất, tiết kiệm tốt, chấp hành chính sách tốt; tham gia quản lý tốt; học tập chính trị, văn hoá kỹ thuật tốt; xây

Trang 26

dựng gia đình, nuôi dạy con tốt Trong nông nghiệp xuất hiện phong trào thi đua với hợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình), chiến dịch làm thuỷ lợi mang tên

“Sụng Lô nổi súng”, phụ nữ các dân tộc tích cực tham gia xây dựng củng cố

hợp tác xã Đó cú từ 70 – 80% số lao động chính là nữ trực tiếp tham gia sản xuất ngoài đồng ruộng Nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là tăng năng suất lao động Chị em đã rất quyết tâm cải tiến công cụ lao động, dùng cày 51, bừa sắt trong khâu làm đất, thay cày chỡa vụi bằng bừa gỗ Đặt biệt phong trào giải phóng đôi vai lan rộng trong tất cả cỏc xó Những chiếc cào cỏ cải tiến được sử dụng rộng rãi, cỏc khõu cấy kỹ thuật, làm thuỷ lợi, bón phân, làm cỏ, diệt trừ sâu bệnh cho lúa và hoa màu được chị em thực hiện tốt Vụ mùa năm 1961 tỉnh hội phụ nữ đã tổ chức phong trào thi cấy, nâng cao diện tích được cấy đúng kỹ thuật, trong phong trào thi đua làm phân bón đã xuất hiện nhiều kiện tướng

mỗi năm làm được từ 3 tấn phân bón trở lên Khẩu hiệu “sạch làng tốt ruộng”

được thực hiện rộng rãi, làm tăng thu hoạch của từng vụ lúa Mặt khác, trong 2 năm 1961 – 1962 phụ nữ Tuyên Quang còn tham gia đón tiếp hàng ngàn người dân từ Ninh Bình, Hà Đông, Vĩnh Phỳc, Phỳ Thọ lên khai hoang, đón hàng trăm hộ gia đình Việt Kiều từ Tân thế giới hay Thái Lan về nước sinh sống, tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể và hướng dẫn chỉ bảo, giúp đỡ họ làm quen với cuộc sống mới, bắt tay ngay vào sản xuất, góp phần phát triển nên kinh tế tỉnh nhà Bằng những việc làm cụ thể ấy, chị em đã có công lớn trong việc đưa bình quân hàng năm diện tích lúa của tỉnh tăng lên 6,3%, diện tích hoa màu và cây công nghiệp tăng 20,8%, sản lượng lương thực giữ ổn định ở mức trên dưới

54000 tấn

Song song với phong trào thi đua sản xuất là phong trào vận động tiết kiệm giống, phân bón với nhiều hình thức vận động tuyên truyền khác nhau trong đó có việc tổ chức cuộc thi văn nghệ về sản xuất và tiết kiệm Bài thơ

“Sản xuất và tiết kiệm” của em Lê Cảnh Đức - học sinh lớp 5, trường Tân

Trào đã phản ảnh rất cụ thể chủ trương trên:

Trang 27

SẢN XUẤT VÀ TIẾT KIỆM

Để cho nước mạnh dân giàu

Đồng bào ta phải bảo nhau chuyên cần

Để đánh bại lũ thực dân

Đồng bào ta phải góp phần tăng gia

Ngồi không hại nước hại nhà

Tăng gia mới có ăn mà đỏnh Tõy

Chăm lo tiếp kiệm từ nay

Để cho sản xuất ngày càng nhiều thêm

Thi đua giành dụm gạo tiền

Những hàng xa xỉ chớ nên mua dùng

Thì giờ, vật liệu, nhân công

Ai ơi! Tiết kiệm xin đừng phí hoang

Ngày 3/4/1960 lễ kết nghĩa Tuyên Quang – Bình Thuận được tổ chức, từ

đó trở đi nhân dân các dân tộc Tuyên Quang có nhiều hoạt động thiết thực nhằm đẩy mạnh sản xuất, tích cực thi đua vì miền Nam ruột thịt, vì nhân dân

Bình Thuận thân yêu Tỉnh uỷ Tuyên Quang quyết định lấy tên vụ mùa là “vụ mựa Bỡnh Thuận”, “cỏnh đồng ngụ Bỡnh Thuận”, “nuụi đàn gà Bình Thuận”

… Phụ nữ các địa phương hăng hái thi đua lao động với tinh thần: làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, các huyện thị mở hội nghị chuyên đề về cấy kỹ thuật, tổ chức thi cấy, vận động chị em làm cỏ, bỏ phõn đỳng kỹ thuật Chị em phụ nữ Tuyên Quang cùng chị em toàn miền Bắc sôi nổi hưởng ứng phong trào

“Súng duyên hải”, “Giú Đại Phong”, đồng thời phát động phong trào “Sụng

Lô nổi sóng chiến thắng toàn diện”, liên tục cải tiến công cụ lao động, phát

huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng biện pháp thâm canh tăng vụ, tăng năng suất đẩy mạnh khai hoang phục hoá, tăng nhanh diện tích nông nghiệp, cải tiến cơ cấu vật nuôi cây trồng, phát triển mạnh đàn gia súc, khắc phục được tình trạng thiếu sức kéo, đảm bảo sức kéo, phân bón, thực phẩm tại chỗ, cung cấp sức kéo cho miền xuôi Ngoài cây lương thực và hoa màu, tỉnh bắt đầu quy hoạch trồng một số loại cây công nghiệp, cây ăn quả phục vụ cho công nghiệp

và xuất khẩu ở miền xuôi, tạo cơ sở cho việc thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghió

Trang 28

Bước sang năm 1964, trong bối cảnh Mỹ đang chịu những thất bại nặng

nề trên chiến trường miền Nam, chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” về cơ bản

đã bị phá sản Tại hội nghị bộ chính trị đặc biệt được tổ chức vào 3/1964, chủ

tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào miền Bắc hăng hái thi đua “mỗi người chúng ta phải làm việc bằng 2 để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt” Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tuyên Quang đã dấy lên phong

trào thi đua mới rộng khắp trong tất cả các cơ quan xí nghiệp cỏc nụng – lâm

trường, cỏc xó bản Ở nông thôn có phong trào thi đua “năng suất cao, hoa mầu nhiều, chăn nuôi giỏi, cây công nghiệp tăng” Những "vụ mùa đạt năng suất cao”, được phát động có tác dụng to lớn trong việc động viên thúc giục

nhân dân thúc đẩy sản xuất, củng cố hợp tác xã nông nghiệp Chị em ở mọi ngành nghề đều hưởng ứng nhiệt tình, đặc biệt là chị em làm nghề nụng, gúp công sức vào thành tích chung của toàn tỉnh năm 1964: tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 76.935 tấn, vượt 11.21% kế hoạch, so với năm 1963 đã tăng 24.55%, bình quân lương thực đầu người đạt 386.7kg

Như vậy từ năm 1954, ngay sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế, cải tạo Xã hội chủ nghĩa, quân dân tỉnh Tuyên Quang nói chung và phụ nữ Tuyên Quang nói riêng hăng hái hoà mình vào không khí chung sục sôi ấy để xây dựng quê hương giàu mạnh, góp phần xây dựng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, chi viện cho miền Nam toàn thắng Với tinh thần hăng say lao động chị em đã có mặt trên khắp mọi mặt trận, mọi lĩnh vực, trong đó không thể không nhắc đến vai trò của họ trong nông nghiệp Chị em phụ nữ không ngừng thi đua cải tiến kỹ thuật, công cụ, áp dụng các phương pháp canh tác mới, tích cực làm thuỷ lợi,… vừa tiết kiệm giống vừa đảm bảo năng suất cao Mặt khác chị em tiến hành khai hoang, tận dụng đất trồng màu, thâm canh tăng vụ,… Nhờ đó, diện tích trồng lúa và hoa màu được mở rộng Sản lượng lương thực ổn định và bước đầu tăng lên đã không những đủ cung cấp cho nhu cầu hàng ngày mà cũn cú để nuôi quân đội và một phần dự trữ quốc gia Hưởng ứng phong trào thi đua sôi nổi đang diễn ra trên toàn miền Bắc, chị em phụ nữ Tuyên Quang đã chủ động phát động các phong trào thi đua trong sản xuất như: thi đua làm phân bón, thi đua làm thuỷ lợi chống hạn hán lũ lụt, thi đua

Trang 29

với hợp tác xã Đại Phong, phong trào “Sụng Lô nổi súng” … Với sự nở rộ của

các phong trào thi đua như vậy nền sản xuất nông nghiệp của Tỉnh nhà đó cú những bước khởi sắc nhất định Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thức nhất (1961-1965), năm 1965 giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 18% so với năm

1961, diện tích cây lương thực tăng 25.76% so với năm 1960 Ngành chăn nuôi cũng tăng 21.95%, đảm bảo sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và nguồn thực phẩm cho cuộc sống

Những chuyển biến tích cực trong nông nghiệp là cơ sở cho các ngành kinh tế khác cũng như mọi lĩnh vực xã hội của Tỉnh tiếp tục được củng cố, phát triển; xây dựng địa phương ngày càng vững mạnh đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để quân dân Tuyên Quang bước vào cuộc chiến đấu mới gay go và quyết liệt hơn

2 Trong công nghiệp – thương nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Nông nghiệp ngay từ đầu đã được xác định là ngành kinh tế quan trọng, đóng vai trò chủ đạo Nhưng không vì thế mà công nghiệp, thương nghiệp , tiểu thủ công nghiệp không được coi trọng Đây vẫn là một bộ phận quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với các bộ phận khác trong nền kinh tế chung của địa phương Nó có tác động thúc đẩy, tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp phát triển và ngược lại chính sản xuất nông nghiệp cũng là động lực để công nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có những bước khởi sắc

Sau khi giành lại được độc lập năm 1954, công nghiệp, thương nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp Tuyên Quang cũng giống như tất cả các ngành kinh tế khác của toàn miền Bắc, đều chịu chung tình trạng bị phá hoại, suy kiệt trầm trọng do bom đạn thực dân tàn phá Tình hình mới đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết đối với miền Bắc là: hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế, cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam Theo đúng chủ trương trên của Hội nghị Bộ Chính trị ban chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ Tuyên Quang

đã họp và vạch rõ những nhiệm vụ cần kíp mà quân dân trong tỉnh cần làm, từ

đó cụ thể nó bằng những chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn nhân dân tăng cường khôi phục kinh tế, đẩy mạnh củng cố và phát triển tiềm lực mọi mặt của tỉnh

Trang 30

Nhờ đó công – thương - tiểu thủ công nghiệp bước đầu có những chuyển biến tốt Tuy nhiên khó khăn hạn chế vấn còn tồn tại rất nhiều: công cụ kỹ thuật chưa được cải tiến, trình độ tay nghề và quản lý của nữ công nhân chưa cao,…

Vì vậy tốc độ phát triển còn chậm Nhưng ở các công trường, xí nghiệp; ban

nữ công kết hợp với công đoàn tổ chức vận động phụ nữ phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm đạt hiệu quả, năng suất lao động cao, hoàn thành kế hoạch năm 1960, đồng thời vận động chị em tham gia quản lý xí nghiệp, công trường

Những kết quả đạt được trong 6 năm phấn đấu từ sau hoà bình cùng với những hạn chế còn tồn tại vừa tạo động lực cố gắng lại vừa là rào cản đối với quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 1 (1961 - 1965) của tỉnh nhà

Đầu năm 1961, Đại hội đại biểu phụ nữ toàn tỉnh được tổ chức đã thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến và đi đến đề ra nhiệm vụ phong trào phụ nữ

năm 1961 Đại hội đã phát động phong trào thi đua “Phất cao cờ đỏ Minh Khai, tiến quân vào chiến dịch sụng Lụ nổi súng” Từ đó trong toàn tỉnh diễn

ra hàng loạt các phong trào thi đua ở mọi cấp ngành Riêng trong công nghiệp

có phong trào thi đua với nhà máy Duyên Hải Tháng 11/1961 các cơ sở công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lại phát động phong trào thi đua “Cải tiến quản lý

xí nghiệp” và xây dựng chỉ tiêu kinh tế - kĩ thuật nhằm đẩy mạnh sản xuất,

nâng cao hiệu suất lao động và xây dựng bộ máy quản lỹ kinh tế - kĩ thuật lao động chặt chẽ, xây dựng tổ chức Đảng, quần chúng mạnh mẽ trong các cơ sở

kinh tế Chị em công nhân tích cực hưởng ứng phong trào “Ngày thứ 7 đẩy mạnh sản xuất vì sự nghiệp thống nhất Tổ Quốc”, phong trào làm thêm giờ với khẩu hiệu “Nam đổ máu, Bắc đổ mồ hụi” Tiếp đó là phong trào thi đua phát

huy sáng kiến, trí sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, thi đua giành danh hiệu 3 đỉnh cao, danh hiệu lao động tiên tiến, lao động xã hội chủ nghĩa,… Trong đó chị

em phụ nữ luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu thực hiện, ra sức tuyên truyền kêu gọi các anh chị em khỏc cựng phấn đấu Nhờ có tinh thần trách nhiệm cao và nhiệt huyết nóng bỏng ấy mà rất nhiều chị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, từng bước khẳng định được vai trò người lãnh đạo của mình trong công việc

Trang 31

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ III họp từ ngày 16 đến 25/3/1961 đã đề ra 7 nhiệm vụ cơ bản của năm 1961 Một trong số đó là việc đẩy mạnh sản xuất công nghiệp quốc doanh, thủ công nghiệp đạt chỉ tiêu

đề ra là công nghiệp, thủ công nghiệp tăng 26.4% so với năm 1960 Muốn làm được điều đó, trước hết phải xây dựng và phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp theo phương châm dựa vào nguyên liệu, sức tiêu thụ tại chỗ là chớnh,

cú quy mô và thiết bị hợp lý để cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp cựng cỏc ngành kinh tế khác Từ đó đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, phục vụ công nghiệp Trung ương và hoạt động xuất khẩu Nắm vững chủ trương, nhiệm vụ cụ thể của ngành mình, chị em phụ nữ tích cực thi đua nhau

và thi đua với các anh em nam công nhân, làm giàu cho nhà máy xí nghiệp bằng cách: phát huy trí sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, làm tăng năng xuất và hiệu quả lao động; củng cố và xây dựng các cơ sở sản xuất, tăng cường đào tạo trình độ, tay nghề của bản thõn…

Đối với ngành thương nghiệp: Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ của ngành là mở rộng giao lưu hàng hoá, phục vụ xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của Chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất mới

Tháng 7/1961 Tỉnh uỷ quyết định thành lập Ban Công nghiệp để giúp cấp uỷ nghiên cứu những vấn đề về xây dựng, phát triển công nghiệp địa phương Nhiều cơ sở, nhiều ngành công nghiệp mới như điện lực, cơ khí chế tạo, công nghiệp khai thác lâm sản và khoáng sản, vật liệu xây dựng,… ra đời Mặt khác chị em công nhân tận dụng máy móc, nguyên vật liệu cũ để sản xuất, tích cực trang bị thêm thiết bị mới phù hợp với trình độ của mình và nhu cầu của địa phương Những cố gắng, nỗ lực của chị em ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp cộng với sự chỉ đạo sáng suốt của các cấp uỷ Đảng Tuyên Quang đó cú tỏc dộng mạnh mẽ đến sự phát triển của ngành Cơ

sở vật chất kĩ thuật của các nhà máy xí nghiệp được nâng lên một bước, công nghiệp quốc doanh dần đóng vai trò chủ đạo Thủ công nghiệp đã cung cấp đủ nông cụ cho sản xuất nông nghiệp

Tới năm 1964 công nghiệp địa phương đó cú 11 ngành nghề Sản phẩm làm ra đã tự túc được 100% cày 51, 38% nông cụ thường, số lượng sản phẩm

Trang 32

tăng, phong phú về chủng loại, phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Ngoài ra thủ công nghiệp còn cung cấp nguyờn vật liệu cho công nghiệp Trung ương So với năm 1963, giá trị tổng sản lượng thủ công nghiệp tăng 15%, công nghiệp tăng 6,9% Riêng thương nghiệp của tỉnh nhà từ năm 193 trở đi có điều kiện thuận lợi hơn để phảt triển do giao thông vận tải, đường xá được quan tâm chú trọng sửa chữa

và mở rộng, nhất là các tuyến đường nối liền các chợ, các trung tâm kinh tế của cỏc xó, huyện trong tỉnh cũng như giữa tỉnh nhà với các tỉnh bạn

Tháng 10/1964 Hội nghị ban chấp hành Đảng bộ tỉnh được triệu tập đã xác định năm 1965 là năm quyết tâm kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Riêng đối với ngành công nghiệp, tỉnh ủy đề ra phương hướng quy hoạch vùng sản xuất công nghiệp chủ yếu cho từng huyện sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địa phương Ở Sơn Dương có 3 vùng: dứa và chẩu ở hạ huyện, lạc và mía ở trung huyện, chè ở thượng huyện Ở Yên Sơn có 2 vựng: chố ở hạ huyện; mía, dứa, đỗ tương ở trung và thượng huyện Ở Hàm Yờn cú 2 vựng: cõy tinh dầu và đỗ tương; vựng bụng Ở Chiờm Hoỏ cú 3 vựng: chố ở thương huyện và tả ngạn sụng Gâm; bụng và chè ở thượng huyện và hữu ngạn sụng Gâm; đỗ tương ở trung và hạ huyện Ở Na Hang có 2 vùng trồng các loại cây chủ yếu là chố, bụng và đỗ tương

Như vậy cùng với sản xuất nông nghiệp, tỉnh cũng có chủ trương toàn diện hơn về phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp địa phương Trong

đó nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của công nghiệp địa phương là phục vụ nhu cầu sản xuất và cuộc cách mạng kĩ thuật trong các ngành kinh tế

Bước sang năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ “lan” đến Tuyên Quang Nhiệm vụ chiến đấu chống lại các hành động phá hoại của chúng trên quê hương đã thu hút một số lượng lớn nam giới vào quân ngũ làm cho vấn đề nhân công trong sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của tỉnh rơi vào tình trạng thiếu hụt trầm trọng Tuy nhiên vấn đề này cũng nhanh chóng

được giải quyết nhờ có tinh thần “3 sẵn sàng” của phụ nữ trong toàn tỉnh Chị

em sẵn sàng thay thế nam giới tiếp quản mặt trận sản xuất công nghiệp, thủ

công nghiệp, sôi nổi tham gia phong trào thi đua “Luyện tay nghề, thi thợ

Trang 33

giỏi” hay “chắc tay búa vững tay sỳng”,…phấn đấu đạt 10 triệu mét vải cho

miền Nam, sản xuất được nhiều mặt hàng giá rẻ,…

Sư chỉ đạo sâu sát của Tỉnh uỷ làm cho chị em công nhân ngành công nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp nhanh chóng nhận thức được nhiệm

vụ của mình trong sản xuất cũng như đặc trưng của ngành mình Quyết tâm đạt mục tiêu đề ra đã trở thành động lực thúc đẩy chị em hăng say làm việc hơn nữa, tích cực năng động hơn nữa, tìm ra cách thức đơn giản mà đem lại hiệu quả cao trong sản xuất Do thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa công nghiệp với nông nghiệp nên chị em càng cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ nông nghiệp Chị em ngành nông nghiệp lập thành tích, đưa nền nông nghiệp phát triển đi lên, tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển và cuối cùng là đưa nền kinh tế đất nước bước vào một trình độ mới

Như vậy công nghiệp – thương nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Tuyên Quang từ chỗ bị tàn phá nặng nề và hầu như trở nên tê liệt sau kháng chiến chống Phỏp đó dần được khôi phục lại Thậm chí nhờ có những chính sách phát triển đúng đắn, sự quan tâm kịp thời của tâng lớp lãnh đạo tỉnh, nó đó cú những sự khởi sắc nhất định, tạo cơ sở cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế toàn tỉnh nói chung phát triển đi lên

Từ chỗ sản xuất độc canh với kĩ thuật lạc hậu, cho năng suất thấp, đến lúc này nông nghiệp tỉnh bắt đầu phát triển toàn diện, diện tích canh tác không ngừng tăng Vì vậy đã giải quyết được phần lớn nhu cầu lương thực - thực phẩm và nguyên vật liệu cho các ngành kinh tế khác

Tháng 8/1964 đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân Bối cảnh lịch sử có nhiều thay đổi Từ đây quân dân miền Bắc bước vào thời kỳ vừa lao động sản xuất xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu chống Chiến tranh phá hoại lần 1 của đế quốc Mỹ Trong bối cảnh nam giới được huy động vào quân đội, phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn Nhằm phát huy vai trò đó, tháng 3/1965 Ban chấp hành Trung ương

Hội Liờn hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào “Ba đảm đang” với nội

dung là: đảm đang việc nhà và nuôi dạy con cái để chồng con đi chiến đấu; đảm đang sản xuất thay thế chồng con đi chiến đấu; đảm đang chiến đấu và

Trang 34

phục vụ chiến đấu , động viên chồng con đi chiến đấu, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Ở Tuyên Quang, ngày 24/07/1965 không quân Mỹ bắt đầu đánh phá Ngay lập tức Đảng bộ tỉnh đó cú những nhận định cụ thể, xác định những thuận lợi, khó khăn, khẳ năng chiến đấu và chiến thắng Chiến tranh phá hoại của nhân dân tỉnh nhà Theo đó nhiệm vụ chung của toàn tỉnh trong hoàn cảnh

mới được xác định là: “Ra sức tăng cường đoàn kết dân tộc… Xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tăng cừơng tiềm lực kinh tế, quốc phũng…vừa sản xuất vừa chiến đấu, xây dựng tỉnh ta thành một căn cứ địa cách mạng, góp phần bảo vệ miền Bắc, chống chiến tranh phá hoại của địch

và tích cực chi viện cho miền Nam… hoàn thành và sẵn sàng hoàn thành mọi

kế hoạch của Đảng, nhà nước giao phó cho…” Đồng thời Đảng bộ tỉnh cũng

chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương thực hiện việc chuyển hướng mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến

Thực hiện theo sự chỉ đạo của cấp trên, ngày 25/03/1965 Tỉnh Hội Phụ

nữ Tuyên Quang phát động phong trào thi đua “Ba đảm đang” trong phụ nữ

toàn tỉnh, chỉ đạo đẩy mạnh củng cố các chi hội, đào tạo cán bộ nữ thay thế nam giới đi chiến đấu và công tác, xây dựng tác phong lãnh đạo nhanh nhạy, đi sâu đi sát cơ sở Mặt khác, động viên khen thưởng kịp thời để khích lệ tinh thần chị em, đưa phong trào hội phát triển theo kịp sự vận động của cách mạng

cả nước Nếu như trước đó phong trào “Năm tốt” được tiến hành đã rất phù

hợp với chức năng người mẹ, đáp ứng nhiệm vụ bước đầu xây dựng Chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc thì trong điều kiện mới lúc này phong trào “Ba đảm đang”

vừa có tác dụng phát huy cao độ tinh thần yêu nước của toàn thể phụ nữ, vừa khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường của chị em vươn lên giỏi việc nước, đảm việc nhà, thay thế nam giới đi chiến đấu Từ đó vị thế của người phụ nữ trong

gia đình và trong xã hội được nâng cao Phong trào “Ba đảm nhiệm” là một bộ

phận khăng khít rất cơ bản, to lớn trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta

Lực lượng phụ nữ nông dân vô cùng hùng hậu, với khí thế “tay cày tay sỳng” đã sôi nổi thi đua đảm đang thay thế nam giới làm chủ đồng ruộng, giải

quyết tình trạng căng thẳng về nhân công, nhân lực, phấn đấu đạt năng suất 5 tấn/ ha Các nữ thanh niên và trung niên ra sức học tập, áp dụng thành thạo kĩ

Trang 35

thuật mới, xử lí giống, nhân lai và ghép giống mới, làm bèo hoa dâu, bón phân đạm thẳng gốc lúa, cấy thẳng hàng vuông góc, sử dụng cào cỏ cải tiến Không những thế, chị em còn hăng hái học cày bừa, nhiều hợp tác xã tổ chức cho chị

em học cày, bừa, lỏi mỏy cày, máy bừa, máy xay xát lỳa,… Những công cụ hữu ích khác như liềm xén gặt lúa, vận chuyển bằng xe cải tiến,… được chị em

sử dụng thành thạo, các phong trào thâm canh tăng vụ, tận dụng đất canh tác hoang hoá hoặc chưa khai phá được nhân rộng Ở đâu cũng có những người phụ nữ căn cơ tằn tiện, tiết kiêm từng đồng tiền, bát gạo, để phục vụ cho công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội Ở đâu cũng gặp những người phụ nữ chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, tính toán sáng tạo và nhiệt tình tiếp thu kĩ thuật để xây dựng quê hương, chỗng Mỹ cứu nước

Bằng lòng yêu nước, đức hi sinh và ý chí vươn lên học tập,rốn luyờn, chị em phụ nữ Tuyên Quang từng bước trưởng thành Đã có rất nhiều chị đạt trình độ sơ cấp, trung cấp, đảm nhận các chức vụ chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, đội trưởng các đội sản xuất Xã hội chủ nghĩa Kết quả: năm 1965 nông nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch các chỉ tiêu về ngô, đỗ, mía, vừng, trồng rừng, bảo vệ và chăm sóc rừng, chăn nuôi lợn, gà, cỏ Cỏc chỉ tiêu về lúa, chăn nuôi trõu, bũ, cỏc loại cây hoa màu khác sắn, khoai,… đều đạt mức xấp xỉ kế hoạch được giao Xuất hiện nhiều hợp tác xã đạt năng suất lớn hơn 45 tạ/ha như: hợp tác xã Đồng Vàng – Chiờm Hoỏ (57 tạ / ha), hợp tác xã Yên Bình – Chiờm Hoỏ (53 tạ/ha); thị xã Tuyên Quang (47 – 48 tạ/ha) Công tác chăn nuôi cũng đạt được những bước tiến mới: năm 1965 ta có 55.620con trâu, 90.976 con lợn, so với năm 1960 thu nhập bình quân của một nhân khẩu nông nghiệp tăng, giá trị tổng sản lượng chăn nuôi tăng 21,95% Chị em phụ nữ thị xã Tuyên Quang giữ vững lá cờ đầu toàn miền Bắc về thành tích nuôi lợn, gửi tiền tiết kiệm, được Trung ương hội cấp bằng khen và cờ luân lưu năm 1965

Ngoài các phong trào do Tỉnh hội phụ nữ phát động, chị em còn hưởng

ứng các phong trào thi đua khác do tỉnh đề ra như: phong trào “Bốn chống, ba chăm, năm giỏi”, phong trào “Vụ mùa thắng Mỹ”, phong trào “thửa ruộng Nguyễn Văn Trỗi”, khẩu hiệu “ngày làm không đủ tranh thủ làm đờm” Chị

em không quản nắng mưa, trưa, tối, giỳp cỏc hợp tác xã lao động ngoài giờ

Trang 36

làm bờ vùng, bờ thửa, tát nước, gỏnh phõn, tát nước, nhổ mạ, bừa, cấy,… dưới ánh đuốc bập bùng hay tận dụng những đêm trăng sáng Không khí lao động sản xuất nhộn nhịp, khẩn trương bao trù khắp mọi nơi Chị em phụ nữ Tuyên Quang cựng quõn và dân toàn tỉnh hăng say lao động dưới làn mưa bom bão đạn của Đế quốc Mỹ Vì vậy có thể khẳng định đây cũng là một mặt trận vô cùng quyết liệt và mỗi người phụ nữ là một chiến sỹ anh hùng trên mặt trận ấy.

II Cải tạo Xã hội chủ nghĩa:

Tháng 11/1958 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 đã

đề ra kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế - xã hội và cải tạo Xã hội chủ nghĩa (1958-1960) đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công tiểu thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh Hoà vào khí thế chung ấy, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang nói chung và phụ nữ Tuyên Quang nói riêng bước vào công cuộc cải tạo Xã hội chủ nghĩa quê hương mình với 2 nhiệm vụ cụ thể đã được Tỉnh hội xác định đó là: Thứ nhất vận động phụ

nữ tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, chính phủ và Trung ương hội Thứ hai: xây dựng củng cố tổ chức hội tuyên truyền giáo dục chính trị cho hội viên

1 Trong nông nghiệp:

Năm 1958, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 đề ra chủ trương phát triển kinh tế - văn hoá trong 3 năm 1958-1960 và tiến hành cải tạo Xã hội chủ nghĩa Trong đó đối với miền núi, Trung ương chủ trương: việc cải tạo Xã hội chủ nghĩa phải vận dụng phù hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ chống phong kiến Tiếp đú thỏng 4/1959, Hội nghị lần thứ 16 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra nghị quyết với nội dung tập trung vào vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Với mục đích giúp miền núi có được bước đi thích hợp trong cải tạo Xã hội chủ nghĩa Tháng 8/1959, Bộ Chính trị ra nghị quyết về tiến hành cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất nông nghiệp, kết hợp hoàn thành công cuộc cải cách dân chủ ở vùng núi phía Bắc

Theo chủ trương chung của Trung ương, đầu năm 1958 Tỉnh uỷ Tuyên Quang tiến hành xây dựng nhiệm vụ trước mắt của Tỉnh là : bước đầu đi vào cải tạo nền kinh tế tiểu nông, hướng nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể,

Trang 37

ra sức củng cố và phát triển phong trào tiến tới hợp tác hoá sản xuất nông nghiệp Ngay lập tức công cuộc cải tạo Xã hội chủ nghĩa trên quê hương được tiến hành Đầu vụ mùa năm 1958, hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của Tỉnh được thành lập tại thôn Dàm xã Tứ Quận huyện Yên Sơn Toàn bộ chị em phụ

nữ trong thôn đều vào hợp tác xã Phong trào nhanh chóng được nhân rộng Đến cuối năm 1958, đã có 3.254 tổ đổi công với 15.844 hộ nông dân, chiếm 79% tổng số hộ nông dân toàn Tỉnh Đầu 1959, Tỉnh đã lập được 78 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó rất nhiều chị là uỷ viên ban quản trị, uỷ viên kiểm soát hoặc tổ trưởng, tổ phó tổ lao động của hợp tác xã Riêng ở xã Tứ Quận huyện Yên Sơn, trong 194 xã viên của 4 hợp tác xã đó cú 111 xã viên, 7 uỷ viên ban quản trị, 6 tổ phó lao động là nữ Ở hợp tác xã Tõn Yờn – Nhân Mục – Hàm Yờn cú đến 30/50 lao động là nữ

Qua quá trình vận động, tuyên truyền, tổ chức học tập chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước và thực tế lao động, sản xuất chị em đã thấy được tính ưu việt của con đường làm ăn tập thể, tích cực tham gia cải tạo Xã hội chủ nghĩa Nhận thức được hợp tác hoá là con đường phát triển tất yếu của nông dân trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội

Giữa năm 1959, Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Tuyên Quang được tổ chức

đã đánh giá lại toàn bộ những gì đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại của phong trào phụ nữ trong những năm vừa qua, đồng thời đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới Tháng 10/1959 Tuyên Quang quyết định thí điểm thực hiện cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất tại 3 xã Đà Vị (Na Hang), Mỹ Lõm (Yờn Sơn), Tam Đa (Sơn Dương) Sau đó

từ 10/59 – 10/1960, tỉnh tiến hành được 3 đợt thực hiện cuộc vận động hợp tác hoá kết hợp hoàn thành công cuộc cải cách dân chủ Các tổ công tác phụ nữ xuống từng thôn bản tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu rõ đường lối chủ trương của Đảng và lợi ích của con đường làm ăn tập thể Các tài liệu học tập trong những cuộc sinh hoạt riêng của phụ nữ cấp xó đó chỉ rõ: Taị sao người phụ nữ nông thôn phải ở trong hai tổ chức Nông hội và Hội phụ nữ?; Vào Nông hội và Hội phụ nữ để làm gì?, Nhiệm vụ đối với Nông hội và Hội phụ nữ? Nhờ đó, chị em tự nguyện tham gia hợp tác xã, tích cực học tập chính sách cải tạo dân chủ và xây dựng hợp tác xã

Trang 38

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích đáng kể nhưng trên thực tế trong quá trình tiến hành cải tạo Xã hội chủ nghĩa vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn, thử thách Nguyên nhân của tình trạng này là do sự gò ép, chạy theo thành tích, nóng vội, bỏ qua, đốt cháy giai đoạn, sự hạn chế về trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý của ta, trình độ hiểu biết của nhân dân chưa cao, dân

cư và ruộng đất phân tán Mặt khác, một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân còn chưa ý thức được hết ý nghĩa của công tác đổi công, của các hợp tác xã nông nghiệp đối với sự phát triển của nông thôn và nền kinh tế đất nước theo con đường Xã hội chủ nghĩa Trong khi đó những tàn tích của chủ nghĩa thực dân phong kiến vẫn còn tồn tại, đặc biệt là ở những nơi chưa qua thực hiện phát động quần chúng giảm tô Đứng trước tình hình đó, đầu 1960, Tỉnh Hội Phụ nữ phát động phong trào thi đua, chỉ đạo các cấp hội lấy kinh nghiệm những năm trước để lãnh đạo phong trào Các cấp hội tổ chức cho hội viên học tập kế hoạch năm 1960, phát huy vai trò của chị em trong lao động sản xuất Toàn tỉnh đó cú

140 cơ sở hội, 122/167 xã, khu phố tổ chức học tập, vận động chị em tham gia hợp tác xã hưởng ứng các phong trào thi đua trong nông nghiệp

Kết quả: 90% phụ nữ tham gia hợp tác xã và ngày càng thể hiện được vị trí vai trò trong sản xuất Đến cuối 1960, Tuyên Quang cơ bản hoàn thành cải tạo Xã hội chủ nghĩa Toàn Tỉnh có 770 hợp tác xã nông nghiệp, trong 519 hợp tác xã đó cú 15.714 nữ xã viên, 483 chị em tham gia vào ban quản trị hợp tác

xã, chiếm 18% tổng số uỷ viên quản trị Đặc biệt, đội ngũ cán bộ và dân tộc thiểu số có xu hướng tăng lên Trong 2 năm 1963 và 1964 Tỉnh hội tập trung thực hiện công tác bồi dưỡng giáo dục chị em cán bộ cơ sở với việc mở được

23 lớp cho 1.360 uỷ viên Ban chấp hành phụ nữ và nữ uỷ viên Ban quản trị hợp tác xã, uỷ viên Uỷ ban hành chính Nhận thức tư tưởng chính trị của chị

em nhờ đó được nâng lên 1 bước Năm 1965, năm cuối của thực hiện kế hoạch

5 năm lần thứ 1, phong trào phụ nữ của Tỉnh giành thành tích lớn trên mọi lĩnh vực

Về sản xuất: toàn tỉnh có 871 hợp tác xã, 35.400 / 55.915 xã viên là nữ, trong đó có 3 nữ chủ nhiệm, 17 nữ phó chủ nhiệm, 300 chị là đội trưởng, đội phó sản xuất Thành tựu quan trọng nhất là phong trào hợp tác hoá đang chuyển mạnh từ bậc thấp lên bậc cao, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ

Trang 39

thuật của mình Năm 1964 toàn tỉnh có 727 hợp tác xã, trong đó có đến 366 hợp tác xã bậc cao Một năm sau đó (tức 1965) toàn tỉnh có 871 hợp tác xã, trong đó 472 hợp tác xã là hợp tác xã bậc cao Nhiều hợp tác xã đã có nhà kho, sân phơi, cơ sở chăn nuôi sản xuất giống, trạm, trại,… của mình.

Như vậy có thể thấy được rằng trong suốt những năm 1961 – 1965 chị

em phụ nữ toàn tỉnh Tuyên Quang đã phấn đấu không ngừng trong công cuộc cải tạo Xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp Nhờ đó, mà đạt được những thành tích xuất sắc, thành lập được các hợp tác xã, hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, tích cực tuyên truyền vận động chị em phụ nữ cũng như quần chúng nhân dân hiểu chủ trương chính sách của Đảng Từ đó mà tự nguyện tham gia hợp tác

xã, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua lao động sản xuất, đem lại kết quả cao, góp phần vào thắng lợi chung của toàn tỉnh

2 Trong công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp:

Việc cải tạo Xã hội chủ nghĩa trong các ngành công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp đã được quan tâm đến ngay từ đầu thời kỳ khôi phục kinh tế và cải tạo Xã hội chủ nghĩa trong toàn tỉnh Tuy nhiên, trong những năm đầu, do nông nghiệp đóng góp vai trò quan trọng, là thành phần chủ đạo của kinh tế tỉnh nhà nên việc đầu tư khôi phục và cải tạo Xã hội chủ nghĩa phần nào được chú trọng hơn Còn công nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp do còn chậm phát triển và chưa đóng vai trò quan trọng nên kết quả của quá trình cải tạo trong các ngành này chưa thực sự nổi bật Chỉ từ năm 1959 trở đi, đặc biệt là thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) thì việc cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, công – thương nghiệp tư bản tư doanh mới diễn ra với tốc độ nhanh gọn hơn

Chị em phụ nữ trong ngành công nghiệp – thủ công nghiệp –thương nghiệp chiếm tỷ lệ lớn so với tổng số lao động của toàn ngành, nhưng lại không tập trung mà phân tán ở nhiều nơi đặc biệt là trong thương nghiệp Vì vậy để giúp chị em hiểu rõ về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác cải tạo Xã hội chủ nghĩa, các hội viên Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh được cử đến từng xưởng, từng cơ sở sản xuất, từng quầy hàng, mang theo các tờ rơi với nội dung tuyên truyền vận động vào hợp tác xã cho từng người

Trang 40

Nhờ đó chị em buôn bán hay làm trong các xưởng thủ công thấy được lợi ích của việc tham gia vào các tổ, hội sản xuất Xã hội chủ nghĩa và tình nguyện ra nhập.

Từ 10/1959 Tuyên Quang đã hoàn thành 2 đợt cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với Tư sản công – thương nghiệp Công nghiệp quốc doanh bắt đầu được xây dựng và phát triển Năm 1959 tỉnh cho xây dựng mới xí nghiệp cơ khí sửa chữa nhỏ, mỏ phốt phát Thịnh Cường (Hàm Yên), mở rộng một số nhà máy điện, xưởng in Từ tháng 10 năm 1959 đến tháng 4 năm 1960, tỉnh tập trung thực hiện cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh Chị em tự giác học tập thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp Riêng thị xã đó cú 292 chị em vào hợp tác xã tiểu thương, gần 200 chị

em buôn bán hàng rong vào các hợp tác xã cấp thấp Cuối năm 1960 đó cú 98% số hộ tiểu thủ công nghiệp và 66,4% số hộ tiểu thương vào hợp tác xã

Nhiệm vụ chung đặt ra cho toàn bộ quá trình cải tạo này được xác định là:

“tớch cực củng cố các hợp tác xã hiện có Mặt khác, xây dựng cơ sở thủ công nghiệp ở các huyện và trong các hợp tác xã nông nghiệp, củng cố và phát triển công nghiệp quốc doanh”

Từ chủ trương chung đó, Tỉnh Hội Phụ nữ Tuyên Quang tiến hành phân tích tình hình – nhiệm vụ cụ thể và nhận thấy: đây là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo các hộ thủ công cá thể, tiểu thương, công thương nghiệp tư bản tư doanh với xây dựng, xác lập vai trò chủ đạo của công nghiệp quốc doanh, thủ công nghiệp địa phương và hệ thống thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa Đồng thời đây cũng là quá trình giáo dục, nâng cao giác ngộ Xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ tập thể, tinh thần phục vụ nhân dân cho xã viên hợp tác xã, công nhân, thợ thủ cụng,… Vì vậy trong năm 1961 tỉnh đó cú 94 cửa hàng mua bán,

84 trạm thu mua và 27.018 xã viên hợp tác xã mua bán Sang năm 1962 tỉnh tiến hành cải tạo tạo xong 99,9% hộ tiểu thương, thành lập 52 hợp tác xã và tổ mua bán với 559 xã viên; 160/161 xó đó thành lập hợp tác xã tín dụng Cũng trong năm 1961 có 97,2% số chị em tiểu thương và phục vụ ăn uống đã vào hợp tác xã, nhiều chị em đã chuyển từ buôn bán sang sản xuất và 97,3% số chị

em làm nghề thủ công vào hợp tác xã

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
Phụ nữ Việt Nam. Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Năm: 1957
Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại. Lê Thị Nhâm Tuyết. NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội 1973 Khác
Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại. NXB Khoa học Xã Hội, 1975 Khác
Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang chống Mỹ cứu nước. NXB Phụ Nữ, Hà Nội 1966 Khác
Truyền thống cách mạng phụ nữ tỉnh Tuyên Quang (1937 – 2001). Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang, 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w