Tuy nhiên, trong quá trìnhhội nhập của Việt Nam các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu những vấn đềcủa Việt Nam liên quan đến một tổ chức cụ thể như sự kiện Việt Nam gianhập tổ chức ASEAN
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam bên cạnh nhữngthuận lợi phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, bao gồm cả những yếu tố nộitại trong nước và những yếu tố bên ngoài tác động, khiến cho kinh tế xã hộiViệt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng Trong bối cảnh đó Hội nghị đạibiểu toàn quốc lần VI của Đảng cộng sản (ngày 15 đến 18/12/1986) đã diễn
ra Thành công của Đại hội VI đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diệncủa nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bước vào một giaiđoạn lịch sử phát triển mới với những thành tựu và tiến bộ to lớn mà ngàynay chóng ta đang chứng kiến Tất cả những chuyển biến tốt đẹp Êy đềubắt nguồn từ cải cách đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, toàn Đảng, toàn dân takiên trì và dũng cảm thực hiện
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành công tolớn Để đạt được những kết quả Êy là do nhiều nguyên nhân, trong đó cónguyên nhân là Việt Nam đã biết tận dụng sức mạnh thời đại Vì vậy tìmhiểu quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế thông qua các tổ chức kinh tếtrong khu vực và trên thế giới sẽ giúp hiểu rõ hơn công cuộc đổi mới củanước ta từ năm 1986 đến nay
Hiện nay nước ta ngày càng mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tếnhằm tiến kịp với bước tiến của thời đại , và cũng nhằm tận dụng những cơhội, những nguồn lực của thế giới phục vụ cho sự nghiệp phát triển đấtnước Những bài học thành công hoặc chưa thành công trong quá trình hộinhập quốc tế của Việt Nam là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giátrên bước đường sắp tới của dân téc
Chính từ những lÝ do trên đây nên tôi đã quyết định lùa chọn nghiên
cứu đề tài " Việt Nam - quá trình hội nhập thông qua các tổ chức khu vực
Trang 2và thế giới trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" làm khoá luận tốt nghiệp của
mình
2 Lịch sử vấn đề
Việt Nam tiến hành hội nhập thông qua việc tham gia vào các tổchức khu vực và thế giới là vấn đề thu hót sự chú ý của nhiều nhà nghiêncứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như :nhà báo, nhà kinh tế học nhưnglại vắng bóng của các nhà nghiên cứu lịch sử Tuy nhiên, trong quá trìnhhội nhập của Việt Nam các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu những vấn đềcủa Việt Nam liên quan đến một tổ chức cụ thể như sự kiện Việt Nam gianhập tổ chức ASEAN, tác giả Đào Huy Ngọc cùng một số tác giả khác cho
ra đời cuốn sách với nhan đề: "ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam" đãkhai thác những chuyển biến của đất nước khi gia nhập tổ chức, đánh giáthành tựu đạt được bên cạnh những khó khăn thách thức
Năm 1996 việc tham gia vào Hội nghị Á - Âu (ASEM) là một thànhcông lớn của Việt Nam Tác giả Hoàng Lan Hoa đã hoàn thành cuốn sách
"ASEM V - cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập Á - Âu" năm
2004 Đến năm 2006, tác giả Nguyễn Huy Quý đưa đến một cái nhìn toàndiện hơn về tổ chức này cũng như vai trò của Việt Nam trong tổ chức, điều
đó thể hiện cụ thể qua cuốn sách "Tiến trình hợp tác Á - Âu và những đónggóp của Việt Nam"
Dùa trên nền tảng cơ sở đã gây dựng được, Việt Nam tiếp tục đẩymạnh tiến trình hội nhập, tham gia vào các tổ chức mang tính chất liên khuvực và quốc tế, cụ thể là diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái BìnhDương năm 1998, tổ chức Thương mại thế giới năm 2006 với những thànhcông đã thể hiện bước tiến dài của Việt Nam vào sân chơi quốc tế, có điềukiện mở rộng quan hệ buôn bán với các nước, tạo ra những mặt hàng tốt cótính cạnh tranh cao, tuy nhiên còn rất nhiều thách thức trên con đường hộinhập của Việt Nam Điều đó được thể hiện rất rõ qua một số cuốn sách như
Trang 3APEC và sự tham gia của Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội
-2006, Thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thếgiới (WTO), NXB Lao động xã hội, Hà Nội - 2006
Các tác phẩm và các bài viết trên đây đề cập một cách cụ thể đến quátrình Việt Nam gia nhập tổ chức, những đóng góp của nước ta trong tổchức, trở thành nguồn tư liệu quý gợi mở cho những người đi sau nhữnghướng nghiên cứu mới Tuy nhiên, vấn đề các nhà nghiên cứu lùa chọn lạichưa đề cập đến vấn đề mà tôi quan tâm, đó là cái nhìn toàn diện về quátrình hội nhập của Việt Nam Do vậy, tôi đã quyết định lùa chọn đề tài:
"Việt Nam - quá trình hội nhập thông qua các tổ chức khu vực và thế giới trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" để nghiên cứu.
3 Phạm vi nghiên cứu
- Vấn đề nghiên cứu: Khóa luận chỉ tìm hiểu quá trình hội nhập củaViệt Nam thông qua việc Việt Nam gia nhập các tổ chức lớntrong khu vực và trên thế giới
- Thời gian : 1986 _ 2006
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này tôi dùa trên phương pháp luận mác xíttrong nghiên cứu Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là phươngpháp nghiên cứu chủ yếu trong đề tài này Ngoài ra tôi còn sử dụng cácphương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh làm nổi bật vấn đề nghiên cứu
5 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu tôi dùa vào một số nguồn tư liệu sau:
- Các sách chuyên khảo, tham khảo
- Các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc từ 1986 đến nay
- Các bài báo, tạp chí như Tạp chí quan hệ quốc tế, Tạp chí nghiêncứu kinh tế, Báo tài chính Việt Nam, Báo Lao động
Trang 4- Các bản tin hàng ngày, tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xãViệt Nam có liên quan
6 Đóng góp của khoá luận
Với đề tài khoá luận tốt nghiệp sẽ góp phần làm sáng tỏ thành côngcủa Việt Nam trên bước đường hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việctham gia vào các tổ chức khu vực và thế giới Qua đó nâng cao nhận thứccủa mỗi người đối với sự nghiệp đổi mới đất nước Đó là đóng góp mangtính khoa học và thực tiễn từ việc nghiên cứu đề tài này
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khoá luận được chia thành 3chương:
Chương 1: Tình hình thế giới và Việt Nam trong những thập niên
cuối thế kỷ XX
Chương 2: Quá trình Việt Nam hội nhập vào các tổ chức khu vực và
thế giới
Chương 3: Những tác động của quá trình hội nhập thông qua các tổ
chức khu vực và quốc tế đối với Việt Nam
Trang 5Dưới tác động của cuộc cách mạng này, sự chuyên môn hóa ngàycàng sâu và chi tiết dẫn đến sự hợp tác giữa các nước mở rộng khắp toàncầu, làm cho các nền kinh tế thế giới liên kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, phụthuộc lẫn nhau Kinh tế thế giới đang được kết nối như một chỉnh thể, mà xuhưóng chung là không nước nào đứng ngoài cuộc Do vậy, từ thập niên 70của thế kỷ XX đến nay một trào lưu cải cách, cải tổ, điều chỉnh, đổi mớiđang diễn ra trên phạm vi thế giới, không phân biệt chủ nghĩa tư bản, chủnghĩa xã hội, các nước phát triển hay các nước đang phát triển, chậm pháttriển
Toàn cầu hóa hiện nay đang đem lại những cơ hội to lớn cho cácnước nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ Về kháchquan, toàn cầu hóa kích thích tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các doanhnghiệp cải tiến công nghệ và quản lý, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăngcường thu hót vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận được những công nghệ kỹthuật hiện đại Đối với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa kinh tế đã tạo
Trang 6điều kiện cho các quốc gia nhanh chóng tham gia vào quá trình phân cônglao động quốc tế Từ đó hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả
và sức cạnh tranh cao, rút ngắn được tiến trình hiện đại hóa
Toàn cầu hóa về cơ bản đều mang lại lợi Ých cho tất cả các quốc gia.Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng có những tác động xấu đến nền kinh tế cácnước Tình trạng cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt, nảy sinh vấn đề phásản, thất nghiệp Ở các nước đang phát triển hiện nay , sự cạnh tranh ngàycàng khốc liệt và không bình đẳng trong các quan hệ kinh tế thương mại.Tham gia tù do hóa thương mại buộc các nước phải tuân theo những quyđịnh của tự do cạnh tranh, nghĩa là phải mở cửa thị trường, dỡ bỏ các hàngrào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài,loại bỏ các hạn chế đầu tư Trong điều kiện hầu hết nền kinh tế của cácnước đang phát triển còn đang ở một trình độ thấp kém thì chính sự tự docạnh tranh này đặt họ trước những thách thức vô cùng to lớn
Toàn cầu hóa mở ra cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, songchính điều đó lại bao hàm cả khả năng phụ thuộc rất lớn vào các nhà đầu
tư Sự lệ thuộc này dồn các nước vào tình thế phải đối mặt với nhiều rủi ro
do biến động thị trường, giá cả
Nhận thức đầy đủ những cơ hội và thách thức do toàn cầu hóa manglại ta thấy liên kết kinh tế là yêu cầu khách quan của sự phát triển Trongđiều kiện khoa học công nghệ hiện đại đổi mới từng ngày từng giê, bất cứlúc nào cũng đều không thể có được toàn bộ những nguồn lực mà sự pháttriển kinh tế nước mình cần đến, không thể nắm được tất cả các công nghệtiên tiến và cũng ngày càng khó độc quyền được công nghệ mới, sự tiến bộcủa khoa học kỹ thuật, sự phát triển liên tục và sự sắp xếp các yếu tố sảnxuất của một nước ngày càng cần phải thông qua sự hợp tác và trao đổiquốc tế mới thực hiện được một cách có hiệu quả Điều này đòi hỏi tất cảcác nước đều phải tham gia vào hợp tác khu vực và thế giới Liên kết kinh
Trang 7tế thương mại quốc tế mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, các thành tựukhoa học kĩ thuật và sản xuất được phổ biến rộng rãi hơn, nhanh hơn Tínhđến năm 2006 trên toàn thế giới có khoảng 24 tổ chức liên kết kinh tế khuvực có quy mô lớn với những mức độ quan hệ khác nhau, nhiều quốc giađồng thời là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế Nếu các nước tận dụngđược cơ hội của toàn cầu hóa sẽ đem đến những phát triển nhanh chóng,ngược lại sẽ bị tụt hậu về kinh tế, những khó khăn tiềm Èn trong các lĩnhvực khác như thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, nguy cơ về ổnđịnh hòa bình xã hội Việt Nam, một nước đang phát triển cũng đã nhậnthức một cách đầy đủ về xu thế phát triển của thời đại, qua đó từng bước
có những điều chỉnh hợp lý đưa đất nước phát triển trên con đường côngnghiệp hoá - hiện đại hoá trong xu thế hội nhập với khu vực và thế giới
1.1.2 Hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, xu hướng hình thành một trật tự thế giới mới.
Những năm cuối thế kỷ XX trên thế giới có những biến động to lớn,năm 1989 được nhiều giới coi là năm đánh dấu sự kết thúc thời kì chiếntranh lạnh, mở ra một kỉ nguyên mới dẫn tới chỗ phá vỡ hình thái hai phe,hai cực Tiếp đó là sự tan rã và sụp đổ nhanh chóng của chế độ xã hội chủnghĩa tại Liên Xô và Đông Âu, đã làm thay đổi một cách cơ bản cục diệnthế giới và đời sống chính trị, xã hội quốc tế, đặt ra cho mỗi quốc gia mộtloạt các vấn đề trọng đại và mới mẻ về mọi mặt của xã hội Sự tan rã củaLiên Xô, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên và lớn nhất, một trong hai siêucường của thế giới đã làm thay đổi trật tự quốc tế cũ, một trật tự thế giớimới đang dần được hình thành
Với sự kiện trên đã tạo ra hậu quả sâu rộng về mọi mặt trên thế giới,các mối quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân sự đã tồn tại trong 45năm qua bị đảo lộn Vì không còn đối thủ nguy hiểm là Liên Xô, nên các
Trang 8nước tư bản lúc này không muốn nóp dưới cái ô bảo hộ của Mỹ nữa nênđang trong quá trình đi tìm đồng minh mới.
Cuộc chạy đua vũ trang trong phạm vi thế giới theo xu hướng dịubớt, và nhanh chóng chuyển sang cuộc chạy đua về kinh tế và khoa họccông nghệ, tạo ra môi trường quốc tế tương đối hoà dịu, cởi mở, làm choviệc phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước diễn ra thuận lợi hơn Buônbán quốc tế, đầu tư quốc tế, trao đổi khoa học công nghệ có điều kiện pháttriển
Xu hướng ưu tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn cả cộng đồngquốc tế, những nước công nghiệp phát triển cũng như những nước đangphát triển, kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợpcủa mỗi quốc gia, giữ vị trí chủ đạo trong quan hệ quốc tế ngày nay
Xuất phát từ nhu cầu tăng cường phát triển kinh tế, thì việc liên kếthợp tác khu vực trở thành một đòi hỏi khách quan với bất cứ nước nào.Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kinh tế đưa đến sựtuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hoá.Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị
- xã hội khác nhau, không câu nệ đối tượng, với tất cả những ai có khảnăng hợp tác hiệu quả, việc xác định bạn, thù, hình thức và mức độ quan hệtrở nên rất linh hoạt Nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực được hìnhthành Các nước vừa và nhỏ đẩy mạnh liên kết khu vực, nhất là về kinh tế,
ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng, đồng thời có quan hệcân bằng với các nước lớn, mở rộng đối thoại và quan hệ vì lợi Ých củamình Giê đây sự phát triển kinh tế không còn bó hẹp ở phạm vi trong nước
mà mang tính chất xuyên quốc gia Lưu lượng vốn, thương mại, dịch vụ
từ nước này qua nước khác ngày càng tăng mạnh, thị trường được mở rộngtối đa Xuất phát từ bối cảnh lịch sử cụ thể trên xu hướng hội nhập là mộttất yếu mà bất kì một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế đất nước
Trang 9đều phải đặc biệt quan tâm, nếu không sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏimôi trường phát triển kinh tế thế giới, rơi vào sự tụt hậu và kém phát triển.
Trang 101.1.3 Những tác động trực tiếp từ cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc năm 1978.
Trước tiên phải khẳng định cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc diễn rakhông phải là một sự ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu của sự phát triểnlịch sử Trung Quốc và tình hình thế giới suốt ba thập kỷ trước TrungQuốc đã trải qua nhiều cuộc vận động nhằm thay đổi tình hình lạc hậu ,nghèo đói và cát cứ , phục hưng đất nước , nâng cao địa vị dân téc TrungHoa , song không thu được kết quả vì nền kinh tế khép kín , và thể chế kinh
tế kế hoạch tập trung cao độ Đặc điểm của thể chế này là " tập trung nhiều, phân tán Ýt, thống nhất nhiều, tự do Ýt" Theo đó nhà nước Trung Hoađưa ra kế hoạch nắm trực tiếp việc khống chế và phân phối sức người sứccủa, mọi hoạt động kinh tế phải tiến hành trong phạm vi quy định
Tháng 12/ 1978 Đảng cộng sản Trung Quốc họp Hội nghị trungương lần thứ 3 khoá XI đưa ra quyết định quan trọng là sửa đổi đường lốisai lầm trước đây , và quyết định chuyển trọng tâm sang xây dựng kinh tế
để hiện đại hoá đất nước , xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa với đặc điểm năng động và hiệu quả
Cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc có ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp , và ở một góc độ không nhỏ tới tiến trình phát triển của khu vực
và thế giới Việt Nam là nước láng giềng gần gũi với Trung Quốc , côngcuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc tiến hành trong vòng 15 năm đã thuhót sự chú ý đặc biệt của các nhà lãnh đạo và giới khoa học nước ta , từ cơ
sở học hỏi kinh nghiệm của nước bạn để tiến tới thay đổi nền kinh tế nôngnghiệp lạc hậu của đất nước kéo dài trong nhiều năm qua Sau khi tiếnhành cải cách , mức tăng trung bình hàng năm tổng giá trị sản phẩm trongnước của Trung Quốc là 8,9%, trong khi mức tăng của toàn thế giới là2,8% Như vậy mức tăng trưởng kinh tế Trung Quốc nhanh gấp 3,2 lần so
Trang 11với thế giới( chỉ sau Hàn Quốc với mức tăng 9,2%/ năm và có mức tăngtrưởng nhanh nhất trong số các nước lớn ) Trong khi kinh tế các nước vẫnlâm vào tình trạng suy thoái và trì trệ , thì tổng giá trị sản phẩm trong nướccủa Trung Quốc trong thập niên 90 tiếp tục tăng , Trung quốc trở thành mộtquốc gia tương đối ổn định và hùng mạnh , mét địch thủ đáng gờm cho mọiquốc gia trong cuộc chiến tranh kinh tế
Như vậy với những thành tựu đạt được, cuộc cải cách năm 1978 ởTrung Quốc đã có những tác động nhất định với các nước láng giềng xungquanh , trong đó có Việt Nam Đó không những là cuộc cải cách được ghinhận như những cố gắng lớn lao nhằm tìm lối thoát cho một quốc gia xã hộichủ nghĩa trì trệ trở nên năng động, phát triển, mà còn đóng góp nhiều kinhnghiệm cho các nước đang phát triển Với ý nghĩa đó, nhiều nhà nghiên cứu
và hoạt động thục tiễn của Việt Nam từ lâu đã quan tâm đến cuộc cải cách củaTrung Quốc Sau này khi Việt Nam tiến hành cải cách mà nhiều người chorằng cải cách kinh tế ở Việt Nam rất giống với cải cách kinh tế ở TrungQuốc , bên cạnh những hạn chế còn tồn tại đã gặt hái được rất nhiều thànhcông
Như vậy , làn sóng cải cách kinh tế diễn ra rộng khắp trên thế giới, từcuối thập kỷ 70 đã tạo nên áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới ở ViệtNam Trong bối cảnh phát triển kinh tế sôi động của thế giới , đặc biệt làcác nước trong khu vực thì Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó Tuynhiên cần nhấn mạnh rằng, công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam là sảnphẩm của chính mình, do yếu tố nội lực trong nước quyết định
1.2 Bối cảnh trong nước.
1.2.1 Nội lực nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, mô hình kinh tế kếhoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụng trong phạm vi cả nước Mặc
Trang 12dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế , nhà nước đã đầu
tư khá lớn nhưng trong 5 năm đầu ( 1976 - 1980) tốc độ tăng trưởng kinh tếrất chậm chạp , thậm chí có xu hướng giảm sút và bắt đầu rơi vào tình trạngkhủng hoảng
Trong khi nguồn viện trợ không hoàn lại của các nước xã hội chủnghĩa không còn nữa, do bản thân các nước này gặp khó khăn Hơn nữa
Mỹ thi hành chính sách bao vây cấm vận kinh tế, ngăn cản Việt Nam bìnhthường hoá quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế
Trước những khó khăn đó Đảng và Nhà nước ta tìm đến giải pháp làthực hiện điều chỉnh từ cơ sở nhằm tháo gì những vướng mắc trong cơ chếquản lý nền kinh tế, tạo điều kiện phát triển sản xuất Những điều chỉnhđầu tiên thực sự bắt đầu từ năm 1981 với việc thực hiện khoán sản phẩmcuối cùng đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp ( khoán 100 ), và cải tiến quản lý, mở rộng quyền tự chủ cho các xínghiệp quốc doanh tiếp theo đó là một số cải tiến trong lĩnh vực tài chínhtiền tệ, giá cả cũng được thực hiện, đặc biệt là cuộc tổng điều chỉnh giálương và đổi tiền tháng 09/1985
Những kết quả đạt được trong những năm 1979 - 1985 chính lànhững bước tìm tòi, thử nghiệm cho cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế
Đó là những làn sóng đầu tiên của quá trình phi tập trung hoá, xoá bá cơchế tập trung quan liên bao cấp ở Việt Nam Song những điều chỉnh cục bộchưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế và cuộc khủng hoảngtrong nước vẫn rất trầm trọng Vì vậy đổi mới toàn diện nền kinh tế trởthành một yêu cầu cấp bách đối với đất nước ta
Đại hội VI (12/ 1986) của Đảng ta là một mốc lịch sử quan trọng trêncon đường đổi mới toàn diện và sâu sắc của đất nước, trong đó trọng tâm làđổi mới kinh tế Thành công lớn của Đại hội VI là chuyển từ nền kinh tế
Trang 13quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đề ra mục tiêu, nhiệm vụ là ” Toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta đoànkết một lòng quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiệnthắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ vững chắc xã hội chủ nghĩa “[49; 37- 38 và 40 ]
Với việc thực hiện đường lối đổi mới chỉ sau 10 năm Việt Nam đãthoát khỏi tình trạng khủng hoảng nặng nề Nạn lạm phát phi mã bị đẩy lùi
từ hơn 700% năm 1986 xuống 12% năm 1995 và được kiểm soát chặt chẽ
từ trước đến nay đã góp phần đáng kể vào việc khôi phục và củng cố các cơ
sở ổn định và tăng trưởng Việc tập trung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vàtừng bước kết hợp với việc đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội đã khuyếnkhích sự phát triển của tất cả các thành phần, lực lượng kinh tế tạo nên sựthúc đẩy phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, đồng thời vẫn giữ được sự ổnđịnh vĩ mô cả về kinh tế, chính trị, xã hội, tiền đề tối cần thiết cho thànhcông của công cuộc đổi mới Ngân sách nhà nước, cán cân thương mại và
dự trữ quốc gia không ngừng được cải thiện, tạo cơ sở vững chắc cho quátrình tăng trưởng cao và bền vững Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỷ trọng nông nghiệp trong GDPgiảm xuống, tương ứng với sự tăng lên rõ ràng của công nghiệp và dịch vụ
Với những nỗ lực trong 10 năm đầu kể từ khi tiến hành đổi mới nước
ta đạt được nhiều thành tựu đáng kể, song vẫn là một trong những nướcnghèo nhất thế giới, lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, cơ sở vật chất kĩ thuật,nhất là kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ chuyểnbiến chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động, chất lượngsản phẩm, chất lượng công trình thấp Nhiều hàng hoá kém sức cạnh tranhvới hàng nước ngoài Đầu tư của ngân sách nhà nước còn dàn trải, bị thấtthoát, kém hiệu quả, tổng sản phẩm bình quân đầu người trong nước còn rấtthấp Sức cạnh tranh hàng hoá nước ta so với các nước khác còn yếu do
Trang 14chưa liên kết phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới.Trong khi đó tốc độ phát triển của nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc
độ chóng mặt, nếu tiếp tục duy trì một nền kinh tế ở phạm vi nhỏ hẹp nhưvậy mà không hoà vào dòng thác toàn cầu hoá thì nền kinh tế Việt Namtiếp tục trong vòng lạc hậu, trì trệ dù cố gắng rất nhiều cũng không thểthoát ra được Chính vì vậy, một yêu cầu tất yếu đặt ra cho nước nhà lànhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế quốc tế thông qua việc liên kết vớicác tổ chức trong khu vực và trên thế giới là một nước nằm trong khu vựckinh tế phát triển năng động của thế giới, Việt Nam không thể nằm ngoài
xu thế đó Hơn nữa đây là một điều kiện thiết yếu để Việt Nam thực hiệnthành công sự nghiệp đổi mới của mình
1.2.2 Chủ trương hội nhập của Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc mởrộng quan hệ đối ngoại nhằm đưa sự nghiệp phát triển đất nước hoà vào tràolưu tiến bộ chung của thế giới Từ rất sớm, Đảng ta luôn chú trọng việc kếthợp sức mạnh dân téc với sức mạnh của thời đại, coi đây là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình Cũng chính vì vậy,công cuộc giải phóng dân téc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân tatrải qua các thời kì lịch sử khác nhau và luôn giành được sự đồng tình, ủng
hộ, giúp đỡ của đông đảo các tầng líp nhân dân tiến bộ trên thế giới
Trước hết về đường lối đối ngoại thì tư tưởng mở cửa, hội nhập kinh
tế với khu vực và thế giới của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong các vănkiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Chủ tịch HồChí Minh trong thư gửi tổng thư kí Liên hợp quốc (12/1946) đã khẳngđịnh: "Việt Nam sẵn sàng thực thi cuộc sống mở cửa và hợp tác trong mọilĩnh vực Nước Việt Nam giành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của cácnhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kĩ nghệ củamình, nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao
Trang 15thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế, nước Việt Nam chấp nhậntham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợpquốc” Sau đó ngày 16/07/1947 khi trả lời một nhà báo nước ngoài, chủtịch Hồ Chí Minh nói rõ: " chóng tôi chủ trương làm cho tư bản ViệtNam phát triển Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới
có thể phát triển Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tưbản các nước thật thà hợp tác với chúng tôi Một là, để xây dựng lại ViệtNam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là, để điều hoà kinh tế thế giới vàgiữ gìn hoà bình" Đây thực sự là quan điểm đặt nền móng, cơ sở hìnhthành đường lối chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta sau này.Tuy nhiên khi trả lời câu hỏi về hoạt động ngoại giao, Chủ tịch Hồ ChíMinh khẳng định: "Phải trông ở thực lực Thực lực mạnh, ngoại giao sẽthắng lợi Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có tothì tiếng mới lớn"
Ngay sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đã tìm cách
mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, ký nhiều hiệp định song phươngmới, nâng tổng số bạn hàng buôn bán lên gần 40 nước ( 1976 ) Tại Đại hộiĐảng IV, Đảng ta nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế đối ngoại,khẳng định phải: "kết hợp phát triển kinh tế trong nước với mở rộng quan
hệ kinh tế với nước ngoài Do tầm quan trọng đặc biệt của nó, công táckinh tế đối ngoại phải được tăng cường" Việt Nam đã tích cực, chủ độngphát triển quan hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của các nước xã hộichủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế ( SEV ) Mặt khác,Việt Nam còng từng bước cải thiện mối quan hệ hợp tác kinh tế với nhiềunước tư bản chủ nghĩa dùa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Mặc dùvậy, bạn hàng chủ yếu của Việt Nam vẫn là các nước xã hội chủ nghĩa( chiếm trên 80% tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam )
Trang 16Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước những yêu cầu cấp bách làphải đưa nền kinh tế nước nhà nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng, pháthế bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, đường lối mởrộng quan hệ đối ngoại với hội nhập quốc tế ngày càng được bổ sung vàhoàn thiện thông qua các đại hội Tại Đại hội VI năm 1986, Đảng ta chỉ rõ:
"Muốn kết hợp sức mạnh của dân téc với sức mạnh của thời đại, nước taphải tham gia vào sự phân công lao động quốc tế trên nguyên tắc bìnhđẳng cùng có lợi"
Sang Đại hội VII (06 / 1991), Đảng ta đã xây dựng nhiệm vụ đốingoại là giữ vững hoà bình, tiếp tục mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác,tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, gópphần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độclập dân téc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đại hội thông qua chính sách: "ViệtNam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển" [ 50 ; 147]
Chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng ta thời kì đổi mới tiếp tụcđược bổ sung cụ thể hơn Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII),ngày 29/6/1992 nhấn mạnh chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chứcquốc tế, trong đó "cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính,tiền tệ quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB),ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), mở rộng quan hệ với các tổ chức hợptác khu vực trước hết là ở Châu Á - Thái Bình Dương" Tiếp đó ngày22/11/1994, Bộ chính trị ban hành Quyết định số 1005 CV/VPTW, giaocho chính phủ soạn thảo và gửi đơn xin gia nhập WTO Theo Quyết định
số 493 CV/VPTW của Bộ chính trị, ngày 14/06/1996, Việt Nam đã gửi đơnxin gia nhập diễn đàn APEC
Trang 17Trên cơ sở những thành tựu đạt được, Đại hội VIII của Đảng(06/1996) chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hộinhập kinh tế khu vực và thế giới Đại hội nhấn mạnh quan điểm đa phươnghoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại.
Bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng
đã bổ sung và phát triển đường lối hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội xácđịnh: "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần pháthuy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tựchủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi Ých dân téc, an ninh quốc gia, giữgìn bản sắc văn hoá dân téc, bảo vệ môi trường" [52; 120] Nhằm cụ thểhoá đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Bộ chính trị đã ra Nghịquyết 07 - NQ/TW, ngày 27 / 01/ 2001 về hội nhập kinh tế quốc tế, trong
đó làm rõ hơn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung và nhiệm vụ cụ thểcủa hội nhập kinh tế quốc tế
Phát huy những thành tựu đạt được, tại Đại hội X (04/2006) tiếp tụcxác định mục tiêu: " mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế đến 2020 nước cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại" [53; 76] Trên bước đường hội nhập ViệtNam trở thành bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vàtiếp tục đẩy mạnh tiến trình hợp tác khu vực và quốc tế
Thứ hai, chủ trương hội nhập của Đảng ta được xác định dùa trêncác nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế là : “mở rộng, đa dạng hóa và đaphương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủquyền, bình đẳng, cùng có lợi “[50; 119 ] Đa dạng hóa quan hệ đối ngoại ởđây có nghĩa là mở rộng quan hệ về mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, thể dục thể thao, an ninh quốcphòng…mở rộng quan hệ về Nhà nước, Đảng, các tổ chức đoàn thể xã hội,
Trang 18các tổ chức phi chính phủ…Còn đa phương hóa có nghĩa là quan hệ với cácđối tượng và các tổ chức thuộc các xu hướng và chế độ chính trị, xã hộikhác nhau Vì vậy, chúng ta sẵn sàng mở rộng mối quan hệ hợp tác với cácnước, kể cả những nước có chế độ chính trị khác nhau Khi tham gia bất kỳmột tổ chức kinh tế nào thì nguyên tắc này cũng được đề cao, khẳng định
tư tưởng nhất quán của Đảng ta
Thứ ba, những chính sách đối ngoại của Đảng ta đề ra là tạo dựngmôi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới Điêù đó được nhấnmạnh tại Đại hội VIII ( 1996 ) : “ nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới làcủng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa đểđẩy mạnh phát triển kinh tế _ xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước”[51; 120 ]
Nh vậy, chủ động hội nhập vào các tổ chức khu vực và quốc tế là nộidung cốt lõi trong đường lối chiến lược hội nhập quốc tế của Đảng ta tronggiai đoạn hiện nay Nã cho phép có thể kết hợp một cách hiệu quả tiềmnăng, nguồn lực trong nước với những nguồn lực bên ngoài nhằm tạo sứcmạnh tổng hợp, góp phần giải quyết thắng lợi những nhiệm vụ của sựnghiệp cách mạng nước nhà trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Đây thực sự trở thành một đối sách chiến lược hàng đầunhằm thích ứng với những thay đổi sâu sắc đang diễn ra ở Châu Á - TháiBình Dương và trên thế giới trong bối cảnh của xu thế toàn cầu hoá đa bìnhdiện, rất sôi động ngày nay
Trang 19
2.1 Vai trò của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với sự hội nhập của Việt Nam.
2.1.1 Ngân hàng thế giới (WB).
Ngân hàng thế giới (WB) là tên gọi chung của nhóm Ngân hàng thếgiới (World Bank Group) WB là cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốcđược thành lập theo Quyết định tại Hội nghị Tài chính - tiền tệ quốc tế ởBretton Woods (Mỹ) năm 1944 Tổng số thành viên hiện nay của WB là
184 nước
Mục tiêu cơ bản của Ngân hàng thế giới (WB) là thúc đẩy sự tiến bộkinh tế, xã hội ở các nước thành viên và nâng cao mức sống ở các nướcnày, đặc biệt là các nước đang phát triển Ngân hàng thế giới gồm các tổchức Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD), Hiệp hội phát triểnquốc tế (IDA), công ty tài chính quốc tế (IFC), cơ quan bảo lãnh đầu tư đaphương (MIGA), trung tâm Quốc tế về giải quyết tranh chấp, đầu tư(ICSID)
Trước năm 1975, chính quyền Sài Gòn là thành viên của ba tổ chức,sáu nhóm Ngân hàng thế giới (WB) đã đóng góp số vốn là 8,5 triệu USD.Năm 1978, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế tục ba tổ chứcnày Quan hệ giữa Việt Nam với WB thực chất là quan hệ tín dụng giữanước ta với Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), công ty Tài chính quốc tế
Trang 20(IFC) Còng trong năm này tổ chức Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) chovay 60 triệu USD để thực hiện dự án thuỷ lợi Dầu Tiếng.
Như vậy sự tham gia của Việt Nam vào tổ chức WB có ý nghĩa lớn laotrên con đường phát triển Nhờ vào tổ chức này mà Việt Nam đã phá đượcthế bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống của cộng đồng quốc
tế Đồng thời nước ta có thêm mét nguồn vốn để tập trung phát triển kinh
tế trong điều kiện đất nước hết sức khó khăn, nhân dân Việt Nam vẫn chìmtrong đói nghèo, lạc hậu
Sau một thời gian quan hệ Việt Nam - Ngân hàng thế giới bị giánđoạn do chính sách cấm vận của Mỹ, đến năm 1993 mối quan hệ Êy đượcthiết lập trở lại Với sự kiện này, cánh cửa hội nhập của Việt Nam vào sânchơi khu vực và quốc tế đã được mở toang, tạo điều kiện thuận lợi cho cácnhà đầu tư vào Việt Nam, khiến cho kinh tế trong nước nhanh chóng bắtkịp với xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Thuận lợi
Êy giúp Việt Nam thường xuyên vay tín dụng của tổ chức WB để thực hiệnnhững dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như dự án cải tạo nhiều đoạn đườngthuộc quốc lé 1A, dự án giáo dục tiểu học Tổng giá trị các dự án lên đến
2 tỷ USD, trong đó năm 1994 là 324,5triệu USD, năm 1995 là 415 triệuUSD, năm 1996 là 502 triệu USD, năm 1997 là 384,2 triệu USD
Tính đến năm 2006 Ngân hàng thế giới là nhà cung cấp vốn ODA lớnthứ hai của Việt Nam (sau Nhật Bản) Trong vòng 10 năm kể từ khi nối lạiquan hệ (1993 - 2003), WB đã cam kết cho Việt Nam vay khoảng 5,96 tỷUSD, bằng 23,5% tổng lượng ODA mà cộng đồng các nhà tài trợ cam kếtcho Việt Nam vay chủ yếu dưới hình thức cho vay ưu đãi và hỗ trợ kĩ thuậtcủa Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) Ngoài ra công ty Tài chính quốc tế(IFC) còng cho vay các dự án thuộc khu vực tư nhân của Việt Nam theo lãisuất của thị trường WB cho Việt Nam vay chủ yếu thông qua chương trình
Trang 21tín dụng điều chỉnh cơ cấu (SAC), ngoài ra còn cung cấp các hỗ trợ kĩthuật, kể cả hỗ trợ kĩ thuật uỷ thác của các nước.
2.1.2 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Quỹ tiền tệ quốc tế tên tiếng anh là International Monetary Fund, viếttắt là (IMF), thành lập theo quyết định của Hội nghị Tài chính tiền tệ thuộcLiên Hợp Quốc tổ chức ở Bretton Woods (Mỹ) vào tháng 7-1944 Ngày27-12-1945, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chính thức ra đời với 29 nước kýhiệp định thành Quỹ Articles of Agreemet Tổ chức IMF bắt đầu hoạt động
từ ngày 1-3-1947 và tiến hành khoản vay đầu tiên từ ngày 8-5-1947 Tínhđến tháng 4-2003 tổ chức đã có 184 thành viên
Quỹ tiền tệ quốc tế có chức năng điều chỉnh quan hệ tiền tệ giữa cácnước thành viên vay trung hạn, ngắn hạn để ổn định tỷ giá hối đoái và giảiquyết cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế
Tuy nhiên tổ chức này không phải là tổ chức cho vay vốn nhưng lạiđóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế các nước, nó lànhân tố để ổn định giá trị và sự chuyển đổi của đồng tiền nhằm tạo thuậnlợi cho thương mại quốc tế Lúc đầu tổ chức thiết lập một hệ thống cố định
về chuyển đổi ngoại tệ, nhằm mục đích bảo đảm có đủ số lượng tiền mặtcần thiết trong lưu thông Thập niên 1940-1970 Mỹ bảo đảm sự ổn địnhcủa hệ thống đó bằng cách quy định tỷ giá của đồng đô la so với vàng là 35triệu USD bằng một ounce vàng Đến năm 1971 hệ thống đó sụp đổ sau khi
Mỹ tuyên bố không đảm bảo tỷ giá cố định như vậy nữa, từ đó đồng đô latách khỏi bản vị vàng, tỷ giá hối đoái đồng đô la được thả nổi
Thập niên 1980, tổ chức IMF áp dụng một chính sách mới đối vớinhững nước đang phát triển thường bị nợ nhiều bằng cách mở rộng thờihạn cho vay từ ngắn hạn thành dài hạn, và cung cấp con dấu phê chuẩnquốc tế Nhờ đó có thể vay tiền các tổ chức cấp tín dụng song phương hoặc
đa phương, cũng như các Ngân hàng tư nhân Các nước nhận viện trợ phải
Trang 22đáp ứng được một số điều kiện khắt khe do tổ chức đặt ra trong chươngtrình cải cách cơ cấu bao gồm cả cải cách kinh tế
Mục tiêu chính hiện nay của Quỹ tiền tệ quốc tế là:
+ Xóc tiến hợp tác Tài chính quốc tế để mở rộng thương mại
+ Ổn định việc chuyển đổi tiền tệ, duy trì thể thức chuyển đổi có trậttự
+ Góp phần thiết lập một hệ thống thanh toán đa phương và xoá bỏnhững hạn chế về trao đổi ngoại tệ
+ Trợ giúp các thành viên bằng cách cung cấp nguồn dự trữ tài chínhtạm thời để khắc phục tình trạng mất cân đối trong cán cân thanh toán
* Quan hệ Việt Nam - IMF
Năm 1976 nước ta thừa kế tư cách thành viên Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF) của chế độ Sài Gòn, đồng thời thừa kế số nợ của chế độ cò để lạiđối với tổ chức Vốn cổ phần là 314 triệu USD, chiếm 0,12% tổng số vốngóp của IMF, với 75% góp bằng Việt Nam đồng và 25% bằng SDA.Nhưng nợ cũ và nợ mới lên đến 250 triệu USD Từ năm 1976 Việt Namđược vay các khoản tín dụng có lãi xuất thấp với tư cách là thành viên củaIMF Đến cuối năm 1984 Việt Nam không trả được nợ đúng hạn nên khôngđược vay mới Đó là nguyên nhân dẫn đến quan hệ giữa hai bên bị giánđoạn
Đầu năm 1993 nước ta và IMF thương lượng cách giải quyết số nợ tồnđọng để Việt Nam tiếp tục được vay Tháng 9-1993 với sự giúp đỡ củanhóm hỗ trợ (gồm Pháp, Nhật Bản, Óc, Canada ), Việt Nam đã trả xong
số nợ quá hạn, và một thuận lợi tiếp theo nữa là IMF tiếp tục cho nước tavay khoản tiền là 206 triệu USD, thời hạn là 5 năm và vay theo thể thứcchuyển đổi hệ thống với số tiền 17 triệu USD, thời hạn 5 năm theo lãi suấtcủa thị trường Đây là mốc thời gian đánh dấu sự thiết lập quan hệ bìnhthường hoá của Việt Nam với các định chế tài chính quốc tế Ngược lại để
Trang 23vay được, nước ta phải đáp ứng những điều kiện khắt khe như giảm bội chingân sách, giảm lạm phát, Ên định thời gian cải tổ cơ cấu kinh tế để chuyểnmạnh sang cơ cấu thị trường Tuy nhiên ý nghĩa tích của việc tiếp tục vayvốn IMF là ở chỗ tạo ra tiền đề để có thể vay vốn ở các tổ chức khác cũngnhư thu hót vốn đầu tư nước ngoài nói chung Thành công lớn của ViệtNam sau khi nối lại quan hệ với IMF là tổ chức này đã cam kết cho ViệtNam vay 821,56 triệu USD, trong đó đã giải ngân 489,76 triệu USD Lĩnhvực ưu tiên trợ cấp của IMF cho Việt Nam gồm hỗ trợ cán cân thanh toán
và dự trữ nhà nước, hỗ trợ chính sách tài chính vĩ mô, cải cách ngân hàng
và doanh nghiệp nhà nước, cải cách thuế Ngoài ra tổ chức cũng cung cấp
hỗ trợ kĩ thuật như đào tạo và nâng cao kiến thức trong lĩnh vực thuế, quản
lý chi tiêu công, cải cách ngân hàng
Có thể nói Việt Nam đã không ngừng nỗ lực phấn đấu khắc phục nhữngkhó khăn của đất nước, từng bước khai thông quan hệ với các tổ chức, làm
cơ sở đẩy nhanh tiến trình hội nhập của nước ta, có điều kiện phát triểnnhững mặt mạnh, hạn chế những yếu kém còn tồn tại, ngày càng thu hót nhàđầu tư nước ngoài vào Việt Nam Việc Việt Nam nối lại quan hệ với các tổchức Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là sự kiện có ýnghĩa, giúp cho nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp Vì vậy có thể coi đây là cầu nối
để Việt Nam có cơ hội mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới vàgia nhập những sân chơi lớn hơn, mang tầm cỡ quốc tế và mục tiêu trướcmắt là nhanh chóng gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
2.2 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) - bước tiến đầu tiên của Việt Nam trên con đường hội nhập
2.2.1 Bối cảnh ra đời của tổ chức ASEAN.
Ngày 08-08-1967 tại Băng Cốc một tổ chức mang tính chất khu vực làHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã ra đời, tên tiếng anh là Associasion
Trang 24of South - East Asian Nations (ASEAN), đầu tiên gồm 5 nước Inđônêxia,Malaixia, Philippin, Thái Lan, Singapo đã thảo luận những vấn đề quantrọng trong chính sách đối ngoại của họ, chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế vàchính trị Bản tuyên bố ASEAN (gọi là tuyên bố Băng Cốc) đã được kí kếttại Hội nghị ngoại trưởng 5 nước, khai sinh ra tổ chức ASEAN.
Khu vực Đông Nam Á, là một vùng đất rộng lớn, giàu tài nguyên thiênnhiên, án ngữ ở vị trí địa lý trên tuyến đường biển Đông - Tây, là khu vựcthu hót sự chú ý của nhiều nước thuộc hai hệ thống chính trị là xã hội chủnghĩa và tư bản chủ nghĩa khi đó đang ở tình trạng đối đầu căng thẳng Haisiêu cường Mỹ và Liên Xô đều muốn tranh thủ các nước ở khu vực nàyphục vụ cho chính sách đối ngoại của mình, khiến cho khu vực Đông Nam
Á trở thành nơi hết sức nhạy cảm trước tác động của các lực lượng chính trị
và các lực lượng dân téc chủ nghĩa An ninh của nhiều nước dễ bị tổnthương nếu các quốc gia này từ chối chính sách "đứng cách đều" [30; 14],nên buộc họ phải chọn giải pháp sống hoà thuận tối đa với tất cả các nướclớn Tình hình quốc tế khi đó đòi hỏi các quốc gia trong vùng phải tăngcường đoàn kết nội bộ, xiết chặt mối quan hệ giữa các nước có chungnguyện vọng là tự do, độc lập dân téc và trung lập Bên cạnh đó tình hìnhchính trị trong nội bộ từng nước ASEAN cũng có nhiều diễn biến phức tạp.Trong bối cảnh thế giới và trong nước như vậy, 5 nước Inđônêxia,Malaixia, Philippin, Thái Lan, Singapo đều đứng trước yêu cầu phải liênkết chặt chẽ để củng cố hoà bình bảo đảm an ninh khu vực, dù các nướcnày còn nhiều mâu thuẫn Một lý do dẫn đến yêu cầu liên kết khu vực làchiến tranh Đông Dương đang chuyển sang thời kỳ quyết liệt, 5 nước nhậnthức rõ những quyền lợi quốc gia đối chọi nhau thực sự, làm chậm trễ sựtiến bộ của từng nước Hơn nữa, chính bản thân 5 nước này vấp phải nhữngkhó khăn chung sau khi giành độc lập như sự lạc hậu của các cơ cấu kinh
tế, tình trạng sản xuất độc canh và xuất khẩu nguyên liệu thô Nếu liên kết
Trang 25với nhau họ có thể cùng giải quyết dễ dàng hơn những khó khăn lớn Êy,nhất là chung một chính sách kinh tế đối ngoại nhằm chống lại một cách cóhiệu quả chính sách độc quyền của các nước tư bản phương Tây Ngoài racòn một số nguyên nhân khác tác động đến xu hướng liên kết của các nướcĐông Nam Á Do đó một hiệp hội dùa trên một thể chế kinh tế, chia sẻ vớinhau những quan điểm cơ bản về thể chế chính trị sẽ đảm bảo được an ninhlâu dài Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ra đời đảm bảo đượcnhững yêu cầu Êy.
2.2.2 Quá trình Việt Nam tham gia vào tổ chức ASEAN.
* Quan hệ Việt Nam - ASEAN trước năm 1995.
Sau khi tổ chức ASEAN được thành lập thì hoạt động chung giữa cácnước trong tổ chức chưa có gì nổi bật Lúc này trên thế giới đang diễn racuộc chiến tranh lạnh và tình trạng đối đầu giữa hai hệ thống xã hội Cácnước ASEAN cũng bị tình hình trên tác động nên phải điều chỉnh chínhsách đối ngoại của mình bằng việc đưa ra Tuyên bố về khu vực hoà bình,
tự do, trung lập ở Đông Nam Á hay còn gọi là Tuyên bố ZOPFAN vàotháng 11-1971 Lúc này một số nước ASEAN đã bắt đầu thăm dò khả năngquan hệ với Việt Nam trên một số lĩnh vực Tuy nhiên quan hệ giữa hai bêntrong giai đoạn chưa có gì tiến triển đáng kể
Đến đầu năm 1973, tình hình khu vực có nhiều chuyển biến lớn, dẫnđến sự đảo lộn trong cán cân lực lượng ở đây Tháng 01-1973, Hiệp địnhPari về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được kí kết Tháng 08-1973,
Mỹ buộc phải chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Đông Dương, xu thế hoàbình, trung lập ở khu vực phát triển mạnh Những sự kiện trên buộc cácnước ASEAN có sự điều chỉnh phù hợp trong chính sách đối ngoại củamình
Trên bình diện khu vực các nước ASEAN có nhiều cử chỉ thân thiệnhơn, tạo cơ sở cho việc đặt quan hệ với Việt Nam Về phía Việt Nam, sau
Trang 26khi kí Hiệp định Pari năm 1973 Việt Nam đã tích cực triển khai chính sáchkhu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với các nước thuộc tổ chứcASEAN như tiến hành đi thăm và thiết lập mối quan hệ ngoại giao với một
số nước ( Malaixia, Thái Lan ) Đến tháng 08-1976 Việt Nam đã thiết lậpquan hệ ngoại giao đầy đủ với tất cả các nước thành viên ASEAN Tuynhiên giai đoạn này nước ta vẫn chưa có quan hệ hợp tác với tổ chức này
Từ năm 1979, sau khi xuất hiện vấn đề Campuchia, quan hệ giữa ViệtNam với các nước ASEAN chuyển sang đối đầu, quan hệ song phương củaViệt Nam với từng nước của tổ chức này giảm xuống mức rất thấp Tronggiai đoạn này, Việt Nam vừa đấu tranh với ASEAN về vấn đề Campuchia,vừa triển khai đấu tranh ngoại giao, gắn việc giải quyết vấn đề Campuchiavới việc xây dựng khu vực hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á, thúc đẩy đốithoại, đẩy lùi đối đầu, phân hoá liên minh chống Việt Nam
Tại Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam (1986) một đường lối đổimới toàn diện đã được đưa ra, trong đó Việt Nam chủ trương chính sáchđối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ Thực hiện đường lối này,Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia Trở ngại lớn nhất trong quan hệhai bên đang dần được gỡ bỏ, vấn đề Campuchia đi dần vào giải pháp hoàbình Trong tình hình đó quan hệ Việt Nam - ASEAN bắt đầu có nhữngchuyển biến tích cực, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao với các nước trong tổchức, nhằm mục đích hoà bình ổn định và phát triển Các chuyến viếngthăm giữa Việt Nam với các nước diễn ra dồn dập Chỉ trong 2 năm, ViệtNam đã ký với các nước này gần 40 hiệp định các loại ( Hiệp định khung
về hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật; Hiệp định về bảo hộ đầu tư; Hiệpđịnh tránh đánh thuế hai lần; Hiệp định về bưu điện, Hiệp định về hàngkhông, hàng hải…) làm cơ sở pháp lý cho các mối quan hệ hợp tác đangngày càng mở rộng Các quan hệ kinh tế và thương mại cũng tăng nhanhchóng
Trang 27Bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - ASEAN thể hiện ở việcViệt Nam đã chính thức trở thành quan sát viên của tổ chức ASEAN vàotháng 07/ 1992 Điều đó làm tăng sự tin cậy của các nước ASEAN và cácnước ngoài khu vực đối với Việt Nam, góp phần phá thế bao vây cấm vậncủa Mỹ, tạo thuận lợi thúc đẩy việc thực hiện chính sách mở cửa đã đượcViệt Nam đưa ra Với những thuận lợi trên, ngày 17-10-1994 Bộ trưởngNgoại giao Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi thư tới Bộ trưởngNgoại giao Brunây, Chủ tịch đương nhiệm Uỷ ban thường trực ASEAN(ASC), chính thức đặt vấn đề Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ củaASEAN Quyết định trên của Việt Nam được các nước ASEAN hoannghênh và đáp ứng kịp thời, những thủ tục cần thiết cho Việt Nam gia nhậpASEAN được hoàn tất trong năm 1995.
* Quan hệ Việt Nam - ASEAN từ năm 1995
Ngày 28/7/1995 tại thủ đô Banđa Xêri Begaoan (Brunây) nơi diễn raHội nghị Bộ trường Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 28 và ARF lầnthứ 2, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN ViệtNam cũng tuyên bố gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), bắtđầu thực hiện chương trình giảm thuế quan chung theo AFTA từ ngày1/1/1996 và sẽ hoàn thành vào năm 2006, chậm hơn 3 năm so với các nướcASEAN khác do các nước ASEAN đã thực hiện AFTA trước khi Việt Namtham gia là 3 năm
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức ASEANchứng tỏ sự hoà nhập nhanh chóng vào khu vực, đồng thời biến ASEAN từmột tổ chức trong khu vực trở thành một tổ chức của khu vực đúng với têngọi của nó
Việt Nam gia nhập ASEAN là một bước tiến trong hội nhập khu vực
và quốc tế quan trọng của nước nhà, nhưng đồng thời cũng là một bước
Trang 28ngoặt trong lịch sử của ASEAN Tham gia vào ASEAN là chính sách lớncủa Việt Nam nhằm thực hiện chính sách đối ngoại mà Đảng ta đã vạch ratrong các kì Đại hội Vì thế đối với Việt Nam gia nhập tổ chức ASEANcũng có nghĩa là tích cực đóng góp và thực hiện nghĩa vụ của nước thànhviên, phấn đấu xây dựng một ASEAN hoà bình, ổn định, đoàn kết và tăngtrưởng bền vững.
* Vai trò của Việt Nam trong tổ chức
Ở thời kỳ đầu thành lập, ASEAN chưa đại diện cho lợi Ých vàtiếng nói của khu vực , không hội tụ được sức mạnh và ưu thế của tất cảcác nước Sau khi Việt Nam và một số nước khác trong khu vực tham giavào tổ chức thì ASEAN trở thành một khối thống nhất Liên kết của ViệtNam cùng các nước Đông Dương khác không chỉ tạo cho ASEAN mộtdiện mạo mới mà còn tạo ra sức mạnh cả về tinh thần lẫn vật chất để vươnlên chiếm lĩnh tầm cao mới trong sự nghiệp phát triển cuả mình MộtASEAN hòa bình, ổn định về chính trị, tăng trưởng nhanh về kinh tế đangđóng vai trò ngày càng quan trọng ở Đông Nam Á nói riêng, trên thế giớinói chung
Đóng góp thứ hai của Việt Nam là việc tích cực tham gia vàochương trình hợp tác khu vực và quốc tế của ASEAN Lúc Việt Nam gianhập vào tổ chức cũng là lúc hiệp hội chuyển sang mét giai đoạn phát triểnmới, cao hơn về chất so với giai đoạn trước đó Để thích ứng với tình hìnhmới tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ IV tại Singapo ( 1/1992), quyếtđịnh xúc tiến AFTA với mục tiêu loại bỏ hoàn toàn các rào cản thương mạiđối với hầu hết hàng hóa trong nội bộ ASEAN, thông qua việc kí hiệp định
về chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT) Các nước thựchiện AFTA ngay sau khi xây dựng được lé trình cắt giảm thuế quan trongnội khối ASEAN trong vòng 15 năm xuống 20%, tiếp đó còn 0- 5% Thựchiện CEPT/ AFTA thành công, những thu hoạch về công nghệ và hiệu quả
Trang 29kinh tế, năng lực và kinh nghiệm của ASEAN tăng cao Trước khi có sựtham gia của Việt Nam và một số nước khác, ASEAN tập trung phát triểnmột số lĩnh vực, nhưng hiện nay những chuyên ngành hợp tác trong khốitrở nên đa dạng hơn như giáo dục, khoa học kĩ thuật, môi trường, hàngkhông, du lịch…, điều đó làm cho uy tín của tổ chức được nâng cao.
Không ngừng ở đó, Việt Nam còn đề xuất ra nhiều sáng kiến nhằmthúc đẩy hợp tác khu vực của ASEAN Những hướng sáng kiến đó có giátrị trong mọi lĩnh vực, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tổ chức
Cụ thể như sáng kiến hợp tác phát triển các vùng nghèo liên quốc gia dọchành lang Đông – Tây thuộc lưu vực sông Mê công ở Việt Nam, Lào,Campuchia và đông bắc Thái Lan Mục đích của sáng kiến là xóa đói giảmnghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước và các vùng tronglãnh thổ của hiệp hội.Sáng kiến này được hội nghị thượng đỉnh ASEAN lầnthứ V (12/1998) thông qua và đua vào chương trình hành động
Như vậy càng tham gia tích cực vào ASEAN, Việt Nam càng có cơhội thể hiện năng lực của mình Các sáng kiến do Việt Nam đưa ra ngàycàng có tầm vóc chiến lược và sức sống lâu dài.Điều đó giải thích vì saotrong bài phát biểu chào mừng Việt Nam tham gia ASEAN, Bộ trưởngngoại giao Inđônêxia đã không ngần ngại tiên đoán :” Việt Nam chắc chắn
sẽ làm tăng sức sống và sức mạnh tập thể của chúng ta Vị trí chiến lượccủa Việt Nam, lực lượng lao động lành nghề của Việt Nam cũng như tàinguyên thiên nhiên phong phú của Việt Nam sẽ bổ sung và làm sâu sắcthêm ý nghĩa của sự hợp tác đoàn kết thống nhất của ASEAN” Có thể nóiViệt Nam đã trở thành một trong những nguồn lực phát triển trong tổ chứcASEAN
2.2.3 Những lợi Ých mang lại cho Việt Nam từ việc tham gia tổ chức.
Trang 30Gia nhập ASEAN và tham gia vào chương trình hợp tác của hiệphội, Việt Nam thu được nhiều lợi Ých quan trọng Quan hệ buôn bán vàđầu tư giữa nước ta với các nước ASEAN ngày càng phát triển
Trước hêt về chính trị, gia nhập ASEAN vao tháng 7/1995 là mộtquyết định đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với xuthế hòa bình, ổn định và phát triển Thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quantrọng là Việt Nam đã phá được thế bao vây, cấm vận của Mĩ, thu hẹp sựkhác biệt giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN, hạn chế nhữngmặc cảm, nghi kị do lịch sử để lại
Cô thể như Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí hiệp định biên giớivới Lào, thảo luận và khai thác chung với Malaisia trên vùng chồng lấn,phân định vùng chồng lấn với Thái Lan, tiếp tục đàm phán với Inđônêxia
về phân định thềm lục địa, đàm phán với Campuchia để giải quyết nhữngvấn đề tồn đọng về biên giới lãnh thổ Với các nước láng giềng là Lào vàCampuchia nước ta tiếp tục duy trì mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợptác toàn diện, bền vững lâu dài Tính đến năm 2007 Việt Nam là nước đầu
tư lớn thứ hai vào Lào với tổng số vốn đăng ký đã được cấp giấy phép đạttrên 500 triệu USD, tập trung vào các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp,giao thông vận tải Với Campuchia, hai bên đã đạt được thỏa thuận cụ thểtăng cường hợp tác trên 8 lĩnh vực : nông nghiệp, thương mại và đầu tư,điện lực, khai khoáng, hàng không, ngân hàng, thăm dò dầu khí, du lịch.Đặc biệt, hai bên nhất trí nâng kim ngạch thương mại hai nước lên 2 tỷUSD vào năm 2010, Việt Nam đầu tư trồng và chế biến cao su, xây dựngcác nhà máy thủy điện trên sông Sê San
Tư cách thành viên ASEAN cũng tạo điều kiện cho Việt Nam trongviệc cải thiện mối quan hệ với các cường quốc như Nhật Bản, Trung Quốc
và liên minh châu Âu ( EU)
Trang 31Hoạt động ngoại giao cũng góp phần quyết định vào đấu tranh chống
âm mưu và hành động lợi dụng chiêu bài nhân quyền, dân chủ, tự do tínngưỡng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Những hoạt độngnêu trên tạo dựng môi trường tương đối ổn định để Việt Nam xây dựng vàbảo vệ đất nước
Về kinh tế, quan hệ buôn bán và đầu tư giữa nước ta với các nướcASEAN ngày càng phát triển Môi trường đầu tư của nước ngoài vào ViệtNam được cải thiện, Việt Nam được cung cấp vốn, công nghệ, tri thức,kinh doanh cần thiết để bắt kịp với các nước xung quanh trong quá trìnhphát triển.Tốc độ đầu tư của các nước vào Việt Nam tăng lên nhanh, đặcbiệt trong 2 năm 1992- 1993 Bên cạnh đó, Việt Nam còn kí kết 44 hiệpđịnh hợp tác với các nước ASEAN trong các lĩnh vực thương mại, ngânhàng, xây dựng hạ tầng cơ sở, hàng không, hàng hải, dầu khí, hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư, trao đổi khoa học kĩ thuật Hàng năm còn
có phái đoàn các nhà kinh doanh của Việt Nam và ASEAN đi tìm hiểu thịtrường và thăm dò khả năng hợp tác, đầu tư lẫn nhau Tính đến tháng10/2004 Việt Nam có trên 360 dự án đầu tư của 5 nước thành viên cũ củaASEAN với tổng số vốn đăng kí đạt gần 11 tỷ USD Trong lĩnh vực thươngmại, tính đến năm 2002 thương mại Việt Nam ASEAN đạt 7 tỷ USD, xuấtkhẩu của Việt Nam sang ASEAN chiếm 18% và nhập khẩu từ ASEANchiếm 29% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Với mét số thành tựu chủ yếu trên đây chứng tỏ Việt Nam gia nhậpvào tổ chức ASEAN là hoàn toàn đúng đắn Sự tham gia tích cực và nhữngđóng góp của Việt Nam khiến nhà lãnh đạo các nước ASEAN thấy hài lòngkhi chào mừng Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á- ASEAN
2.3 Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế qua việc hội nhập vào Hội nghị hợp tác Á - Âu (ASEM).
Trang 322.3.1 Khái quát về tổ chức ASEM.
Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX là thời kỳ phát triểnkhá thịnh vượng của các nền kinh tế châu Á, đặc biệt là các nước thuộc khuvực Đông Á và Đông Nam Á Điều này được thể hiện rất rõ ở tỷ lệ tăngtrưởng bình quân tương đối cao của một số nước đang phát triển trong khuvực Sự phát triển toàn diện của các nước thuộc khu năng động này đã thúcđẩy mạnh mẽ các quan hệ theo hướng hội nhập, hợp tác cùng phát triển, tạonên sự cân bằng trong phát triển kinh tế giữa các khu vực với xu hướngtoàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới
Khi đó ở châu Âu, mà nòng cốt là các nước EU sau thời kỳ chiến tranhlạnh cũng đang có xu hướng mở rộng quan hệ ra ngoài bằng "chính sáchchâu Á mới" được thông qua vào những năm cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX.Trước tình hình đó, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho một nền kinh tếđang phát triển ở các nước Đông Nam Á (ASEAN) năm 1994, Singapo đưa
ra sáng kiến thành lập một diễn đàn hợp tác Á - Âu Hai năm sau diễn đànhợp tác Á - Âu chính thức được thành lập tại Hội nghị cấp cao Á - Âu(Asean - Europe Meetings) viết tắt là ASEM, lần thứ nhất tại Băng Cốc(Thái Lan) vào tháng 03/1946 mở đầu cho một tiến trình hợp tác mới giữahai châu lục
Tổ chức ASEM với 26 thành viên sáng lập có ý nghĩa to lớn trên mọilĩnh vực, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác ở hai nước giữa hai châu lục là châu
Á và châu Âu Tuy tuổi đời còn trẻ so với nhiều tổ chức khác, nhưng bằng
sự năng động, linh hoạt và vận động không ngừng để thích nghi với xu thếtoàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Nếu đánh giá chung thì tổchức ASEM có tiềm năng lớn hơn so với tổ chức APEC bởi hoạt động của
nó không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực phát triển kinh tế mà còn trải rộng trêncác mặt chính trị, văn hoá, xã hội của hai châu lục và những vấn đề quantâm chung của toàn cầu
Trang 33* Cơ chế và nguyên tắc hoạt động.
ASEM thực hiện cơ chế điều phối cụ thể là các Bộ trưởng Ngoại giao
và Thứ trưởng Ngoại giao chịu trách nhiệm điều phối chung toàn bộ hoạtđộng của ASEM Các Bộ trưởng kinh tế và các quan chức cao cấp về thươngmại (SOMTI), các Bộ trưởng và Thứ trưởng các ngành chịu trách nhiệmđiều phối hợp tác trong các lĩnh vực cụ thể được phụ trách Với cơ chế điềuphối này, ASEM không thành lập Ban thư ký thường trực mà hoạt động theo
cơ chế điều phối viên hợp tác thường xuyên thông qua đại diện của hai châulục
ASEM là một diễn đàn đối thoại không chính thức hoạt động theonguyên tắc đồng thuận cùng nỗ lực tạo dựng mối quan hệ đối tác, toàn diệngiữa châu Âu - châu Á vì sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn của cả hai khu vực.Nguyên tắc đồng thuận được cụ thể hoá theo hướng:
+ Bình đẳng, tương trợ lẫn nhau và cùng có lợi
+ ASEM là một tiến trình mở và tiệm tiến, không chính thức nênkhông nhất thiết phải thể chế hoá
+ Tăng cường nhận thức và hiểu biết lẫn nhau thông qua một tiến trìnhđối thoại và tiến tới hợp tác trong việc xác định ưu tiên cho các hoạt độngphối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong khuôn khổ ASEM
+ Triển khai đều cả ba lĩnh vực hợp tác, chủ yếu là tăng cường đốithoại chính trị, thúc đẩy hợp tác kinh tế và đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnhvực khác
+ Việc mở rộng kết nạp thêm thành viên trên cơ sở nhất trí chung củacác vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các quốc gia
2.3.2 Việt Nam gia nhập tổ chức ASEM.
* Mục tiêu tham gia ASEM của Việt Nam.
Cùng với 9 nước Đông Nam khác, Việt Nam đã tham gia vào tổ chứcASEM ngay từ khi tổ chức này được tuyên bố thành lập tại Băng Cốc tháng
Trang 3403-1996 Quyết định tham gia vào tổ chức hy vọng Việt Nam sẽ đạt đượcmục đích đặt ra
Trước hết đó là một hoạt động nhằm triển khai đường lối đối ngoạimới của Đảng trong thời kỳ đổi mới.Việt Nam tích cực, chủ động tham giavào các tổ chức hợp tác khu vực và quốc tế Hoạt động đối ngoại mới nàyđược mở đầu vào việc ký Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác ở Đông Nam Á( TAC ) tháng 07/1992, tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN ( ARF ) năm
1994, chính thức gia nhập ASEAN tháng 07/ 1995 và tham gia tiến trìnhhợp tác Á _Âu ( ASEM ) tháng 03/1996
Thứ hai, bên cạnh việc hội nhập thành công vào tổ chức ASEAN thìđây cũng là một cơ hội lớn để nước ta mở rộng hội nhập quốc tế, có cơ hộiliên kết với những cường quốc kinh tế hùng mạnh, có nền công nghệ caonhư Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ý và cả những cường quốc mới nổi nhưTrung Quốc Tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ và nhân lực có trình độcao của ASEM là rất lớn
Không riêng về kinh tế mà ta còn nhìn thấy lợi Ých nhiều mặt từ việctham gia vào tổ chức này Trong lĩnh vực chính trị, việc tham gia ASEMtạo cơ hội cho Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại mới của mình.Thông qua các hoạt động đó, bạn bè trên thế giới sẽ có cơ hội hiểu rõ vềViệt Nam hơn Do đó các nước sẽ tích cực ủng hộ và giúp đỡ nước ta hơnnữa trong những năm tháng đầu tiên hội nhập vào khu vực và quốc tế.Trong lĩnh vực văn hóa, tham gia ASEM Việt Nam có cơ hội giới thiệu vàquảng bá nền văn hóa dân téc đặc sắc của mình với nhân dân các nướcASEM Đồng thời có thể tiếp thu, chắt lọc tinh hoa văn hóa của các dân téckhác để làm giàu thêm nền văn hóa truyền thống của mình Các hoạt độngtrao đổi văn hóa, giáo dục giữa các nước sẽ giúp giới trẻ Việt Nam tìmkiếm thêm các cơ hội học tập, nghiên cứu tại các nước ASEM có nền giáodục chất lượng cao
Trang 35Thứ ba, trở thành thành viên của tổ chức ASEM còn là một thểnghiệm đầu tiên về hội nhập liên khu vực Việc hợp tác với nhiều nước ở
cả hai châu lục còn là một thách thức lớn đối với Việt Nam, nhất là khichóng ta mới chập chững bước vào quá trình hội nhập ở Đông Nam Á vừatròn 9 tháng.Việc tham gia ASEM sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam làm quenvới một cơ chế hợp tác đa phương bao gồm cả thành viên có sức mạnhchính trị, kinh tế và khoa học hàng đầu thế giới.Việc tham gia vào một cơchế hợp tác như vậy sẽ cung cấp cho nước ta những kinh nghiệm quý đểhội nhập vào APEC, WTO và các tổ chức hợp tác đa phương khác sau này Như vậy, tham gia ASEM của Việt Nam không chỉ nhằm thực hiệnđường lối đối ngoại của Đảng mà còn nhằm thu hót các nguồn lực bênngoài vào phát triển đất nước, tạo điều kiện cho nhân dân nâng cao hiểubiết về các dân téc, các nền văn hoá khác ở châu Á, châu Âu mà còn mởđường cho Việt Nam hội nhập xa hơn, sâu hơn vào đời sống kinh tế, chínhtrị, văn hoá của cộng đồng thế giới
* Những đóng góp của Việt Nam.
Do điều kiện vị trí địa lý, Việt Nam là cầu nối giữa châu Á với khuvực Thái Bình Dương, giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo,nơi giao lưu buôn bán hàng hoá từ Đông sang Tây, từ Bắc đến Nam, nơitiếp xúc giao thoa của nhiều nền văn minh, văn hoá lớn trên thế giới Đồngthời cũng là nơi hội tụ đầy đủ bản sắc văn hoá của khu vực Ngay từ Hộinghị thượng đỉnh ASEM I, mặc dù vẫn là nước có GDP tính theo đầungười vào loại thấp nhất nhưng nhiều nước đã bày tỏ lòng mong muốn ViệtNam chủ động, tích cực trong xây dựng và phát triển quan hệ Á - Âu
Tại Hội nghị cấp cao ASEM II, III, IV Việt Nam tiếp tục kiên định vaitrò của mình bằng những đóng góp thiết thực vào tiến trình hoạt động củadiễn đàn Tại ASEM II, Việt Nam đã đưa ra hai sáng kiến về hợp tác Á -
Âu là tăng cường chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, kết hợp y dược học cổ
Trang 36truyền với hiện đại, bảo vệ và phát huy di sản văn hoá của các nước thànhviên ASEM Các hội nghị diễn ra nhằm triển khai sáng kiến của Việt Namđược tổ chức ở Luân Đôn Tại ASEM III, Việt Nam đưa ra sáng kiến vềtăng cường cơ hội kinh doanh trong ASEM nhằm hướng hợp tác kinh tếASEM vào những mục tiêu cụ thể và thiết thực hơn Đặc biệt tại Hội nghịlần này, với tư cách là Chủ tịch Uỷ ban thường trực ASEAN, Chủ tịch diễnđàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Việt Nam đã tiếp nhận vai trò điềuphối châu Á trong ASEM đến nhiệm kỳ Hội nghị ASEM V năm 2004 Đây
là vinh dự và cũng là trách nhiệm lớn của Việt Nam, thể hiện sự tin cậygiữa các nước thành viên ASEM với nước ta
Việt Nam có vai trò quan trọng hơn từ Hội nghị cấp cao ASEM IV tổchức tại Copenhagen (Đan Mạch) tháng 9-2002 Tại Hội nghị, Việt Namcùng với Đức đề xuất sáng kiến tổ chức hội thảo ASEM về "xây dựng thểchế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hoá" và được đánh giá cao Ngoài racòn một số sáng kiến khác được nêu ra tại Hội nghị, như sáng kiến đẩymạnh xoá đói giảm nghèo và tăng cường sự thịnh vượng, hợp tác về đàotạo và hỗ trợ kĩ thuật ngành ngân hàng, tăng cường trao đổi kinh nghiệm vềhoạch định chính sách tài khoá Mặc dù một số sáng kiến không được chấpnhận nhưng ta cũng nhận thấy tiếng nói của Việt Nam trong tổ chức được
đề cao, đề nghị được đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM V của ViệtNam được 25 nhà lãnh đạo các nước trong tổ chức nhất trí tán thành
*Việt Nam _ nước chủ nhà của ASEM V.
Sau hội nghị thượng đỉnh lần IV vào cuối tháng 9/2002 phía Đan
Mạch chuyển giao công tác tổ chức ASEM cho Việt Nam Việc Việt Namđăng kí đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao Á - Âu lần V không chỉ là nghĩa
vụ với tư cách là một đối tác mà còn nhằm đạt được các lợi Ých quốc giacủa Việt Nam
Trang 37Trong bài trả lời phỏng vấn của báo Nhân dân số ra ngày 07/10/2004Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ rõ mục đích tham gia ASEM và tổ chứcASEM của Việt Nam Ông khẳng định: "Việc tham gia tích cực vào sự kếthợp Á- Âu đem lại nhiều lợi tích thiết thực cho nhà nước chúng ta Triểnkhai chính sách đối ngoại rộng mở đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực vàchủ động, hội nhập quốc tế và khu vực theo tinh thần "Việt Nam sẵn sànglàm bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển, nước ta không ngừng mở rộng quan hệhữu nghị với tất cả các nước thành viên ASEM" [50;147] Nhờ vậy, chúng
ta đã củng cố thêm nguồn vốn đầu tư, công nghệ và kiến thức quản lý kinh
tế, xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.Hơn nữa hội nghị cấp cao ASEM tổ chức 2 năm một lần, trên cơ sởvòng quay giữa châu Âu - châu Á ASEM IV tổ chức ở Côpenhagen (ĐanMạch), ASEM V sẽ do một đối tác châu Á đứng ra tổ chức, việc nước tađược giao trọng trách tổ chức ASEM V không phải vì không có nước nào ởĐông Nam Á đăng kí mà do:
+ Việt Nam là điểm đến an toàn nhất ở Đông Nam Á Các nhà lãnhđạo ASEM có thể yên tâm tới Việt Nam dù ASEM V hơn là tới các nướckhác trong khu vực Đông Nam Á
+ ASEM V là một hội nghị quan trọng, nhưng rất phức tạp Nhưng do
đã từng chứng kiến thành công của Việt Nam về việc tổ chức Hội nghị cấpcao các nước nói tiếng Pháp và nhất là Hội nghị cấp cao ASEM lần VI.Qua đó nổi bật lên uy tín của Việt Nam trong khâu tổ chức Hội nghị, trình
độ tổ chức đã được khẳng định Nên theo như nhận xét của các đại sứ HànQuốc tại Hà Nội là: "Việt Nam có thể đảm đương tốt vai trò chủ nhàASEM V"