Trong bối cảnh đó, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân dâng cao.Phần lớn những người Mỹ từng sống qua giai đoạn từ cuối Chiến tranh thế giới I đến Chiến tranh thế giới II đều ch
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chủ nghĩa tư bản (CNTB) là một hình thái kinh tế xã hội mới, thay thế hình thái kinh tế - xã hội phong kiến Đó là một bước tiến của nhân loại, là một nền văn minh hiện đại mới, có sức sống, nhưng cũng tồn tại những mâu thuẫn trong lòng nó Những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản đã trở thành nguồn gốc của những cuộc khủng hoảng trong quá trình sản xuất trên thế giới Vì thế, khủng hoảng kinh tế đã trở thành “căn bệnh trầm kha” của chủ nghĩa tư bản Để tồn tại và phát triển, mỗi lần khủng hoảng là một lần chủ nghĩa tư bản lại tự điều chỉnh và tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới
Từ khủng hoảng, chủ nghĩa tư bản trở nên xơ xác, qua cải cách, đổi mới chủ nghĩa tư bản sống lại, phồn vinh, đú chớnh là sự tuần hoàn có tính chu kỳ, trở thành quy luật phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) hiện đại Các cuộc khủng hoảng kinh tế phản ánh những mâu thuẫn trong nội bộ chủ nghĩa tư bản Những mâu thuẫn đó có thể dẫn đến những cuộc chiến tranh giữa các nước tư bản, thậm chí là chiến tranh thế giới
Trong nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phải đối mặt với một cuộc đại khủng hoảng - cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933, chẳng những tàn phá nền kinh tế mà còn gây ra những hậu quả tai hại về chính trị và xã hội cho chủ nghĩa tư bản, đặt chủ nghĩa tư bản đứng trước nguy cơ sụp đổ!
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 diễn ra hầu khắp thế giới TBCN, nhưng ở các nước khác nhau, mức độ và thời gian diễn ra khủng hoảng cũng ít nhiều có sự khác nhau Mỹ là nước đầu tiên diễn ra khủng hoảng, tiếp theo là sự suy thoái ở các nước tư bản khác, trong đó Đức là nước khủng hoảng diễn ra nặng nề bởi Đức nhận viện trợ, đầu tư từ Mỹ và phụ thuộc vào kinh tế Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất… Trong cuộc khủng hoảng này, số công nhân thất nghiệp lên đến hơn 50 triệu, hàng triệu
Trang 2người không có nhà ở, không có đủ lương thực Trong bối cảnh đó, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân dâng cao.
Phần lớn những người Mỹ từng sống qua giai đoạn từ cuối Chiến tranh thế giới I đến Chiến tranh thế giới II đều cho rằng họ đã được nếm trải sự kiện
có tầm quan trọng lịch sử đặc biệt: sự bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản, cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, sự thử nghiệm gây ấn tượng sâu sắc trong cải cách chính trị, cuộc xung đột làm biến động thế giới và sự nổi lên của nước Mỹ thành một thế lực vô song trên toàn cầu
Mỹ là nước “chõm ngũi” cho cuộc khủng hoảng, nền kinh tế hàng đầu
đó cũng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, những biện pháp thông thường của chính quyền Hoover đều không thể khắc phục được và khủng hoảng ngày càng nặng nề Mỹ cũng là nước điển hình trong việc tìm ra con đường để khắc phục cuộc Đại suy thoái Sau khi Roosevelt lên làm Tổng thống, ụng đó đưa
ra “Chớnh sỏch mới” (New deal) có thể coi đây là phương thuốc hữu hiệu để đặc trị căn bệnh khủng hoảng của nước Mỹ, trọng tâm của chính sách là tăng cường vai trò của Nhà nướcđối với nền kinh tế và các chính sách xã hội
Thế giới đã chứng kiến sự biến đổi to lớn của nước Mỹ, đó là sự thay đổi trong chính sách của Chính phủ Mỹ đối với nền kinh tế nước Mỹ Nếu trước Roosevelt, khẩu hiệu của nhà cầm quyền Mỹ đối với nền kinh tế đó là
“hóy để mặc nú”, coi tự do kinh doanh đó là nguyên nhân của sự phồn vinh của nước Mỹ, thì trước những tác động nặng nề của cuộc Đại suy thoái, đòi hỏi nước Mỹ phải có sự thay đổi, từ tự do cạnh tranh chuyển sang sự can thiệp của Nhà nướcđối với nền kinh tế Một sự thay đổi to lớn của nước Mỹ,
đó là trong chính sách đối ngoại của Mỹ, đã chấm dứt hoàn toàn chủ nghĩa biệt lập và thay đổi trong chính sách đối ngoại với Liờn Xụ Như vậy, có thể nói, mốc thời gian cuộc Đại suy thoái diễn ra cũng là mốc thay đổi lớn đối với lịch sử nước Mỹ
Trang 3Người có gúp cụng làm nên sự thay đổi to lớn của nước Mỹ chính là Tổng thống F.D Roosevelt với Chính sách mới (New deal), với những biện pháp can thiệp mạng mẽ đã đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc Đại suy thoái, tạo
cơ sở vật chất vững chắc để nước Mỹ ổn định và phát triển mạnh mẽ sau
đó Những đóng góp tích cực đú ụng luụn được người dân Mỹ xếp là một trong ba Tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ (cùng với Washington và Abraham Lincoln)
Tìm hiểu cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933 ở nước Mỹ cùng với những biện pháp hữu hiệu để đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng và vươn lên chẳng những giúp chúng ta giải thích sự phát triển mạnh mẽ của nước Mỹ những năm sau đó và trong quá trình phát triển của mình, nước Mỹ luôn luôn vấp phải những khó khăn lớn, nhưng cũng là nước tìm được những giải pháp tốt nhất để thoát khỏi những khó khăn đó và vươn lên Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tài chính những năm 2008 – 2009 cũng bắt đầu từ nước Mỹ và sau đó bao trùm thế giới Nước Mỹ và thế giới cũng đang tìm những lối thoát để bước ra khỏi cuộc khủng hoảng đó Do vậy, nghiên cứu Chính sách mới của Roosevelt càng có ý nghĩa quan trọng
Với những ý nghĩa thực tiễn và khoa học to lớn như vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề “Chớnh sỏch mới (New deal) của Franklin D Roosevelt” làm
đề tài cho Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933 có tác động to lớn đến lịch sử nhân loại, nó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới II Qua cuộc Đại suy thoái này nhân loại được chứng kiến hai cách khắc phục hoàn toàn khác nhau, cách khắc phục của nhóm “nước giàu”, điển hình là nước
Mỹ, cách khắc phục của nhóm “nước nghốo”, tiêu biểu là nước Đức Nước
Mỹ là nước đầu tiờn tỡm đường vượt qua cơn Đại suy thoái bằng “Chớnh sỏch mới” (New deal) của Tổng thống F.D Roosevelt - người được các sử
Trang 4gia và các nhà khoa học chính trị xếp là một trong ba Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ cùng với Washington và Lincoln.
Chính quyền F.D.Roosevelt từ lâu đã là trung tâm trong các nghiên cứu của giới học giả đến mức khẩu hiệu “Chớnh sỏch mới” đã thể hiện không chỉ đơn giản là một tập hợp các chính sách và thể chế cụ thể , mà theo nhiều nhà sử học thỡ cũn thể hiện toàn bộ một thời đại Thậm chí, ngay cả một số người nghi ngờ về tính trung tâm của lịch sử chính trị nói chung – cũng phải thừa nhận rằng Chính sách mới là một hiện tượng có tầm quan trọng lịch sử đặc biệt Do vậy, nó đó tạo điều kiện cho sự ra đời của một số lượng tài liệu nghiên cứu nhiều hơn bất cứ một chủ đề nào khác trong lịch sử nước Mỹ thế kỷ XX
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về Chính sách mới, và cũng đánh giá theo nhiều hướng khác nhau, có thể kể đến hai xu hướng:
William Leuchtenburg trong cuốn “Franklin D Roosevelt and the New deal” xuất bản năm 1963, nhìn chung ông có thiện cảm với Chính sách
mới, nhưng đồng thời ông lại đánh giá kết quả của chính sách này không hơn
gì một cuộc cách mạng “nửa vời” để lại rất nhiều vấn đề mới được đặt ra cho chính nó, sự thiếu vắng những cải cách cơ cấu quan trọng trong nền kinh tế công nghiệp, những giới hạn của một Nhà nướcphỳc lợi mới,…
Colin Gordon trong cuốn “Những Chính sách mới (New deals)” xuất
bản năm 1994, cuốn sách được coi là cách lý giải toàn diện đầu tiên của những người theo trường phái xét lại về giai đoạn Chính sách mới trong nhiều thập kỷ Bất chấp sự chỉ trích của các học giả được đưa ra từ trước đó, tác giả đã chấp nhận những quan điểm về ca ngợi Chính sách mới Tuy nhiên, ông cũng như rất nhiều nhà sử học đương thời đã đặt ra rất nhiều câu hỏi khác về Chính sách mới, những câu hỏi quan tâm ít hơn tới việc đem chính sách này ra thực hiện là tốt hay xấu, so với việc giải thích vì sao lại phải có một chính sách như vậy, hậu quả của nó ra sao và làm thế nào chính
Trang 5sách này lại giúp sáng tỏ những dạng thức thay đổi lớn trong chính trị ở thế
kỷ XX
Hầu hết trong các công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao những thành tựu của Tổng thống Roosevelt đối với cách khắc phục
cuộc suy thoái, ví dụ như trong cuốn “Trọn bộ 43 đời Tổng thống Hoa Kỳ”,
“Khỏi lược lịch sử Hoa Kỳ”, “10 nhân vật ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX”
đều đánh giá Roosevelt là con người đã làm thay đổi lịch sử nước Mỹ, họ đều coi Chính sách mới là tập hợp những chính sách cấp tiến được tiến hành
từ khi ụng lờn làm Tổng thống cho đến năm 1939 khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và rất nhiều những nội dung của Chính sách mới còn tiếp tục được sử dụng cho đến nay
Tại Việt Nam, trong một số cuốn giáo trình thông sử, vấn đề đã được
đề cập đến như là một giai đoạn phát triển của lịch sử, là giai đoạn quan trọng chuyển tiếp giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới Tuy nhiên, về cách đánh giá lại có sự khác nhau, một số cuốn được xuất bản gần đây thì đánh giá cao những biện pháp tiến hành khắc phục cuộc khủng hoảng của Roosevelt Tuy nhiên, một số cuốn sách được xuất bản vào những năm 50,
60 lại chia làm hai luồng ý kiến đánh giá, nếu đó là sách được xuất bản tại miền Nam như cuốn “Vài nét về lịch sử Huê Kỳ” hay “Khỏi lược lịch sử nước Mỹ” thì đánh giá nhìn nhận chủ yếu vào những thành tựu tích cực của Chính sách mới Những công trình sử học ở miền Bắc một mặt trình bày cụ thể về Chính sách mới, mặt khác phần lớn lại nhìn nhận Chính sách mới nhu
là một biện pháp “mị dõn”
Tóm lại, Chính sách mới là một vấn đề có tầm quan trọng đối với lịch
sử hiện đại của nước Mỹ, nó đó được các học giả nước ngoài nghiên cứu và tìm hiểu ngay từ khi nó mới ra đời cho đến nay Tuy nhiên, ở Việt Nam lại chưa có một công trình nào nghiên cứu và đề cập một cách đầy đủ toàn diện
về vấn đề
Trang 63 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu về cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933, nguyên nhân bùng nổ, hậu quả và cách khắc phục điển hình đó là Chính sách mới (New deal), người viết đánh giá về những thành tựu và hạn chế, đặc biệt là những đóng góp của Roosevelt qua đó lý giải tại sao Roosevelt lại trở thành một trong ba Tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ Gần đây, khi người thăm dò ý kiến John Zogby tại Mỹ đề nghị mọi người xếp hạng những Tổng thống của thế kỷ, Franklin Delano Roosevelt là người dẫn đầu
Ngoài những đánh giá về Chính sách mới, so sánh với cách khắc phục cuộc khủng hoảng của nước Đức, lý giải nguyên nhân nước Đức phát động Chiến tranh thế giới II, qua đó lý giải được tại sao nước Đức có thể tự chủ kinh tế trong những năm chiến tranh trong điều kiện cô lập?
Luận văn có sự liên hệ với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm
2008 – 2009, bởi vì cũng giống như cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933 cũng bắt nguồn từ nước Mỹ rồi lan sang nhiều nước khác và để lại hậu quả nặng
nề đối với nền kinh tế thế giới, vậy để khắc phục được cơn khủng hoảng kinh
tế tài chính 2008 - 2009 những bài học của New deal có vận dụng được không?
Thông qua việc nghiên cứu về Chính sách mới, Luận văn tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, tìm hiểu tại sao lại xuất hiện Chính sách mới vào trong giai đoạn lịch sử quan trọng đó Đó là do yêu cầu của cuộc Đại suy thoái, do vai trò của Tổng thống Roosevelt và sự vận dụng những nội dung của học thuyết Keynes về vai trò quản lý của Nhà nướcđối với nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung cụ thể của Chính sách mới, xem đó là tổng thể những chính sách về kinh tế, chính trị xã hội được tiến hành trong giai đoạn từ năm 1933 đến năm 1939 nhằm ổn định đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, đánh giá một cách toàn diện về Chính sách mới, cả về những thành tựu và những hạn chế của nó Để thấy được tính toàn diện của Chính
Trang 7sách mới, tác giả còn tiến hành so sánh Chính sách mới của Roosevelt với những biện pháp khắc phục của Hoover, qua đó lý giải được tại sao Roosevelt thành công còn Hoover lại thất bại Bên cạnh đó, so sánh Chính sách mới với cách khắc phục khủng hoảng của nước Đức - một nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc Đại suy thoái do Đức nhận viện trợ chủ yếu
từ Mỹ Dưới bàn tay “sắt và mỏu” của Hitler, nước Đức cũng có xu hướng tăng cường sự can thiệp của Nhà nướcđối với nền kinh tế, nhưng mục đích lại hoàn toàn khác với Roosevelt Mặt khác, tác giả cũng liên hệ với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008 - 2009, tìm ra những điểm tương đồng giữa hai cuộc khủng hoảng từ đó có thể đưa ra những bài học của cuộc Đại suy thoái đối với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu trong giới hạn thời gian từ năm 1929 đến
1939 là thời gian đầy xáo động trong lịch sử: Cuộc Đại suy thoái lớn nhất và con đường khắc phục khủng hoảng của nước Mỹ Năm 1929 là năm bắt đầu cuộc Đại suy thoái, bắt đầu từ nước Mỹ và cũng chính nước Mỹ là nước đầu tiên tìm ra hường khắc phục - đại diện cho những nước tư bản giàu có, nhiều tài nguyên thiên nhiên Cuộc Đại suy thoái để lại hậu quả nặng nề nhất trong những năm 1930, nó đó chấm dứt những ảo tưởng của các nước tư bản về sự phồn vinh vĩnh viễn và chủ nghĩa tư bản đứng trước nguy cơ sụp đổ Trong khi đó, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liờn Xụ không chịu tác động của cuộc suy thoái, Liờn Xụ tiến hành thành công những kế hoạch 5 năm, vì thế đây được coi là một trong những ưu việt của mô hình xã hội chủ nghĩa Năm
1939 được coi là mốc kết thúc của Chính sách mới, bởi vì Chiến tranh thế giới II bùng nổ, một phần nào đó cuộc Đại suy thoái đã được khắc phục; mặt khác, mối quan tâm của nhân loại lúc đó hướng về cuộc chiến tranh thế giới
Giới hạn không gian tập trung vào nước Mỹ và có liên hệ và so sánh với nước Đức… Mỹ là nước tư bản điển hình trong việc tìm ra cách khắc phục cuộc suy thoái, Đức là nước thứ hai chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc Đại suy thoái, cũng tiến hành khắc phục bằng con đường tăng cường
Trang 8can thiệp của Nhà nướcđối với nền kinh tế - “cỏch khắc phục của những nước nghốo” Dù là cách khắc phục thế nào cũng đều là sự phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của nước mình.
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lụgic đây là hai phương pháp chủ yếu giúp nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác về Chính sách mới
Ngoài ra, để thấy được tính toàn diện của vấn đề, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh để thấy được sự giống và khác nhau giữa cách khắc phục của Roosevelt và Hoover, Roosevelt và Hitler
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, lập bảng biểu, tổng hợp hoá, khái quát hoá từ đó đưa ra những số liệu chính xác nhằm
cụ thể hoá những hậu quả của cuộc Đại suy thoái, những thành tựu trong từng biện pháp của Chính sách mới, những số liệu về số người thất nghiệp, chỉ số công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, chứng khoỏn,…
Tóm lại, để nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác về Chính sách mới đòi hỏi người viết phải vận dụng một cách tổng hợp nhiều biện pháp, nhưng trong đó quan trọng nhất là phương pháp lịch sử và phương pháp lụgic là hai phương pháp chủ đạo của khoa học lịch sử Bên cạnh đó là việc quán triệt nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Hoàn cảnh ra đời của Chính sách mới (New deal)
Chương 2: Quá trình thực hiện Chính sách mới (New deal)
Chương 3: Đánh giá về Chính sách mới (New deal)
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CHÍNH SÁCH MỚI (NEW DEAL)
1.1 Cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933
1.1.1 Sự thịnh vượng của nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Mỹ là nước tư bản sinh sau đẻ muộn, nhưng lại phát triển trong điều kiện thuận lợi và phát triển với tốc độ nhanh hơn các nước tư bản khác Đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới I, Mỹ tuy là nước không tham chiến ngay
từ đầu, nhưng lại được lợi nhiều nhất từ việc buôn bán vũ khí cho cả hai phía, lại tham gia đàm phán kết thúc chiến tranh nên Mỹ có điều kiện để ký kết những hiệp định có lợi cho Mỹ Sau chiến tranh, nhờ áp dụng những kỹ thuật, thiết bị mới,… nước Mỹ đã xuất hiện sự phồn vinh vào thập niên 20
Sự thịnh vượng đó đã làm cho nhiều người say sưa, cho rằng nước Mỹ từ nay sẽ bước vào thời đại thịnh vượng nghìn năm
Trên thực tế, giá cổ phiếu tăng vọt làm người ta chóng mặt và tháng nào người ta cũng tung ra hàng trăm triệu để mua cổ phiếu với hy vọng phen này sẽ lãi to Sản xuất tăng lên không ngừng nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và những nguồn năng lượng mới Chỉ số công nghiệp nếu lấy thời gian từ 1923 đến 1925 bình quân là 100, thì đến tháng 7 năm 1928 đã tăng lên 110; tháng 6 năm 1929 đã tăng lên 126, đồng thời, tình hình giá cổ phiếu ở Mỹ cũng rất khả quan Ba tháng mùa hè năm 1929, cổ phiếu của công ty xe hơi General Motors tăng từ 268 lên 391; cổ phiếu công ty sắt thép
Mỹ United States Steel Corp, từ 165 lên 258 Vào tháng 9 năm 1929, Bộ Tài chính của Mỹ còn đảm bảo với công chúng: "Hiện nay không có gì để lo
ngại Điểm cao phồn vinh này sẽ còn tiếp tục kéo dài" (5,411)
Về tài chính, ưu thế của Mỹ nổi lên rõ rệt Mỹ đã đầu tư ra nước ngoài là 8,5 tỷ USD (một nửa trong số đó là đầu tư vào châu Âu) Mỹ nắm
Trang 1060% dự trữ vàng thế giới Phố Wall trở thành trung tâm tài chính số 1 của thế giới tư bản.
Về hàng hải, nếu trước chiến tranh trọng tải tàu biển của Mỹ chỉ bằng 1/10 của Anh thì nay đã bằng 2/3
Sản xuất phát triển không ngừng Người ta tính rằng vào năm 1928, 73 công nhân làm ra một sản lượng bằng 100 công nhân năm 1920 Các mặt hàng trước đõy được coi là xa xỉ chỉ dành cho những gia đình giàu sang thì nay đã có mặt trong các gia đình trung lưu ở Mỹ Các nhà máy làm việc hết công suất không cung cấp kịp xe hơi, tủ lạnh, radio, máy hút bụi, máy điện thoại để thoả mãn những nhu cầu tăng lên không ngừng
Henry Ford đã làm một cuộc cách mạng trong nền công nghiệp các phương tiện vận tải, bằng việc tung ra mẫu xe T nổi tiếng của ông Nhờ những phương pháp tiêu chuẩn hoá và phân công lao động mà ông có thể vừa tăng lương cho công nhân, vừa giảm giờ làm, lại vừa bán được ụtụ với giá vừa túi tiền của đông đảo quần chúng thuộc tầng lớp trung lưu ở nước
Mỹ Sản lượng điện cứ vài năm lại tăng lên gấp đụi Các rạp chiếu bóng bao giờ cũng thấy đầy người
Thế kỷ XX là thời kỳ thịnh vượng của quá trình đô thị hoá và nó cũng
là một biểu hiện của sự thịnh vượng Đó là một hiện tượng rất phổ biến Ở khắp nơi, những ngôi nhà chọc trời mọc lên; hơn một triệu lễ khởi công xây dựng nhà cửa trong vòng một năm chỉ xảy ra ở các khu vực thành thị; chính quyền các xây dựng thêm 600.000 dặm đường xá để cung ứng cho lượng xe
ô tô gia tăng của tầng lớp trung lưu; những khu vực thành thị cũ đã không thể nào chứa nổi sự gia tăng dân số và các khu ngoại ô mới được đã mọc lên vượt ra khỏi tầm hạn chế của các thành phố lớn ễtụ, radio, phim ảnh, những cuộc mắc nối đường dây điện lưới không dứt và các hình ảnh khác về sự vượt trội của công nghệ Mỹ chẳng bao lâu cũng vươn tới nông thôn
Trang 11Ngày 4 tháng 3 năm 1929, khi Hoover bước vào Nhà Trắng, nhiều người dân Mỹ đã cho rằng ông là người tốt nhất để đưa nước Mỹ đến sự thịnh vượng kéo dài mà ông thường nhắc tới khi làm Bộ trưởng Bộ Thương mại: "Chúng ta đã đi gần đến chỗ xoá sạch nạn nghèo đói hơn bất cứ nước
nào trên thế giới".(5,410) Cả nước chìm đắm trong không khí lạc quan không
gì sánh nổi đối với tương lai của đất nước Hoover tràn đầy lòng tin trình bày đường lối chính trị của mình: "Bảo vệ chính thể tự trị dân chủ, ủng hộ Chính phủ địa phương các cấp, làm cho chúng trở thành cơ sở vững chắc của chính thể này; hoàn thiện chế độ tư pháp về các mặt kinh tế và sinh hoạt xã hội; bảo hộ tự do xã hội có trật tự, vứt bỏ sự khống chế cỏc phỏi hoặc giai cấp cá biệt đối với xã hội, thiết lập và duy trì chế độ mà mọi người đều bình đẳng
về cơ hội; kích thích tinh thần sáng tạo của con người, phát huy cá tính con người; đề xướng tinh thần sáng tạo con người, phát huy cá tính con người; đề xướng tinh thần chính trực tuyệt đối trong xử lý sự vụ công chúng; sử dụng người có tài năng; phồn vinh kinh tế, giảm bớt nghèo nàn, tự do ngôn luận; phát triển giáo dục, nâng cao trình độ tri thức xã hội; đề xướng tín ngưỡng tôn giáo, tôn trọng mọi tín ngưỡng; củng cố quốc phòng, xúc tiến hoà bình"
(5,413) Cương lĩnh cầm quyền tại nước này có nghĩa là thêu hoa trên gấm,
muốn xây dựng ngay một lúc, một quốc gia hưng thịnh phồn vinh thành thiên đường ngay giữa trần gian
Mặc dù, tình hình trong con mắt nhà "công trình sư vĩ đại" này hiện ra
vô cùng lành mạnh, nhưng chỗ nào của nền kinh tế cũng có những nguy cơ tiềm tàng Dưới sự cổ vũ của thắng lợi ngài Hoover, hoạt động đầu cơ chứng khoán đã đạt đến trình độ điờn cuồng Rất nhiều xí nghiệp lớn và ngành thương nghiệp đã chia cổ phiếu cho công nhân, khiến họ dần quen biết ngành ngân hàng và người mối lái Giá trung bình của cổ phiếu phổ thông là
117 vào tháng 12 năm 1928, đã tăng vọt lên 225 vào tháng 9 năm 1929 Trong thời gian ngắn, cổ phiếu của Công ty Mongomery – Ward đã tăng từ
Trang 12132 tăng lên đến 466, cổ phiếu của Công ty General Motors đã tăng từ 128 lên đến 396, cổ phiếu của Công ty Vô tuyến điện đã tăng từ 94 lên đến 505
"Giá cổ phiếu của mấy công ty này đã cao đến mức làm cho người ta choáng váng đầu óc Trong tình hình đó người người đều chìm đắm say sưa trong
giấc mộng đẹp dựa vào việc mua cổ phiếu để phát tài" (5,414) Những
người môi giới chứng khoán không ngừng gia tăng khoản vay ngân hàng của
họ, từ 3,5 tỷ USD vào tháng 1 năm 1929, sau hai năm đã tăng lên đến 8,5 tỷ USD, việc họ mua cổ phiếu với khoản tiền lớn như vậy là việc chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ Trong tháng 1 năm 1929, đã phát hành số lượng cổ phiếu trị giá hơn 1 tỷ USD
1.1.2 Diễn biến và hậu quả của cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933
Ngay trong thời kỳ thịnh vượng nhất, nền kinh tế Mỹ vẫn tồn tại những lỗ hổng Ngay trước thời điểm "ngày thứ năm đen tối" vào tháng 10 năm 1929, những dấu hiệu của sự rạn nứt nền kinh tế đã xuất hiện Đó là những dấu hiệu của sự suy giảm của ngành địa ốc trong năm 1927; giáo viên của thành phố Chicago đã được trả lương bằng chứng khoán tạm thời trong năm tới
Tín hiệu bão lớn đầu tiên đến từ Luân Đôn Ngày 26 tháng 9 năm
1929, Ngân hàng England, để đình chỉ chảy vàng ra nước ngoài và bảo vệ địa vị đồng bảng Anh trong thương mại quốc tế, đã nâng cao tỷ lệ tiền khấu đổi hoặc lãi suất ngân hàng lên 6,5% Ngày 30 tháng 9 ngân hàng này đã từ New York rút về Luân Đôn ít nhất là mấy trăm triệu USD, tạo thành giá cả chứng khoán sụt giảm Thế nhưng hai tuần lễ sau đó, thị trường đã hồi phục trở lại Tuy vậy, bắt đầu từ ngày 15 tháng 10 đã xuất hiện hiện tượng giải thể
và bán đổ bán tháo cổ phiếu, nhưng do những kẻ đầu cơ lớn bỏ không xem xét kỹ lưỡng, nờn lúc đầu còn được coi là hoà dịu
Thế nhưng, đến ngày 24 tháng 10 năm 1929 mới thực sự là "Ngày thứ năm đen tối" nổi tiếng trong lịch sử giao dịch chứng khoán, thị trường chứng
Trang 13khoán hoàn toàn lâm vào hoảng loạn Mức giao dịch đạt được gần 13 triệu
cổ phiếu, giá cả sụt nhanh đến mức máy thu, ghi chép tự động trong ngành
cổ phiếu cũng theo không kịp Buổi chiều "ngày thứ năm đen tối", khi Công
ty Morgan và các ngân hàng lớn khác bỏ ra số tiền lớn 240 triệu USD để mua cổ phiếu nhằm duy trì thị trường chứng khoán, đồng thời để bảo vệ tài khoản và đầu tư của họ Và cũng ngay buổi chiều "ngày thứ năm đen tối" đã
có mấy ngàn người môi giới chứng khoán đầu tư nhỏ bị phá sản Thế nhưng nếu chỉ như thế thì đại đa số người trong nước đều cho rằng sự sụp đổ của phố Wall tuy có tạo thành tai hoạ, nhưng vẫn thuộc vào loại khủng hoảng kinh tế mà trước đõy nước Mỹ vẫn trải qua kiểu khủng hoảng chu kỳ, được mọi người quen thuộc, chẳng qua lần này chỉ là sự phát sinh mới mà thôi Ngày 25 tháng 10 năm 1929, Tổng thống Hoover phát biểu: "Xí nghiệp cơ bản của nước Mỹ, tức sản xuất và phân phối hàng hoá, được đứng chõn trờn
cơ sở lành mạnh và phồn vinh".(5,411) Lời nói của Hoover chỉ nhằm xoá bỏ
sự lo lắng của nhiều người
Thế nhưng, đến ngày 29 tháng 10 mới thực sự là ngày hoảng loạn chưa từng thấy trong lịch sử chứng khoán Mỹ Ở thị trường chứng khoán New York, nơi người ta mua bán hơn 16 triệu cổ phiếu, chỉ số đã sụt giảm tới hơn 43 điểm Giá một cổ phiếu được coi là bảo đảm nhất đã sụt 80% so với tháng 9 và một số không sao tìm được người mua nữa Vào cuối thỏng, cỏc cổ đông đã mất 15 tỷ USD và trị giá các loại chứng khoán đã giảm 40 tỷ USD Hàng triệu người đã mất sạch số tiền đanh dụm cả đời Đến khoảng trung tuần tháng 11, tổng mức tổn thất đã đạt khoảng 3 tỷ USD Đến lúc này, người ta không thể không thừa nhận sự phồn vinh kéo dài không dứt đã theo gió bay mất
Cuộc đại khủng hoảng năm 30 diễn ra ngày càng trầm trọng, từ lĩnh vực kinh tế, nhanh chóng lan sang các lĩnh vực khỏc, gõy hậu quả nghiêm trọng
Trang 141.1.2.1 Về kinh tế
Từ năm 1929 đến năm 1932, tại sở giao dịch cổ phiếu thành phố New York, có 55 loại cổ phiếu giảm từ 252 USD giảm xuống còn 61 USD Cổ phiếu của Công ty sắt thép Mỹ United States Steel trong thời kỳ này từ 262 tụt xuống còn 22; cổ phiếu của công ty ụtụ General Motors từ 173 tụt xuống
8, trong thời kỳ khủng hoảng chỉ riêng nước Mỹ có đến 5000 ngân hàng bị phá sản Sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu chỉ là một mặt của nền kinh tế
Mỹ, ý nghĩa thực sự của nó là ở chỗ, nền kinh tế Mỹ đã rơi vào vực sâu đình trệ, sụt giảm thậm chí suy thoái nghiêm trọng Hàng triệu, hàng chục triệu người dân Mỹ người dân thường nước Mị bị mất trắng số tiền tích luỹ của họ trong nhiều năm Những ngân hàng còn duy trì hoạt động, trữ lượng vàng chỉ còn 6 tỷ USD trong khi cần phải chi trả số tiền tồn khoản của khách hàng lên đến 41 tỷ USD Sở giao dịch chứng khoán ở phố Wall và sở giao dịch thương phẩm tại Chicago đều chính thức đóng cửa Sự hoạt động về tài chính đã lâm vào trạng thái hỗn loạn và ngạt thở nghiêm trọng
Tháng 10 năm 1932, để ngăn ngừa sự phá sản của một hệ thống ngân hàng quan trọng Thống đốc bang Nevada đã hạ lệnh mới cho các ngân hàng
ở trong bang này đình chỉ nghiệp vụ với danh nghĩa "đi nghỉ hè", để lộ rõ dấu vết bước đầu của sự hoảng sợ Tháng 2 năm 1932, ngày thứ bảy, sau khi một hệ thống ngân hàng ở bang Michigan đóng cửa phá sản, để ngăn chặn việc chen nhau rút tiền, các Thống đốc các bang láng giềng cũng áp dụng biện pháp như vậy Đến ngày 3 tháng 3, tức là một ngày trước khi Tổng thống Roosevelt nhậm chức, cả nước đã có 23 bang ở vào tình trạng "ngân hàng đi nghỉ hè" Kết quả dự trữ vàng, từ hệ thống dự trữ liên bang và thành phố New York, trung tâm tài chính tiền tệ thế giới đã đổ vào tay hệ thống ngân hàng trong nước đang lung lay muốn đổ và cất giữ hộ nước ngoài, dẫn tới dự trữ vàng quốc gia đã từ 1,3 tỷ USD tháng 1 năm 1933 giảm xuống mạnh còn 400 triệu USD vào đầu tháng 3
Trang 15Cuộc Đại suy thoái tác động đến nền kinh tế
Khối lượng cổ phiếu được bán (NYSE) 1,1 tỷ 1,65 tỷ
Cá nhân và các công ty tiết kiệm 15,3 tỷ USD 2,3 tỷ USD
(Nguồn: www.spartacus.schoolnet.co.uk/USARnewdeal.htm)
Sự sụt giảm về lĩnh vực tài chính đã lan sang công nghiệp, một lĩnh
vực mà xưa nay vẫn được coi là nền tảng của quốc gia Năm 1932, sản xuất công nghiệp của Mỹ gần như sụt giảm một nửa, mức độ kinh tế nói chung đã tụt lùi ngang bằng năm 1913 Năm 1932 đã có tổng số 86.000 xí nghiệp công nghiệp ngừng hoạt động, ngành công nghiệp sắt thép của Mỹ chỉ duy trì được sản xuất là 12% Tổng giá trị sản lượng công nghiệp và thu nhập quốc dân giảm xuống một nửa, về mậu dịch hàng hoá tụt xuống 2/3 Trong tổng cộng bốn năm khủng hoảng kéo dài, cả nước Mỹ, tổng cộng có hơn 100.000
xí nghiệp bị phá sản, lợi nhuận xí nghiệp từ 10 tỷ USD trước đõy giảm nhanh xuống còn 1 tỷ USD Trong các năm 1929 đến năm 1933, sản lượng than giảm 41,7%, sản lượng thép, gang lần lượt giảm 76% và 79,4%, các ngành sản xuất khác như công nghiệp kiến trúc, ô tô cũng giảm với mức độ lớn
Về nông nghiệp, năm 1929, tổng thu nhập về nông nghiệp của nước
Mỹ sụt giảm xuống 60% Hơn 1.000.000 nông hộ phá sản Thu nhập nông nghiệp đã từ 13 tỷ USD năm 1929 giảm xuống còn 5,5 tỷ năm 1933
Cảnh ngộ khó khăn nghiêm trọng của công, nông nghiệp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mậu dịch đối ngoại, kim ngạch xuất khẩu của Mỹ năm 1929 là 5,2 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu là 4,3 tỷ USD, ba năm sau hai con số đó lần lượt giảm xuống còn 1,6 tỷ USD và 1,3 tỷ USD
"Cơn khủng hoảng trong thị trường tiền tệ ảnh hưởng sang thị trường tiêu thụ hàng hoá, và giới thương mại cũng bị kiệt quệ một cách mau chóng
Trang 16Nhiều người thụi khụng mua những chiếc xe hơi mà họ đã đặt mua từ trước, hoặc là thôi không may thêm những bộ đồ mà họ tính trước sẽ may, và những việc này đã làm cho giới sản xuất bị hạn chế Sức sản xuất bắt đầu bị đình trệ, các xưởng máy bắt đầu đóng cửa nghỉ việc, và hàng triệu công nhân thất nghiệp phải xếp hàng trước các trại tế bần để xin ăn Tới cuối năm 1932,
có tới 12 triệu người bị thất nghiệp và lâm vào cảnh bần cùng, nhiều ngân hàng bị phá sản, các vụ cầm cố đều bị vỡ nợ không hy vọng chuộc lại được,
và tình trạng bi ai này tưởng tượng là sẽ khụng tìm được lối thoát nào hết" (5,188)
Cuộc khủng hoảng của Mỹ đã lan rộng ra các nước khỏc vỡ Mỹ là nền kinh tế hàng đầu thế giới, rất nhiều nước chịu ảnh hưởng của Mỹ và nhận vốn vay của Mỹ, đặc biệt là Đức và Áo là những nước đã dựa vào đầu tư của
Mỹ Mỹ buộc phải nâng cao hàng rào thuế quan tới mức cao nhất để bảo hộ
hàng hoá Mỹ so với hàng hoỏ cỏc nước khác bằng Đạo luật Smoot – Hawley Do các công ty tài chính Mỹ thu hồi những khoản vay ngắn hạn ở
nước ngoài của họ, nên vào tháng 5 năm 1931, ngân hàng Wien ở Áo là ngân hàng nắm giữ 2/3 số nợ và tiền vốn đầu tư tuyên bố phá sản vì không còn khả năng chi trả Tất cả những việc đó làm cho cả lục địa châu Âu hốt hoảng
cả lên Sau đó ngày 13 tháng 7, một trong bốn ngân hàng lớn nhất của Đức tuyên bố phá sản, Sở giao dịch Berlin cũng đóng cửa Tình trạng tài chính Đức nhanh chóng lâm vào tình trạng khó khăn Từ tháng 5 đến tháng 7 năm
1931, trữ lượng vàng dự trữ ở ngân hàng quốc gia Đức bị sụt giảm 42% Cuộc khủng hoảng cũng nhanh chóng lan sang Anh một quốc gia dựa vào ngoại thương Nó cũng lan nhanh đến những quốc gia tại Mỹ Latinh và châu Đại Dương là những nước dựa vào việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp
Cuộc khủng hoảng năm 1929 kéo dài gần bốn năm và đã lan tràn hầu khắp các nước tư bản Sở dĩ cuộc khủng hoảng kéo dài như vậy, là vì khủng
Trang 17hoảng công nghiệp lại kèm theo cả khủng hoảng nông nghiệp và nhiều lĩnh vực kinh tế khác Khủng hoảng đã làm cho nhiều tư bản nhỏ và vừa bị phá sản, đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung tư bản và sản xuất Sự lũng đoạn đã đạt đến một trình độ hết sức cao Ở Mỹ, năm 1933, năm công ty lũng đoạn kiểm soát 98% sản lượng đồng, sáu công ty kiểm soát 80% sản lượng tơ nhân tạo, ba công ty kiểm soát 89% sản lượng ô tô Lợi dụng địa vị thống trị của mỡnh, cỏc nhà tư bản lũng đoạn đã giữ được giá cao, ngay cả trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế, vì sức mua giảm sút nhiều, nên họ đã không giữ được giá như mức trước thời kỳ khủng hoảng nữa
1.1.2.2 Về xã hội
Cuộc khủng hoảng kinh tế nhanh chóng ảnh hưởng sâu sắc và trầm trọng đến lĩnh vực xã hội Cuộc khủng hoảng kinh tế này đã mang lại cho người dân phổ thông Mỹ những nguy cơ lớn, số người thất nghiệp từ 1,5 triệu năm 1929 đã tăng lên đến 13 triệu vào năm 1933 khi Hoover rời khỏi chức vụ, con số này bằng ẳ tổng số lao động phổ thông tại Mỹ Số người bị ảnh hưởng của thất nghiệp là 8 triệu Sau khi khủng hoảng bùng nổ, người da
đen, phụ nữ và những người không lành nghề đã
bị thất nghiệp đầu tiên Tiền lương giảm 40% và
cổ tức giảm 57%
Khủng hoảng cũng làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội Mỹ Thanh niên chậm kết hôn, người đã kết hôn chậm đẻ con Năm 1929, nước Mỹ có khoảng 1.232.000 người kết hôn,
năm 1932 chỉ có 982.000 người Nhiều trường đại học và trường học ngừng xây dựng Một số bang kinh phí giáo dục giảm 30% Có một số bang và thành phố, vội vàng áp dụng một số biện pháp
Một người mẹ 32 tuổi có 7 đứa con ở
California, vào tháng 3 năm 1936, do
Dorothea Lange chụp (Wikipedia)
Trang 18cứu tế xã hội có tính lâm thời, thế nhưng đã không giải quyết được vấn đề Sau này do dùng hết tiền đành phải dừng việc cứu tế lại.
Tình hình khó khăn đã càng ngày càng kéo dài trong cả nước, hàng ngàn hàng vạn người thất nghiệp quanh quẩn ở nông thôn muốn tìm việc làm Có nhiều người mang gia đỡnh mình sang miền Tây, hy vọng được thuê mướn trong vụ thu hoạch hoặc hái quả ở đõy
Hàng nghìn, hàng vạn người Mỹ thất nghiệp, bị mất tiền tồn khoản trong ngân hàng, bị mất tiền bảo hiểm, cuối cùng không trả nợ nổi ngân hàng tiền cầm cố mà mất đi nhà cửa và ruộng đất, phải bỏ đi lang thang đầy đường phố Chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy hai năm, ở những khu ổ chuột những “ngụi nhà” được xây bằng thùng các tông, thùng gỗ thụng, tụn mọc lên như nấm tại những thành phố của nước Mỹ Những người không nhà đó nằm co ro bên trong những căn lều nói trên, trở thành những kẻ ăn mày
Những khu lều ổ chuột đó được mọi người gọi là "Làng Hoover" Người dân
xếp hàng dài trước cửa những cơ quan từ thiện để chờ bố thí thực phẩm,
người ta gọi đó là "đường bánh mì".
Những nhà ngân hàng, người buôn bán cổ phiếu và những người đầu
cơ phá sản, nhảy từ cửa sổ tầng 20 trở xuống Có tờ báo đã viết hài hước
"Bạn phải xếp hàng mới có thể chen đến cửa sổ để nhảy ra" Có một câu chuyện kể rằng, các nhân viên phục vụ quán trọ nói chung đều hỏi khách
hàng: "Ngài cần một phòng để ngủ hay để nhảy lầu?" (14,189)
"Mùa hè năm 1932, có hơn hai triệu người ở khắp nơi lưu lạc bốn phương, trong đú có khoảng 200.000 là thiếu niên nam nữ Có một báo cáo viết rằng: "Mùa đông năm ngoái ở thành phố X miền Tây, người ta đã lôi ra khỏi các toa xe chở hàng đường sắt không có cửa sổ 35 thanh thiếu niên, người nào cũng mắc bệnh nặng, trong đú có một số người mắc bệnh viêm phổi ở giai đoạn cuối "Nếu bọn họ vào một thị trấn nào đó, do mạo nhận thiếu cách mưu sinh rõ ràng sẽ gặp nguy hiểm phải ngồi tù Tạp chí
Trang 19"Fortune" từng đưa tin "tại ga giữa đường thuộc thành phố Atlanta trên con
đường lưu lạc về miền Nam, đối với những người đi trộm xe lửa chở hàng bị kiểm tra ra trong địa phận huyện Fulton đều bị phán xử giữ lại tại trạm giam thành phố này, hoặc giam 30 ngày trong đội tù bị trói bằng dây xích - cả hai nơi giam giữ đều gặp tai hoạ đầy người từ lâu Tuy vậy, chỉ trong một tháng
- thỏng 9 năm 1932, đã có 6.000 thiếu niên lưu lạc đăng ký chịu án tại đõy"
(5,419).
Cuộc Đại suy thoái đã làm tổn thương nghiêm trọng đến lòng tin của quần chúng nhân dân Mỹ đối với tầng lớp lãnh đạo các xí nghiệp và Chính phủ Hoover Lúc đầu người ta còn tin vào những bảo đảm của người phát ngôn Đảng Cộng hoà và cỏc trựm sỏ tài chính tiền tệ; nhưng từ khi thị trường chứng khoán sụp đổ trở đi, giới lãnh đạo nền kinh tế đã suy đoán nền kinh tế sẽ nhanh chóng uốn nắn lại và khắc phục được căn bệnh của mình Thế nhưng theo đà lan tràn và đi sâu vào khủng hoàng đã làm cho càng nhiều xí nghiệp và ngân hàng đóng cửa hơn, "đường bánh mì" ngày càng dài
ra, và mùa đông năm 1931 – 2932, Uỷ ban Ngân hàng Thượng nghị viện lại vạch trần những hủ hoá và vi phạm pháp luật của giới ngân hàng Vì vậy, sự tín nhiệm của công chúng đối với giới chủ các xí nghiệp và Chính phủ ngày càng giảm sút
"Những cuộc Đại suy thoái trước đó chủ yếu là do người nghèo và tầng lớp lao động gánh chịu Cuộc Đại suy thoái là kinh nghiệm đầu tiên về khó khăn kinh tế của tầng lớp trung lưu Mái ấm gia đình vừa mới được lập nên trong thập kỷ trước đã tan biến; tiền tiết kiệm gửi cẩn thận vào các ngân hàng địa phương cũng tan theo sự sụp đổ của nó; triển vọng vào đại học của con em trở nên mờ mịt; thậm chí đến lương thực và quần áo cũng phải dành dụm Cỏc giỏo sư đại học, giáo viên trung tiểu học, tác gia, nghệ sĩ và những người khác quen nếp sống phong lưu đều cảm thấy bản thân mình đã bị tước
đi sự bảo trợ về mặt cá nhân cũng như công cộng Phải chăng có một số
Trang 20người đã bắt đầu thắc mắc tự hỏi phải tìm kiếm xung quanh mình một mô hình xã hội có thể lo cơm ăn, áo mặc và chỗ nương thân cho các công dân
của mình?" (3,776)
Có thể nói khủng hoảng là một trong những hình thức biểu hiện của sự bùng nổ những mâu thuẫn xã hội của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó làm cho những mâu thuẫn đó càng trở nên trầm trọng Lợi dụng nạn thất nghiệp trầm trọng, giới tư bản đã giảm bớt lương công nhân, trong khi đó giá hàng hoá tuy có hạ xuống, nhưng vẫn không bù lại được sự thiệt hại do việc giảm lương gây ra
Chỉ tiêu tiêu dùng nước Mỹ (1929 – 1933)
đó là nguyên nhân khiến cho cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng tăng gay gắt
Cuộc sống khổ cực đã thức tỉnh quần chúng lao động Mỹ bước ra khỏi
những ảo tưởng về sự phồn vinh vĩnh viễn cũng như sự "hợp tác giai cấp"
đối với giai cấp tư bản Phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Mỹ
đã bùng lên mạnh mẽ Từ năm 1929 đến 1933, nước Mỹ có 4904 cuộc bãi
Trang 21công Đặc biệt là phong trào đấu tranh của những người bị mất việc Ngày 6 tháng 3 năm 1930, đã có 125 vạn người tham gia các cuộc biểu tình của những người mất việc do Đảng cộng sản tổ chức.
Mùa hè, những cựu chiến binh Mỹ đã từng tham gia Chiến tranh thế giới nhất đã tổ chức một cuộc "hành quân đúi rét" vào Wasington, đòi Chính phủ phải trợ cấp Đến năm 1934 đã có 1.856 cuộc bãi công Năm 1937 có tới 4.740 cuộc bãi công Những cuộc bãi công đó đã nổ ra dưới khẩu hiệu đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi quyền tự do dân chủ Một số cuộc bãi công đã diễn ra dưới khẩu hiệu đấu tranh chống nguy cơ phát xít và chiến tranh đế quốc
1.1.2.1 Chính trị
Cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng và những biện pháp đối phó không có hiệu quả của chính quyền Hoover đã làm cho Đảng Cộng hoà bị giảm sút uy tín nghiêm trọng Đối với Đảng Cộng hoà, tương lai trong cuộc bầu cử là ảm đạm và không sáng sủa
Sau này trong hồi ức của mình Hoover đã thẳng thắn, không lảng tránh và thừa nhận, "cuộc phồn vinh toàn diện đã giỳp tụi thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử năm 1928", tiếp đú ông đã đau đớn viết: "Cuộc tiêu điều toàn diện đã trở thành kẻ thù lớn của tôi trong cuộc tuyển cử năm
1932"(5,419) Hoover nói hoàn toàn đúng Cuộc Đại suy thoái do sự giảm
sút nhanh của giá cả thị trường cổ phiếu năm 1929 là cuộc khủng hoảng kinh
tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ Hoover vốn nổi tiếng là người
có tài năng tổ chức và quản lý Ngay khi cuộc Đại suy thoái nổ ra, Hoover đã
có những biện pháp ứng phó cấp bách như xây dựng thờm cỏc công trình công cộng, đề xướng thành lập Công ty Tài chính Tiền tệ Phục hưng, cung cấp tài khoản cho các ngân hàng, xí nghiệp và chính quyền địa phương,… nhưng những biện pháp này đã không có tác dụng đối với cuộc Đại suy thoái Vì thế, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng Cộng hoà, điều này đã được phản ánh rõ trong cuộc tổng tuyển cử năm 1932, vào đỳng
Trang 22lúc sản xuất công nghiệp suy thoái nghiêm trọng, thất nghiệp lan tràn khắp
cả nước, nông dân bị phá sản và cũng đang gặp rất nhiều khó khăn
Mặc dù vậy, Hoover vẫn cảm thấy cần phải thông qua trúng cử liên tiếp trong tranh cử để có thể biện bạch cho bản thân vả chính sách của mình Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng hoà, sự hào hứng của các đại biểu xuống rất thấp Thế nhưng, ngay tại vòng bỏ phiếu đầu tiên, Hoover đã một lần nữa được đề cử làm ứng cử viên Tổng thống Tuy vậy, không có ai ca ngợi những điều mà Hoover đã làm được trong cuộc Đại suy thoái, không xuất hiện các trường hợp quần chúng tụ tập và diễu hành cuồng nhiệt, thậm chí người ta cũn khụng nghĩ đến việc dán ảnh Hoover ở xung quanh hội trường
Cương lĩnh tranh cử của Đảng Cộng hoà đã ca ngợi biện pháp chống khủng hoảng của Chính phủ Hoover, đồng thời cân bằng dự toán, bảo hộ quan thuế, thúc giục huỷ bỏ Tu chớnh án điều thứ mười tám (điều khoản pháp luật liên quan đến cấm bán rượu) cũng như trả lại quyền khống chế mậu dịch rượu về cho các bang Tác giả chuyên mục nổi tiếng Wolters Lipman vì việc này đã bình luận: "Chính vào lúc nền kinh tế khó khăn chưa từng có mà ở đõy lại không nghe thấy những lời nói bất mãn với xã hội, thật
không hiểu sao nổi" (5,423)
Điều này hoàn toàn trái ngược với không khí tranh cử ứng viên Tổng thống của Đảng Dân chủ, rất nhiều người cho rằng chính những thất bại của Hoover trong cuộc Đại suy thoái đã là cơ hội để Đảng Dân chủ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1932 Đảng Dân chủ đã chọn F.D.Roosevelt làm ứng viên Tổng thống của mình Ông đã nổi bật từ khi làm trợ lý Bộ trưởng Hải quân cũng như ở cương vị Thống đốc bang New York ễng thu phục quần chúng dễ dàng bởi tinh thần lạc quan yêu đời, một nhân cách dễ mến, tinh thần minh mẫn, úc phán đoán lành mạnh và kinh nghiệm chính trị của mình Trong cuộc vận động tranh cử, ông đã hứa với nhân dân, với một
niềm tin vững chắc, một Chính sách mới (New deal).
Trang 23Mặc dù người Mỹ không muốn nói tới cách mạng, nhưng giờ đõy người ta cũng nghe được lác đác đó đõy những lời kêu gọi lật đổ Những bộ
óc táo bạo nhất đã đặt thành vấn đề về tính chất hợp pháp, hợp lý của chế độ kinh tế đã đưa đến sự đổ vỡ này Một hạt nhân nhỏ bé những người cộng sản
và cảm tình của họ bắt đầu hoạt động và tuyển chọn đảng viên mới, bởi vì có một sự kiện khiến ai cũng phải suy nghĩ: Trong khi cuộc khủng hoảng lan tràn từ nước tư bản này sang nước tư bản khỏc thỡ Liên bang Xô viết, nước
đã dứt khoát quay lưng lại với "tự do kinh doanh" và "chủ nghĩa cá nhân lành mạnh" không hề chịu tác động của cuộc khủng hoảng, hơn thế nữa còn hoàn thành kế hoạch 5 năm và tiến hành công cuộc tập thể hoá nông nghiệp
Cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài từ năm 1929 đến năm 1931 là một
sự tấn công mạnh mẽ vào mối quan hệ sản xuất, chế độ kinh tế và chế độ tư bản chủ nghĩa Đứng trước sự tấn công đó, Mỹ cũng như các nước tư bản khác đều có những biện pháp kinh tế, xã hội để thoát khỏi tình cảnh khốn đốn do cuộc khủng hoảng mang tới Những biện pháp đó cũng có những hiệu quả tức thời Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Hoover, mặc dù ụng luôn đi tìm một con đường để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và cũng từng có những cố gắng, nhưng lại hoàn toàn thất bại trước sự tấn công ồ ạt của cuộc Đại suy thoái Vì thế, ông đã hoàn toàn thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1932
Trong lúc giao thời, với tư cách một Tổng thống sắp mãn nhiệm kỳ, Hoover cũng không làm gì được cả Tập quán chính trị Mỹ muốn có một khoảng cách ba tháng, kể từ đại hội của hai đảng vào đầu mùa hè cho đến bầu cử tháng Mười một Trong tình hình khủng hoảng, nghiêm trọng hơn nữa là bốn thỏng (thỏng Mười Một đến tháng Ba) là thời gian mà Tổng thống mới đắc cử lại chưa có quyền hành gì Bốn tháng dân chúng mong đợi một giải pháp cứu nguy Tháng Ba năm 1932, thấy được nhược điểm tai hại này trong Hiến pháp, Quốc hội đã bổ sung Tu chớnh ỏn số 20 cho phép
Trang 24nhiệm kỳ Tổng thống sẽ bắt đầu sớm hai tháng so với quy định, nhưng Tu chớnh ỏn này chỉ có hiệu lực từ 15 tháng 10 năm 1933.
1.1.3 Nguyên nhân của cuộc Đại suy thoái
Nguyên nhân của cuộc Đại suy thoái là gì? Vì sao đã có những liều thuốc chữa rất mạnh và căn bệnh suy thoái vẫn kéo dài hơn bất kỳ cột cuộc suy thoái nào từ trước tới nay, những cuộc suy thoái của những năm 1837,
1873 và 1893? Số đụng các nhà kinh tế của Mỹ đã nghiên cứu hiện tượng suy thoái này trong quá trình phát sinh phát triển của nó và đã đưa ra một số giải thích có thể tóm lược như sau:
* Nguyên nhân khách quan: Trong khi kinh tế Mỹ đang phát triển và
đang ở trên giai đoạn đỉnh cao, khi mà người Mỹ đang say sưa về sự thịnh vượng vĩnh viễn thì tình hình kinh tế thế giới còn chưa thể lạc quan Các nước châu Âu dưới áp lực nặng nề của những món nợ khổng lồ và thuế má,
đã lâm vào bước khó có thể đứng vững, trữ lượng vàng cạn kiệt, mậu dịch xuất hiện thâm hụt Việc trả nợ chiến tranh, mua bán trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, những cơn đầu cơ điờn cuồng và tâm lý sợ hãi châu Âu lại xảy ra khủng hoảng đã làm cho lượng vàng này thông qua quá trình mậu dịch bình thường chảy về đất cũ
Về điều này, Lờnin đã viết: "Thị trường thế giới bị xáo trộn Châu Âu cần những sản phẩm của Mỹ, nhưng không thể đưa lại cho Mỹ số hàng tương đương như thế Châu Âu bị thiếu máu còn Mỹ thì béo phì ra… Sự lên xuống bất thường và thường xuyên của giá cả tiền tệ thay đổi sự sản xuất tư bản chủ nghĩa thành một sự đầu cơ không bao giờ ngừng Thị trường quốc tế không có chỉ tiêu chung về trao đổi Sự thành lập lại kim bản vị ở châu Âu đòi phải tăng lên xuất cảng và giảm bớt nhập cảng Châu Âu nghèo nàn không thể làm được việc đú Còn nước Mỹ thì chống lại với cạnh tranh ở châu Âu bằng việc tung ra thị trường những hàng hoá giá rẻ (dumping) và
tăng thuế nhập khẩu" (51,8)
Trang 25Vào những năm 20 của thế kỷ XX, nền kinh tế Mỹ vận hành với chủ trương trở thành nhà băng của thế giới, thành nhà sản xuất lương thực, sản xuất đồ dùng cho toàn thế giới nhưng sẽ mua ít nhất có thể những gì mà phần còn lại của thế giới sản xuất ra Tất nhiên điều này tạo nên trạng thái cán cân thương mại rất có lợi cho Mỹ, nhưng nó không thể tồn tại lâu Mỹ thiết lập nhiều rào cản thương mại để bảo vệ hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp Mỹ, nhưng vấn đề ở chỗ nếu Mỹ không muốn mua hàng từ đối tỏc chõu Âu thì những đối tác ấy lấy đâu ra tiền mua hàng từ đối tác Mỹ, họ không thể mua hàng nữa, thì hoạt động xuất khẩu Mỹ sụt giảm 30% và tiếp tục sụt giảm trong thời gian sau đó Đõy là một trong những yếu tố góp phần tạo nên cuộc Đại suy thoái.
* Nguyên nhân chủ quan: Sự phồn vinh của kinh tế Mỹ trong những năm 20 của thế kỷ XX rất không toàn diện, tồn tại rất nhiều lỗ hổng Giá nông phẩm hạ đã làm cho nông sản tích thừa thành đống, kết quả là nông dân không có sức mua thêm những sản phẩm của nhà máy; một số ngành công nghiệp như ngành khai khoáng, ngành dệt chưa được chia hưởng phồn vinh; tiến bộ kỹ thuật mang lại nhiều khó khăn cho những ngành công nghiệp già cỗi, và từ đó tạo thành thất nghiệp tạm thời Năm 1921, dự tính những người thất nghiệp vượt quá 4 triệu, sau đó trong bất kỳ thời kỳ nào đều không thể giảm xuống dưới 1,5 triệu người, những của cải mới tăng lên phần lớn tập trung trong tay một số ít độc quyền
Bên cạnh đó, khả năng sản xuất của đất nước đã vượt xa khả năng tiêu thụ thực tế Một phần quá lớn thu nhập quốc dân đã rơi vào tay một số người Mặt khác, giới doanh nghiệp đã mang phần lớn lợi nhuận thu được do nâng cao tỷ suất sản xuất vào việc xây dựng các nhà máy hoặc là coi là lãi xuất chia cho cổ đông, chứ không dùng để tăng lương cho công nhân Năm
1929, hơn một phần ba lợi tức cổ phần được trả cho 17.000 cổ đông Người
ta thấy rằng từ năm 1920 đến năm 1929, tiền lương công nhân Mỹ chỉ tăng
Trang 26trưởng 2%, trong khi tỷ suất sản xuất trong cỏc cụng xưởng lại tăng 55%; lại
do giá cả các loại sản phẩm nông nghiệp liên tục giảm, còn chi phí trong đời sống lại liên tục tăng cao, tiền lương của người công nhân nông nghiệp chưa bằng 40% người công nhân phi nông nghiệp Cho dù trong thời kỳ phồn vinh, sự nghèo nàn ở nông thôn vẫn tồn tại một cách phổ biến Sự phân phối
về thu nhập quốc dân không được đồng đều Năm 1929, hộ nghèo chiếm 60%, trong tổng số hộ gia đình ở Mỹ Điều đó trở thành một sự tương phản gay gắt nếu so với các nhà tư bản lũng đoạn nắm trong tay một số tiền bạc khổng lồ Bên này là đại chỳng cú sức mua rất giới hạn, còn bên kia là những nhà tư bản lũng đoạn có năng lực đầu tư với tỷ lệ cao Như vậy, nhà máy đã sản xuất ra hàng hoá chất đống như núi nhưng lại cướp đoạt sức mua của công nhân Tình hình đó đã thúc đẩy khủng hoảng thừa
Đồng thời với việc đó, công nợ của công ty và công nợ cá nhân đều tăng trưởng tới trình độ kinh người, đến năm 1930, toàn bộ gánh nặng dư nợ
dự tính đã đạt 150 tỷ USD, ước tính khoảng 1/3 của cải của cả nước Công
nợ, mua hàng trả tiền theo thời hạn và đầu cơ buôn lậu không ngừng làm căng thẳng tín dụng đã làm cho nền kinh tế khó tránh khỏi sụp đổ, đồng thời
do lúc đó không ai hiểu được hàng loạt tình hình nguy hiểm đã bao hàm trong đú, nên đã làm cho tín dụng càng bị lạm dụng hơn Đầu tháng 5 năm
1929, vẫn còn một số chuyên gia tài chính tiền tệ, thổi phồng nền kinh tế Mỹ vận hành tốt đẹp, mà thực sự đã là "mưa núi sắp đến gió đầy nhà"
Mặt khác, chính sách của Chính phủ Mỹ về thuế biểu và nợ chiến tranh không hợp lý đã làm cho hàng hoá của Mỹ không thể bán ra nước ngoài, đặc biệt là những nông sản lâu nay vẫn xuất khẩu: lúa mì, bông và thuốc lá Việc sản xuất thừa càng trở nên nghiêm trọng và nông sản bị mất giá Chỉ có một nhóm nhỏ nhà nông là có khả năng trang trải những món nợ
đã vay để khỏi bị tịch biên tài sản Nhiều chủ đất, chủ nhà trở thành người đi thuê và bị đẩy vào cảnh khốn cùng
Trang 27Hơn nữa, việc cấp tín dụng quá dễ dãi đã tạo ra sự lạm dụng Người ta mua chứng khoán không phải là để tạo ra một khoản đầu tư ổn định mà chủ yếu là để đầu cơ, tức là để bán lại kiếm lời sau một thời gian ngắn sau đó Nợ của Chính phủ và của tư nhân cuối cùng cũng đã vượt qua con số 100 tỷ USD Trên thực tế, việc mua bán cổ phiếu ở Mỹ trong thập niên 20 diễn ra hết sức sôi nổi Chẳng riờng gỡ những thương gia đầu cơ chuyên mua bán cổ phiếu, mà ngay đến những người dõn thụng thường cũng mua cổ phiếu với
hy vọng được phát tài Chính sách cho vay dễ dàng của Chính phủ đã giúp cho sự mua bán cổ phiếu ngày càng phát triển hơn
Trên thực tế, năm 1924, Sở giao dịch chứng khoán tại New York đã đăng ký hạn ngạch giao dịch là 27 tỷ USD; đến tháng 8 năm 1929 con số này
đã tăng lên 90 tỷ USD Số lượng phát hành cổ phiếu đã vượt qua số lượng đồng tiền trong xã hội Chính vì vậy, khi cổ phiếu hơi xuống giá là mọi người vội vàng bán tháo số cổ phiếu có trong tay Thế là ngành tài chính tín dụng trở thành khâu yếu nhất trong hệ thống kinh tế Mỹ Ngoài ra, thời bấy giờ có rất nhiều ngân hàng ở Mỹ kinh doanh một cách đơn độc, thiếu sức mạnh về tiền vốn để chiến thắng những cơn bão táp về tài chính Một khi bão táp ập tới, một ngân hàng nào đó sụp đổ, đóng cửa thì những thì những người gửi tiền trong ngân hàng thấy vậy đều đua nhau đến ngân hàng của mình để rút tiền Do vậy, đã dẫn tới toàn bộ thị trường tài chính bị sụp đổ theo Đầu năm 1929 đã xuất hiện một số dấu hiệu rồi, cho nên có một số ngân hàng và xí nghiệp lớn có ý định thu mua cổ phiếu để khống chế tình hình giá cổ phiếu sụt giảm Thế nhưng đến ngày 24 tháng 10 năm 1929, làn sóng bán tháo cổ phiếu đã không còn ngăn chặn được, thế là cuộc khủng hoảng bắt đầu bùng nổ tại khâu yếu nhất trong nền kinh tế nước Mỹ
Hoạt động đầu cơ với quy mô lớn cũng hình thành nhiều vào những năm 20 của thế kỷ XX Chỉ trong năm 1929, đã có một số lượng cổ phần kỷ lục là hơn 1,2 tỷ được giao dịch trên sàn NYSE Từ đầu 1928 đến tháng 9
Trang 28năm 1929, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng từ 191 lên đến 38139 điểm Không có một nhà đầu tư nào có thể bỏ qua mức lợi nhuận như vậy Có thể lấy ví dụ về công ty RCA, công ty này có cổ phiếu tăng từ 85 lên đến 420 chỉ trong vòng năm 1928, mặc dù cổ phiếu này chưa từng trả cổ tức lần nào Nguy hiểm hơn, với sự tăng ổn định của giá cổ phiếu, người ta bắt đầu vay
để mua chứng khoán Chẳng hạn một nhà đầu tư có thể có 10 USD và vay 75 USD từ người môi giới của mình Nếu anh ta bán cổ phiếu khi giá là 420 USD ở thời điểm một năm sau, anh ta đã biến 10 USD đầu tư ban đầu thành 341.25 USD (420 trừ 75 và 5% lãi suất trả cho người môi giới) Tức là lãi suất lên đến 34000% Con số này đã thúc đẩy "cơn điờn" cổ phiếu Cho đến giữa năm 1929, tổng lượng cho vay đang lưu hành của đơn vị môi giới là 7
tỷ USD, ba tháng sau con số này là 8,5 tỷ USD Lãi suất thanh toán cho các khoản vay này cũng tăng nhanh không kém, đạt mức 20% vào năm 1929 Cơn bùng nổ đầu cơ này hoàn toàn dựa trên những niềm tin vô căn cứ, và nó trỏi ngược với sự sụp đổ khủng khiếp vài tháng sau đó cũng chính ở cơ sở,
sự sụp đổ bắt nguồn từ sự sợ hãi
Tóm lại, các nhà kinh tế đều kết luận rằng nền kinh tế nước Mỹ tuy bề ngoài thì khoẻ mạnh phồn vinh nhưng bên trong lại chứa đầy những bệnh tật trầm trọng Công nhân cũng như nông dân không được nhận phần xứng đáng của họ trong thu nhập quốc dân mà nếu có đã tạo ra một tình trạng cân bằng; mặt khác, sự cơ giới hoá được đẩy mạnh đã làm giảm nhu cầu về thợ không lành nghề và đẩy họ vào con đường thất nghiệp Sự giàu có cứ tập trung vào một số ít giới độc quyền làm cho họ ngày càng hùng mạnh và lợi nhuận chỉ được sử dụng trong ba mục đớch: tái đầu tư, và (đối với cổ đông) cung cấp cho cuộc sống xa hoa và cuối cùng là đầu cơ
Nói cách khác, sự giàu có là có thật, về lý thuyết là trong tầm tay của mọi người nhưng thực tế, phân phối lại không công bằng; toàn bộ sự phồn
Trang 29vinh lâu dài sẽ rất dễ sụp đổ nếu như mất đi một yếu tố then chốt: lòng tin của quần chúng.
Sau khi nhận định về một số nguyên nhân đưa đến cuộc khủng hoảng
1929 – 1933, tại Đại hội lần thứ XVII của Đảng cộng sản Liờn Xụ, Stalin nói thêm rằng: "Rút cục, đõy là điểm chính, cuộc khủng hoảng kinh tế là do một cuộc khủng hoảng kỹ nghệ nổ ra trong khuôn khổ của cuộc tổng khủng hoảng của chế độ tư bản, trong lúc mà chủ nghĩa tư bản không còn có, và không thể có trong phạm vi của mỗi nước, trong phạm vi của các nước thuộc địa và bị lệ thuộc sự sinh sống và sự vững chãi của nó trước Cách mạng tháng Mười, trong lúc mà kỹ nghệ của chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh đế quốc đã bị một thứ căn bệnh kinh niên: khả năng sản xuất của các xí nghiệp không được tận dụng đầy đủ và đồng thời tồn tại một đội quân thất nghiệp
mà không bao giờ chủ nghĩa tư bản giải quyết được." (51,15).
1.2 Vai trò của Tổng thống Franklin D Roosevelt
1.2.1 Tiểu sử Franklin D Roosevelt
Franklin Delano Roosevelt sinh ngày 30 tháng 1 năm 1882, là Tổng
thống thứ 32 của Hoa Kỳ Đắc cử Tổng thống 4 lần, từ năm 1933 đến 1945 Ông là Tổng thống Hoa Kỳ duy nhất từng tại chức hơn 2 nhiệm kỳ Là một trong những nhân vật trung tâm của thế kỷ XX, Roosevelt thường được xem
là một trong 3 Tổng thống vĩ đại nhất dựa trên kết quả của các cuộc thăm dò trong giới học thuật (cùng với George Washington và Abraham Lincoln)
Trong giai đoạn cuộc Đại suy thoái xảy ra trong thập niên 30 của thế kỷ XX, Roosevelt đã
đưa ra chương trình Chính sách mới (New deal)
nhằm khắc phục những hậu quả của cuộc Đại suy thoái, phục hồi kinh tế, cải cách hệ thống kinh tế, giữ nước Mỹ trên con đường dân chủ
Trang 30Roosevelt sinh ngày 30 – 1 – 1882 tại Hyde park, Hudson Valley, New York Họ nội của Roosevelt là người gốc Hà Lan, họ ngoại đến từ Pháp, ông là người con duy nhất của gia đình Ông sinh ra trong một gia đình giàu
có và nhiều đặc quyền ở New York Bà nội của Roosevelt là chị em họ với phu nhân Tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ, James Monroe Ông ngoại là hậu duệ của những nhà lập quốc đến đất Mỹ trên tàu Mayflower
Ông học đại học tại Trường Đại học Harvard Trong lúc đang học thì người anh em họ là Theodore Roosevelt đắc cử Tổng thống, chính phong thái lãnh đạo cương quyết của Theodore và nhiệt tâm cải cách đã ảnh hưởng rất nhiều đến phong cách làm việc của Franhklin sau này Năm 1905, Franklin Roosevelt đến học ở trường luật Columbia nhưng không bao giờ tốt nghiệp Cũng trong năm này (vào tháng 3 năm 1905) ông kết hôn cùng Anna Elanor Roosevelt cháu gái của Theodore Roosevelt
Sau khi qua được kỳ thi sát hạnh của Luật sư đoàn tiểu bang New York năm 1907, ông quyết định bỏ học Năm 1910, Roosevelt tranh cử vào Thượng viện bang New York Chiến thắng vang dội của Đảng Dân chủ năm
ấy đã đem Roosevelt vào trụ sở viện lập pháp tiểu bang New York Đắc cử nhiệm kỳ thứ hai ngày 5 – 11 – 1912 nhưng đến ngày 17 – 3 - 1913 ông từ nhiệm khỏi Thượng viện bang New York
Năm 1913, Woodrow Wilson bổ nhiệm Roosevelt vào chức vụ Phụ tá
Bộ trưởng Hải quân, phục vụ dưới quyền Bộ trưởng Josephus Daniels Tại
Bộ Hải quân, ụng đó thể hiện tài năng lớn trong kỹ năng quản trị cũng như mau chóng học biết cách đàm phán với giới lãnh đạo Quốc hội và các bộ ngành khác trong Chính phủ để vận động thông qua ngân sách Ông là người nhiệt tình ủng hộ phương sách sử dụng tàu ngầm như là một công cụ hữu hiệu nhằm đối phó với hiểm hoạ bị tấn công bởi tàu ngầm Đức nhằm vào tàu thuỷ phe Đồng minh Năm 1918, Roosevelt đến thăm hai nước Anh và Pháp
để thị sát các căn cứ hải quân của Mỹ tại đây; cũng là lần đầu tiên ông có cơ
Trang 31hội gặp gỡ Winston Churchill Tháng 6 năm 1920, ông từ chức Phụ tá Bộ trưởng Hải quân Năm 1920, sau khi thất bại trong cuộc tranh cử chức phó Tổng thống do Warren Harding của Đảng Cộng hoà đắc cử chức Tổng thống năm đú, ụng rút lui về New York hành nghề luật.
Năm 1921, từ sau kỳ nghỉ ở Đảo Campobello, Roosevelt bị bại liệt từ thắt lưng trở xuống Trong quãng thời gian còn lại, ông không bao giờ chấp nhận mình là người bại liệt, ông cố thử nhiều cách chữa trị, kể cả thuỷ liệu pháp Trong năm 1926, ông mua một khu nghỉ dưỡng ở Warm Spring, Georgia tại đây ông thành lập một trung tâm thuỷ liệu pháp cho bệnh nhân
polio, trung tâm này vẫn hoạt động cho đến ngày nay (Roosevelt Warm Springs Institute for Rehadilitation) Sau khi trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, Roosevelt giúp thành lập Tổ chức Quốc gia cho Trẻ em bại liệt (Nationnal Foundation for Infantile Paralysis), ngày nay được biết dưới tên March of Dimes, do đó hình ảnh ông được ghi nhớ trên đồng dime Ông là người cần
cù tập luyện vượt qua những thử thách của bệnh tật Ông không bao giờ để công chúng nhìn thấy hình ảnh ông ngồi trên xe lăn Roosevelt thường xuất hiện trước công chúng trong tư thế đứng thẳng người với một phụ tá hoặc một trong các con trai của ông kề bên
1.2.2 Quá trình làm Tổng thống
Năm 1929, Roosevelt đắc cử thống đốc bang New York, nhậm chức với hình ảnh một đảng viên Dân chủ có lập trường cải cách Ở cương vị thống đốc, ông tiến hành các chương trình xã hội mới, khởi sự quy tụ một nhóm cố vấn với những tên tuổi như Frances Perkins và Harry Hopkins, những người này đó giỳp ụng rất nhiều trong công cuộc đưa ông vào Nhà Trắng bốn năm sau đó
Roosevelt đã dùng hành động thực tế để chứng minh với nhân dân, cho dù ông là con người tàn tật nhưng có đầy đủ năng lực để quản lý bang
Trang 32này Mặc dù, cũng như rất nhiều người khác, ụng đó thiếu sự dự kiến đúng đắn về những hậu quả của cuộc Đại suy thoái Tuy nhiên, vào năm 1930, một lần nữa ông lại được bầu vào cương vị Thống đốc bang New York ễng
đã triệu tập hội nghị đặc biệt của Quốc hội Bang, thông qua dự luật cấp 20 triệu USD cứu tế cho công nhân thất nghiệp Với cách làm đem số tiền cứu
tế trực tiếp đến tận tay người công nhân thất nghiệp, đây là cách làm chưa từng có ở các bang khác của Mỹ, Roosevelt đã trở thành ứng viên sáng giá
để được đề cử Tổng thống khoá tới
Nhờ sự hậu thuẫn của tiểu bang đông dân nhất mà Roosevelt trở thành ứng viên sáng giá của Đảng Dân chủ trong cuộc tranh cử vào Nhà Trắng, cuộc chạy đua càng quyết liệt khi có những dấu hiệu cho thấy Tổng thống đương nhiệm, Herbert Hoover sẽ thất bại trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1932 Tháng 6 năm 1932, khi Đảng Dân chủ họp hội nghị ở Chicago để
đề cử ứng viên Tổng thống, Roosevelt trong vòng bỏ phiếu đầu tiên được
666 và ẳ phiếu Trong vòng bỏ phiếu thứ hai, số phiếu của ông được tăng thêm 16 phiếu, nhưng vẫn còn thiếu 87 phiếu Để phá vỡ cục diện bế tắc, Ganrner (Viện trưởng Hạ viện) rút khỏi cuộc cạnh tranh, chuyển sang ủng hộ Roosevelt, sau này ông trở thành Phó Tổng thống đầu tiên của Roosevelt Vòng bỏ phiếu kế tiếp, Roosevelt được 945 phiếu và được đề cử làm ứng cử viên Tổng thống
Chiến dịch tranh cử diễn ra dưới bóng đen của cuộc Đại suy thoái Roosevelt đã chọn biện pháp tranh cử lữ hành lưu động kiểu cũ, hầu như đi đến từng bang nước Mỹ, ông biểu thị rõ ràng đối với nhiều vấn đề quan trọng và trỏnh khụng bàn những vấn đề khác Suốt chiến dịch Roosevelt thường phát biểu: "Các công dân trên khắp đất nước, là những người bị các nhà hoạch định chính sách trong Chính phủ bỏ quên, đang hướng về chúng
ta, chờ đợi được dẫn dắt đến các cơ hội bình đẳng hơn, hầu cho họ có thể được chia phần trong tiến trình phân phối tài sản quốc gia… Tôi cam kết một
Trang 33quyết sách mới (New deal) cho người dân Mỹ Đây không chỉ đơn thuần là
một cuộc vận động chính trị, nhưng là lời hiệu triệu cho một cuộc đấu tranh"
(83)
Câu nói nổi tiếng "Tôi cam kết một quyết sách mới (New deal) cho người dân Mỹ" không những đã trở thành câu khẩu hiệu cho cuộc vận động tranh cử của ông mà còn dành cho các chương trình lập pháp và liên minh chính trị mới sau khi ông trở thành Tổng thống Có một số đại biểu cho rằng, danh từ "Chính sách mới" (New deal) là sự kết hợp khéo léo hai khẩu hiệu
"Cầm quyền công bằng" (Square deal) của Theodore Roosevelt và "Tự do mới" (New freedoms) của Woodrow Wilson trước đây.
Thế nhưng, theo nhiều nhà nghiên cứu về tiểu sử Roosevelt, dự ụng cú
sử dụng lập trường như thế nào cũng không đáng chú ý bằng dáng điệu của ông: "Dáng vẻ đường hoàng đầu ngẩng hiên ngang như sư tử, hai mắt sáng ngời, chiếc tẩu thuốc như có cánh bay lên trời, chiếc áo choàng lớn Hải quân khoỏc trờn đụi vai rộng trông mới phóng khoáng thoải mái làm sao Ông cực
kỳ nhiệt tình đối với mọi người, thân mật mà lại không mất vẻ tôn nghiêm, lúc nào ông cũng mỉm cười mở miệng là: "các bạn của tôi" Bài nói của ông mặc dù không nói rõ chính sách của Đảng Dân chủ, nhưng rất làm cảm động lòng người Ông nói: "Ở nước ta, cái duy nhất thực sự đáng coi trọng và yêu
mến là tài nguyên thiên nhiên và đại chúng nhân dân".(5,428)
Roosevelt đã từng nói trước đài phát thanh với dân chúng: "Không nhất thiết các bạn đều đồng ý chủ trương của tôi, nhưng các bạn đều rất tốt với tụi… bởi vì mọi người đều đoàn kết nhất trí, nên chúng ta có thể kết
thành một chiếc thừng để trèo ra khỏi vũng bùn đại tiêu điều" (5,429) Kết
quả cuộc tranh cử Tổng thống, với 22,80 triệu phiếu so với 15,75 triệu phiếu Roosevelt đã thắng lợi Ông đã giành thắng lợi ở 42 trong tổng số 48 bang, được 472 phiếu đại cử tri, Hoover chỉ giành thắng lợi ở 6 bang với 59 phiếu đại cử tri Kể từ khi Lincoln với 212 phiếu trên 21 phiếu đánh bại Mc.Lellan
Trang 34đến nay, trong lịch sử tranh cử của hai đảng không có ai giành thắng lợi với
đa số áp đảo như vậy Roosevelt trở thành Tổng thống thứ 32 của Mỹ Các
sử gia, nhà chính trị học tin rằng cuộc bầu cử này đã kiến tạo một liên minh
đa số mới trong lòng Đảng Dân chủ, thay đổi chính trường Hoa Kỳ, và là
khởi nguồn của hiện tượng mà họ gọi là "hệ thống Chính đảng New deal", hoặc "Hệ thống Đảng thứ năm".
Tháng 3 năm 1933, Roosevelt nhậm chức Tổng thống Mỹ trong thời điểm nước Mỹ đang ở thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử Vào ngày Roosevelt tuyên thệ nhậm chức, Nesen Millor, phóng viên báo chí Mỹ đã miêu tả tình hình Thủ đô và cả nước như sau:
"Thời tiết u uất như tâm tình nhân dân cả nước
Buổi bình minh ngày 4 tháng 3 năm 1933, khi Tổng thống nhậm chức rất u ám, bầu trời Washington xám sịt, giống như những bức tường đá Đại lý các ngôi nhà ở hai bên mặt chính đường phố Pennsylvania Mưa lúc ngừng, cành cây bám đầy tuyết Gió lạnh làm lay động các ngọn cờ và biểu ngữ treo trờn cỏc ngôi nhà và đèn đường Những người xem tụ tập từ sáng sớm tại đây để xem nghi lễ nhậm chức Tổng thống thứ 32 của Franklin Delano Roosevelt đang run rẩy trong gió lạnh
Hơn 15 triệu người Mỹ chiếm hơn ẳ đội đại quân lao động cả nước, đi
đi lại lại một cách tuyệt vọng từ cửa nhà máy này đến cửa lớn một nhà máy khác để kiếm việc làm đã không còn nữa Số liệu thống kê khụng thiờng nữa,
số người thất nghiệp có thể đã cao tới 17 triệu
Những người gửi tiền hoảng hốt bao vây ngân hàng, định tốn công một cách vô ích nhằm rút số tiền tiết kiệm cả đời người trước khi ngân hàng đóng cửa hoặc phá sản
Trên những cao nguyên xa xôi, những đoàn người sắc mặt lo lắng, ngậm miệng không nói, cầm súng bảo vệ nông trang, vườn trại của mình, để tránh bị người thế chấp tịch thu hoặc trưởng ban tư pháp bán mất
Trang 35Công nhân gang thép Pittsburg thất nghiệp, sai con mình đến quỏn bỏn bánh mì ăn xin bánh mì cũ, trong những nhà máy lao động nặng nhọc ở thành phố New York, để kiếm được mỗi ngày 20 xu Mỹ các bé gái phải làm việc rất vất vả "Tìm được một việc làm, bất cứ việc gì, dường như đã là một thành công lớn nhất", một thanh niên ở miền Trung Tây tên là Ronaldo Reagan sau này nhớ lại.
Các chủ nông trang ở Iowa đã vứt hết những con bò sữa không bán được của mỡnh trờn đường công lộ, dựng ngụ và lúa mạch làm nguyên liệu đun; còn ở Chicago, đàn người đói khát tìm bới thức ăn ở đống rác Một bà quả phụ khi nhặt được miếng thịt thiu đã cố tình không đeo kính lão để khỏi nhìn thấy ròi bọ…
Kể từ năm 1861, khi Abraham Lincoln xuất hiện ở bờ bên kia sông Potomac không yên tĩnh với một đội quân phản loạn rồi làm lãnh tụ quốc gia đến nay, chưa hề có một Tổng thống mới nhậm chức nào phải đối mặt với
cuộc khủng hoảng như vậy…" (5,423)
Trong diễn văn nhậm chức ngày 4 tháng 3 năm 1933, Roosevelt đã nói câu nói nổi tiếng: "Đây là lúc phải nói lên sự thật, toàn bộ sự thật, cách dạn
dĩ và trung thực… Quốc gia vĩ đại này sẽ có thể chịu đựng những khó khăn như nó đó từng chịu đựng, nhưng rồi nó sẽ phục sinh và trở nên cường thịnh
Do đó, trước tiên chúng ta cần khẳng quyết rằng điều duy nhất chúng ta phải
sợ chính là nỗi sợ hãi của chớnh mỡnh… một tâm lý hoảng sợ vô danh, đánh mất lý trí, không có đạo lý Nó có thể làm cho chúng ta tê liệt, không làm nổi
việc gì, khiến chúng ta không thể lùi bước chuyển sang tấn công"(82) Vị
Tổng thống mới đã đưa ra đảm bảo về việc thực hiện sự lãnh đạo mạnh dạn, quyết tâm của ông, thái độ lạc quan thoải mái nhẹ nhõm của ụng đó được người nghe hưởng ứng nhiệt liệt nhất, có tới 450.000 người viết thư chúc mừng ông
Trang 36Ngay sau lễ nhậm chức, ụng đỏ bắt tay thực hiện những chính sách của mình, phần đầu tiên của chiến lược đó là cứu trợ khẩn cấp Rất nhiều nhà nhà kinh tế, nhà khoa học đã được tập hợp trong một nhóm cố vấn cao cấp giúp Roosevelt có thể đưa ra những chính sách phù hợp Giống như Hoover, ông xem cuộc Đại suy thoái một phần do khủng hoảng niềm tin, người dân thấy e ngại khi quyết định chi tiêu hoặc đầu tư Vì vậy ông bắt tay thực hiện công cuộc phục hồi niềm tin của nhân dân.
Phương pháp của ông, như ông đã nói, là "một thử nghiệm táo bạo, bền bỉ… Hãy chọn một phương pháp và thử nó Nếu nó thất bại, hãy thẳng thắn chấp nhận và thử lần nữa Nhưng trên hết, là hãy cố gắng làm một cái gì
đó" (10,81) Trong suốt 3 nhiệm kỳ làm Tổng thống của ông, theo nhiều nhà
nghiên cứu Chính sách mới đã được thực hiện theo hai đợt, lần 1 (1933 – 1934), lần 2 (1935 – 1939)
Từ năm 1936 – 1939, Roosevelt tái đắc cử Tổng thống Mỹ và tiếp tục thực hiện chương trình Chính sách mới
Từ năm 1940 – 1944, đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ ba, nước Mỹ bước vào cuộc Thế chiến II Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1940, Roosevelt thắng tại 38 trong số 48 tiểu bang và giành được 55% số phiếu phổ thông, đây là một việc chưa từng có trong lịch sử, kể từ năm 1796 khi George Washington từ chối tranh cử nhiệm kỳ thứ ba, hiện hữu một quy luật bất thành văn Tổng thống chỉ nên tại chức hai nhiệm kỳ Nhiệm kỳ thứ ba của ông được bao phủ bởi bóng đen của cuộc Chiến tranh thế giới II
Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu cảng, huỷ diệt phần lớn hạm đội Hoa Kỳ đúng trỳ trong cảng, giết chết hơn 2.400 binh sĩ và nhân viên quân sự Mỹ Chỉ qua một đêm, tinh thần chống chiến tranh bùng nổ trên khắp đất Mỹ và khiến người dân đoàn kết đứng đằng sau Roosevelt Ngày 11 tháng 12 năm 1941, Đức và Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ
Trang 37Ngay sau đó Mỹ, Anh, Liờn Xụ, đó lãnh đạo khối Đồng minh trong cuộc chiến tranh với chủ nghĩa phát xít
Ngày 6 tháng 6 năm 1944 (D – day) Dwight D Eisenhower đã lãnh đạo cuộc đổ bộ của quân Đồng minh qua eo biển Manche, chiến dịch Overlord, tiến đánh Berlin Để bàn về kết việc hậu chiến, năm 1943 hội nghị Tehran gồm có Roosevelt, Churchill và Stalin, thảo luận về việc kết thúc chiến tranh và việc thành lập Liên Hiệp Quốc Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới sắp kết thúc, quân Đồng minh tiến vào Đức và Liờn Xụ đó kiểm soát
Ba Lan Trong tháng 1, mặc dù sức khoẻ đang suy sụp, Roosevelt đến Yalta, Liên Xô, để gặp Stalin và Churchill để bàn về việc nhanh chóng kết thúc chiến tranh và thiết lập một trật tự mới sau chiến tranh
Ngày 30 tháng 3 năm 1945, Roosevelt đến Warm Springs để nghỉ ngơi trước khi đến tham dự hội nghị sáng lập Liên Hiệp Quốc theo dự định Tuy nhiên, ngày 12 tháng 4 năm 1945, sau một cơn đau thần kinh, Roosevelt đã qua đời, hai tháng sau khi tham dự Hội nghị Yalta Tin Roosevelt qua đời gây chấn động và đau buồn cho nước Mỹ và cũng như trên thế giới Roosevelt tại chức hơn 12 năm, lâu hơn bất cứ Tổng thống nào khỏc, ụng lãnh đạo đất nước vượt qua cơn khủng hoảng tồi tệ nhất, đánh bại Đức Quốc
xã và sắp sửa buộc Nhật Bản phải đầu hàng Roosevelt luôn được nhìn nhận
là một trong các vị Tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ, năm 2007, Jean Edward Smith, người viết tiểu sử Roosevelt đã nhận xét: "Đã dẫn dắt nước
Mỹ qua cuộc Đại suy thoái và Đệ Nhị thế chiến để tiến tới tương lai phú cường Ông đã tự vực mình khỏi chiếc xe lăn để có thể vực đất nước khỏi vị
trí thấp hèn" (83)
Arthur Schlesinger Jr trong cuốn "Những nhân vật xuất chúng thế kỷ XX" đã viết: " Hóy nhỡn thế giới hiện tại của chúng ta Nó hiển nhiên không phải là thế giới của Hitler Đế chế Đức một ngàn năm của ông ta hoá
ra chỉ là chặng đường 12 năm ngắn ngủi và đẫm máu Thế giới khủng khiếp
Trang 38đó tự huỷ hoại mình trước mắt chúng ta Đây cũng không phải là thế giới của Winston Churchill Đế quốc và sự huy hoàng của nó đã biến mất trong lịch
sử Thế giới chúng ta sống ngày nay là thế giới của Franklin Roosevelt Trong số những nhân vật chi phối thế giới trong 60 năm qua, vì động cơ tốt đẹp hay tồi tệ, ông sẽ gây ngạc nhiên nhất bởi khuôn mẫu của mọi thứ ở thế
kỷ XX Và khi ông tự tin vào sức mạnh và sinh lực của một nền dân chủ, ông
sẽ đón nhận những thách thức mà thế kỷ XXI đặt ra" (4,81)
1.3 Học thuyết kinh tế của Keynes
Bá tước John Maynard Keynes (1883 –
1946) là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư
trường Đại học Cambridge ễng cũng là một nhà
hoạt động xã hội, một chuyên gia trong lĩnh vực
tài chính, ông góp phần quan trọng trong việc
thành lập quỹ Tiền tệ IMF Năm 28 tuổi, Keynes
trở thành chủ bút kiêm thư ký toàn soạn tờ Tạp
chí kinh tế, là một trong những người góp phần
quan trọng vào việc hình thành và hoạch định
chính sách kinh tế ở trong Hội Hoàng gia Anh
Keynes sinh ra ở Cambride, ông được học tại trường Eton, ở trường ụng đó sớm bộc lộ tài năng, tầm hiểu biết rộng lớn, đặc biệt là toán học và lịch sử Ông vào trường đại học Cambridge vào năm 1902 để nghiên cứu về toán học, nhưng các mối quan tâm về chính trị của ụng đó đưa ông đến với lĩnh vực kinh tế học, lĩnh vực mà ông nghiên cứu ở Cambridge dưới sự chỉ dẫn của Arthur Cecil Pigou và Alfred Marshall Marshall là người được cho
đã có sự thúc đẩy sự chuyển hướng của Keynes từ toán học sang kinh tế học Keynes nhận bằng cử nhân vào năm 1905 và thạc sĩ vào năm 1908
John Maynard Keynes trên bìa tạp chí Time Keynes là một trong một trăm người được Time bầu chọn là những người làm nên thế kỷ 20
Trang 391.3.1 Hoàn cảnh ra đời Học thuyết kinh tế của Keynes
Học thuyết Keynes ra đời vào những năm 1936 và phát triển mạnh vào những năm 40 – 50 của thế kỷ XX Nó đó thu hút được sự chú ý của các nhà kinh tế học tư sản và những người cầm quyền trong các nước tư bản chủ nghĩa Lý thuyết Keynes ra đời đã có tác dụng lịch sử nhất định đối với nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa, nó giỳp nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa thoát khỏi khủng hoảng và trở lại trạng thái cân bằng
Học thuyết kinh tế của Keynes được ra đời dựa trên hai điều kiện và hoàn cảnh cụ thể vào đầu thế kỷ XX như sau:
Thứ nhất, vào đầu thế kỷ XX, do sự phát triển của lực lượng sản xuất
mang tính xã hội hoá ngày càng cao, đã làm xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền, và các tổ chức độc quyền lũng đoạn nền kinh tế đã trở thành phổ biến trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự đối lập trong hoạt động kinh tế giữa độc quyền và tự do, điều này gây cản trở đối với nền kinh tế Đòi hỏi phải
có sự tăng cường quản lý của Nhà nướcđể điều hành vĩ mô nền kinh tế Cũng trong bối cảnh chung đó của thế giới, các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu kinh tế nhất định nhờ thực hiện kế hoạch hoá nền kinh tế
Thứ hai, sự kiện kinh tế gây chấn động đến thế giới tư bản chủ nghĩa,
đó là cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933, gây hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, việc các Nhà nướctư bản tiếp tục thả nổi nền kinh
tế với cơ chế tự điều hành theo lý thuyết của các trường phái "Cổ điển" và
"Cổ điển mới" với lý thuyết "bàn tay vô hình" và "Cân bằng tổng quát" coi
đó là sự đảm bảo tăng trưởng kinh tế tư bản chủ nghĩa đã hoàn toàn bị sụp
đổ Khủng hoảng đã làm cho mâu thuẫn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên gay gắt, chủ nghĩa tư bản đứng trước nguy cơ sụp đổ Vì thế, đã đặt
ra yêu cầu đó là phải có một lý thuyết mới về kinh tế nhằm khắc phục khủng hoảng và đưa chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa tiếp tục phát triển
Trang 40Dựa trên nhưng điều kiện hoàn cảnh trên, học thuyết kinh tế của Keynes đã ra đời
Keynes đã có rất nhiều cống hiến cho khoa học kinh tế, sự nổi tiếng
của ông gắn liền với sự ra đời tác phẩm "Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ" (The General Theory of Employment, Interest, and Money)
xuất bản năm 1936 Tác phẩm này thường được xem là cuốn sách gối đầu giường của các nhà kinh tế học ở Anh và được cho là đã đặt nền móng cho môn kinh tế học vĩ mô hiện đại
Ngay từ lần xuất bản thứ nhất vào tháng 2 năm 1936, tác phẩm đó gõy tiếng vang mạnh mẽ bởi sự mới mẻ trong tư tưởng kinh tế cũng như bởi sự quan tâm tới tính khả thi của các chính sách kinh tế và sự can thiệp vào tổng cầu Người ta hay gọi đây là "Cuộc cách mạng của Keynes" Những tư tưởng nêu ra trong tác phẩm này trở thành hòn đá tảng trong kinh tế học Keynes
Nó phê phán kinh tế học cổ điển và tân cổ điển Nó đưa ra các lý luận quan trọng về hàm tiêu dùng, về nguyên lý số nhân, về hiệu suất biên của vốn và
về sự ưa thích tính thanh khoản
1.3.2 Những nội dung chủ yếu trong học thuyết kinh tế Keynes
Học thuyết kinh tế của Keynes có hai đặc điểm chủ yếu đó là: phủ nhận lý thuyết thị trường tự điều tiết nền kinh tế và đề cao vai trò Nhà nướcđiều tiết vĩ mô nền kinh tế
Keynes đã nêu lên một số quan điểm cơ bản của mình, từ đó bác bỏ quan điểm của học thuyết "Cổ điển" và học thuyết "Cổ điển mới" về quan điểm thị trường tự điều tiết nền kinh tế Theo ông, tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, suy thoái nền kinh tế là do chính sách về kinh tế đã trở nên lỗi thời và lạc hậu, thiếu sự quản lý và điểu chỉnh của Nhà nước, do đó muốn khắc phục được cuộc khủng hoảng đòi hỏi phải có sự can thiệp đúng đắn của Nhà nước Nếu sử dụng các chính sách kinh tế thích hợp, thì sẽ giữ được nền kinh tế được cân bằng