1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang

101 559 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 857,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi chất lượng không còn được đảm bảo, không thoả mãnnhu cầu khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp.Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, Toàn cầu hoá và thương mại hoá nền kinh tế đang diễn ra với tốc

độ ngày càng cao trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế như thuơng mại, tổ chức sảnxuất và đầu tư trên phạm vi toàn thế giới Vì vậy, Việt Nam cũng như nhiều nướckhác, đều cố gắng hoà nhịp với dòng chảy chung của thế giới Nhu cầu phát triểnkinh tế, xây dựng đất nước không cho phép chúng ta đứng ngoài xu thế, cuộcchơi chung của nhân loại Biểu hiện tích cực mới đây nhất thể hiện sự chủđộng hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới là việc chúng ta chính thứctrở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Việc gia nhậpWTO đem lại cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành may mặc nói riêngrất nhiều cơ hội và thách thức Những cơ hội về thị trường, dỡ bỏ hạn ngạch, khảnăng tiếp cận vốn và công nghệ hiện đại sẽ luôn đi kèm với những thách thức vềcạnh tranh gay gắt và nguy cơ đánh mất thị phần ngay trên sân nhà Trước bốicảnh mới với những cơ hội và thách thức đan xen, yếu tố quyết định đến thànhcông hay thất bại của ngành may mặc chính là năng lực cạnh tranh thực sự củangành Mỗi doanh nghiệp để đảm bảo cho sự tồn tại của mình đã đưa ra nhữngchiến lược cạnh tranh táo bạo nhằm không ngừng tăng cường khả năng cạnhtranh cho mình Mặt khác, các doanh nghiệp không bao giờ tự thỏa mãn với thịtrường chiếm lĩnh được nên luôn tìm cách vươn lên, mở rộng thị trường Chỉbằng cách phát huy nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành công nghiệpmay mặc Việt Nam mới có thể đứng vững trên đôi chân của mình, đón nhậnnhững cơ hội và hạn chế những thách thức do quá trình hội nhập mang lại

Hoà đồng với xu hướng chung này, Công ty Cổ phần may Trường Giangvới hơn 30 năm tồn tại và phát triển mặc dù đã trải qua gian nan vất vả nhưng đãthu được nhiều thắng lợi bằng nhiều biện pháp khác nhau, công ty đã từng bướctạo lập và dần nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường, sản phẩmcủa công ty được người tiêu dùng chấp nhận Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa

là công ty đã tự hài lòng với thắng lợi của mình Vì trong tương lai thắng lợi đó

Trang 2

luôn luôn bị đe doạ Các đơn vị may mặc cả trong và ngoài nước luôn tìm mọicách để cạnh tranh với Trường Giang và mức độ cạnh tranh ngày càng trở nêngay gắt hơn Do đó việc việc nâng cao năng lưc cạnh tranh của công ty là một tấtyếu.

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng của ngành công nghiệpmay mặc đối với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta

đã là thành viên của WTO, cùng với quá trình tìm hiểu thực tế trong thời gian

thực tập tại Công ty Cổ phần may Trường Giang tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần may Trường Giang” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnhtranh của công ty trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Phân tích và đánh giá thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh củacông ty, qua đó tìm hiểu được mức độ ảnh hưởng của môi trường đến sự tồn tại

và phát triển của công ty Tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và

đe doạ của nó trong khả năng cạnh tranh của công ty

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công tytrong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và

thực tiễn về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty Cổ phần may Trường

Giang, Quảng Nam.

- Về thời gian: Được nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014

4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Đề tài sẽ trình bày những lý luận cơ bản về cạnh

tranh và năng lực cạnh tranh, nghiên cứu thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnh

Trang 3

tranh của Công ty Cổ phần may Trường Giang và đề ra một số giải pháp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời gian tới.

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các

phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập thông tin: Tiến hành thu thập số liệu và thông tincần thiết thông qua sổ sách, chứng từ, tư liệu… từ các phòng kế toán, phòng kếhoạch, phòng nhân sự tại công ty Phương pháp tìm kiếm thông tin trên sách báo,Internet…

- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá

và rút ra nhận xét

5 Đóng góp của đề tài

Giúp hệ thống hóa các kiến thức về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.Những nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cùng với các nhà quản trị củacông ty đề xuất những phương án khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh tạidoanh nghiệp Từ đó, đảm bảo cho May Trường Giang luôn có được những công

cụ cạnh tranh vững chắc để tạo nên thương hiệu “May Trường Giang” ngày càngvững mạnh hơn trong thời gian tới

Qua quá trình nghiên cứu đề tài cũng tạo điều kiện cho bản thân được traodồi kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng về viết báo cáo, khóa luận… làm nên nềntảng cho những nghiên cứu sau này

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung kết cấu báo cáo gồm 3 chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh

tranh

Chương 2: Thực trạng về khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần may

Trường Giang

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công

ty cổ phần may Trường Giang

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ CẠNH TRANH VÀ

NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Cơ sở khoa học về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiềulĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao,thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũngnhư các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đốitượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau vềcạnh tranh, cụ thể như sau:

Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hànhđộng ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mụcđích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh,các phần thưởng hay những thứ khác

Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữanhững chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiệnthuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu đượcnhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuấtvới người tiêu dùng như: Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốnmua rẻ, giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, giữa nhữngngười sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất củacạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuậntrung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bìnhquân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quảgiá cả có thể giảm đi Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của mộtdoanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành

Trang 5

Vậy Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cáthể có chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó.Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhàsản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế lợi hơn trong sản xuất,tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnhtranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữangười sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa vớigiá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh mang lạinhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách đểlàm ra sản phẩm có chất lượng hơn đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ

hàng Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắttốt hơn nhu cầu của khách hàng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật áp dụng nhữngtiến bộ, những nghiên cứu mới nhất vào sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chứcsản xuất, quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

1.1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu nhưkhông tồn tại giữa các doanh nghiệp Tại thời điểm này, các doanh nghiệp hầunhư được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cảkhi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về Nhà nước Vìvậy, vô hình dung Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thóiquen trì trệ và ỷ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ cókhách hàng tự tìm đến doanh nghiệp Chính điều đó đã không tạo được động lựccho doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn Từ khinước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và cóvai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với ngườitiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung

Trang 6

a Đối với nền kinh tế quốc dân

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của

sự phát triển nói chung mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ

xã hội, là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Ngoài ra,cạnh tranh còn góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuấthiện của những sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngàycàng được nâng cao về mọi mặt Bên cạnh đó, cạnh tranh cũng góp phần thúcđẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bảo đảm sự phân công lao động xã hộingày càng sâu và rộng Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranhđem lại thì nó vẫn mang lại những hậu quả tiêu cực như cạnh tranh không lànhmạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo, dẫn đến những mối làm ăn vi phạm pháp luậtnhư trốn thuế, buôn lậu, làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém phẩm chất, kinhdoanh trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm

b Đối với doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt độngkinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứngvững Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnhtranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh

để giành lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm chokhách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thịhiếu, nhu cầu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụkèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại vàphát triển Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần thiết

Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác Marketing bắtđầu từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất như thếnào? Và sản xuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp xác định đượcnhu cầu thị trường và chỉ bán những gì mà thị trường cần chứ không bán những

gì mà doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sảnphẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốn vậy, các

Trang 7

doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trìnhSXKD, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân,

cử các cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn Cạnh tranh thắng lợi sẽtạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trường, tăng thêm uy tín chodoanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng SXKD, tái sản xuất xã hội,tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế

c Đối với ngành

Hiện nay, đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành dệt may nói riêngcạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển Cạnh tranh bìnhđẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển.Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai tháclợi thế và điểm mạnh của ngành

Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạtđộng lớn hay nhỏ, dù hoạt động đó ở tầm vĩ mô hay vi mô thì không thể thiếu sự

có mặt và vai trò quan trọng của yếu tố cạnh tranh

d Đối với sản phẩm

Nhờ có cạnh tranh, sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao về chấtlượng, phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã và kích cỡ, tăng thêm lợi íchcho người tiêu dùng Nhờ có cạnh tranh các doanh nghiệp sẽ không ngừng cảitiến những sản phẩm cũ, thiết kế ra những sản phẩm mới để đáp ứng những nhucầu ngày càng cao của khách hàng không chỉ trong nước mà còn cung cấp cho thịtrường quốc tế

Như vậy, ta có thể thấy rằng cạnh tranh không thiếu sót ở bất cứ lĩnh vựcnào của nền kinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi

và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xãhội Do đó, cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của Nhà nước

để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực, đảm bảo cho nềnkinh tế phát triển theo đúng quy luật vận động của kinh tế thị trường

1.1.1.3 Các hình thức cạnh tranh

Cạnh tranh được phân loại theo các căn cứ khác nhau:

Trang 8

a Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh

Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo

quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình Ngườibán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn muavới giá thấp nhất nhưng chất lượng vẫn đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là

mức giá thoả thuận giữa hai bên.

Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở

quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc này hànghoá trên thị trường sẽ khan hiếm, để đạt được nhu cầu mong muốn người muasẵn sàng mua với mức giá cao hơn, do vậy mức độ cạnh tranh diễn ra gay gắthơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá tăng lên, những người bán

sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá cả vàchất lượng Nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp vàxảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go

và quyết liệt nhất khi trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu Nó

có ý nghĩa sống còn đối với các chủ doanh nghiệp Cạnh tranh giữa những ngườibán điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường Khi cung một hàng hoá nào đólớn hơn cầu thì cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả hàng hoá đógiảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang

bị kỹ thuật, phương thức quản lý và giá thành sản phẩm mới có thể tồn tại Kếtquả để đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là tănglợi nhuận, tăng doanh số và thị phần Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnhtranh là hiện tượng tất yếu không thể tránh khỏi đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.Thực tế cho thấy cạnh tranh giữa những người bán với nhau sẽ đem lại lợi íchcho người mua và trong quá trình ấy những doanh nghiệp nào không có chiếnlược cạnh tranh thích hợp sẽ bị gạt ra khỏi thị trường và đi đến phá sản nhưngcũng sẽ có những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ nắm chắc “Vũ khí”cạnh tranh và dám chấp nhận “Luật chơi” phát triển

Trang 9

b Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh

Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn giản

của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tácđộng đến giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ cócách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hìnhthành, giá cả do thị trường quyết định

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh tranh phổ

biến trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phốiđược giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại, các dịch

vụ trước, trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh màphần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãnhiệu và đặc tính riêng biệt, dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sảnphẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều Loại hìnhcạnh tranh không hoàn hảo hiện nay rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường

Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có

ảnh hưởng lớn có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm vớigiá rất cao và những người này có thể làm thay đổi giá cả thị trường Có 2 loạicạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua Độc quyền bán tức

là trên thị trường có rất ít người bán và nhiều người mua, lúc này người bán cóthể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thu được là tối đa.Còn độc quyền mua tức là trên thị trường có ít người mua và nhiều người bán,khi đó khách hàng được coi là “Thượng đế”, được chăm sóc tận tình và chu đáonếu không những người bán sẽ không thể lôi kéo được khách hàng về phía mình.Trong thực tế sẽ có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thaythế sản phẩm độc quyền hoặc khi các nhà độc quyền liên kết với nhau Độc quyềngây trở ngại cho sự phát triển và làm thiệt hại đến người tiêu dùng Vì vậy, hiệnnay ở một số nước đã có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độcquyền giữa các nhà kinh doanh

Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành

sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất, lúc này cạnh tranh sẽ xảy ra

Trang 10

giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy mọi doanh nghiệp phảinhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lượng

mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thịtrường Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởngđến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác Những doanhnghiệp tham gia thị trường này là những doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh,vốn đầu tư lớn Do vậy, việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranhthường là rất khó

c Căn cứ vào phạm vi kinh tế

Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong

cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một loại sản phẩm Trong cuộc cạnhtranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp

để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảmchi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả là trình

độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thuhẹp hoạt động thậm chí còn có thể bị phá sản

Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác

nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất Như vậy giữa các ngành kinh tế do điềukiện kỹ thuật và các điều kiện khác như môi trường kinh doanh, thu nhập, nhucầu, thị hiếu của khách hàng… nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này cóthể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tìnhtrạng nhiều người SXKD ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướngchuyển dịch sang những ngành thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn Kết quả lànhững ngành có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút ngày càng nhiều đối thủ tham giavào ngành này dẫn đến cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xu hướnggiảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại, những ngành có tỷ suất lợinhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làmcho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, kết quả làgiá cả hàng hoá tăng và tăng tỷ suất lợi nhuận

Trang 11

1.1.1.4 Các công cụ cạnh tranh

Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là tập hợp các yếu tố, các

kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sửdụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thỏamãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu lạilợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựachọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinhdoanh và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huy được hiệu quả sử dụngcông cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợpkhông theo một khuôn mẫu cứng nhắc nào Dưới đây là một số công cụ cạnhtranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệp thường dùng đến

a Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, thuộc tính của sản phẩm thểhiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện xác định phù hợp với côngdụng của sản phẩm

Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quantrọng của các doanh nghiệp trên thị trường Chất lượng sản phẩm càng cao tức làmức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăngkhả năng trong thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiệnhiện nay, mức sống của người dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu cókhả năng thanh toán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã

và sẽ có xu hướng vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lượng

Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điềukiện nhất định về kinh tế kỹ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ởnhiều mặt khác nhau tính cơ lý hoá đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dángmàu sắc hấp dẫn Với mỗi loại sản phẩm khác nhau, tuy nhiên vấn đề đặt ra làdoanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng sảnphẩm Đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn giành được thắnglợi trong cạnh tranh, nói một cách khác chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn

Trang 12

đối với doanh nghiệp Khi chất lượng không còn được đảm bảo, không thoả mãnnhu cầu khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp.

Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việctăng khả năng cạnh tranh thể hiện trên các giác độ

Chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng tăng đựơc khốilượng hàng hoá tiêu thụ, tăng uy tín sản phẩm mở rộng thị trường, từ đó tăngdoanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã

đề ra Nâng cao chất lượng sản phẩm có nghĩa là nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh

Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiệntại và cả tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng caochất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệchế tạo, đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng và sau khi tiêudùng Hay nói cách khác, nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm

để tạo ra những sản phẩm thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêudùng Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càngtăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp Điều đó sẽ làm tănglòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp Do vậy, cạnhtranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng và cần thiết

b Cạnh tranh bằng giá cả

Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cungứng hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền củagiá trị hao phí lao động sống và lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sựcạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế”, họ

có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ vớichất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn đểlợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trởthành một biến số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệpthành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế

Trang 13

chiến thuật giá cả Giá cả thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việcđịnh giá sản phẩm:

Định giá ngang bằng với giá thị trường: Giúp doanh nghiệp đánh giá được

khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sảnphẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanhcao và lợi sẽ thu được nhiều hơn

Định giá thấp hơn mức giá thị trường: Chính sách này được áp dụng khi

cơ sở sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh.Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá thấp Họchấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm được cảthị trường rộng lớn với khả năng tiêu thụ tiềm tàng Định giá thấp giúp doanhnghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đóthâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường

Định giá cao hơn giá thị trường: Là ấn định giá bán sản phẩm cao hơn giá

bán sản phẩm cùng loại trên thị trường hiện tại khi lần đầu tiên người tiêu dùngchưa biết chất lượng của sản phẩm ấy Đó chính là đánh vào tâm lý của ngườitiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng cao hơn các hàng hoákhác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớnhơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc đốivới những mặt hàng cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá

Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thànhcông khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kĩ lưỡng xemmình đang ở tình thế nào (thuận lợi hay không thuận lợi) nhất là phải nghiên cứu

xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng đồng thời phải xem xét các chínhsách giá mà đối thủ đang sử dụng

c Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối

Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lựcbởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng Để hoạt độngtiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt thì doanh nghiệp cần phải lựachọn các kênh phân phối hợp lý, thường xuyên nghiên cứu thị trường để nắm bắt

Trang 14

được nhanh chóng và kịp thời các nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phốisản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Kênh phân phối là con đường mà hàng hóa được lưu thông từ nhà sản xuất

đến người tiêu dùng Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục đượcnhững khác biệt về thời gian và địa điểm giữa người sản xuất với người tiêu dùngcác hàng hóa, dịch vụ Về lý thuyết có hai loại kênh phân phối cơ bản là:

Kênh trực tiếp: Là loại kênh phân phối trong đó hàng hóa được chuyển đưa

thẳng từ người sản xuất đến người tiêu dùng

Kênh gián tiếp: Là loại kênh trong đó có sự tham gia của các trung gian.

Tùy theo từng loại mặt hàng kinh doanh, tùy theo vị trí đị lý, tùy theo nhucầu của người tiêu dùng và người bán, tùy theo quy mô kinh doanh của doanhnghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý

d Cạnh tranh bằng các chính sách xúc tiến bán hàng

Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng doanh nghiệp có thể tiến hànhmột loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổchức hội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế Ngày nay, nghệthuật tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò vô cùng quan trọng, thậm chí quyết định đến

sự sống còn của doanh nghiệp trên thị trường Bởi vì nó tác động đến khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trên các khía cạnh sau:

Tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự quan tâm củakhách hàng tới sản phẩm của doanh nghiệp

Cải thiện vị trí hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường (thương hiệu, chữtín của doanh nghiệp)

Mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường, phối hợp với cácchủ thể trong việc chi phối thị trường, chống hàng giả

1.1.1.5 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, ở đâu có nềnkinh tế thị trường thì ở đó có kinh tế cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệp nàocũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình

Trang 15

tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay dotác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngàycàng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên Con ngườikhông chỉ cần có nhu cầu “Ăn chắc mặc bền” như trước kia mà còn cần “Ănngon mặc đẹp” Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừngđiều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp nàobắt kịp thời và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Chính

vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:

Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh

doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng Làm chokhách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp nhấtvới thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốtnhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nềnkinh tế thị trường hiện nay

Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển: Ngày nay trong kinh tế

thị trường, cạnh tranh là điều kiện và là một trong yếu tố kích thích kinh doanh.Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, sản xuất hàng hóangày càng phát triển, hàng hóa sản xuất ra nhiều, số lượng người cung ứng ngàycàng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cạnh tranh là loại bỏ những công tykém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp và ngược lại thúc đẩy những công tylàm ăn tốt, năng suất chất lượng cao Do vậy, muốn tồn tại thì doanh nghiệp phảicạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứngtốt nhu cầu khách hàng

Doanh ngiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu: Bất kỳ một doanh

nghiêp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có nhữngmục tiêu nhất định Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp màdoanh nghiệp đặc ra cho mình những mục tiêu khác nhau Trong giai đoạn đầukhi mới thực hiện kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là muốn khai thácthị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai đoạn nàydoanh nghiệp thu hút càng nhiều khách hàng càng tốt Còn giai đoạn trưởng

Trang 16

thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh thu, tăng lợinhuận và giảm chi phí Giai đoạn gần như bảo hòa thì mục tiêu của doanh nghiệpchủ yếu là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách là thực hiện tráchnhiệm đối với nhà nước, đối với công cộng, củng cố lại niềm tin của khách hàngđối với doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh,chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biệnpháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng ngữngdịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách ngày càng tăng Chỉ

có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển

1.1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Trong giai đoạn nền kinh tế thế giới hội nhập, năng lực cạnh tranh đựoc coi

là một nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc giacũng như các doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là tập hợp cácthể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất lao động của quốc gia

đó, nhân tố đảm bảo thu nhập, sự phát triển bền vững của quốc gia và là nhân

tố cơ bản xác định tăng trưởng ổn định và lâu dài của nền kinh tế Tồn tại khánhiều quan điểm về năng lực cạnh tranh:

Theo quan điểm cổ điển: “Khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm thểhiện qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất, sự dồi dào và phong phú của các yếu

tố đầu vào và năng suất lao động để tạo ra sản phẩm đó Các yếu tố chi phí sảnxuất thấp vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh”

Theo quan điểm tổng hợp thì “Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra,duy trì lợi nhuận và thị phần trong và ngoài nước Các chỉ số đánh giá năng suấtlao đông, tổng năng suất của các yếu tố về sản xuất, công nghệ về sản xuất, sựvượt trội về công nghệ, năng suất lao động, sự dồi đào về nguyên vật liệu đầuvào…”

Theo quan điểm Alan V.Deardorff: “Năng lực cạnh tranh thường dùng đểnói đến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách hiệu quả với cáchãng khác về chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ trong so sánh quốc tế”

Trang 17

1.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh

Để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, có một số chỉ tiêu:

a Thị phần

Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác, trong thị phần là một chỉ tiêuthường hay được sử dụng Thị phần được hiểu là thị trường mà doanh nghiệpchiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó, thị phần của doanh nghiệpđược xác định

Doanh thu của doanh nghiệp

Thị phần của doanh nghiệp =

Tổng doanh thu toàn ngành

Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệpcàng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức hoạtđộng của doanh nghiệp có hiểu quả hay không bởi doanh nghiệp có một mảng thịtrường lớn thì chỉ số đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưutiên thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thìchỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi đốithủ cạnh tranh Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khảnăng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành

b Năng suất lao động

Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả SXKD vàkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi thông qua năng suất lao động ta có thểđánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình độ khoa học công nghệcủa doanh nghiệp

c Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùngvào hoạt động SXKD Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận caochắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi phí thấp

Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận doanh nghiệp có thể đánh giá được khả năng

Trang 18

cạnh tranh của mình so với đối thủ Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp cao, doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và ngược lại.

Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:

Tổng lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận =

Tổng doanh thu

Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi

nhuận Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăngcủa doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp thấp, doanh nghiệpkinh doanh chưa hiệu quả Đồng thời chỉ tiêu này cũng nói lên rằng đã có quánhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường này, do đó doanh nghiệp phải khôngngừng mở rộng thị trường để nâng cao sức cạnh tranh Nếu chỉ tiêu này cao tức

là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng doanh thu, doanh nghiệp kinh doanh

có hiệu quả, chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao Doanh nghiệpcần phát huy lợi thế của mình một cách tối đa và không ngừng đề phòng đối thủcạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp bất cứ lúc nào dosức hút lợi nhuận cao

1.1.2.3 Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

a Môi trường bên trong

Các nhân tố môi trường bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đếnkết quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty bởi vậy mà nóđược coi là các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của công ty

Khả năng tài chính: Vốn là điều kiện vật chất cần thiết cho mọi hoạt động

của doanh nghiệp Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối đều phảixem xét đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lựclớn về tài chính sẽ rất thuận lợi cho việc huy động vốn đầu tư, mua sắm MMTB

và đổi mới công nghệ cũng như có điều kiện đãi ngộ và đào tạo nhân sự Nhữngthuận lợi đó sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn, taynghề cho CBCNV, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí, nâng cao sứccạnh tranh cho doanh nghiệp

Trang 19

Nếu doanh nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện muasắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán,khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao cho khách hàng, từ đó hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả và doanh nghiệp dễ dẫnđến nguy cơ phá sản Như vậy, khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiênảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nguồn lực vật chất kỹ thuật: Nguồn lực vật chất kỹ thuật phản ánh thực lực

của doanh nghiệp đối với đối thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tậndụng và khai thác trong quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra.Nguồn lực vật chất kỹ thuật có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị, máy móc, công nghệhiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được đảm bảo về chấtlượng

Hệ thống MMTB hiện đại sẽ đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá, giúpcho khả năng thu hồi vốn được diễn ra nhanh hơn, giảm bớt các sản phẩm saihỏng từ đó góp phần hạ giá thành sản phẩm Ngày nay do tác động của cuộc cáchmạng KHCN, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh

về trí tuệ, về trình độ công nghệ Công nghệ tiên tiến không những nâng cao năngsuất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành mà còn có thể xác lập tiêuchuẩn mới cho từng ngành Mặt khác, khi việc bảo vệ môi trường đang trở thànhvấn đề toàn cầu như hiện nay thì những doanh nghiệp nào có trình độ công nghệcao, MMTB hiện đại nhất định sẽ giành được ưu thế trong cạnh tranh

Nguồn nhân lực: Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại của mọi

hoạt động kinh doanh Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý đến việc sử dụng conngười, phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá tổ chức, có chính sáchđào tạo và đãi ngộ lao động hợp lý Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đếncác chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng lao động, trình độ tay nghề, năng suất laođộng, thu nhập bình quân, năng lực của cán bộ quản lý…

Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất củadoanh nghiệp bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản

Trang 20

phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu của khách hàng, mớitạo được uy tín và hình ảnh cho doanh nghiệp mà tất cả những yếu tố này hìnhthành nên khả năng cạnh tranh Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh củamình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người, từ những ngườilao động đến nhà quản trị cấp cao nhất bởi mỗi người đều có một vai trò quantrọng trong sự phát triển chung của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tàitình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hết mình, họluôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển, tráchnhiệm và quyền lợi của họ được bảo đảm, được nâng đỡ và phát huy Và doanhnghiệp nào có nhân viên nhiệt tình, sáng tạo, có trách nhiệm cao thì doanh nghiệp

đó phát triển vững chắc bởi những quyết định mà ban lãnh đạo đưa ra được thựchiện một cách nghiêm túc và đầy đủ Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh thìnhững người trong doanh nghiệp phải có ý thức và trách nhiệm về công việc củamình Muốn vậy khâu tuyển dụng, đào tạo và chính sách đãi ngộ nhân sự phảiđược quan tâm đúng mức, phải có kế hoạch và chiến lược một cách cụ thể vàkhoa học

Uy tín của công ty

Uy tín là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiều bạn hàng, nhiềuđối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng trung thành với doanh nghiệp.Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần, lợi nhuận… Nhưng để đạtđược các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được uy tín trên thị trường, tạo vịthế cao trong con mắt của khách hàng Cơ sở, tiền đề để tạo được uy tín củadoanh nghiệp là doanh nghiệp phải có một nguồn vốn đủ lớn đảm bảo để duy trì

và phát triển hoạt động kinh doanh, có một hệ thống máy móc, cơ sở hạ tầng đápứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động kinh doanh Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên

uy tín của doanh nghiệp đó là “Con người trong doanh nghiệp” tức doanh nghiệp

đó phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đội ngũ

Trang 21

nhân viên giỏi về tay nghề và kỹ năng làm việc, có tinh thần trách nhiệm và nhiệttình trong công việc, biết khơi dậy nhu cầu của khách hàng.

Chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh có vai trò to lớn trong quá trình tổ chức quản lý sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh hàng năm, hoạch định nguồn nhân lực, định hướng chiến lược phát triển,

mở rộng các nguồn lực và các chính sách kinh doanh

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đã vạch ra hướng đi cụ thể trongmột thời gian dài theo những trật tự hoạt động nhất định nhằm ổn định sự mởrộng và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các nhà quản lý dựavào chiến lược mà thực hiện những điều chỉnh và cải cách nhất định trong hoạtđộng nhằm đạt được những hiệu quả cao trong kinh doanh và nâng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp

b Môi trường bên ngoài

Các nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp có liên quan và ảnh hưởngđến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp Các nhân tố môitrường bên ngoài bao gồm:

Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô chính là môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động.Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phức tạp ảnhhưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Môi trường đó chính là tổngthể các nhân tố cơ bản: Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị và pháp luật, nhân tố xãhội, nhân tố tự nhiên, nhân tố công nghệ Mỗi nhân tố này tác động và chi phốimạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chúng có thể là cơhội hoặc thách thức đối với doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần phải có sự amhiểu về các nhân tố trên và đưa ra cách ứng xử cho phù hợp đối với những đòihỏi những biến động của chúng đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tếthì vấn đề này cần được coi trọng

Môi trường kinh tế

Trang 22

Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quantrọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Một nền kinh tế tăngtrưởng sẽ tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, nhu cầu dân cư sẽ tăng lên đồngnghĩa với một tương lai sáng sủa, điều này cũng có nghĩa là tốc độ tích luỹ vốnđầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên, mức độ hấp dẫn đầu tư và ngoài cũng sẽtăng lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Thị trường được mở rộngđây chính là cơ hội tốt cho những doanh nghiệp biết tận dụng thời cơ, biết tựhoàn thiện mình, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh thị trường Nhưng nó cũngchính là thách thức đối với những doanh nghiệp không có mục tiêu rõ ràng,không có chiến lược hợp lý Chạy đua không khoan nhượng đối với tất cả cácdoanh nghiệp dù là doanh nghiệp nước ngoài cũng như doanh nghiệp ở trongnước dù là doanh nghiệp đó đang hoạt động ở thị trường nội địa hay thị trườngnước ngoài Và ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái, bất ổn định, tâm lý ngườidân hoang mang, sức mua của người dân giảm sút, các doanh nghiệp phải giảmsản lượng phải tìm mọi cách để giữ khách hàng, lợi nhuận doanh số cũng sẽ giảmtheo trong lúc đó sự cạnh tranh trên thị trường lại càng trở nên khốc liệt hơn.Các yếu tố của nhân tố kinh tế như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát tỷ giá hốiđoái cũng tác động đến khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Môi trường văn hóa - xã hội

Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian nênđôi khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà bất cứdoanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó cho dù cómuốn sống hay không Nhân tố xã hội có thể bao gồm: Lối sống, phong tục, tậpquán, thái độ tiêu dùng, trình độ dân trí, ngôn ngữ, tôn giáo…

Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ về sảnphẩm, dịch vụ, chúng là những điều mà không ai có thể đi ngược lại được nếumuốn tồn tại trong thị trường đó Ví dụ như ở những thị trường luôn có tư tưởng

đề cao sản phẩm nội địa như Ấn Độ, Nhật Bản thì các sản phẩm ngoại nhập sẽkém khả năng cạnh tranh so với các doanh nghiệp của quốc gia đó Sự khác biệt

về xã hội sẽ dẫn đến việc liệu sản phẩm của doanh nghiệp khi xuất sang thị

Trang 23

trường nước ngoài đó có được thị trường đó chấp nhận hay không cũng như việcliệu doanh nghiệp đó có đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu của thị trường mớihay không Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ các yếu tố xãhội tại thị trường mới cũng như thị trường truyền thống để từ đó tiến hành phânđoạn thị trường, đưa ra được những giải pháp riêng Đáp ứng thị trường tốt nhấtyêu cầu của thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Môi trường chính trị - pháp luật

Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứ doanhnghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Chính trị vàpháp luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như là cơ sở pháp lý cho cácdoanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thị trường nào dù là trongnước hay nước ngoài

Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có một nền kinh tế ổn định,phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh Luật pháp tác động điều chỉnh trực tiếpđến hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế Mỗi thị trường đều có hệthống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Luật pháp rõ ràng, chínhtrị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của từng doanhnghiệp Đặc biệt đối với từng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩuchịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các chính phủ, các hiệp định kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới sự khác biệt về pháp luật giữacác quốc gia Sự khác biệt này có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp những điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động, chínhsách kế hoạch chiến lược phát triển, loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấpcho thị trường

Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một môitrường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, cá nhân,

tổ chức trong nền kinh tế

Môi trường nhân khẩu học

Phân đoạn nhân khẩu học của môi trường vĩ mô liên quan đến dân số, cấutrúc tuổi, phân bố địa lý, cộng đồng các dân tộc và phân phối thu nhập Chẳng

Trang 24

hạn, cấu trúc trúc tuổi già đi ở các nước phát triển do tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ

có khuynh hướng tăng Cho thấy các cơ hội của các dịch vụ chăm sóc người già,các dịch vụ bảo hiểm Nhưng cũng tiềm ẩn một đe dọa với các doanh nghiệp vềvấn đề nguồn lao động Đối với những nước đang phát triển cơ cấu dân số trẻ, là

cơ hội để các doanh nghiệp tìm đến nguồn lao động trẻ Song sự tăng dân sốnhanh chóng mặt đang làm xói mòn khả năng phát triển bền vững ở các quốc gianày

Sự thay đổi kết cấu dân số là một nhân tố của môi trường kinh tế vĩ mô mà

nó cũng có thể tạo ra các cơ hội lẫn đe dọa

Môi trường kỹ thuật – công nghệ

Khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán bất kỳ một sản phẩm nào đượcsản xuất ra cũng đều phải gắn với một công nghệ nhất định Công nghệ sản xuất

đó sẽ quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tác động tới chi phí cá biệt củatừng doanh nghiệp từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp.Khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp các doanh nghiệp xử lý thông tin mộtcách chính xác và có hiệu quả nhất trong thời đại hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệpnào muốn thành công cũng cần có một hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền phátthông tin một cách chính xác, đầy đủ nhanh chóng hiệu quả về thị trường và đối thủcạnh tranh Bên cạnh đó, khoa học công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra một hệ thống cơ sởvật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như thị trườngdoanh nghiệp nói riêng Vì vậy, có thể nói rằng khoa học công nghệ là tiền đề chocác doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Môi trường toàn cầu

Khi phân tích môi trường toàn cầu cần chú ý đến các vấn đề: Các thị trườngtoàn cầu có liên quan, các thị trường hiên tại đang thay đổi, các sự kiện chính trịquốc tế quan trọng, các đặc tính thể chế và văn hóa cơ bản trên thị trường toàncầu,… Toàn cầu hóa các thị trường kinh doanh tạo ra cơ hội lẫn đe dọa cho cácdoanh nghiệp Ngoài ra, cần nhận thức về các đặc tính khác biệt văn hóa xã hội

và thể chế của các thị trường toàn cầu

Trang 25

Môi trường tự nhiên

Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặckhó khăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh vị trí địa lý thuận lợi ở trungtâm công nghiệp hay gần nhất nguồn nguyên liệu, nhân lực trình độ cao, lànhnghề hay các trục đường giao thông quan trọng sẽ tạo cơ hội cho các doanhnghiệp phát triển, giảm được chi phí Các vấn đề ô nhiểm môi trường, thiếu nănglượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên Cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối vớicác nguồn lực có hạn khiến cho xã hội cũng như các doanh nghiệp phải thay đổiquyết định và các biện pháp hoạt động liên quan

Môi trường vi mô

Nhà cung cấp: Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan

trọng, nó đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành ổnđịnh theo kế hoạch đã định trước Trên thực tế nhà cung cấp thường được phânthành ba loại chủ yếu: Loại cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, cung cấp nhâncông, cung cấp tiền và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm Như vậy mỗi doanhnghiệp cùng một lúc có quan hệ với nhiều nguồn cung cấp phải đầy đủ về sốlượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất lượng và ổn định về giá cả Mỗi sựsai lệch trong quan hệ trong với nhà cung cấp đều ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, điều đó làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Để giảm tính độc quyền và sức ép từ phía nhà cung cấp, các doanh nghiệpphải biết tìm đến các nguồn lực tin cậy, ổn định và giá cả hợp lý với phươngchâm là đa dạng hóa các nguồn cung cấp, thực hiện nguyên tắc “Không bỏ tiềnvào một ống” Mặt khác trong quan hệ này, doanh nghiệp nên tìm cho mình mộtnhà cung cấp chính có đầy đủ sự tin cậy, nhưng phải luôn tránh sự lệ thuộc, cầnphải xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình Như vậy, doanh nghiệp cần phảithiết lập mối quan hệ lâu dài với nhà cung cấp để họ cung cấp đầy đủ về sốlượng

Khách hàng: Khách hàng là người đang mua và sẽ mua hàng của doanh

nghiệp Đối với doanh ngiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết địnhnhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tính chất quyết định của

Trang 26

khách hàng thể hiện ở mặt sau Khách hàng quyết định hàng hóa của doanhnghiệp được bán theo giá nào? Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá

mà người tiêu dùng chấp nhận khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sảnphẩm như thế nào? Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng

do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường người mua có quyền lựachọn theo ý thức của mình, đồng thời quyết định phương thức phục vụ của ngườibán Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hàng làm cho thị trườngchuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở thànhthượng đế

Do vậy, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố khách hàng,khách hàng có thể ganh đua với doanh nghiệp bằng cách yêu cầu chất lượng sảnphẩm cao hơn, hoặc ép giảm giá xuống Nhóm khách hàng thường gây áp lực vớidoanh nghiệp là những nhóm khách hàng tập trung và mua khối lượng lớn Nhómkhách hàng mua đúng tiêu chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt vì họ có thểtìm được nhà cung ứng khác một cách dể dàng hoặc nhóm khách hàng có đầy đủthông tin về sản phẩm, giá cả thị trường, giá thành của nhà cung ứng Điều nàyđem lại cho khách hàng một lợi thế mạnh hơn trong cuộc mặc cả so với trườnghợp họ chỉ có ít thông tin

Bên cạnh đó, yêu cầu của khách hàng cũng sẽ gây áp lực làm tụt giảm khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này thể hiện ở chỗ nếu doanh nghiệpkhông kịp thay đổi những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ có xuhướng chuyển dịch sang những doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó có thểđáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ và như vậy sức cạnh tranh sẽ giảm sút Điều đóchứng tỏ yếu tố khách hàng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại, vận hành và pháttriển của doanh nghiệp

Các đối thủ cạnh tranh

Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh Vấn

đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũngkhông nên coi đối thủ là kẻ địch Cách xử lý khôn ngoan nhất không phải làhướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều

Trang 27

khiển, hoà giải, lại vừa hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng,

có như vậy mới có khả năng giành lợi thế trong cạnh tranh Mặt khác, cần cóchiến lược dự báo trong tương lai và định hướng nhu cầu của khách hàng Trênthực tế, cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhau nhưng có thể nói cạnhtranh chủ yếu là về khách hàng Để có và giữ được khách hàng, doanh nghiệpcần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và

rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách hàng, lôi kéo khách hàngbằng nhiều dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác mới bắt đầubước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác để gâydựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hoá và dịch vụcho khách hàng Nhưng khi có khách hàng thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau,

họ tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng về phía mình Trong những thời điểm vànhững giai đoạn khác nhau thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thịtrường và những đối thủ yếu hơn rút lui khỏi thị trường

Để chống lại các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp thường thực hiện cácchiến lược như phát triển sản phâm, nâng cao chất lượng sản phẩm, khác biệt hoásản phẩm, không ngừng cải tiến và hoàn thiện sản phẩm của mình Doanh nghiệpnên đề phòng và trước các đối tác làm ăn, các bạn hàng… bởi vì họ rất có thể trởthành đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Tuy nhiên, nếu ở trong một thị trường kinhdoanh nhất định, doanh nghiệp vượt trội hơn đối thủ về chất lượng sản phẩm, giá

cả và chất lượng phục vụ thì doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ cóđiều kiện tiến xa hơn so với các đối thủ

Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặp phải những đối thủ cạnhtranh mới, song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành là rất có thể và lúc đódoanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều Do vậy, doanh nghiệp cần phải cónhững chiến lược thích hợp để không ngừng nâng cao vị thế cạnh tranh của mìnhtrong đó có việc duy trì hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài

Sản phẩm thay thế: Những sản phẩm bị thay thế cũng là một trong các lực

lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp cùng ngành Sự ra

Trang 28

đời của các sản phẩm mới là một tất yếu nhằm đáp ứng biến động của nhu cầu thịtrường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú Chính nó làm giảm khả năngcạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế Các sản phẩm thay thế sẽ có ưu thế hơn

và có khả năng thu hẹp thị trường của sản phẩm bị thay thế Để khắc phục tìnhtrạng này các doanh nghiệp phải luôn hướng tới những sản phẩm mới, khôngngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã hay nói cách khác phảiluôn hướng tới khách hàng để tìm độ thoả dụng mới

Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận củangành, do đó nếu không chú ý tới các sản phẩm thay thế doanh nghiệp có thể bịtụt lại với các thị trường nhỏ bé Vì vậy các doanh nghiệp cần không ngừngnghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế, phần lớn các sản phẩm thay thế làkết quả của các cuộc bùng nổ công nghệ Muốn đạt được thành công, doanhnghiệp cần chú ý giành nguồn lực để phát triển hoặc vận dụng công nghệ mớivào chiến lược của mình

1.2 Tổng quan tài liệu

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệttrong thời kỳ hội nhập là một trong những điều kiện giúp hàng hóa Việt Nam cóchỗ đứng không chỉ trên thị trường trong nước mà cả trên thị trường quốc tế.Nhận thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh thời gian

đã qua có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:

- Nguyễn Hồng Cẩm (2006) “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh của Công ty Cổ Phần dệt May Thành công đến năm 2015” Luận văn Thạc

sĩ Đại học kinh tế TP.HCM

- Nguyễn Thị Hương (2011) “Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năngcạnh tranh của Công ty cổ phần may Sông Hồng” Chuyên đề thực tập tốt nghiệpĐại học Chu Văn An

- Nguyễn Bích Thảo (2007) “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tếViệt Nam trong quá trình hội nhập” Luận văn Tiến sĩ Đại học kinh tế quốc dân Các công trình trên đã đề cập đến vấn đề cơ bản về quan niệm năng lựccạnh tranh, các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành, của doanh

Trang 29

nghiệp: Môi trường bên trong, môi trường bên ngoài từ đó đưa ra các giải phápnâng cao nảng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành Các công trình này đi rấtsâu vào phân tích tác động của môi trường bên ngoài ( môi trường kinh tế, chínhtrị, pháp luật…) đến năng lực cạnh tranh cảu doanh nghiệp Coi đó như nhân tốtác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và là cơ sở đề xuất nhữnggiải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên khitác giả bàn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ chú trọng yếu tố nội tạicòn yếu tố bên ngoài thật ra tạo cơ hội và thách thức cho mọi doanh nghiệp trongngành là như nhau Do đó đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty mayTrường Giang” sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích các yếu tố bên trong tác độngđến năng lực cạnh tranh của công ty May Trường Giang, từ đó phân tích đánh giáthực trạng để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

Có các bài báo cáo nghiên cứu vấn đề này: Bộ công thương (2008), Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Phát triển ngành dệt may trở thành một trong

những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngàycàng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng caokhả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới Quy hoạchnêu rõ trước mắt ngành dệt may tập trung phát triển và nâng cao năng lưc cạnhtranh về nguồn nhân lực; nguồn nguyên, phụ liệu để có nguồn nhân lực chuyênmôn cao, tạo nên sản phẩm chất lượng cao gắn với thương hiệu uy tín, bảo vệmôi trường

Ngoài ra, còn tham khảo một số bài viết trên các website như: tailieu.vn,doko.vn, luanvan.co, doc.edu.vn,… có rất nhiều bài viết chia sẻ về lý luận cạnhtranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho những doanh nghiệp trong giai đoạnhiện nay

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ

PHẦN MAY TRƯỜNG GIANG 2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần may Trường Giang

2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần may Trường Giang

Tên Công ty: Công ty Cổ Phần May Trường Giang

Tên giao dịch: TRƯỜNG GIANG GARMENT JOINT STOCK

Trước ngày giải phóng đây là kho quân sự của Mỹ Ngụy Sau ngày giảiphóng ban chỉ huy quân sự tiếp quản làm bệnh xá và đến năm 1978 bàn giao lại

để xây dựng xí nghiệp may Tam Kỳ

Lúc mới thành lập là lúc trong thời kỳ bao cấp nên xí nghiệp thực hiện kếhoạch sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước Chuyên sản xuất các mặthàng bảo hộ lao động với thiết bị được mua từ các nước xã hội chủ nghĩa Đông

Âu, thu hút khoảng 100 lao động địa phương với khoảng 2 chuyền may

Trang 31

Năm 1987, xí nghiệp may Tam Kỳ liên kết UBND thị xã Tam kỳ đầu tưmới khoảng 100 thiết bị trị giá khoảng 190000USD nâng tổng số chuyền may lên

6 chuyền, thu hút thêm gần 200 lao động và mở rộng thị trường ra các nước nhưLiên Xô cũ, các nước Đông Âu Trong thời gian này, xí nghiệp chủ yếu sản xuấtgia công theo đơn đặt hàng từ nước ngoài và sản phẩm chủ yếu như: Áo sơ mi,

áo khoác, áo Jacket

Từ năm 1989-1990 Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, xí nghiệpmay Tam Kỳ chuyển hướng kinh doanh với các nước TBCN, và cũng sản xuấtcác sản phẩm như: Áo jacket, áo khoác, quần thể thao và thị trường chủ yếu làcác nước EU, Nhật Bản, Hàn Quốc

Ngày 24/12/1993 xí nghiệp may Tam Kỳ được UBND tỉnh ra quyết định số:2114/QD-UB về việc đổi tên xí nghiệp may Tam Kỳ thành Công ty May TrườngGiang Sau khi đổi tên công ty tiến hành đầu tư thêm 5 chuyền may, máy mócthiết bị hiện đại thay thế cho các máy móc thiết bị lạc hậu đồng thời giải quyếtthêm 302 lao động địa phương có công ăn việc làm

Trong suốt quá trình hoạt động trong những năm bắt đầu nền kinh tế thịtrường Công ty cũng đã gặp vô vàng khó khăn về thị trường, nhưng với nổ lựccủa ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên của công ty đã từng bước khắc phục khókhăn đưa công ty ngày càng phát triển và cũng giải quyết được công ăn việc làmcho người lao động và nộp ngân sách Nhà nước

Trên cơ sở phát triển, có được thị trường và thu hút nhiều khách hàng tìmđến với công ty Vào năm 2004, công ty đầu tư xây dựng một nhà xưởng mới,đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại của Nhật với 6 chuyền may nữa nâng tổng

số chuyền may là 17 chuyền, thiết bị lên đến gần 900 và hơn 900 lao động địaphương

Song song với sự phát triển như vậy cùng với chủ trương cổ phần hóa cácdoanh nghiệp của Nhà nước, ngày 22/09/2005 UBND tỉnh Quảng Nam có quyếtđịnh số: 5076/QD-UBND quyết định phê duyệt chuyển đổi Công ty May TrườngGiang thành Công ty Cổ Phần May Trường Giang với tỷ lệ 65% vốn của người

Trang 32

lao động là các cổ đông trong công ty và 35% vốn của Nhà nước và tổng số vốnđiều lệ là 8.388.000.000 đồng.

Vào tháng 5/2010 tổng công ty kinh doanh và đầu tư vốn Nhà nước có công

văn số 1042/QD-UBND về việc quyết định bán đấu giá công khai số vốn Nhà

nước quản lý 35% cho người lao động Như vậy tính đến thời điểm hiện nayngười lao động Công ty Cổ Phần May Trường Giang sở hữu 100% số vốn

Quy mô hiện tại của Công ty:

Tổng số vốn kinh doanh tính đến năm 2012 là 17.364.240.460 đồng, trong

đó số vốn điều lệ của công ty là 8.388.000.000 đồng

Hiện tại số lao động của công ty là 889 người

Trong đó: LĐTT: 794 người

LĐGT: 95 người

Diện tích mặt bằng của công ty là 13.750 m2 bao gồm cả 2 khu vực sản xuất

và làm việc có 16 dây chuyền được trang bị hơn 1000 máy may

Như vậy, với số vốn hiện tại của công ty thì Công ty Cổ Phần May TrườngGiang được đánh giá là công ty có quy mô sản xuất vừa và nhỏ

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và triết lý kinh doanh của công ty

2.1.3.1 Chức năng

Công ty Cổ Phần May Trường Giang là đơn vị hoạch toán độc lập, thực

hiện việc kinh doanh sản xuất kinh doanh, gia công, xuất nhập khẩu trực tiếp sảnphẩm may mặc

Công ty hoạt động theo luật Doanh nghiệp, có con dấu riêng và được mở

tài khoản riêng tại các ngân hàng

2.1.3.2 Nhiệm vụ

Công ty Cổ Phần May Trường Giang có nhiệm vụ tổ chức quản lý mọi

hoạt động sản suất kinh doanh theo đúng nghành nghề đã đăng ký, bảo tồn vàphát triển vốn

Thực hiện báo cáo thống kê kế toán, báo cáo định kỳ theo quy định của Nhànước

Ký kết tổ chức sản xuất các hợp đồng đã ký kết với các đối tác

Trang 33

Đổi mới hiện đại hóa công nghệ sản xuất và phương thức quản lý.

Bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hóa, chính trị và chuyên môn nghiệp vụcho cán bộ công nhân viên

tự chủ quản lý nguồn vốn của mình theo như pháp luật quy định

Được vay vốn bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ ở các ngân hàng

Được quyền đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng với các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh trong và ngoài nước

2.1.3.4 Triết lý kinh doanh

Công ty Cổ phần may Trường Giang hoạt động với triết lý sau:

Con người là yếu tố quan trọng nhất

Môi trường làm việc mà ở đó tiềm năng của mỗi người được đánh thức mộtcách cao độ

Chiến lược và uy tín là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ khâu thiết kế đến khâu dịch

vụ khách hàng

2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty

2.1.4.1 Giới thiệu quy trình công nghệ sản xuất của công ty

Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm của công ty được tiến hành theo mộtloạt các bước được thực hiện theo một trình tự nhất định từ việc thiết kế mẫu,nhập rập vào máy tính và được in trên khổ giấy rộng tùy theo khổ vải đã đượcnhập về, sao cho đúng, đủ thông số mẫu mã của mẫu hàng, phân xưởng cắt sẽnhận rập giấy này cùng với nguyên liệu tại kho nguyên liệu tiến hành cắt theomẫu đã được giác trên sơ đồ giấy

Với thời gian ra đời khá sớm tạo ra được nhiều uy tín thì Công ty Cổ PhầnMay Trường Giang đã có được nhiều đối tác làm ăn, là một trong những công ty

cổ phần lớn tại Quảng Nam Do đó chiếm được nhiều ưu thế nên công ty luôn đạt

Trang 34

mức tăng trưởng khá cao Các đơn vị đặt hàng công ty đã sản xuất nhiều loại sảnphẩm mà chủ yếu là: Áo Jacket, quần áo thể thao, quần áo trượt tuyết, áo sơ mi,

… Công ty đã từng bước thỏa mãn kịp thời nhu cầu của khách hàng

Quy trình thực hiện theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất

vắt sổ

Ủi chi tiết BTP

May hoàn chỉnh

Cấp BTP

Phụ liệu

may

Đóng nút, mắt áo…

Kiểmtra chất lượng

Nhập PX ủi

Ủi thành phẩm

Gấp xếp, đóng gói

Kho thành phẩm, xuất

( I )

Trang 35

Giải thích các bước quy trình công nghệ:

Nguyên liệu được sản xuất ra theo chủng loại vải và phụ kiện kèm theo màphòng kỹ thuật công nghệ yêu cầu theo từng mã hàng Công nghệ chuẩn bị sảnxuất do phòng kỹ thuật và kế hoạch – kinh doanh đàm phán

Quy trình sản xuất sản phẩm chia làm 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Là khâu sản xuất phụ, chuẩn bị cho khâu sản xuất chính Tạiđây qua bộ phận trải vải, căn cứ vào sơ đồ, bộ phận cắt tiếp tục tiếp nhận và cắtbán thành phẩm theo mẫu, cộng phụ liệu chuyển qua giai đoạn 2

- Giai đoạn 2: Bao gồm nhiều công đoạn sản xuất khác nhau để tạo ra sảnphẩm cuối cùng Đây là giai đoạn sản xuất chính, sau khi cắt ra thành phẩm là cáccông đoạn như vắt sổ, ủi là thành phẩm theo đúng kỹ thuật Bộ phận may cónhiệm vụ ráp nối, may các bán thành phẩm, thùy đóng nút theo yêu cầu mãhãng cụ thể Ở giai đoạn này cần thực hiện một cách liên tục và mỗi công nhântrong dây chuyền may chỉ thực hiện một số công đoạn nhất định

- Giai đoạn 3: Bao gồm các công đoạn ủi thành phẩm, xếp bỏ bao, đóng vàothùng và chuyển vào kho thành phẩm

Hình thức sản xuất hiện nay của công ty là: Công ty  phân xưởng  tổsản xuất  nơi làm việc

2.1.4.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty

Trang 36

- Ban kiểm soát:

Là đại diện thành viên của đại hội đồng cổ đông bầu ra, kiểm tra, kiểm soátmọi hoạt động kinh doanh, quản trị, điều hành Hội đồng quản trị

- Giám đốc:

Chủ tịch HĐQT (Kiêm tổng GĐ)

Phân xưởng may II

Tổ KCS

Phòng tổ chức hành chính

Phân xưởng may I

Phân xưởng hoàn thành

Phòng kế toán tài vụ

Tổ điện cơ

Hội đồng quản

trị

Phó giám đốc

Phân xưởng may

III

Trang 37

Là người chịu mọi trách nhiệm trước hoạt động SXKD của công ty Lập kếhoạch chương trình hoạt động của Hội đồng quản trị, chuẩn bị chương trình nộidung, triệu tập và chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị, giám sát kiểm tra mọi hoạtđộng điều hành công ty của Giám đốc và cán bộ quản lý quan trọng khác.

- Phó giám đốc:

Là người được Giám đốc phân công nhiệm vụ quản lý nhân sự, ở công đoạnsản xuất theo quy trình công nghệ từ khâu thiết kế đến hoàn chỉnh sản phẩm KhiGiám đốc đi vắng được sự ủy quyền của Giám đốc có quyền quyết định toàn bộcông việc trong doanh nghiệp, trong phạm vi quyền hạn Giám đốc đã giao vàchịu trách nhiệm trước Giám đốc về các quyết định của mình

- Phòng kế toán:

Gồm 4 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và hai nhân viên Thực hiệnnhiệm vụ tổ chức ghi chép, hoạch toán, lưu trữ, bảo quản các hệ thống sổ sách kếtoán theo quy định của Nhà nước, tham mưu cho Giám đốc về tình hình thống kêtheo đúng quy định của Nhà nước, quản lý vật tư, tiền vốn đảm bảo cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty

- Phòng kế hoạch - vật tư:

Là bộ phận tham mưu cho Giám đốc việc xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắnhạn đề ra kế hoạch, nhằm đảm bảo sản xuất theo đúng năng lực Cung ứng giaonhận vật tư, nguyên phụ liệu cho sản xuất theo hợp đồng kinh tế thực hiện cácthủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu Tổ chức quản lý bộ phận thủ kho, cấp phát

- Phòng tổ chức hành chính:

Gồm 5 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng, 2 nhân viên, phục vụ y tế: 1người Có trách nhiệm quản lý nhân sự của công ty điều động lao động và cáccông tác hành chính, phản hồi các thông tin cho ban Giám đốc về các vấn đề dân

sự, lao động, hành chính Trực tiếp tham mưu cho Giám đốc giải quyết các vấn

đề có liên quan đến chính sách đối với các cán bộ công nhân viên trong công ty

Tổ chức thực hiện tốt công tác hành chính xây dựng các nội quy, quy chế vềquản lý hành chính nhằm nâng cao hoạt động trong công ty

- Phòng kỹ thuật:

Trang 38

Thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu nhằm đảm bảo đúng tiêu chuẩn, tiết kiệm vật

tư trong quá trình sx Xác định mức tiêu hao NPL theo từng mã hàng mà công tysắp thực hiện Tổ chức thiết kế dây chuyền CN đảm bảo đúng từng loại sảnphẩm

- Phân xưởng may 1, 2, 3:

Có nhiệm vụ nhận bán thành phẩm từ phân xưởng cắt về may theo yêu cầucủa phòng kỹ thuật Trong quá trình sản xuất phải sử dụng đúng định mức vật tư,phụ liệu, tiết kiệm, an toàn trong sử dụng máy móc thiết bị vừa tăng hiệu quả sửdụng vừa tránh lãng phí Tổ chức tốt công tác thu hồi phế liệu sau khi cắt

- Phân xưởng hoàn thành:

Có trách nhiệm hoàn tất công đoạn cuối cùng của quy trình CN như ủi sảnphẩm, đóng gói, bốc vác lên phương tiện vận chuyển Việc thực hiện công đoạnnày phải đúng quy trình CN và chịu sự kiểm tra theo dõi của bộ phận KCS Tùytheo khối lượng công việc của mỗi thời kỳ mà có sự bố trí sử dụng lao động thíchhợp

- Tổ kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS):

Kiểm tra chất lượng NPL, phụ liệu trước khi đưa vào kho và đưa vào sảnxuất Chịu trách nhiệm về kiểm tra chất lượng sản phẩm trong suốt quá trình sảnxuất Bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm được phân công theo nhóm kiểm tra,mỗi tổ sản xuất được bố trí một người kiểm tra sản phẩm ra khỏi dây chuyền Tuynhiên, bộ phận KCS còn phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc về chất lượng sảnphẩm Có nhiệm vụ xây dựng các quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm

- Tổ cơ điện: Quản lý các hệ thống điện của công ty và xử lý các vấn đề vềđiện Theo dõi nắm bắt quá trình cung cấp điện của Công ty Điện lực, có kếhoạch báo cáo kịp thời cho ban lãnh đạo của công ty

Trang 39

2.2 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm (2012-2014)

Bảng 2.1: Bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm (2012- 2014)

ĐVT: triệu đồng

2013

Năm 2014

2013/2012 2014/2013

Doanh thu

62.427,7 60.243,6 61.917,3 -2.184,1 -3.5 1.673,7 2.8Doanh thu thuần

62.427,7 60.243,6 61.917,3 -2.184,1 -3,5 1.673,7 2.8Giá vốn hàng

Lợi nhuận gộp

19.619 16.234,3 16.281,3 -3.384,7 -17,3 47,0 0,3Doanh thu hoạt

động tài chính 1.926,5 1.677,4 891,9 -249,2 -12,9 -785,5 -46,8Chí phí tài chính

từ HĐKD 13.351 10.109,3 7.831,0 -3.241,7 -24,3 -2.278,2 -22,5Thu nhập khác

527,1 2.242,6 677,3 1.715,6 325,5 -1.565,2 -69,8Chi phí khác

Lợi nhuận khác

423,5 2.065,6 630,0 1.642,2 387,8 -1.435,7 -69,5Tổng lợi nhuận

trước thuế 13.774,5 12.174,9 8.461,0 -1.599,5 -11,6 -3.713,9 -30,5

Trang 40

Chỉ tiêu doanh thu:

Doanh thu thuần qua 3 năm của công ty có sự biến động, cụ thể năm 2013doanh thu giảm 2.184,1 triêu đồng so với 2012, tương ứng giảm 3,5% triệu Tuynhiên bước sang năm 2014 công ty đã thực hiện tốt việc tìm kiếm khách hàng, kýkết nhiều hợp đồng, do vậy mà doanh thu năm 2014 có sự tăng lên đáng kể,doanh thu tăng 1.673,7 triệu đồng, tương ứng tăng 2,8% so với năm 2013 Doanhthu có sự biến động ( sụt giảm, tăng chậm) như vậy là do nhiều nguyên nhân: Vềkhách quan là do tình hình kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, năm 2013 là nămViệt Nam có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong vòng 13 năm qua (5,4%), và vềchủ quan năm 2013 vừa qua công ty đã đầu tư vào máy móc thiết bị, công nghệtiên tiến, bên cạnh đó độ ngũ nhân viên của công ty chưa nắm bắt được quy trìnhvận hành, chưa tiếp cận được công nghệ mới dẫn đến doanh số của công ty giảm.Nhưng bước sang năm 2014, tình hình kinh doanh của công ty đã từng bước đivào ổn định và doanh thu cũng đã tăng lên đây là dấu hiệu tăng trưởng đángmừng cho Trường Giang

Doanh thu từ hoạt động tài chính qua 3 năm sụt giảm Cụ thể, năm 2013giảm 249,2 triệu đồng so với năm 2012 tương ứng giảm 12,9% và năm 2014cũng giảm 785,5 triệu đồng so với 2013 tương ứng 46,8%

Thu nhập khác thì có sự tăng lên đáng kể ở năm 2013 là tăng 325,5% so vớinăm 2012 bước sang năm 2014 lại có sự sụt giảm là 69,8% so với năm

Ngày đăng: 19/04/2015, 06:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PTS Lê Đăng Doanh, Th.S Nguyễn Thị Kim Dung, PTS Trần Hữu Hân (1998), Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước , NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước
Tác giả: PTS Lê Đăng Doanh, Th.S Nguyễn Thị Kim Dung, PTS Trần Hữu Hân
Nhà XB: NXB Laođộng Hà Nội
Năm: 1998
2. Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2003), Chiến lược & chính sách kinh doanh, NXB Thống Kê, trang 31-251-252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược & chính sáchkinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2003
3. Đặng Thị Hiếu Lá (2006), "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, ( Số 335), trang 41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO
Tác giả: Đặng Thị Hiếu Lá
Năm: 2006
4. GS.TS Phạm Vũ Luận (2001), Quản trị doanh nghiệp thương mại, NXB Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị doanh nghiệp thương mại
Tác giả: GS.TS Phạm Vũ Luận
Nhà XB: NXBQuốc gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Kim Ngọc (2006), "Sự vượt trội của tăng trưởng kinh tế", Tạp chí Tài chính ( Số1), trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vượt trội của tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Kim Ngọc
Năm: 2006
6. Michael E. Porter (1996), Chiến lược cạnh tranh, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, trang 16-17-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹthuật Hà Nội
Năm: 1996
7. Kotler Phillip (1999), Quản trị Marketing, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Marketing
Tác giả: Kotler Phillip
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
8. Phạm Thị Thu Phương (2000), Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, trang 70-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chiến lược nhằm nângcao hiệu quả ngành may Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thu Phương
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2000
10. Các tài liệu liên quan đến Công ty Cổ phần may Trường Giang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thiết kế - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Sơ đồ thi ết kế (Trang 34)
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của công ty - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của công ty (Trang 36)
Bảng 2.1: Bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm (2012- 2014) - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.1 Bảng phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm (2012- 2014) (Trang 39)
Bảng 2.3: Thị trường của một số sản phẩm hiện nay của Công ty Cổ Phần May Trường Giang - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.3 Thị trường của một số sản phẩm hiện nay của Công ty Cổ Phần May Trường Giang (Trang 44)
Bảng 2.4: Bảng phân tích tình hình nguồn vốn của Công ty - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.4 Bảng phân tích tình hình nguồn vốn của Công ty (Trang 55)
Bảng 2.5: Tình hình máy móc thiết bị của Công ty - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.5 Tình hình máy móc thiết bị của Công ty (Trang 56)
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động trong công ty qua 3 năm gần đây (2012-2014) - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.6 Cơ cấu lao động trong công ty qua 3 năm gần đây (2012-2014) (Trang 60)
Bảng 2.8: Bảng theo dừi sản phẩm - phế phẩm - tỷ lệ phế phẩm áo Jacket từ năm 2012- 2014. - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.8 Bảng theo dừi sản phẩm - phế phẩm - tỷ lệ phế phẩm áo Jacket từ năm 2012- 2014 (Trang 64)
Bảng 2.9: Bảng giá cả một số mặt hàng của Công ty năm 2014 - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.9 Bảng giá cả một số mặt hàng của Công ty năm 2014 (Trang 65)
Bảng 2.10: Giá bình quân của một số mặt hàng chính của Công ty so với Công ty Cổ phần thương mại Đại Lộc - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.10 Giá bình quân của một số mặt hàng chính của Công ty so với Công ty Cổ phần thương mại Đại Lộc (Trang 65)
Bảng 2.11: Tương quan sản lượng của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh                                                                                       ĐVT: sản phẩm - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.11 Tương quan sản lượng của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh ĐVT: sản phẩm (Trang 67)
Bảng 2.12: Tình hình doanh thu của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.12 Tình hình doanh thu của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh (Trang 68)
Bảng 2.14: Tương quan NSLĐ của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh                                                                                   ĐVT: tr.đồng/năm/người - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.14 Tương quan NSLĐ của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh ĐVT: tr.đồng/năm/người (Trang 69)
Bảng 2.15: Tương quan lợi nhuận của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.15 Tương quan lợi nhuận của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh (Trang 70)
Bảng 2.16: Tương quan TSLN của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh - Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may trường giang
Bảng 2.16 Tương quan TSLN của công ty và một vài đối thủ cạnh tranh (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w