1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về việc xây dựng cơ quan bảo hiến ở Việt Nam

35 722 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Việc Xây Dựng Cơ Quan Bảo Hiến Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 167,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề về việc xây dựng cơ quan bảo hiến ở Việt Nam

Trang 1

Tóm tắt đề tài

Trang

I.Phần mở đầu:

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 2

2 Mục đích của đề tài 3

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4.Phơng pháp nghiên cứu 4

II Phần nội dung Phần một : Vấn đề bảo hiến ở Việt Nam hiện nay 1 Cơ sở thực tế:1.1Vài nét về bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 5

1.2 Thực trạng vi hiến 9

2 Cơ sở lý luận: 2.1 Vai trò của bảo vệ hiến pháp 13

2.2 Cơ sở cho sự tồn tại của CQBH ở Việt Nam 17

Phần hai: Một số mô hình cơ quan bảo hiến trên thế giới 1 Mô hình phi tập trung 20

2 Mô hình tập trung 24

Phần ba: Một số ý kiến về việc xây dựng cơ quan bảo hiến ở Việt Nam 1 Những phơng án thành lập cơ quan bảo hiến ở Việt Nam 28

2 Các nguyên tắc cho cơ quan bảo hiến ở Việt Nam 2.1 Độc lập 32

2.2 Chuyên nghiệp 36

2.3 Uy tín cao 37

2.4 Phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nớc 40

III,Kết luận 42

I-Phần mở đầu

1.Tớnh cấp thiết của việc nghiờn cứu đề tài

Lịch sử lập hiến Việt Nam cũng chớnh là một phần lịch sử giữ nước và dựng nước Hiến phỏp năm 1946, Hiến phỏp của nước Việt Nam Dõn chủ

Trang 2

Cộng hòa là một văn kiện pháp lý có ý nghĩa vô cùng to lớn: đưa người dânViệt Nam từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước Từ Hiến pháp 1946, các bảnHiến pháp sau đó không ngừng phát triển hơn nữa những quyền cơ bản củacông dân cũng như ghi nhận những nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước Hiếnpháp 1992 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10)khẳng định tạiđiều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Từ trước tớinay, bản chất dân chủ của nhà nước ta luôn được khẳng định và ngày càngđược mở rộng Hiện nay, việc xây dựng nhà nước pháp quyền là một hình thứchữu hiệu để phát huy dân chủ Nhà nước pháp quyền là nhà nước đặt pháp luật

ở vị trí tối thượng đối với toàn bộ đời sống xã hội Trong đó, Hiến pháp là vănbản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất Có thể lược giản vấn đề này bằngchuỗi: Dân chủ - Nhà nước pháp quyền - Hiến pháp Như vậy vấn đề đảm bảoviệc thực thi Hiến pháp là trọng tâm của vấn đề nhà nước pháp quyền và xâydựng dân chủ Nhưng thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy chưa có một cơchế cụ thể chuyên biệt nào để bảo vệ Hiến pháp Điều đó khiến cho có nhữngvăn bản pháp luật, những hành vi của cơ quan công quyền vi phạm hiến pháp,ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân, uy tín của nhà nước mà chưa được xử

lý nghiêm minh Điều này đã làm nảy sinh ý kiến về việc thành lập một cơquan riêng biệt ở Việt Nam với chức năng bảo vệ Hiến pháp Rất nhiều bài viếttrên các tạp chí chuyên ngành, nhiều hội thảo đã được tổ chức bàn luận sôi nổi

về vấn đề trên nhằm đưa ra giải pháp thích hợp nhất Chính thức tại báo cáochính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X khi đề cập tới phương hướng “tiếp tục xây dựng và hoànthiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” đã nêu rõ : “Xây dựng, hoànthiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động vàquy định của các cơ quan công quyền” Đồng thời phải “xây dựng cơ chế phán

Trang 3

quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tưpháp”.

Tất cả đã chứng tỏ sự quan tâm thực sự của Đảng và Nhà nước đối vớivấn đề bảo đảm việc thực thi Hiến pháp ở nước ta hiện nay Bảo vệ Hiến phápthực chất là bảo vệ những quyền cơ bản của công dân, bảo vệ những nguyêntắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo vệ chế độ chính chị, chế độkinh tế…Với ý nghĩa như vậy, việc xây dựng một cơ quan bảo hiến là một yêucầu cấp thiết ở nước ta hiện nay Vì thế, việc nghiên cứu đề xuất phương án đểđáp ứng yêu cầu trên là không thể thiếu Chính vì những lí do trên mà tôi lựachọn đề tài “Một số vấn đề về việc xây dựng cơ quan bảo hiến ở Việt Nam”làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục đích của đề tài

Nếu như trên thế giới, một cơ quan có chức năng bảo vệ hiến pháp đãđược thành lập từ lâu thì ở Việt Nam chưa từng tồn tại một cơ quan độc lậpnào có chức năng tương tự như vậy Vì thế đối với khoa học pháp lý Việt Namđây là một vấn đề mới mẻ, thiếu cả tính thực tiễn cũng như lý luận Trongphạm vi nghiên cứu của sinh viên, tác giả mong muốn tìm hiểu những kiếnthức về mô hình các cơ quan bảo hiến trên thế giới và cơ chế hoạt động của cácloại hình cơ quan này Mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu đề tài đó là từviệc tiếp thu những kinh nghiệm nước ngoài, đề xuất ý kiến cho việc xây dựng

cơ quan bảo hiến ở nước ta trong thời gian tới

3 Phạm vi nghiên cứu:

Bảo vệ hiến pháp là một vấn đề rộng và cơ quan bảo hiến chỉ là một bộ phậncủa vấn đề ấy Song nó lại giữ một vị trí hết sức quan trọng, đề tài chỉ tập trungnghiên cứu những vấn đề có liên quan đến cơ quan này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

Đề tài được dựa trên phương pháp chung là phương pháp duy vật biện chứngcủa chủ nghĩa Mác-Lê nin Đồng thời còn sử dụng thêm một số phương phápnhư phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp sosánh, phương pháp lịch sử.

II - PhÇn néi dung

PHẦN MỘT:VẤN ĐỀ BẢO HIẾN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Câu hỏi đặt ra đầu tiên khi tiếp cận vấn đề này đó là: ở Việt Nam có cầnmột cơ quan riêng biệt với chức năng bảo vệ Hiến pháp hay không? Như đãtrình bày tại phần mở đầu về yêu cầu cấp thiết phải thành lập cơ quan bảo hiếntrước những hành vi xâm hại của cơ quan công quyền, trong phần này đề tài sẽ

đi sâu phân tích cả cơ sở thực tế và cơ sở lý luận để nhận thức rõ nguyên nhâncủa yêu cầu trên và trả lời cho câu hỏi đầu tiên này

1 Cơ sở thực tế

1.1 Vµi nÐt về vấn đề bảo vệ Hiến pháp ở nước ta hiện nay

a Thẩm quyền bảo vệ hiến pháp

Theo những quy định hiện hành, trong hệ thống các cơ quan nhà nước cónhiều chủ thể có thẩm quyền trong việc giám sát việc thi hành Hiến pháp, mà

cụ thể hơn là giám sát về tính hợp hiến của hệ thống các văn bản pháp luật cógiá trị thấp hơn Hiến pháp Trong đó, Quốc hội “cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất” giữ vai trò “giám sát tối cao”

Cụ thể theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì:

* Đối với Quốc hội: theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủtịch nước, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc và các tổchức thành viên, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một

Trang 5

phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp; xem xét, quyếtđịnh bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ banthường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa ánnhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân Tối cao trái hiến pháp, luật, nghị quyếtcủa Quốc hội

* Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồngdân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội hủy bỏ một phần hoặctoàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh và nghịquyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đình chỉ việc thi hành một phần hoặctoàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật nghịquyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ một phần hoặctoàn bộ văn bản đó

* Hội đồng dân tộc và các ñy ban của Quốc hội: giám sát văn bản quyphạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng

cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhànước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyềnvới cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực hội đồngdân tộc, ủy ban phụ trách

Ủy ban pháp luật của Quốc hội còn giám sát văn bản quy phạm phápluật của tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao

* Chính phủ: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, c ơ quanngang bộ, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh Thủ tướng Chính phủxem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộvăn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,ñyban nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp

Trang 6

Quyết định đỡnh chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của hộiđồng nhõn dõn cấp tỉnh trỏi hiến phỏp(…) đồng thời đề nghị ủy ban thường vụquốc hội bói bỏ

* Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra văn bản quy phạmphỏp luật của cỏc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chớnh phủ, Hội đồngnhõn dõn, ủy ban nhõn dõn cấp tỉnh về những nội dung cú liờn quan đến ngành,lĩnh vực do mỡnh phụ trỏch

b Đặc điểm

Cú thể núi với những quy định như trờn thỡ ở Việt Nam đó cú những cơ

sở của một cơ chế bảo hiến với thiết chế và nội dung tương đối cụ thể Trong

đú vấn đề giỏm sỏt tớnh hợp hiến của cỏc văn bản quy phạm phỏp luật - mộtnội dung quan trọng trong hoạt động bảo hiến được chỳ trọng xõy dựng

Thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của hệ thống văn bản pháp luật đợc traocho nhiều chủ thể với thẩm quyền khác nhau Để tạo khả năng cho các chủ thể

có thể tích cực, chủ động trong việc bảo đảm sự hợp lý, thống nhất trong hệthống văn bản quy phạm pháp luật thì ngoài thẩm quyền bãi bỏ văn bản quyphạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình còn có thêm quyền đình chỉ nhữngvăn bản không thuộc thẩm quyền huỷ bỏ để đề nghị cơ quan có thẩm quyềnhuỷ bỏ Việc giao thẩm quyền này cho nhiều chủ thể làm cho hoạt động nàyphân tán nhiều khi chồng chéo, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm cho nhau Đồngthời làm lu mờ vai trò giám sát tối cao của Quốc hội Và nh vậy là đã làm hạnchế hiệu quả của hoạt động trên

Cơ sở pháp lý còn cha đầy đủ: thể hiện ở việc cha quy định cụ thể, rõràng về trình tự, thủ tục, phơng pháp hoạt động cụ thể Và đặc biệt cha quy

định đợc rõ biện pháp xử lý nghiêm minh Điều này càng làm cho các hoạt

động bảo hiến trở nên kém hiệu quả

Nếu nh hoạt động bảo hiến chỉ dừng lại ở việc bảo đảm tính hợp hiếncủa các văn bản quy phạm pháp luật thì rõ ràng là còn hạn hẹp, cha toàn diện,cha giải quyết đợc nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý nhà nớc và xãhội bằng pháp luật Bảo hiến phải đợc tiến hành trên toàn bộ hoạt động của Nhànớc, nghĩa là trên cả 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, t pháp Song hiện nay,

Trang 7

việc giám sát hoạt động lập pháp tức giám sát bản thân hoạt động của Quốc hộicòn bỏ ngỏ Nói nh GS - TS Otto Depenheuer - Đại học Tổng hợp Cologne,

Đức thì “Những ngời có nhiệm vụ thi hành - đồng nghĩa những ngời vi phạmtiềm năng - đồng thời cũng là những ngời bảo đảm cho quy định” Nh vậy là

“thiếu một tầng cao hơn để sẵn sàng thờng trực,và khi luật bị vi phạm thì canthiệp” Trong trờng hợp Luật, Nghị quyết của Quốc hội có những điểm trái vớiquy định của Hiếp pháp thì chính Quốc hội sẽ bãi bỏ chúng Về vấn đề này thìcâu châm ngôn của ngời Hy Lạp cổ đại: “không ai có thể là quan toà cho chínhmình” cũng nh quan điểm của nhà chính trị ngời Mỹ A Hamilton “không thểtrông chờ khi một ngời vi phạm Hiến pháp trong vai trò của nhà lập pháp sẽ tựsửa chữa những sai lầm của mình trong vai trò quan toà” có một cơ sở lý luậncũng nh thực tiễn rất vững chắc để đánh giá về vấn đề này Thực tế ở nớc tacũng chứng minh rằng: Quốc hội cha huỷ một văn bản luật nào với lý do đạoluật đó bất hợp hiến “Điều này không có nghĩa là không có đạo luật nào củaQuốc hội bất hợp hiến mà có nghĩa là cơ chế xử lý cha phù hợp nên trên thực tếcha đợc xử lý” (Nguyễn Đăng Dung) Cũng cần nhấn mạnh rằng: Quốc hộicũng nh các thiết chế nhà nớc khác trong bộ máy nhà nớc đều là những thực thểsống, trong tính chất và hoạt động của mình không tránh khỏi những sai sót,nhất là những sai sót trong việc thực hiện chức năng lập pháp Khi những quyphạm pháp luật do Quốc hội ban hành đợc coi là những quy tắc xử sự chungcho nhiều đối tợng thì sự sai sót này không kém phần nguy hại so với sai sóttrong hoạt động hành pháp, t pháp

Những điểm bất cập trên là cơ sở cho sự tồn tại những văn bản quy phạmpháp luật vi phạm Hiến pháp, xâm phạm đến những quyền cơ bản của công dâncũng nh ảnh hởng lớn đến uy tín của Nhà nớc Song điều cần xem xét là việc xử

lý những trờng hợp trên cha thật sự nghiêm minh, kịp thời do cha có đầy đủnhững quy định của pháp luật

1.2 Thực trạng vi hiến

Với một cơ chế bảo hiến cha đầy đủ và rõ ràng nh vậy thì tình trạng vihiến vẫn xảy ra mà không có một sự kiểm tra, giám sát cũng nh xử lý của cơquan nhà nớc có thẩm quyền Các luật gia cũng nh nhiều ngời quan tâm tới vấn

đề vi hiến của các cơ quan Nhà nớc, đặc biệt trong lĩnh vực ban hành văn bảnquy phạm pháp luật đã đa ra những nhận xét, dẫn chứng cụ thể, kèm theo đó cả

Trang 8

những phân tích về nội dung vi hiến của những văn bản quy phạm pháp luật đó.

Có thể kể đến:

PGS – TS Trơng Đắc Linh (Trờng Đại học Luật Thành phố Hồ ChíMinh) tham luận tại Hội thảo khoa học Viện Nhà nớc và pháp luật – Viện KAS,

Hà Nội, ngày 3 – 4/5/2007 tác giả đa ra một số dẫn chứng tiêu biểu:

* Nghị định số 27 – HĐBT ngày 9/3/1988 của Hội đồng Bộ trởng (nay

là Chính phủ) về kinh tế cá thể, kinh tế t doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ,xây dựng, vận tải đã thừa nhận thành phần kinh tế t nhân, công nhận hình thức

sở hữu t nhân trong khi Hiến pháp năm 1980 không thừa nhận thành phần kinh

tế và hình thức sở hữu t nhân

* Luật Đầu t nớc ngoài đợc Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987 chophép tổ chức, cá nhân nớc ngoài đợc thành lập xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài.Trong khi điều 18 – Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nớc tiến hành cách mạng

về quan hệ sản xuất, hớng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phiXHCN, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu XHCN về t liệu sản xuất nhằm thựchiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có 2 thành phần: thành phần kinh tếquốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sởhữu tập thể của nhân dân lao động” vẫn đang có hiệu lực cha hề đợc sửa đổi

Sau khi đa ra hai dẫn chứng trên, tác giả đa ra lời nhận xét về việc banhành hai văn bản trên trong hoàn cảnh của đất nớc ta lúc bấy giờ: đang bớcnhững bớc đầu tiên trên con đờng đổi mới Những văn bản pháp luật này thể chếhoá đờng lối đổi mới của Đảng, có vai trò và tác dụng to lớn trong việc chuyển

đổi cơ chế, khai thác và phát huy mọi tiềm năng để phát triển kinh tế của đất

n-ớc Tác dụng và hiệu quả của các loại văn bản này là không thể phủ nhận đợc.Nhng sẽ là hợp hiến và tốt hơn nếu trớc khi ban hành những văn bản pháp luật

“có lợi cho dân cho nớc” này chúng ta cần phải sửa đổi, bãi bỏ các quy định củaHiến pháp 1980 khi đó đã lỗi thời, lạc hậu

* Chỉ thị số 406/TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 08/8/1994 “về việccấm sản xuất, kinh doanh và đốt pháo nổ” mặc dù ý nghĩa, giá trị xã hội vàhiệu quả kinh tế xã hội của Chỉ thị này là đặc biệt lớn lao nhng thời điểm banhành Chỉ thị này (1994), sản xuất, kinh doanh pháo nổ vẫn là ngành nghề sảnxuất kinh doanh không bị cấm, luật thuế vẫn quy định thuế tiêu thụ đặc biệt đốivới hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng này Chỉ thị của Thủ tớng Chínhphủ trái với luật của Quốc hội Nhng những cá nhân, cơ sở kinh doanh pháo nổ

Trang 9

vẫn nghiêm chỉnh chấp hành không khiếu kiện gì và cũng không biết khiếukiện ở đâu vì Toà án nớc ta cho đến nay cũng không có thẩm quyền phán quyếtcác khiếu kiện về văn bản quy phạm pháp luật bị cho là trái Hiến pháp, trái luậtlàm thiệt hại đến quyền và lợi ích của cá nhân.

* Dẫn chứng cuối cùng mà tác giả đa ra và cũng là dẫn chứng gần đâynhất, rõ ràng nhất, có nhiều ý kiến nhất đó chính là Thông t số 02/2003/TT -BCA ngày 13/01/2003 của Bộ Công an quy định mỗi ngời đợc đăng ký 1 môtôhoặc xe máy là trái với quyền cơ bản của công dân đợc quy định tại điều 58 củaHiến pháp 1992: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải đểdành, nhà ở, t liệu sinh hoạt, t liệu sản xuất ” phải 2 năm sau, ngời dân ởThành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh phàn nàn, kêu ca, báo chí lên tiếng BộCông an mới ban hành Thông t số 17/2005/TT-BCA ngày 21/11/2005 bãi bỏquy định trái Hiến pháp này

Cũng đánh giá về tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, Tiến sỹ

Vũ Hồng Anh trong bài viết “Về giám sát Hiến pháp ở nớc ta hiện nay” đăngtrên Tạp chí Luật học tháng 1/2005 có những nhận định cũng nh những phântích rõ ràng để chỉ ra những điểm không phù hợp với Hiến pháp của những vănbản này

* Điều 4 – Luật thuế GTGT năm 1997 (Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ

11, thông qua ngày 10/5/1997) quy định: “Trong trờng hợp cần thiết, Uỷ banthờng vụ Quốc hội có thể sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hoá dịch vụ thuộc

đối tợng không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại điều này và báo cáo đểQuốc hội phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất” Quy định này cho thấy Quốc hội

đã uỷ quyền cho Uỷ ban thờng vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung nội dung của điều

4 tức là sửa đổi, bổ sung luật của Quốc hội Câu hỏi đặt ra ở đây là việc uỷquyền này dựa trên cơ sở nào? có hợp hiến hay không? Qua phân tích, tác giả

đa ra kết luận rằng: nghị quyết trên không có cơ sở pháp lý nào, không phù hợpvới tinh thần của Hiến pháp 1992

* Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá X, căn cứ điều 84, Hiến pháp 1992,

đã thông qua nghị quyết số 15/1998/QH10 ngày 20/5/1998 giao cho Chính phủ

“ chủ động đề ra các giải pháp cụ thể để chỉ đạo điều hành nhằm thực hiệnthắng lợi các nghĩa vụ và ngân sách nhà nớc khi cần thiết đề nghị Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội xem xét, quyết định, điều chỉnh, bổ sung các chỉ tiêu, biệnpháp trong quá trình thực hiện và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp thứ 4” Trên

Trang 10

cơ sở nghị quyết này, theo đề nghị của Chính phủ, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội

đã ban hành nghị quyết số 52/1998/NQ-UBTVQH 10 ngày 21/7/1998 về việc

điều chỉnh một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu năm 1998 Theo nghị quyết này, Uỷban thờng vụ Quốc hội đã điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế và ngân sách năm

1998 so với năm 1997 theo hớng giảm đi so với chỉ tiêu đề ra tại nghị quyết kỳhọp thứ 2 Quốc hội khoá X

Trong trờng hợp này, Quốc hội căn cứ điều 84, Hiến pháp năm 1992 để uỷquyền cho Uỷ ban thờng vụ Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp, quyết

định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nớc Tuy nhiên cần khẳng địnhrằng toàn bộ nội dung của điều 84 - Hiến pháp 1992 không bao hàm quy địnhnào cho phép Quốc hội uỷ quyền cho Uỷ ban thờng vụ Quốc hội, trong thời gianQuốc hội không họp, ban hành nghị quyết về những vấn đề liên quan đến việcquyết định hoặc sửa đổi, bổ sung kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nớccũng nh chính sách tài chính, tiền tệ, ngân sách nhà nớc

Nội dung của nghị quyết số 15/1998/QH 10 của Quốc hội là không phùhợp với nội dung của Hiến pháp và do đó nội dung của nghị quyết52/1998/NQ-UBTVQH 10 của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội là không hợp hiến

Hiện nay cũng có nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề xem xét tính hợp hiếncủa Luật báo chí, Luật xuất bản, Luật c trú có hay không việc xâm phạm nhữngquyền tự do, dân chủ của công dân đã đợc quy định trong Hiến pháp

Điều 69 – Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Côngdân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền đợc thông tin, có quyềnhội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” Trong khi đó: Luật Báochí không cho phép thành lập báo t nhân, Nhà xuất bản t nhân

Không chỉ là những vấn đề về tính hợp hiến của văn bản quy phạm phápluật mà thực tế ở Việt Nam những năm gần đây đã diễn ra một số vụ việc liênquan đến việc công dân yêu cầu đợc bảo vệ quyền cơ bản của mình đợc pháp luậtcông nhận bị cơ quan nhà nớc xâm phạm Tiêu biểu có thể kể đến việc một sốcông ty kinh doanh xe máy thuê văn phòng luật s Nguyễn Chiến kiện những cơquan Nhà nớc ban hành văn bản quy phạm pháp luật xâm phạm đến quyền kinhdoanh của họ Hay vụ việc liên quan đến công ty VINAJUCO, mặc dù hoạt độngcủa công ty đợc đánh giá là không đúng quy định của pháp luật nhng công ty có ýkiến cho rằng đó là quyền tự do kinh doanh của họ

Trang 11

Cha cần bàn đến tính đúng, sai của những vụ việc trên, song việc các cơquan Nhà nớc rất lúng túng trong việc giải quyết các công việc tơng tự nh trên chothấy, nếu không có một thiết chế rõ ràng thì khó có thể bảo vệ đợc quyền lợi củacông dân cũng nh chức năng quản lý của Nhà nớc sẽ giảm sút.

Những nhận định đã nêu trên mặc dù rất đáng tin cậy song đó cũng mớichỉ là những ý kiến của các chuyên gia Điều quan trọng là nó phải đợc đánhgiá chính thức bởi cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền

2 Cơ sở lý luận

2.1Vai trò của bảo vệ hiến pháp:

Nh đã nói bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ những giá trị pháp lý nềntảng cho tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nớc, cho những quyền và lợi íchcơ bản của công dân Với ý nghĩa đó, bảo vệ Hiến pháp có vai trò hết sức quantrọng và có thể kể đến:

a) Vai trò trong việc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, sự thống nhất,phát triển của hệ thống pháp luật

Việc ghi nhận hiệu lực tối cao của Hiến pháp đã tạo nên vị trí đặc biệtcủa nó trong hệ thống pháp luật đồng thời cũng tạo nên những cơ chế để bảo

đảm tính tối cao đó Thực tế cũng nh lý luận cho thấy rằng dù cơ quan lập pháp

có phát triển nh thế nào cũng không tránh khỏi khả năng tiềm ẩn là chính cơquan lập pháp vi phạm Hiến pháp Việc những đạo luật vi phạm Hiến pháp ấy

đợc thông qua, đợc áp dụng, triển khai đối với đông đảo ngời dân rõ ràng cómột ảnh hởng không tích cực, nhất là đối với những quyền cơ bản của công dânnếu những đạo luật đó xâm phạm tới chúng Thực tế ở nớc ta cho thấy Quốchội cha huỷ một đạo luật nào của Quốc hội với lý do đạo luật đó bất hợp hiến

Điều này không có nghĩa là không có luật của Quốc hội bất hợp hiến mà cónghĩa là cơ chế xử lý cha phù hợp nên trên thực tế cha đợc xử lý

Còn đối với cơ quan hành pháp – Chính phủ – cơ quan đợc giao chochức năng chấp hành và điều hành trên mọi mặt của đời sống Với t duy pháp

lý phổ biến ở nớc ta thì các quy phạm pháp luật trong các đạo luật của Quốchội ban hành thờng mang tính nguyên tắc chung, ít chứa đựng những giải pháppháp lý cụ thể Vì thế mà trách nhiệm chấp hành chúng, tức là cụ thể hoánhững quy phạm đó, đa ra những giải pháp pháp lý cho những khúc mắc phátsinh trong quá trình thi hành luật của Quốc hội (Điểm a – Khoản 2 - Điều 56– Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Nghị định của Chính phủ bao

Trang 12

gồm: nghị định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghịquyết của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nớc; quy

định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủthành lập; hệ thống cán bộ của Bộ, cơ quan ngang Bộ; các biện pháp cụ thể đểthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ) Nh vậy những văn bản phápluật của Chính phủ trong đó có những văn bản quy định sâu hơn về luật củaQuốc hội Và thờng thấy rằng “sâu” hơn thì lại “xa” hơn.Và những văn bản này

có khả năng vi hiến rất cao

Còn đối với hệ thống cơ quan t pháp, theo một suy luận thông thờng thìkhi những quy phạm mang tính cơng lĩnh, tuyên ngôn của Hiến pháp không đ-

ợc giải thích một cách cụ thể và chính xác thì rất có khả năng nó bị hiểu sailệch Và vì vậy, có thể có những quyết định t pháp xâm phạm những quyền cơbản của công dân đợc ghi nhận trong Hiến pháp Hơn nữa trong t duy pháp lýcủa những ngời hoạt động trong lĩnh vực luật pháp thì việc viện dẫn, sử dụngHiến pháp không phải là một t duy thờng có

Một cơ quan với chức năng xem xét tính hợp hiến trong hoạt động củacả 3 hệ thống: lập pháp, hành pháp, t pháp rõ ràng góp phần quan trọng trongviệc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp đồng thời cũng tạo nên tính thống nhấttơng đối trên cơ sở quy định của Hiến pháp Mặt khác, nếu nh thành lập đợcmột cơ quan bảo hiến ở Việt Nam và cơ quan này đợc trao nhiệm vụ (thẩmquyền) giải thích Hiến pháp thì nó còn có ý nghĩa trong việc cụ thể hoá nhữngquy định của Hiến pháp mà phần lớn là những quy định mang tính chung nhất.Việc cụ thể ấy chính là những hoạt động tích cực của Nhà nớc đa những giá trịcao cả của Hiến pháp vào thực tiễn xã hội Bên cạnh đó những giải thích chínhthức và mang tính bắt buộc có ý nghĩa quan trọng trong việc tất cả cơ quan Nhànớc cũng nh mọi công dân hiểu một cách thống nhất nội dung của Hiến pháp.Thông qua những hoạt động của cơ quan bảo hiến chắc chắn rằng công dânViệt Nam sẽ hiểu hơn về Hiến pháp một văn bản pháp lý – chính trị quantrọng của Nhà nớc, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của công dân

b) Góp phần bảo vệ các quyền tự do cơ bản của cá nhân và công dân.Hiến pháp đợc coi là “bản văn xác định việc tổ chức quyền lực Nhà nớcthuộc về nhân dân” (Nguyễn Đăng Dung) và một trong những nội dung quantrọng của Hiến pháp chính là việc ghi nhận các quyền cơ bản của công dân Cơ

Trang 13

quan bảo hiến góp phần quan trọng trong việc bảo vệ các quyền cơ bản củacông dân thông qua việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật cóliên quan đến những quyền cơ bản của công dân, việc giải quyết các khiếu kiệnhiến pháp của công dân Hoạt động này làm cho những quyền cơ bản của côngdân đợc Hiến pháp ghi nhận không đơn thuần là những câu chữ mang tínhtuyên ngôn mà đã trở thành những quyền lợi thực tế, đợc ngời dân sử dụng, đa

nó trở thành cơ sở pháp lý để họ tham gia vào công việc của Nhà nớc, đảm bảolợi ích chính đáng của mình Việt Nam đang hớng tới việc xây dựng Nhà nớcpháp quyền Việc tuân thủ pháp luật đợc đặt ra trớc cả Nhà nớc và công dân.Song với những ngời dân là gốc của quyền lực Nhà nớc thì ý thức pháp luậtkhông nên chỉ dừng lại ở việc tuân thủ những quy định của pháp luật mà cònphải biết sử dụng chúng nh những phơng tiện để đợc tham gia một cách thực sựvào quản lý Nhà nớc và quản lý xã hội Một Nhà nớc của dân, do dân, vì dânthì không chỉ dừng lại ở việc mong muốn ngời dân tuân thủ nghiêm chỉnh phápluật và sự quản lý của Nhà nớc mà phải tiến tới việc xây dựng ý thức làm chủ

đất nớc cho mỗi ngời dân Để họ hiểu rằng những quyền công dân của họkhông phải do Nhà nớc ban cho mà đó là những quyền lợi chính đáng mà họ đ-

ợc hởng, Nhà nớc phải ghi nhận và đảm bảo cho những quyền cơ bản đó Hiệnnay, một Nhà nớc không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ với công dân của nớcmình mà còn có mối quan hệ với các cá nhân khác Những giá trị nhân quyềnkhi đã đợc thế giới công nhận thì theo xu thế của thời đại hội nhập, các quốcgia trên thế giới đều phải thừa nhận những giá trị ấy Việt Nam khẳng định tạiHiến pháp: “ở nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con ngời vềchính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội đợc tôn trọng, thể hiện ở các quyềncông dân và đợc quy định trong Hiến pháp và luật” Khi những quyền đó đợcNhà nớc cam kết tôn trọng thì cũng có nghĩa là nó sẽ đợc bảo vệ bởi Nhà nớcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong phạm vi thẩm quyền của mình cơquan bảo hiến sẽ đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ những quyền tự do cơbản của con ngời Nh vậy nó cũng sẽ góp phần nâng cao uy tín của nớc ta trênchính trờng quốc tế

Với những ý nghĩa và vai trò lớn lao nh vậy thì việc xây dựng một cơchế bảo hiến mà cụ thể là một cơ quan bảo hiến hoạt động chuyên nghiệp, hiệuquả là hoàn toàn phù hợp với công cuộc xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở ViệtNam hiện nay Bảo hiến chính là bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp Điều đó có

Trang 14

nghĩa là bảo đảm đợc tinh thần của Nhà nớc pháp quyền là mọi chủ thể, kể cảNhà nớc đều phải chịu sự kiểm soát của Hiến pháp và pháp luật Xét đến mục

đích cuối cùng của Nhà nớc pháp quyền là bảo vệ các quyền công dân đợc quy

định trong Hiến pháp Mà cơ chế bảo hiến lại chính là bảo đảm để quyền tự docủa công dân không bị vi phạm từ phía các cơ quan Nhà nớc Nh vậy một cơquan bảo hiến hoạt động có hiệu quả là thành tố không thể thiếu trong Nhà nớcpháp quyền Hay nói nh GS – TS Otto thì đó chính là “vơng miện của Nhà n-

ớc pháp quyền”, “đỉnh cao của Nhà nớc pháp quyền” Việc thành lập đợc mộtcơ quan bảo hiến ở Việt Nam vì vậy sẽ có ý nghĩa to lớn, đóng vai trò quantrọng trong quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta

2.2 Cơ sở cho sự tồn tại của cơ quan bảo hiến ở Việt Nam

Trớc những đòi hỏi cấp thiết của thực tế, trớc những vai trò của việc bảo

vệ Hiến pháp thì cơ sở lý luận – pháp lý nào cho sự tồn tại một cách vữngchắc cho cơ quan bảo hiến ở Việt Nam?

Nhìn lại lịch sử bảo hiến trên thế giới từ sự ra đời của bản Hiến pháp đầutiên trên thế giới – Hiến pháp Mỹ 1787 với ý nghĩa là đạo luật tối cao đã đánhdấu sự ra đời chế độ giám sát Hiến pháp thì những t tởng, quan điểm về cơ sởcủa việc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp cũng đợc hình thành và phát triển.Hamilton một trong những cha đẻ của Hiến pháp Mỹ cho rằng: Hiến pháp phải

đợc coi là một đạo luật cơ bản Do đó các thẩm phán phải có quyền xác địnhnội dung, ý nghĩa của Hiến pháp cũng nh của các đạo luật do cơ quan lập phápban hành Nếu xảy ra trờng hợp khác nhau giữa hai loại văn bản này thì đơngnhiên Hiến pháp phải có hiệu lực cao hơn Nói cách khác, Hiến pháp phải đợccoi là u thế hơn so với luật, ý chí của nhân dân phải cao hơn ý chí của nhữngngời đại diện cho họ T tởng này của Hamilton đã đợc thể hiện rõ trong nhữngphán quyết của Chánh án Jonh Marshal xử vụ án nổi tiếng Mabury kiệnMadison:

1 Hiến pháp là luật tối cao của đất nớc

2 Những luật, quyết định đợc ban hành bởi cơ quan lập pháp là một bộphận của Hiến pháp và không đợc trái Hiến pháp

3 Thẩm phán, ngời đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp phải tuyên bố huỷ

bỏ những luật, lệ, quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp

Trang 15

Nh vậy, mô hình cơ quan bảo hiến ở Hoa Kỳ là mô hình phi tập trung vớivai trò của Toà án Tối cao và Toà án thờng trong việc bảo vệ Hiến pháp Khácvới Hoa Kỳ, các nớc Châu Âu lục địa chỉ trao thẩm quyền giám sát bảo hiếncho một Toà án đặc biệt là Toà án Hiến pháp Loại hình Toà án này xuất phát

từ t tởng của hai luật gia Adolf Merkl và Hans Kelsen T tởng của hai ông cũngxuất phát từ việc khẳng định tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống phápluật (vì đặt Hiến pháp ở vị trí đó nên cần có một cơ chế để xem xét, kiểm traviệc tuân thủ tính tối cao của nó)

Với cơ sở nh vậy thì việc xây dựng một thiết chế bảo hiến ở Việt Nam làhoàn toàn phù hợp Hiến pháp Việt Nam tại điều 2 khẳng định: “Nhà nớc Cộnghoà XHCN là Nhà nớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân” và “Hiến pháp nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam là luật cơ bản của Nhà n-

ớc, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiếnpháp” (Điều 146 – Hiến pháp 1992); “Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nớc,

có hiệu lực pháp lý cao nhất Văn bản quy phạm pháp luật đợc ban hành phảiphù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý củavăn bản trong hệ thống pháp luật” (Điều 2 – Luật ban hành văn bản quy phạmpháp luật)

Tuy nhiên bàn về vị trí cũng nh thẩm quyền của cơ quan bảo hiến ở ViệtNam cũng có nhiều quan điểm còn cha thống nhất Quan điểm về Nhà nớcpháp quyền ở Việt Nam: phân công quyền lực, còn ở các nớc phơng tây là:phân chia quyền lực Đặc biệt là mối quan hệ giữa cơ quan bảo hiến với Quốchội – cơ quan quyền lực Nhà nớc cao nhất khi cơ quan này có quyền bãi bỏnhững văn bản pháp luật của Quốc hội không phù hợp với Hiến pháp Vấn đềnày cũng đã đợc bàn luận từ khi những mầm mống của t tởng giám sát hiếnpháp hình thành Khi Hamilton cho rằng toà án có quyền tuyên bố đạo luật viphạm Hiến pháp là vô hiệu thì một số ngời đã suy ra rằng điều đó là ám chỉ uthế lớn hơn của hệ thống t pháp so với lập pháp Hamilton đã đáp lại quan điểm

đó nh sau: Toà án phải u tiên Hiến pháp hơn so với các đạo luật thờng bởi lẽquyền lực của nhân dân cao hơn cả quyền lập pháp, t pháp và khi ý chí của cơquan lập pháp đợc tuyên bố trong các đạo luật của nó chống lại ý chí của nhândân đợc tuyên bố trong Hiến pháp thì các thẩm phán phải tuân theo Hiến pháphơn là theo các đạo luật thờng Các phán quyết của thẩm phán phải căn cứ vàoluật cơ bản hơn là căn cứ vào các luật không cơ bản.Do vậy không có văn bản

Trang 16

quy phạm pháp luật nào trái với Hiến pháp lại có hiệu lực Nếu từ chối điều đó

có nghĩa là những nghị sỹ lại cao hơn cái gốc của họ hay nói cách khác, nhữngngời công bộc của nhân dân lại cao hơn nhân dân (Lời mở đầu của Hiến phápHoa Kỳ khẳng định rõ ràng rằng và chắc chắn: chúng tôi, nhân dân Hợp chủngquốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một liên bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lậpcông lý, đảm bảo an ninh trong nớc, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sựthịnh vợng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháuchúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)

Cũng từ quan điểm trên của Hamilton mà có ý kiến cho rằng: Hiến phápcủa Việt Nam hiện nay không phải do nhân dân trực tiếp làm ra (không qua tr -

ng cầu dân ý) Song phần lớn các ý kiến hiện nay đều đồng tình với quan điểmsau: Việt Nam đang xây dựng một Nhà nớc pháp quyền, một Nhà nớc mà tất cảcác hoạt động của công dân, cơ quan Nhà nớc đều nằm trong khuôn khổ phápluật Trong hệ thống pháp luật đó thì Hiến pháp đợc ghi nhận là có giá trị pháp

lý cao nhất Vì vậy, cơ quan bảo hiến với chức năng bảo vệ những quy địnhtrong Hiến pháp không bị xâm phạm sẽ là một cơ quan nhân danh Hiến pháp,vì Hiến pháp thực hiện những thẩm quyền của mình Và chắc chắn chính cơquan này cũng sẽ hoạt động trong giới hạn mà pháp luật tạo dựng ra nó Vàviệc cơ quan bảo hiến có thể bãi bỏ một đạo luật vi hiến của Quốc hội cũngkhông có nghĩa là nó cao hơn Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nớc caonhất Bởi xét trong mối quan hệ cụ thể với hiệu lực tối cao của Hiến pháp thì

đạo luật đó rõ ràng không thể có giá trị thi hành (hiệu lực) Nh vậy Nhà nớcpháp quyền là cơ sở chắc chắn để tiến hành xây dựng một cơ quan bảo hiếnchuyên trách Và việc xây dựng cơ quan này cũng góp phần vào việc xây dựngNhà nớc pháp quyền XHCN, một yêu cầu quan trọng trong việc xây dựng vàhoàn thiện Nhà nớc ta hiện nay

Tóm lại, với những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên có thể khẳng địnhrằng việc xem xét để thành lập một cơ quan bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam

là điều hoàn toàn cần thiết, là một yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong quá trìnhxây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay để Nhà nớc ta thực sự là mộtNhà nớc của dân, do dân, vì dân

Phần haiMột số mô hình cơ quan bảo hiến trên thế giới

Trang 17

Trên cơ sở thống nhất là tính tối cao và không thể bị xâm phạm của Hiếnpháp, các nớc đã tổ chức những cơ quan với chức năng bảo vệ Hiến pháp theocách thức riêng của mình Điều đó đã tạo nên những mô hình cơ quan bảo hiếntrên thế giới với những vấn đề về thẩm quyền, vị trí, vai trò rất khác nhau Trêncơ sở những tài liệu có đợc, xin giới thiệu về một số mô hình tiêu biểu về cơquan bảo hiến trên thế giới và đó chính là những cái nhìn tham khảo cho mộtcơ quan chăm lo bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam.

1 - Mô hình phi tập trung (đại diện là Hoa Kỳ)

a) Đặc điểm nổi bật của mô hình này chính là việc trao thẩm quyền bảo

vệ Hiến pháp cho hệ thống Toà án thờng và Toà án Tối cao

Mô hình này ra đời ở Hoa Kỳ và có ảnh hởng mạnh mẽ tới pháp luật củanhiều nớc khác, cùng với sự ảnh hởng về kinh tế và chính trị Số quốc gia tổchức thực hiện việc bảo hiến theo mô hình này có khoảng 90 quốc gia Mô hìnhnày trớc tiên dựa trên cơ sở lý luận Hiến pháp là đạo luật cao nhất, những vănbản pháp luật khác không phù hợp với Hiến pháp thì không có giá trị của cáchọc giả đã nêu ở phần trên Cùng với nó là nguyên tắc tổ chức của quyền lựcNhà nớc: phân chia quyền lực rất rạch ròi giữa ba nhánh: lập pháp, hành pháp,

t pháp Với một nớc theo truyền thống Common Law nh Mỹ thì sự kiện có ảnhhởng trực tiếp tới quyền giám sát bảo hiến của hệ thống Tòa án chính là vụ ánMabury kiện Madison (1803) Để có cái nhìn hệ thống về vấn đề này xin tómtắt vụ án nh sau: “Ngay trớc khi rời khỏi vị trí tháng 3 năm 1801, Tổng thốngJohn Adam đã cố gắng bổ nhiệm những ngời của đảng mình vào những vị trímới trong ngành t pháp Tổng thống mới, Thomas Jefferson đã rất bất bình vớihành động ông cho là đã lạm dụng quyền lực Sau khi đã phát hiện ra một số

bổ nhiệm cha đợc thực hiện, ông đã ra lệnh cho Bộ trởng ngoại giao của mình

là James Madison bãi bỏ các sự bổ nhiệm đó.William Marbury, một trongnhững ngời đợc bổ nhiệm bị bãi bỏ, đã kiện yêu cầu toà án buộc ông JamesMadison tuân thủ các quyết định bổ nhiệm họ làm thẩm phán của Tổng thốngJohn Adam Ông cho rằng Đạo luật t pháp năm 1789 đã trao cho Tòa án Tốicao liên bang quyền ban hành lệnh yêu cầu một quan chức chính quyền thựchiện nghĩa vụ của họ Ông muốn Toà án Tối cao buộc Madison chấp nhận việc

bổ nhiệm chính đáng của mình Vụ án này đã đặt Toà án Tối cao vào tình trạngtiến thoái lỡng nan Nếu Tòa án yêu cầu cơ quan hành pháp trao quyền choMarbury thì có thể Tổng thống sẽ từ chối và uy tín của Toà án tối cao vì thế có

Ngày đăng: 04/04/2013, 14:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10.Tạp chí Luật học các số :3/2003,5/2004,1,5/2005 11. Websites:concourts.net; constituonal.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2003, 2004, 2005
1.Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam- Trường Đại học Luật Hà Nội 2.Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài- Trường Đại học Luật Hà Nội 3.Hiến pháp Việt Nam các năm 1946,1959,1980,1992 Khác
5. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 6.Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Khác
9. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp các số : tháng 7/2000, tháng 7,8,9/2001, tháng 10,12/2003, tháng 2,10/2005 Khác
12.Các bài tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế: Kinh nghiệm quốc tế và mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam (Viện Nhà nước và pháp luật ,Viện KAS- Đức)Hà Nội -3,4/5/2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w