Hiện nay, biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những mối nguy cơ lớn nhất đe doạ các hoạt động kinh tế, xã hội cũng như môi trường trên khắp hành tinh.Cũng theo IPCC, các hoạt động củ
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
CHƯƠNG I TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23
I.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 23
I.1.1 Tổng quan tự nhiên 23
I.1.2 Đặc điểm khí hậu 23
I.1.3 Đặc điểm thủy văn-hải dương 24
I.1.4 Tài nguyên khoáng sản 24
I.1.5 Đặc điểm xã hội 24
I.2 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 25
I.2.1 Thị trấn Phước Hải – huyện Đất Đỏ 25
I.2.2 Xã Phước Tỉnh – huyện Long Điền 28
I.3 Tác động của BĐKH lên đời sống kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 32
I.3.1 Tác động của BĐKH lên đời sống kinh tế - xã hội 32
I.3.2 Tình hình BĐKH trong những năm vừa qua tại BR – VT 34
I.4 Đặc điểm dân số nghiên cứu 37
CHƯƠNG II TÁC ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA BĐKH ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 42
II.1 Tác động xã hội của BĐKH đối với cuộc sống của cộng đồng dân cư 42
II.1.1 Tác động lên nhận thức 42
II.1.2 Tác động lên tâm lý 49
II.1.3 Tác động lên các vấn đề an sinh xã hội 56
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ CỦA CỘNG ĐỒNG 63
III.1 Giải pháp ứng phó của cộng đồng đối với BĐKH tại địa phương 63
III.1.1 Giải pháp sửa chữa nhà cửa 64
III.1.2 Giải pháp chuyển đổi chỗ ở 66
III.1.3 Giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp 69
III.2 Hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương đối với cộng đồng 73
Trang 2III.3 Khó khăn từ công tác ứng phó với thiên tai và vấn đề BĐKH 76 CHƯƠNG IV KIẾN NGHỊ - KẾT LUẬN 78
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự nóng lên tòan cầu do nồng độ các khí nhà kính (CO2, CH4, Nox, CFC) trong khí quyển tăng cao, gây ra sự suy thóai môi trường và làm cho mực nước biển tăng lên Sự ấm lên của hệ thống khí hậu đã khá rõ ràng, từ những quan sát sự tăng lên của nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương, sự tan chảy của băng tuyết cũng như mực nước biển trung bình đang tăng cao Nhiệt độ trung bình bề mặtcủa trái đất đã tăng 0,76°C kể từ 1850 Báo cáo đánh giá thứ tư (AR4, 2007) của Diễn đàn liên chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel for Climate Change – IPCC) đã chỉ ra rằng, nếu không có bất kì hành động nào nhằm giảm lượng phát thải khí nhà kính, nhiệt độ trung bình bề mặt của trái đất có khả năng tăng thêm từ 1.8 – 4.0°C trong thế kỉ này, và lên đến 6.4°C trong những kịch bản xấu nhất David King (2005) cố
vấn trưởng của Vương quốc Anh trong lĩnh vực khoa học đã khẳng định “ BĐKH là vấn
đề trầm trọng nhất mà chúng ta đang phải đối mặt trong thế giới ngày nay – trầm trọng hơn so với sự đe doạ của chủ nghĩa khủng bố”.
Hiện nay, biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những mối nguy cơ lớn nhất đe doạ các hoạt động kinh tế, xã hội cũng như môi trường trên khắp hành tinh.Cũng theo IPCC, các hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu và ngàycàng đẩy nhanh quá trình này Biến đổi khí hậu làm gia tăng những khó khăn gây ra bởi đói nghèo, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân trên thế giới, khi nền kinh
tế và đời sống của họ phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên
Trong khi mọi khu vực đều sẽ chịu tác động của biến đổi khí hậu, những hậu quả nặng nề sẽ tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển – đặc biệt là ở những cộng đồng nghèo và không có khả năng chống đỡ trước những thay đổi.Theo báo cáo của World Bank (2008), đa số các quốc gia có tên trong bảng thống kê các nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất từ biến đổi khí hậu thuộc về cộng đồng các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Trang 4Bảng 1:6 rủi ro khí hậu: Danh sách 12 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nhất
dâng 1m
Nước biển dâng 5m
Sản xuất nông nghiệp
Malawi Bangladesh Philippines
Vùng thấp các đảo quốc
Vùng thấp các đảo quốc
Sudan
Ethiopia Trung Quốc Bangladesh Việt Nam Hà Lan Senegal
Zimbabwe Ấn Độ Madagascar Ai Cập Nhật Bản Zimbabwe
Ấn Độ Campuchia Việt Nam Tunisia Bangladesh Mali
Mozambiqu
e
Mozambiqu
e Moldova Indonesia Philippines Zambia
Mauritania Pakistan Haiti Trung
Eritrea Sri Lanka Samoa Mexico Venezuela Ấn Độ
Chad Việt Nam Trung Quốc Bangladesh Fiji Algeria
( Nguồn:Bank Staff calculations, 2008)
Như đã nói, Việt Nam là một trong 5 quốc gia được xác định chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Ở Việt Nam, trong 50 năm qua (1951 – 2000), nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,7°C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Hiện tượng El Nino,
La Nina ngày càng tác động mạnh mẽ, Nhiều năm trở lại đây, hiện tượng khí hậu bất thường xảy ra với tần số và cường độ ngày càng dày đặc và mạnh mẽ hơn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh mạng và cuộc sống của người dân: bão lớn, bão trái mùa tàn phá các tỉnh ven biển miền Trung, hiện tượng xâm nhập mặn đã xuất hiện tại các tỉnh ven biển của đồng bằng sông Cửu Long, nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm cạn kiệt v.v… (Monre, 2008) Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long bị ngập chìm nặng nhất, kèm theo đó là phần lớn dân cư cũng như các hoạt động kinh tế Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10.8% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và 5% diện tích bị ảnh hưởng, thiệt hại GDP ước tính khoảng 10%
Trang 5Nếu mực nước biển dâng 3m sẽ có 12% diện tích, 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, thiệt hại GDP ước tính khoảng gần 25%, và nếu mực nước biển dâng 5m sẽ có hơn 16% diện tích, 35% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, thiệt hại GDP ước tính khoảng hơn 35% (Dasgupta et al., 2007).
Thời gian qua, trong khi đề cập đến BĐKH, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai thuật
ngữ “ngăn ngừa” và “thích nghi” Trong một số trường hợp hai thuật ngữ này gần như
đồng nghĩa nói về vấn đề kiểm soát nguy cơ, điều này có nghĩa là cả hai biện pháp trên đều cùng một mục tiêu chung là hạn chế biến đổi khí hậu lan nhanh và gây ra thiệt hại không mong muốn cho loài người Tuy nhiên, ý nghĩa của chúng lại khác nghĩa nhau khi
đề cập đến vấn đề chính sách khí hậu.Khi nói về khí hậu, “ngăn ngừa” nghĩa là làm chậm
lại quá trình ấm lên của trái đất bằng cách đối mặt với các vấn đề cơ bản như hoạt động của con người tạo nên khí nhà kính (chủ yếu là CO2) Một số biện pháp giảm thiểu như giảm lượng khí thải CO2 thông qua việc thay thế nhiên liệu hoá thạch bằng nguồn năng lượng tái sử dụng, hay hấp thụ CO2 thông qua các hệ sinh thái rừng và đại dương hoặc
“chôn” CO2 trong lòng đất Ngược lại, “thích nghi” nghĩa là ứng xử, đối phó với hậu quả
của biến đổi khí hậu như tăng cường xây dựng đê ngăn lũ để chống lại tần suất bão và mực nước biển đang ngày càng gia tăng, lựa chọn các biện pháp kinh tế - xã hội thích hợp
để có thể đương đầu với thiên tai mà vẫn ổn định đời sống của mình Trong thực tế, các biện pháp “ngăn ngừa” đã được thực hiện ngay từ khi những mầm mống của biến đổi khí hậu xuất hiện nhưng lượng CO2vẫn tăng đều theo từng năm, sự tàn phá của thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra ngày càng nặng nề đối với môi trường, con người, do đó chiến lược “thích nghi” đối với sự thay đổi thời tiết ngày càng trở nên quan trọng
Theo tài liệu của Uỷ ban châu Âu về Biến đổi khí hậu, “thích nghi” là tiên đoán trước được những hậu quả bất lợi của biến đổi khí hậu và tiến hành những hành động thích hợp nhằm ngăn chặn hay giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra Hành động càng sớm sẽ giảm bớt giá trị thiệt hại về sau.Chính sách thích nghi cần sự tham gia của tất cả các cấp, từ địa phương cho đến quốc tế (EU, 2008)
Trang 6Ở một số nơi trên thế giới, người ta đã tìm kiếm các biện pháp nhằm “sống chung” với biến đổi khí hậu, như Mandives và Hà Lan đã xây dựng các bờ kè dọc theo bờ biển,
cư dân ở một số đảo Nam Thái Bình Dương di cư lên những miền đất cao hơn, chính phủ
Áo có chiến dịch quản lý nguồn nước chặt chẽ hay tại Nepal, người ta bắt đầu kiểm soát băng tan Viện Môi trường Thụy Điển phân biệt hai dạng thích nghi “phòng xa” và thích nghi “phản ứng” Việc lựa chọn biện pháp nào còn phụ thuộc vào việc hoạt động thích nghi đó xảy ra trước hay sau khi nhận thức được các tác động của biến đổi khí hậu Xây nhà trên cột để ngăn lũ lụt hay thiết kế giếng dầu có chống bão là thích nghi “phòng xa”, trong khi thay đổi cơ cấu mùa màng nhằm thích ứng với thời tiết ấm hơn trong mùa đông
là thích nghi “phản ứng” Có sự liên quan giữa chiến lược thích nghi “có kế hoạch” hay thích nghi “theo chính sách” (kết quả của của nhiều quyết định thận trọng) và chiến lược thích nghi “độc lập” hay thích nghi “tự phát”(thay đổi tuỳ theo các điều kiện, bất chấp các chính sách hay kế hoạch từ trước) Sự thích nghi thường gắn với vai trò của chính phủ, vì chỉ có chính phủ mới có đủ nhân lực, tài chính cũng như cơ sở hạ tầng để có thể đưa ra các chính sách lâu dài và thích hợp, đồng thời cũng có những biện pháp khả thi nhằm theo dõi, đôn đốc quá trình thực hiện Tuy nhiên, thích nghi “tự phát” lại được đa
số người dân lựa chọn vì sự linh hoạt cũng như tính khả thi của nó khi chính sách chưa phổ biến kịp đến cộng đồng Người dân có sự đối mặt với thách thức khi hậu quả của biến đổi thời tiết đe doạ cuộc sống gia đình, buộc họ phải chọn lựa hình thức định cư, hình thức hoạt động kinh tế cũng như các vấn đề xã hội khác Những thay đổi nhỏ như thay đổi thói quen trong tiêu dùng ( sử dụng bóng đèn tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng máy điều hoà không khí, hạn chế sử dụng bao nilon v.v…) cho đến những thay đổi lớn như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi hình thức sử dụng đất v.v… Chínhphủ có thể giữ vai trò nòng cốt trong việc chỉ ra những rủi ro cho các mục tiêu phát triển, những biện pháp thích ứng tổng hợp trong các kế hoạch quốc gia và vùng Sự thích nghi theo chính sách hay “có kế hoạch” của chính phủ giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp động cơ và công cụ để đưa sự thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu đến với người dân, cộng đồng và lĩnh vực tư nhân Trước tình hình này, nếu có, một chính sách hợp lý
là sự phối hợp giữa giảm thiểu, thích nghi, phát triển kĩ thuật (nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 7giảm thiểu và thích nghi) và nghiên cứu ( về biến đổi khí hậu, về tác động cũng như sự giảm thiểu và thích nghi).
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành trên thế giới nhằm mục tiêu tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng cũng như tìm kiếm các biện pháp đối với BĐKH Các công trình này đã chuyển từ việc trả lời câu hỏi biến đổi khí hậu có xảy ra hay không sang việc tìm kiếm câu trả lời cho những tác động có thể xảy ra của BĐKH lên cuộc sống con người, các hoạt động kinh tế - xã hội – môi trường và phải làm gì để giảm thiểu cũng như thích nghi với tình trạng BĐKH (World Bank, 2008) Nhiều nghiên cứu đi sâu vàp phân tích tác động của BĐKH đến vấn đề phát triển kinh tế, chi phí của các biện pháp giảm thiểu và thích nghi với BĐKH, vai trò của công cụ chính sách kinh tế đối với vấn đề quản lý phát thải khí nhà kính v.v… (Dũng, 2009) Ở Việt Nam, mặc dù BĐKH đang trở thành một thách thức lớn đối với quốc gia, những nghiên cứu về BĐKH còn rất hạn chế, đặc biệt là còn thiếu các nghiên cứu dưới góc độ kinh tế của vấn đề Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới được công bố chính thức chỉ mới phân tích tác động của nước biển dâng chứ chưa đi sâu vào các tác động khác, còn các nghiên cứu được Chương trình kinh tế và môi trường Đông Nam Á (EEPSEA) tài trợ mới chỉ là những nghiên cứu trường hợp (case studies) Vì vậy, các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam có thể tiến hành tập trung vào một số lĩnh vực chính: tác động kinh tế của BĐKH, các khía cạnh kinh tế của hạn chế phát thải và các vấn đề liên quan đến thích ứng/thích nghi (Thắng, 2009)
Với đề tài “ Phân tích tác động kinh tế - xã hội của biến đổi khí hậu đối với cộng
đồng dân cư nông thôn miền biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, người nghiên cứu mong
muốn, trước hết, tìm hiểu những tác động có thể có của BĐKH lên đời sống của cộng đồng dân cư nông thôn từ các họat động kinh tế đến đời sống xã hội cũng như nhận thức
và tâm lý của họ, tìm hiểu quá trình người dân tìm kiếm những biện pháp thích nghi bền vững cho sự ổn định cuộc sống lâu dài của họ ở vùng bị ảnh hưởng bởi BĐKH, những khó khăn, thách thức của quá trình này, đánh giá được hiệu quả của các biện pháp thích nghi, các chính sách hỗ trợ của nhà nước, từ đó có thể đóng góp ý kiến cho cơ quan có thẩm quyền trong việc đề ra và thực hiện các chính sách liên quan
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích các tác động về kinh tế - xã hội của BĐKH lên đời sống của người dân nông thôn miền biển
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp thích nghi của cư dân vùng bị ảnh hưởng bởi BĐKH về thích nghi cũng như các chính sách của nhà nước
- Đề xuất các giải pháp nhằm giúp cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi BĐKH ổn định cuộc sống lâu dài
3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
3.1 Biến đổi khí hậu
TheoStern (2006), nhà kinh tế học người Anh đã đưa ra quan điểm rằng thiệt hại của BĐKH gây ra rất lớn và không thể phục hồi Sử dụng mô hình PAGE đánh giá tổng thể tác động của BĐKH có kết hợp nhiều kịch bản rủi ro và yếu tố bất định, Stern cho rằng chi phí để ứng phó với BĐKH là 1% GDP toàn cầu 1 năm, và lợi ích từ các biện pháp ứng phó (tránh được thiệt hại 5%GDP) sẽ lớn hơn chi phí 1%GDP này Theo Thắng (2009), tác giả đã trình bày hai trường phái học thuật hay hai nhóm quan điểm chính khi đánh giá tác động kinh tế của BĐKH trên thế giới, ngoài quan điểm do Stern đứng đầu còn có nhóm quan điểm trái ngược lại do nhà kinh tế học người Mỹ Williams Nordhaus đứng đầu Nordhaus (1994) cho rằng BĐKH không ra nhiều tác động tiêu cực lên sự phát triển chung, và khi sử dụng mô hình DICE (Dynamic Intergrated Model of Climate and Economy – mô hình tổng hợp động về khí hậu và kinh tế) để phân tích, Nordhaus ước tính thiệt hại của BĐKH vào khoảng 1% GDP toàn cầu Ủng hộ quan điểmcủa Nordhaus, nhà kinh tế học người Đan Mạch Bjorn Lomborg (2007) cho rằng mặc dù BĐKH đã diễn ra, chi phí cho việc cắt giảm khí phát thải nhà kính lớn hơn nhiều so với lợi ích đem lại, theo Lomborg, các ưu tiên khác nên cần đẩy mạnh cho các vấn đề toàn cầu khác như AIDS, suy dinh dưỡng và thiếu nước ngọt Theo Thắng (2009), tác giả đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy sự ủng hộ của thế giới đối với quan điểm của Stern nhiều hơn của Nordhaus cho đến nay, như các báo cáo cũng như nghiên cứu mới của Ngân hàng thế giới (WB, 2008), IPCC (2007), của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB,
Trang 92007) về BĐKH, các nghiên cứu đã đưa ra những số liệu phân tích cho thấy tác động của BĐKH là vô cùng to lớn, ảnh hưởng đến phát triển Do vậy, nghiên cứu và phân tích của Stern sẽ là tài liệu hữu ích cho việc tham khảo về tính quan trọng và cần thiết của vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Báo cáo Phát triển con người 2007/2008 (UNDP, 2008) đã dẫn ra rằng “BĐKH do
con người gây ra đang đẩy thế giới đến một thảm hoạ sinh thái cùng những tác động không thể đảo ngược đối với sự nghiệp phát triển con người”, “nếu nhiệt độ Trái đất tăng thêm 3 - 4°C có thể khiến cho 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt” Báo cáo nhấn mạnh các đối tượng nguy cơ dễ bị tổn thương nhất đó chính là nhóm người nghèo và các quốc gia chậm phát triển, thuộc về những nhóm đối tượng ít nguồn lực hơn Không những thế, BĐKH còn gây ra những xung đột cũng như bất bình đẳng trên thế giới hiện nay do sự chênh lệch về thụ hưởng cũng như sử dụng tài nguyên Báo cáo xác định năm cơ chế tác động chính qua đó biến đổi khí hậu có thể chặn đứng và đẩy lùi quá trình phát triển con người: sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực bị tác động, sự khủng hoảng nước và tình trạng bất an ninh về nước ngày càng tăng lên, nước biển đang dâng và nguy cơ thiên tai ngày càng nhiều hơn, sự thay đổi diện mạo các hệ sinh thái trên trái đất, và sau cùng là ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Việc ứng phó đối với BĐKH đòi hỏi sự tham gia của tất cả các quốc gia trên thế giới “Không một nước nào có thể giành được thắng lợi trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu nếu hành động một mình Việc phối hợp hành động không chỉ là phương án mà còn là mệnh lệnh” và lần
đầu tiên đưa ra khái niệm “kinh tế của BĐKH” Để làm rõ hơn khái niệm này, báo cáo
World Bank (2008) nhận định rằng, trong bối cảnh BĐKH đã trở thành một vấn đề của toàn cầu, với số lượng các quốc gia chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đang ngày càng tăng lên, vấn đề đối phó được đặt ra cấp bách Đây là đề cương tóm tắt của một nghiên cứu hành động, tìm hiểu cũng như lượng giá các tác động có thể có của biến đổi khí hậu
lên tất cả các mặt của một quốc gia, từ đó báo cáo đã áp dụng khái niệm “tính kinh tế của
sự thích nghi BĐKH” trong chương trình đối phó với những biến động thời tiết đối với
các quốc gia bị ảnh hưởng Nghiên cứu này nhằm lượng giá chi phí- lợi ích cũng như sự thay đổi về thể chế và chính sách để đưa ra những hỗ trợ phù hợp cho các vùng bị tác
Trang 10động bởi biến đổi khí hậu, đảm bảo ổn định cuộc sống trong hòan cảnh bất lợi về thời tiếthay nói rộng hơn là BĐKH cho cộng đồng dân cư vùng bị ảnh hưởng
Dasgupta S et al ( 2007) là một tài liệu tham khảo rất hữu ích với những nghiên cứu
rõ ràng và cụ thể được hỗ trợ bởi nhiều công cụ nghiên cứu hiện đại (GIS, GPS), nhờ đó, nhóm tác giả đã tính toán được những tác động cũng như thiệt hại của hiện tượng nước biển dâng lên diện tích, dân số cũng như các hoạt động kinh tế một số khu vực có nguy
cơ trên thế giới Quan trọng hơn, theo nghiên cứu của Dasgupta, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có nguy cơ cao nhất bị tác động bởi BĐKH trong nhóm các quốc gia Đông Nam và Đông Á Các số liệu của nghiên cứu là những bằng chứng cho thấy Việt Nam không thể đứng ngoài vấn đề BĐKH và những nghiên cứu sâu hơn về tình hình BĐKH ở Việt Nam, sự phối hợp hành động cũng như các chính sách cần được tìm hiểu
và triển khai nhằm tránh những thiệt hại về sau
Yohe G (1989)là một trong những nghiên cứu về hiện tượng mất đất do nước biển dâng trong giai đoạn đầu tiên, những năm 80 của thế kỉ XX, khi BĐKH chưa phải là một vấn đề nghiêm trọng nhất của toàn cầu Nghiên cứu đã áp dụng các lý thuyết đo lường để định lượng mức độ tổn thương về kinh tế của hiện tượng nước biển dâng bao gồm giá trị của các cấu trúc hạ tầng bị đe doạ, các tài sản mất mát cũng như các dịch vụ xã hội dọc
bờ biển Giá trị các cấu trúc hạ tầng và tài sản bị đe doạ được tham khảo từ hồ sơ thuế cung cấp bởi văn phòng giám định của chính phủ và được tính là tổng của tất cả giá trị thịtrường của chúng.Giá trị xã hội của bờ biển được ước đoán bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận Knetsch – David và giá trị này được tính bằng tổng của sự chênh lệch giữa những giá trị tài sản gần bờ biển và xa bờ biển.Lý thuyết trên đã được áp dụng cho bờ biển Long Beach Island (Hoa Kì) nơi được bao quanh bởi đường bờ biển trải dài 18 dặm Tham khảo theo lý thuyết của Yohe, Bayani K et al (2009) đã áp dụng lý thuyết trên trong một nghiên cứu cụ thể về sự xói mòn bờ biển tại Philippines Ngoài việc đo lường mức độ tác động của hiện tượng xói mòn bờ biển lên đất đai, dân số và các hoạt động kinh tế - xã hội của cư dân cộng đồng ven bờ biển, nghiên cứu còn tính toán chi phí và lợiích của chiến lược thích nghi ( kế hoạch vẫn hoạt động sản xuất bình thường, kế hoạch đối phó có sự can thiệp của chính phủ và kế hoạch tái định cư) cũng như tính khả thi của
Trang 11các chính sách và luật pháp cho sự thích nghi đó Các kết quả nghiên cứu trên có thể sử dụng để tham khảo cho việc hoạch định các chính sách lâu dài về BĐKH cho cộng đồng dân cư sinh sống tại một khu vực có vị trí và đặc điểm đặc thù, tương tự như hướng nghiên cứu của đề tài.
Bên cạnh đó, chúng tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về khái niệm “sinh kế bền vững” và vấn đề sinh kế bền vững trong kế hoạch thích nghi với BĐKH
3.2 Sinh kế bền vững
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơhội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn chochính họ và cho các thế hệ tiếp theo
Dựa theo định nghĩa của Chamber và Cornway (1992), sinh kế được hiểu bao gồm những khả năng, tài sản (bao gồm cả tài nguyên vật chất và tài nguyên xã hội), và những hoạt động cần thiết cho cuộc sống mưu sinh Sinh kế sẽ bền vững nếu nó có thể thích nghi và phục hồi sau những áp lực và sốc, duy trì và nâng cao khả năng và tài sản trong khi không làm suy yếu cơ sở tài nguyên tự nhiên
Theo Scoone (1998), các nguồn lực và khả năng mà con người có, được xem là các vốn hay tài sản sinh kế bao gồm các loại sau:
- Nguồn lực con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ đạtđược những kết quả sinh kế
- Nguồn lực xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội
và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau
Trang 12- Nguồn lực tự nhiên: Là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộhoặc một cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước và các nguồn tài nguyên ven biển.
- Nguồn lực tài chính: Là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước
- Nguồn lực vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng,nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình
Khung phân tích tính dễ bị tổn thương được dựa trên mô hình rủi ro Phân tích khám phá sự khác biệt của mức độ tổn thương thông qua nghiên cứu khả năng của hộ gia đình trong việc phản ứng và thích nghi với những rủi ro thực và rủi ro dự đoán có thể làmhạn chế những lựa chọn xây dựng sinh kế (Wisner et al., 2004) Mức vốn tạo ra và sử dụng trong gia đình cần dược tìm hiểu để giúp làm rõ mối tương quan giữa những kế hoạch tạo vốn cụ thể với những thay đổi khi tiếp xúc với những rủi ro tự nhiên và rủi ro kinh tế xã hội.Cách tiếp cận sinh kế bền vững (SLA) cung cấp một khung nghiên cứu có thể gói gọn những khái niệm liên quan đến mối quan hệ giữa tích lũy vốn hộ gia đình và một số tính tổn thương Mô hình tham khảo giới thiệu bởi Ủy ban Phát Triển Quốc Tế (Anh Quốc) (DFID) (1999) được mô tả theo hình dưới đây
Hình1.1: Khung tiếp cận sinh kế bền vững (Nguồn: DFID, 1999)
Trang 13Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để áp dụng cách tiếp cận sinh
kế bền vững Đây là cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm đồng thời cố gắng tìm hiểu những vấn đề về kinh tế-xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ góc nhìn thông qua con người Nó giúp chúng ta nghiên cứu xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặt biệt là các yếu tố gây khó khăn và tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời giúp tìm hiểu những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào
Theo khung phân tích này, tiếp cận nghiên cứu sinh kế bắt đầu bằng việc phân tích các chiến lược sinh kế của con người.Xem xét chiến lược đó thay đổi qua thời gian chịu ảnh hưởng của bối cảnh tổn thương và chính sách, thể chế như thế nào.Phân tích sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng gữa các nhóm hộ khác nhau trong cộng đồng và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ trong các chương trình của nhà
nước.Phương pháp tiếp cận này đặc biệt chú ý đến việc lôi cuốn người dân tham gia và tôn trọng ý kiến của họ, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ người dân đạt được các mục đích sinh kế của họ
Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để kiếm sống
Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình
Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên
3.2.1 Biến đổi khí hậu và sinh kế của người dân
Những thay đổi liên quan đến khí hậu đến các dòng lưu thông tài nguyên về căn bản
có thể tác động đến khả năng tồn tại của các sinh kế của người nghèo (SEI, IUCN, IISD, Intercooperation 2003) Cụ thể hơn, tác động của biến đổi khí hậu có thể liên quan đến những nhân tố khác nhau của khung sinh kế ví dụ như tác động lên tài sản và những thay đổi trong các chiến lược và kết quả sinh kế (Balgis et al 2005; Elasha et al 2005) Theo Huxtable và Nguyen Thi Yen (2009), biến đổi của khí hậu sẽ tác động đến hoạt động sinh
Trang 14kếnhư du lịch, do gây thiệt hại đến cơ sở hạ tầng (hạn chế tiếp cận thị trường) và người nghèo nhất ít có khảnăng được bảo vệ bởi các khoản đầu tư trong các hệ thống cơ sở hạ tầng hoặc giảm nhẹ thiên tai và cứutrợ Mực nước biển tăng sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho một số cây rừng ngập mặn phát tán bằng cách xâm nhập vào đất liền và đất nông
nghiệp,từ đó có thể ảnh hưởng đến sản lượng lương thực và đa dạng sinh học Một số động vật nước ngọt và cácloài thực vật sẽ biến mất và được thay thế bằng các loài nước
lợ, mặn Mực nước biển dâng cũng sẽ cản trở việc tích tụ phù sa ở các bãi triều Biến đổi khí hậu được dự báo sẽ tác động đáng kể đến nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.Số lượng cánhiệt đới có giá trị thương mại thấp (trừ cá ngừ) sẽ tăng và số lượng các loài cá cận nhiệt đớicó giá trị thương phẩm cao hơn sẽ giảm Hơn nữa, sự suy giảm mạnh sinh vật phù du
sẽ dẫn đến di cư củacá và giảm sản lượng đánh bắt cá Ước tính rằng, sản lượng đánh bắt
cá và thu nhập từ các ngành kinh tếbiển của Việt Nam sẽ giảm ít nhất một phần ba (Le Xuan Tuan et al 2006; Phan Nguyen Honget al 2008).Do sự dâng cao mực nước biển, các trang trại nuôi trồng thủy sản sẽ phải di dời do xâm mặn, làm giảmdiện tích rừng ngập mặn, sẽ làm mất môi trường sống cho các loài sinh vật nước ngọt
3.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu lên tài sản sinh kế
3.2.2.1 Thay đổi nguồn lực tự nhiên
Theo tổng hợp của Badjeck et al (2010), biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến phân bố
và sự phong phú của nguồn cá Sự thay đổi trong sản phẩm ngành cá (nguồn lực tự nhiên)ảnh hưởng đến tổng doanh thu và chi phí đánh bắt Hệ quả là ngư dân phải bỏ ra chi phí lớn hơn cho việc quản lý và tiếp cận những nguồn lực tự nhiên (Mahon 2002; Mahon andJoseph 1997; Callaway et al 1998; Knapp 1998; Lum Kong 2002; Roessig et al 2004) Ngoài ra, những nguồn lực tự nhiên khác, ví dụ như nước sinh hoạt, mà cộng đồng ngư nghiệp dựa vào cũng chịu tác động bởi biến đổi khí hậu Mực nước biển dâng và những điều kiện khắc nghiệt như bão có thể làm giảm khối lượng và chất lượng của nguồn nước sạch cho cộng đồng ngư nghiệp (Bridges and McClatchey 2009)
3.2.2.2 Hủy hoại nguồn lực vật chất, suy giảm nguồn lực tài chính
Trang 15Khí hậu biến đổi thông qua việc mực nước biển dâng và sự gia tăng các cơn bão và
lũ lụt có thể tác động vào nguồn lực vật chất củahộ gia đình, hoặc của cả cộng đồng, không chỉ dẫn đến giảm năng suất đánh bắt mà còn phá hủy cơ sở hạ tầng công cộng và làm gián đoạn các dịch vụ vốn có tác dụng hỗ trợ sinh kế.Cụ thể hơn các cơn bão và những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt có thể phá hủyhoặc gây ra tổn hại tài sản sản xuất
và cơ sở hạ tầng như các bãi đáp, tàu thuyền và ngư cụ (Jallow et al 1999) Bên cạnh đó, thiệt hại đối với tài sản vật chất phi sản xuất của ngư dân nhưnhà ở và cơ sở hạ tầng của cộng đồng (bệnh viện, trường học, hệ thống nước thải ) cũng là những hậu quả nghiêm trọng củacác hiện tượng khí hậu khắc nghiệt (Westlund et al 2007)
Theo Badjeck et al (2010), việc mất đi nguồn lực vật chất cùng với một cơ sở tài sản tài chính ngày một xấu đi cũng có thể có những tác động đáng kể đến sinh kế Những người bị ảnh hưởng nhiều nhất không thể vay vốn ngân hàng chính thức do thiếu tài sản thế chấp (thường bị mất trong thiên tai) và không có bảo hiểm (De Silvaand Yamao 2007) Ngoài ra, như quan sát thấy trongnhiều cộng đồng ngư dân, các nguồn tín dụng không chính thức thường là những nguồn duy nhất cho ngư dân, thường có lãi suất cao vàcác điều khoản không thuận lợi(Tietze and Villareal 2003) Nhìn chung, việc thiếuhỗ trợ tài chính cho ngư dân trong cuộc khủng hoảng thủy sản là một vấn đề then chốtở các nước đang phát triển, trong khi ở các nước như Canadavà Na Uy, mạng lưới an sinh xã hội và các chương trình công cộng có thể cung cấp những hỗ trợquan trọng (Perry et al 2009)
3.2.2.3 Tác động đến nguồn lực con người và nguồn lực xã hội
Các khía cạnh khác nhau của nguồn lực con người, từ an toàn trên biển đến an ninh lương thực, cũng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu Thiệt hại nhân mạng có thể là tác động đáng kể nhất của các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt lênnguồn lực con người, ảnh hưởng đến không chỉ các thành viên còn sống trong gia đình, mà còn có khả năng phá vỡcác hoạt động kinh tế và xã hội và các hệ thống bên ngoài gia đình bị ảnh hưởng trực tiếp (Westlund et al 2007, trang 24).An toàn trên biển và thương tích thường gắn liền với
Trang 16thiên tai liên quan đến áp lực (stress) từ khí hậu như lũ lụt và bão, giảm khả năng thể chấtcủa ngư dân trong việc theo đuổi sinh kế của họ.
Về ảnh hưởng sức khỏe, đã có nghiên cứu chứng minh rằng chu kỳ của El Nino trong một số khu vực có liên quan với những thay đổi về nguy cơ của các bệnh lây truyềnqua muỗi, chẳng hạn như bệnh sốt rét và sốt xuất huyết (Kovats et al 2003) Nguy cơ sốt rét liên quan tới El Nino rất cao ở Nam Mỹ, Trung Á và châu Phi, nơi có phần lớn các cụm ngư dân quy mô nhỏ (Allison et al 2009; Patz and Kovats 2002) Những thay đổi trong nguồn lương thựcthực phẩm và trong khả năng chi trả cho lương thựcthực phẩm do rối loạn khí hậu cũng tăng thêm một gánh nặng sức khỏe cho các hộ gia đình và cộng đồng (Badjeck et al 2010)
3.3 Tác động của BĐKH lên đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam
3.3.1 Tác động của BĐKH đối với đời sống kinh tế của Việt Nam
Tác động đến nông nghiệp
Theo đánh giá của ADB, nếu nhiệt độ tăng thêm 10C năng suất lúa sẽ giảm khoảng10%, năng suất ngô sẽ giảm từ 5%-20%, sẽ đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thựcquốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân Việt Nam Cũng theo ước tính củaADB, những ảnh hưởng của BĐKH có thể tàn phá nền sản xuất gạo và cà phê của ViệtNam sớm nhất là vào năm 2020
Trong thời gian gần đây, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do sức ép dân số, đôthị hóa, công nghiệp hóa và bị chuyển đổi mục đích sử dụng Ngoài ra, dưới tác động củaBĐKH, nhất là nước biển dâng làm mất đi nơi ở của cư dân và phần đất màu mỡ nhất chosản xuất nông nghiệp sẽ là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp Thiên tai gia tăng sẽlàm tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnhhưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Hiện tượng thiếu nước và hạn hán sẽ dẫn tớihoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung (Trương Quang Học, 2009)
BĐKH sẽ làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnhgia tăng, sẽ làm giảm năng suất cây trồng và vật nuôi Nguồn cung cấp thức ăn chănnuôi giảm hạn chế phát triển ngành chăn nuôi Nhiệt độ tăng cùng với biến động về các
Trang 17yếu tố khí hậu và thời tiết khác có thể làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, đồng thời tạomôi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển bùng phát, gây ra những đạidịch trên gia súc, gia cầm Trong thời gian qua, ở nhiều địa phương, mùa màng đã bị mấttrắng do lũ lụt và hạn hán.
Tác động đến lâm nghiệp
BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến thảm thực vật, làm thay đổi hệ sinh thái rừng,
đa dạng sinh học, tăng nguy cơ cháy rừng, giảm điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu,chống xói mòn, … Phân bố ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh, thứ sinh có thể dịchchuyển
Nước biển dâng lên làm thu hẹp 25.000 ha diện tích rừng ngập mặn ven biển, tácđộng xấu đến 13.000 ha rừng tràm và rừng trồng trên các đất bị nhiễm phèn làm tăngnguy cơ tuyệt chủng các loài động thực vật Hơn nữa, nhiệt độ và mức độ khô hạn tănglên sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng và sâu bệnh phá hoại cây rừng
Tác động đến ngư nghiệp
Kinh tế thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và cải thiện sinh kếcho các cộng đồng dân cư sống ở các vùng nông thôn ven biển và hải đảo Hiện nay, cáchiện tượng cực đoan của thời tiết như áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt không ngừng gia tăngảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển của ngành đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản ởcác vùng ven biển Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Bộ Thuỷ sản từ năm 2001- 2006: “Tình hình thiên taingày càng có diễn biến phức tạp, tần suất ngày một tăng, tính ác liệt ngày một lớn trên tất
cả các loại hình: bão, nước biển dâng, triều cường, lũ lụt, lũ quét, … xảy ra dồn dập vàkhông theo quy luật”
BĐKH – Nước biển dâng sẽ làm suy thoái và phá hủy các rặng san hô, thay đổi cácquá trình sinh lý, sinh hóa diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo Cácloài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị hủy diệt, làmgiảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầnggiữa và tầng trên, giảm năng suất thủy sản Khả năng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đều
bị suy giảm
Trang 18Ở Việt Nam có tới 58% dân cư vùng ven biển có sinh kế chủ yếu dựa vào nôngnghiệp và đánh bắt thuỷ sản, khoảng 480.000 người trực tiếp làm nghề đánh bắt hải sản,10.000 người chế biến hải sản và 2.140.000 người cung cấp các dịch vụ liên quan đếnnghề cá Một điểm đáng được quan tâm đối với cộng động dân cư ven biển là đa sốnhững người làm nghề đánh bắt thủy sản là những người nghèo trong xã hội Do sảnlượng đánh bắt tự nhiên giảm, nền tảng kinh tế của mọi cộng đồng dân cư ven biển khôngđược ổn định Từ đó phát sinh những vấn đề xã hội mà chính quyền ở các địa phươnggiải quyết: đẩy giá bán cao lên, số người nghèo gia tăng, người suy dinh dưỡng ngàycàng nhiều Vì thế, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đạt được các mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội như xóa đói nghèo.
Tác động đến diêm nghiệp
Mực nước biển gia tăng làm diện tích và cơ sở hạ tầng sản xuất muối bị ảnh hưởng,đồng thời với những trận mưa lớn hơn, có cường độ cao hơn cũng ảnh hưởng đến năngsuất muối (Thái Chuyên, 2009)
Tác động đến công nghiệp và năng lượng
Năng lượng: BĐKH làm tăng chi phí bảo dưỡng, duy tu, vận hành máy móc,phương tiện cho hệ thống khai thác, chế biến dầu khí; dòng chảy các sông lớn thay đổidẫn đến công suất các nhà máy thủy điện bị giảm Tiêu thụ điện cho sinh hoạt và chi phílàm mát trong các ngành công nghiệp, giao thông, thương mại và các lĩnh vực khác cũnggia tăng đáng kể
Giao thông vận tải: BĐKH có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến giao thông vận tải như:làm tăng ngập lụt của nhiều tuyến giao thông, xói lở mặt và nền đường Cạn kiệt dòngchảy về mùa khô dẫn đến giao thông thủy bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Công nghiệp và xây dựng: Các khu công nghiệp phải đối diện nhiều hơn với nguy
cơ ngập lụt và thách thức trong thoát nước do nước lũ từ sông và mực nước biển tăng.BĐKH làm tăng khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngànhcông nghiệp và xây dựng như dệt may, chế tạo, khai thác và chế biến khoáng sản, nông,lâm, hải sản, xây dựng công nghiệp và dân dụng, công nghệ hạt nhân, …
3.3.2 Tác động của BĐKH đối với đời sống xã hội của Việt Nam
Trang 19Tác động đến tài nguyên nước
Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình quân đầungười cả nước mặt và nước ngầm là 4.400 m3/người/năm (so với bình quân thế giới là7.400 m3/người/năm) Sự suy thoái tài nguyên nước ngày một tăng về cả số lượng và chấtlượng do nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu quy hoạch vàđặc biệt là sự suy giảm đến mức báo động của rừng đầu nguồn
Dưới tác động của BĐKH, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của thời tiết,khí hậu và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ngọt ở các khíacạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,công nghiệp, năng lượng, giao thông, đều tăng Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước củacác thủy vực cũng tăng.Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng
và chất lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn
- Những thay đổi về mưa, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông
và cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước ngầm
- Khi rừng đầu nguồn bị mất sẽ làm tăng dòng chảy đột ngột ở các sông vào mùamưa gây ra lũ lụt, sạt lở, xói mòn Nhưng vào mùa khô không còn rừng để giữ nước nêncác dòng chảy cũng giảm dần dẫn đến nạn thiếu nước sẽ trầm trọng hơn
Tác động đến đa dạng sinh học
Hậu quả do BÐKH toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng, trong đó có tác động đếnÐDSH - nguồn tài nguyên quý giá của đất nước Theo dự báo của IPCC, BÐKH sẽ tácđộng mạnh lên hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, các vùng dọc bờ biển
và các hệ sinh thái rừng trong cả nước.Trong đó, nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngậpmặn của Cà Mau, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Ðịnh
Các thay đổi diễn ra sẽ đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài,các hệ sinh thái BÐKH làm tăng nguy cơ diệt chủng của động, thực vật, làm biến mấtcác nguồn gien quý, hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh (Thông báo quốc gia lần thứnhất)
Trang 20Nhiệt độ tăng, còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đấtthan bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính vàlàm gia tăng BĐKH.
Tác động đến giáo dục và y tế
Thiên tai ảnh hưởng đến phát triển giáo dục, phá hoại cơ sở hạ tầng giáo dục, giánđoạn thời gian đến trường của học sinh, đặc biệt là ở những khu vực miền núi và đồngbằng sông Cửu Long
BÐKH tăng một số nguy cơ đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinhhọc của con người Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trái đất nóng lên có thể sẽ làmhơn 150 nghìn người chết và năm triệu người bị mắc các chứng bệnh khác nhau Con sốtrên có thể tăng gấp hai lần vào năm 2030
BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai nhưsóng nhiệt, nóng, bão, lũ lụt, hạn hán, Dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàncảnh nhiều bệnh sẽ gia tăng nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét, sốtxuất huyết, viêm não (do muỗi truyền) Bên cạnh đó, sự thay đổi môi trường bên ngoài sẽ
là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh đường hô hấp (viêm xoang, cảm cúm, …) Một
số bệnh truyền qua môi trường nước cũng có xu hướng gia tăng do BĐKH (tiêu chảy,viêm đường ruột, đau dạ dày, …) Ngoài ra, BĐKH còn là nguyên nhân dẫn đến sự giatăng nghèo đói và suy dinh dưỡng ở trẻ em.Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tớicác vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao (Theo IPCC, 2007)
Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người
và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh ) nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bấtthường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hại đáng kể
Tác động đến văn hóa và du lịch
Với địa hình trải dài từ bắc đến Nam, nước ta được đánh giá là có tiềm năng rất lớntrong phát triển du lịch biển.Hiện cả nước có hơn 125 bãi tắm lớn nhỏ, trong đó có 20 bãibiển đạt tiêu chuẩn quốc tế Các bãi biển của Việt Nam nhìn chung khá bằng phẳng, nướctrong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ, rất thích hợp cho tắm biển và các
Trang 21hoạt động vui chơi giải trí trên biển Tuy nhiên, BĐKH làm nhiệt độ tăng và nước biểndâng đe dọa tương lai của ngành du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng tại Việt Nam.Dưới tác động của BĐKH sẽ làm gia tăng dịch bệnh Thực tế cho thấy, dịch bệnhliên tục xuất hiện từ 2003 đến nay như SARS, cúm gia cầm, tiêu chảy… đã ảnh hưởngkhông nhỏ tới hoạt động du lịch tại Việt Nam.
Nước biển dâng sẽ làm cho tài nguyên du lịch bị suy thoái, mất mát về lượng (quỹđất phát triển các khu du lịch và tổ chức các hoạt động du lịch bị thu hẹp Đặc biệt là cáckhu du lịch duyên hải miền Trung sẽ đứng trước nguy cơ sạt lở các dải đất ven biển, …)cũng như về giá trị phục vụ Điều này sẽ dẫn đến suy giảm các tiền đề phát triển du lịchbiển đảo nói riêng và cả nước nói chung (Lê Trọng Bình, 2009)
Tác động đến cơ sở hạ tầng
Theo đánh giá của IPCC, do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, có khả năngmực nước biển sẽ dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21, nếu Việt Nam không nhanh chóngxây dựng và nâng cấp hoàn chỉnh hệ thống đê biển để ứng phó, thì hàng năm có đến40.000km2 vùng ven biển sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, trong đó 90% diện tích đồng bằngsông Cửu Long bị ngập hoàn toàn, thiệt hại về tài sản lên tới 17 tỷ USD
Đến năm 2007, hầu hết các tuyến đê sông ở Bắc và Trung Bộ căn bản đã đủ sứcchống được lũ, tuy nhiên, hệ thống đê biển vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập, nhất là trướcnhững cơn bão lớn Theo Bộ Nôngnghiệp & Phát triển Nông thôn, kinh phí chỉ riêng đểxây dựng, gia cố 518 km đê biển và 326 kè sông của 13 tỉnh thành từ Quảng Ngãi đếnKiên Giang đã là 10.000 tỷ đồng.Số tiền này cũngtương đương với tổng thiệt hại bão số 6năm 2006 tàn phá nặng nề các tỉnh miền Trung
Mực nước biển dâng cao kèm theo mưa bão lớn hơn có thể sẽ gây ngập lụt cáctuyến đường sắt ở vùng duyên hải, sân bay, phá huỷ cầu cống và hệ thống ống dẫn
Tác động đến di dân và tái định cư
Vùng ven biển, đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và miền núi phía Bắc lànhững vùng dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của BĐKH, sẽ thường xuyên bị ngập lụt, tácđộng bởi xói lở bờ biển, lũ quét và xâm nhập mặn sẽ diễn ra nghiêm trọng hơn, nhiều bộphận dân cư phải di dời đến nơi khác (Thái Chuyên, 2008)
Trang 224 Khung nghiên cứu lý thuyết
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Về nội dung nghiên cứu
Phương pháp lượng giá, trong đó sẽ đo lường:
+ Chi phí – lợi ích trong việc lựa chọn các biện pháp thích nghi
+ Vấn đề lựa chọn chuyển đổi ngành nghề
Phương pháp này được hỗ trợ bởi các công cụ nghiên cứu: bảng hỏi, bảng đánh giá nhanh, các công cụ tính toán khác
Phương pháp định tính, trong đó sẽ làm sáng rõ:
+ Nhận thức của người dân về sự thích nghi với biến đổi khí hậu
+ Đánh giá của người dân về các chương trình hỗ trợ của nhà nước
Điều kiện TN – KT - XH
Vấn đề BĐKH khu vực cộng đồng dân cư ven biển
Thích nghi của cộng đồng
Mong đợi – khuyến nghị
Trang 23+ Các nguyện vọng của người dân về các giải pháp thích nghi với biến đổi khí hậu.Phương pháp này được hỗ trợ bởi các công cụ nghiên cứu: bảng phỏng vấn sâu, kết quả đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA).
5.2 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài là cộng đồng dân cư nông thôn miền biển thuộc vùng chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu theo các tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu
Đại diện cơ quan chính quyền cùng các ban ngành đoàn thể tại địa phương điển cứu
là những đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc đề ra kế hoạch, triển khai các chính sách về biến đổi khí hậu
Đại diện các nhà chuyên môn thuộc các cơ quan, ban ngành: Sở tài nguyên – môi trường tỉnh, Phòng Phát triển nông thôn - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội nông dân, Hội khuyến nông v.v…
5.3 Về địa bàn nghiên cứu
Dựa vào tiêu chí điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội, địa lý và lịch sử khai thác địabàn để chọn khu vực nghiên cứu, khu vực được chọn là huyện Đất Đỏ và huyện Long Điền với các cộng đồng dân cư sống ở khu vực ven biển, với nghề nghiệp phụ thuộc vào nguồn tài nguyên của biển, nơi đã từng chịu tác động và thiệt hại lớn bởi biến đổi khí hậutrong những năm gần đây
5.4 Về phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu
Nguồn tài liệu thứ cấp:
Tham khảo tài liệu từ 3 nguồn chính:
- Tài liệu trong Trường: các Đề tài nghiên cứu khoa học
- Các đề tài nghiên cứu, các báo cáo của Tỉnh và các ban ngành chức năng trực thuộc và có liên quan (Sở tài nguyên – môi trường tỉnh, Phòng Phát triển nông thôn - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh, Phòng Nông nghiệp - Phòng Thống kê và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của huyện…)
- Sách báo và các phương tiện truyền thông
Nguồn tài liệu sơ cấp
Trang 24Tiến hành bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu
a Bảng hỏi :
- Bảng hỏi dành cho các hộ dân
- Tiến hành khảo sát 110 hộ dân sinh sống tại khu vực nông thôn miền biển chia đềucho hai khu vực điển cứu, Phước Hải và Phước Tỉnh
c Các công cụ khác : quan sát, vẽ bản đồ, sơ đồ
5.5 Về giới hạn nghiên cứu
Đề tài không đi sâu vào phân tích lịch sử hình thành và cơ chế của biến đổi khí hậu
mà đi vào phân tích trực tiếp các tác động của biến đổi khí hậu lên đời sống người nông dân miền biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về kinh tế và xã hội, tìm hiểu các hoạt động thích nghi của người dân cũng như nghiên cứu các hành vi và thái độ lựa chọn của người dân đối với các biện pháp giải quyết vấn đề kinh tế cho gia đình, nhất là để đối phó với biến đổi khí hậu
Trang 25PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
I.1.1 Tổng quan tự nhiên
I.1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Đồng Nai, phía Tây giáp với TP.Hồ Chí Minh, phía Đông giáp Bình Thuận còn phía Nam giáp Biển Đông
Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ Vị trí này cho phép tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển Ở vị trí này, Bà Rịa-Vũng Tàu có điều kiện phát triển tất cả các tuyến giao thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một địa điểm trung chuyển đicác nơi trong nước và thế giới
I.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Diện tích tự nhiên: 1989,5 km2 bao gồm 02 thành phố ( Vũng Tàu, Bà Rịa), 06 huyện ( Tân Thành, Châu Đức, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Côn Đảo) trong đó chỉ
có 01 huyện ( Châu Đức) là không có biển và 01 huyên đảo (Côn Đảo)
I.1.2 Đặc điểm khí hậu
Trang 26Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt.Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam.Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình hang năm là 27 dộ C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 độ C, tháng cao nhất khoảng 28,6 độ C Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ Lượng mưa trung bình 1500 mm Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.
I.1.3 Đặc điểm thủy văn-hải dương
- Tỉnh có đường bờ biển dài 305 km, trong đó Côn Đảo là 115km Diện tích vùng thềm lục địa khoảng 100.000km2
I.1.4 Tài nguyên khoáng sản
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bà Rịa-Vũng Tàu được Trung ương xác định là cửa ngõ của vùng với nhiều tiềm năng phong phú Trữ lượng dầu khí đã xác định ở vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu cho phép khai thác công nghiệp, hiện đangkhai thác bình quân hang năm 16-17 triệu tấn dầu và 1,5-2 tỷ m3 khí Theo thông tin tư vấn của tổ chức JICA Nhật Bản thì khu vực Sao Mai-Bến Đình, sông Thị Vải phát triển được các cảng nước sâu, tàu trọng tải 6-10 tấn ra vào được Tính có 156 km bờ biển có thể là bãi tắm quanh năm; có 2 khu rừng nguyên sinh, suối nước khoáng nóng và nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng
Với thềm lục địa 100.000 km2, hàng năm khai thác đạt 170.000 – 200.000 tấn.Ngoài
ra còn có 10.000 ha mặt nước để nuôi tôm cá và các loại hải sản khác Đến nay, Chính phủ đã quyết định cho Bà Rịa-Vũng Tàu thành lập 7 khu công nghiệp Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A mở rộng, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1, Phú Mỹ 1, Cái Mép và Đông Xuyên với tổng diện tích 2.549 ha, đã khai thác được 559,1 ha
I.1.5 Đặc điểm xã hội
Trang 27I.1.5.1 Dân số:
- Dân số: 1.027.226 người (2011)
- Mật độ dân số: 516 người/km2
- Tỷ lệ gia tăng tự nhiên: 8,88 phần nghìn
- Số người trong độ tuổi lao động: 771.419 người
I.1.5.2 Thành phần dân cư
- Tỷ lệ dân số thành thị là 49,85%, nông thôn là 50,15%
- Tỷ lệ phân theo giới tính: Nam 49,98% ; Nữ 50,02%
I.1.5.3 Nguồn lao động:
- Số lao động đang làm việc: 438.021 người trong đó nữ là 196.237 người(2011)
- Cơ cấu lao động đang làm việc: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là 39,02% còn lại là công nghiệp và dịch vụ
- Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế: Nhà nước: 14,89% ; Ngoài nhà nước: 76,48%; Khu vực đầu tư nước ngoài: 8,63%
I.2 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
I.2.1 Thị trấn Phước Hải – huyện Đất Đỏ
I.2.1.1 Vị trí địa lý
Phước Hải là một thị trấn ven biển thuộc huyện Đất Đỏ Có vị trí địa lý: phía Đônggiáp xã Lộc An, phía Tây giáp thị trấn Long Hải (thuộc huyện Long Điền), phía Namgiáp biển Đông, phía Bắc giáp xã Long Mỹ và xã Phước Hội
I.2.1.2 Tổ chức hành chính
Đơn vị hành chính xã chia làm 8 khu phố: Lộc An, Phước An, Hải An, Hải Trung,Phước Trung, Hải Lạc, Hải Tân và Phước Điền Tổng diện tích tự nhiên là 1.655,58 ha,
Trang 28địa bàn nằm trải dài từ cửa biển Lộc An đến mũi Kỳ Vân với bờ biển dài 7,8km, phần lớn
là vùng đất cát ven biển với độ cao trung bình từ 10 - 15m so với mực nước biển
Theo thống kê thị trấn có 452 hộ đánh bắt xa bờ và 223 hộ đánh bắt gần bờ Trong
đó, nghề giã cào có 298 chiếc (cào đôi 106 chiếc); lưới chắn ghẹ có 76 chiếc; rập ghẹ có
79 chiếc; lưới rút 17 chiếc; lưới cá 206 chiếc; 09 chiếc ghe vận chuyển dịch vụ nghề cá.Tổng sản lượng đánh bắt hải sản ước được 33.195/31.168 tấn Trong đó hải sản xuấtkhẩu 12.946 tấn, chiếm tỷ trọng 39%
Nông nghiệp
Trong năm 2009, diện tích gieo trồng vượt kế hoạch giao, nhất là diện tích trồng lúa
và rau các loại Thu hoạch và tiêu thụ nông sản thuận lợi do giá cả cao hơn nắm trước Tổng sản phẩm trồng trọt được 1.001,34 tấn Trong đó, sản lượng lương thực có hạt(lúa) là 540/411 tấn, vượt 31,39% chỉ tiêu; sản lượng rau các loại 180/400 tấn, đạt 45%chỉ tiêu; sản lượng thuốc lá là 25,3/20,6 tấn, vượt 22,82%; Sản lượng dưa hấu đạt 256,04tấn (02 vụ)
Tổng đàn gia súc, gia cầm cuối năm là 6.915/10.220 con, đạt 67,67% chỉ tiêu Baogồm: Heo 400/466 con, đạt 85,84% (trong đó xuất chuồng 244 con); Bò 404/622 con, đạt
Trang 2964,95% (trong đó xuất chuồng 43 con); Dê 152/132 con, đạt 115,15% (trong đó xuấtchuồng 115 con); đàn gia cầm 5.959/9000 con, đạt 66,21% (trong đó xuất chuồng 1.875con).
Tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch
Nhìn chung công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch vẫn được duy trì pháttriển, các mặt hàng kinh doanh đa dạng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Việc sử dụng điện thoại, điện lưới, nước sạch vẫn tiếp tục phát triển Hiện tại địabàn thị trấn có 793 hộ kinh doanh (tăng 38 hộ) Hiện đã có 3.570 hộ dân sử dụng nướcsạch, chiếm 75% hộ dân trong thị trấn (trong đó có 1.869 hộ lắp đặt thủy lượng kế, tăng
173 hộ); có 4.369 máy điện thoại (tăng 627 máy), bình quân 19,18 máy/100 dân Đồngthời, Phước Hải có 456 hộ sử dụng và kinh doanh mạng Internet và 99% hộ dân có điệnlưới quốc gia sử dụng, đạt 100% chỉ tiêu
I.2.1.6 Công tác phòng tránh lụt bão
Thị trấn Phước Hải đã xây dựng kế hoạch phòng tránh lụt bão năm 2010 và đượcUBND Huyện có quyết định phê duyệt Cập nhật thông tin diễn biến thời tiết để tổ chứcthực hiện phòng tránh lụt bão giảm nhẹ thiên tai Vận động nhân dân chằn chống nhà cửa
đề phòng chống bão và áp thấp nhiệt đới
Thống kê địa bàn thị trấn Phước Hải có 4.710 căn nhà Trong đó có 223 nhà kiêncố; 3.977 nhà cấp 4; 312 nhà cấp 3 và 198 căn nhà tạm Có 1.112 phương tiện tránh bão,trong đó là 915 hầm; 93 ống cống; phòng trú ẩn 33 và 71 nơi trú ẩn Tổng số hộ chưa cóhầm là 3.063 hộ, trong đó: 2.759 hộ có khả năng xây hầm và 304 hộ không có khả năngxây hầm
Trang 30I.2.2 Xã Phước Tỉnh – huyện Long Điền
I.2.2.1 Vị trí địa lý
Xã Phước Tỉnh là một xã vùng ven biển , nằm về hướng Tây Nam của huyện Long Điền, cách thị xã Bà Rịa gần 15 km theo tỉnh lộ 44, cách thị trấn Long Điền hơn 11 km
và có đường hương lộ 5 đi qua
Diện tích tự nhiên toàn xã là 546,16 ha, bằng 7,09% diện tích toàn huyện Long Điền
Ranh giới hành chính của xã Phước Tỉnh được xác định như sau: Phía Tây và Bắc giáp phường 12 thành phố Vũng Tàu, phía Nam giáp Biển Đông, phía Đông giáp xã Phước Hưng
Xã Phước Tỉnh được chia làm 8 ấp: Phước An, Phước Hiệp, Phước Hương, Phước Tân, Phước Lợi, Phước Bình, Phước Thiện và Tân Phước
I.2.2.2 Địa hình – Địa mạo
Xã Phước Tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho bố trí sử dụng đất Trong 546,16 ha đất tự nhiên của xã có tới 316,2 ha đất có độ dốc 0 - 30 chiếm
57,9%, đất có độ dốc 3 - 80 chiếm 28,84 ha đạt 5,28% còn lại là 201,12 ha đất sông suối, chiếm 36,82%
Bảng 1.1: Địa Hình Xã Phước Tỉnh Phân Theo Cấp Độ Dốc
(Nguồn: Phòng TN- MT huyện Long Điền, 2009)
Toàn xã có hai dạng địa hình chính, được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Phân Loại Địa Hình Của Xã Phước Tỉnh
Trang 31Phân loại Độ cao Độ dốc Đặc tính
Địa hình đồi lượn
sóng
7 - 10,5m 3 - 80 Địa hình dốc thoải,
gồm những gò cát ven biển
có RNM che phủ
(Nguồn: Phòng TN- MT huyện Long Điền, 2009)
I.2.2.3 Khí hậu – Thời tiết
Xã Phước Tỉnh mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương
Nền nhiệt cao đều quanh năm từ 26,30C, tổng tích ôn: 9,5990C
Số giờ nắng: 2610 giờ/năm
Tổng lượng bức xạ bình quân: 395 - 521 Cal/cm2/ngày
Rất ít xảy ra các giá trị và hiện tượng thời tiết cực đoan như nhiệt độ nhỏ hơn 150C hoặc lớn hơn 400C, chỉ chịu ảnh hưởng của bão và giông nhiệt
Lượng mưa trung bình đạt 1.352 mm/năm, chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa kéo dài 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10, nhưng mưa thật sự bắt đầu vào ngày 24/5 và kết thúc vào ngày 13/10
Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa đạt 1.238 mm/năm, chiếm khoảng 87- 90% tổng lượng mưa cả năm
+ Mùa khô bắt đầu từ ngày 5/11 và kết thúc vào ngày 5/5 Mùa này lượng mưa rất thấp, bức xạ mặt trời cao làm tăng quá trình bốc hơi nước một cách mãnh liệt
I.2.2.4 Hiện trạng kinh tế
Cơ cấu kinh tế
Trang 32Cơ cấu kinh tế cuả xã được xác định là ngư nghiệp - thương mại dịch vụ - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Theo đó, kinh tế biển được coi là ngành kinh tế mũi nhọn cuả địa phương Tốc độ sản xuất của các ngành nhìn chung có xu hướng tăng, trong đó tốc độ sản xuất của ngành nông nghiệp qua các năm có xu hướng giảm, đặc biệt giảm mạnh trong đầu năm 2007 Mức tăng trưởng GDP bình quân trong năm 2005 là
10%/năm, đến năm 2006 và 2007, con số này là 12,6%/năm
I.2.2.5 Hiện trạng xã hội
(Nguồn: UBND xã Phước Tỉnh, 2008)
Phước Tỉnh là một xã ven biển, có thế mạnh về khai thác hải sản.Đời sống người dân điạ phương đa phần ở mức trung bình khá trở lên Trong 03 năm từ 2005 đến 2007, dân số toàn xã có tăng nhưng chỉ ở mức thấp, từ 24.055 người năm 2005 lên 24.252 người năm 2006 Đến năm 2007 con số này là 24.730 người
Nhìn chung, công tác kế hoạch hoá gia đình được thực hiện tốt và ý thức của người dân ngày càng cao nên mức tăng dân số qua các năm không đáng kể
Mật độ dân số trung bình toàn xã ước khoảng 211 người/ km2, ở mức tương đối cao.Ngoài nguồn lao động dồi dào cuả địa phương, Phước Tỉnh cũng thu hút rất nhiều lao động từ các nơi khác đến tham gia vào hoạt động đánh bắt cá, chế biến hải sản và các ngành nghề phục vụ kinh tế biển
Số hộ nghèo qua các năm của xã Phước Tỉnh nhìn chung ở mức thấp, cụ thể năm
2005 toàn xã chỉ có 13 hộ nghèo Đến năm 2006 do quy định về ngưỡng xác định hộ nghèo có thay đổi nên số hộ nghèo qua 2 năm 2006 – 2007 tăng lên Tổng số hộ nghèo
Trang 33năm 2006 là 246 hộ, năm 2007 là 265 hộ Như vậy, giai đoạn 2005 – 2006 số hộ nghèo tăng lên 233 hộ, giai đoạn 2006 – 2007 số hộ nghèo tăng lên 19 hộ.
Lao động
Do có ưu thế về kinh tế biển nên phần đông lao động của xã đều tham gia vào ngư nghiệp, kế đến là các ngành nghề phục vụ cho hoạt động đánh bắt thủy hải sản Hàng năm vẫn có một nguồn lao động từ các nơi khác đến xã Phước Tỉnh tạo cho xã nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên, nguồn lao động này cũng mang tính mùa vụ, không ổn định, chủ yếu là phục vụ cho nghề cá, với tỷ lệ xấp xỉ là 50% tổng số lao động của toàn xã
Có khoảng 60% dân số toàn xã nằm trong độ tuổi lao động, trong đó lao động ngư nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất ( gần 50% nguồn lao động của địa phương ), kế đến là lao động TM – DV và lao động CN – TTCN, lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất
Thu nhập
Nguồn thu nhập lớn nhất của người dân vùng biển xã Phước Tỉnh nói chung là do hoạt động ĐBHS đem lại Đứng thứ hai là hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ, hầunhư đóng góp của nông nghiệp là không đáng kể Do tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh nên thu nhập bình quân người /năm của xã cũng ở mức độ cao Vì thế số hộ nghèo chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, khoảng hơn 1% dân số toàn xã
Dân tộc
Toàn xã có 07 dân tộc anh em cùng sinh sống: Kinh, Chăm, Nùng, Tày, Mường, Thái, Khơme Trong đó người Kinh chiếm đại đa số, khoảng 99,7% và các dân tộc anh
em chỉ chiếm 0,3% dân số
I.2.2.6. Ảnh hưởng của thiên tai đến đời sống, sinh kế của người dân
Ngư nghiệp là một trong những ngành có hoạt động chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, đặc biệt là giông bão, lốc xoáy, triều cường.Từ năm 2005 đến năm 2007, trên địa bàn
xã Phước Tỉnh đã xảy ra nhiều trận bão, gây không ít khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Mỗi khi có thiên tai xảy ra, tàu phải nằm bờ, kéo theo một số lượng lớn ngư dân thất nghiệp Một số tàu vì kế mưu sinh phải bám biển trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, gây nguy hiểm về tính mạng và tài sản
Trang 34Bảng 1.4: Ảnh Hưởng Của Cơn Bão Số 9 Tháng 12 Năm 2006
Số tàu bị chìm
Ước tính tổng thiệt hại Tỷ đồng Tàu 10304
(Nguồn: UBND xã Phước Tỉnh, 2008)
Cơn bão số 9 tháng 12 năm 2006 là một cơn bão lớn, làm thiệt hại nhiều nhà cửa, tàu thuyền , gây ra tâm lý bất ổn cho người dân Theo thống kê không có người chết và mất tích nhưng thiệt hại về nhà cửa là rất lớn ( 4313 căn nhà bị hư hỏng, tốc mái ), 04 tàu đánh bắt bị chìm và nhiều tài sản khác bị phá hủy Hậu quả của cơn bão này theo ước tính
về thiệt hại là trên 100 tỷ đồng
I.3 Tác động của BĐKH lên đời sống kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
I.3.1 Tác động của BĐKH lên đời sống kinh tế - xã hội
I.3.1.1 Chuyển sang trạng thái bán khô hạn và các hệ lụy
Tăng nhiệt độ đến 2,80C, khô hạn hóa là những cảnh báo có nhiều tin cậy đối với
BR – VT Điều này được Nguyễn Đình Hòe và Đặng Đình Long phân tích dựa trên cơ sởphân tích chuỗi số liệu mưa và bốc hơi hơn 30 năm qua, cũng như sự xuất hiện cảnh quanbán khô hạn ở một số vùng trong tỉnh
Trang 35Khô hạn và sự thiếu hụt nguồn nước sẽ làm năng suất nông nghiệp giảm sút.Nhiềuloại dịch bệnh trên cây trồng của vùng khí hậu nóng Tây Nam Bộ sẽ có khả năng xâm lấnvào tỉnh.Các giống cây trồng ưa nước sẽ không cho năng suất và bị các loài ưa khô hạnthay thế, dẫn đến khủng hoảng các hệ sinh thái nông nghiệp bản địa.Xu thế này tất yếudẫn đến việc nông dân lạm dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật, làm chođất bị suy thoái và chất lượng nông sản không cao.
Thiếu hụt nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt dẫn đến việc khai thác quámức Hiện tượng nhiễm mặn và ô nhiễm nước ngầm gia tăng Mỏ nước ngầm Bà Rịa –nguồn cung cấp nước chủ yếu hiện nay của tỉnh vốn nằm ngay sát biên mặn (1mg/lit), cónhiều khả năng bị nhiễm mặn và tiến tới mất khả năng cấp nước Thiếu nước sinh hoạtdẫn đến nhiều loại bệnh mới có khả năng phát triển như tiêu chảy, thương hàn, bệnhngoài da do phải sử dụng nước không đảm bảo chất lượng.Ngoài ra, các bệnh liên quanđến muỗi như sốt rét, sốt xuất huyết là những dịch bệnh có thể gia tăng
I.3.1.2 Những thách thức ở vùng bờ
Dâng cao mực nước biển với biên độ như được dự báo là một thảm hoạ đối vớivùng bờ BR – VT Phần đất liền vùng bờ có tổng diện tích 720,04 km2, chiếm 36,46%diện tích toàn tỉnh (1975,14 km2) Hơn nữa, dân số của vùng bờ chiếm khoảng 55% dân
số toàn tỉnh Tổng giá trị kinh tế vùng bờ năm 2003 chiếm khoảng 64% giá trị kinh tếtoàn tỉnh không kể dầu khí
Nếu con người không hành động gấp để kiểm soát BĐKH thì đến năm 2050 san hô
sẽ bị huỷ diệt trên quy mô toàn cầu Điều đó thực sự là một thảm hoạ, vì nếu không cònsan hô thì nguồn lợi thủy sản - thế mạnh của tỉnh BR – VT và đồng thời là nguồn sốngcủa hàng vạn dân nơi đây sẽ bị khủng hoảng nghiêm trọng
Xói lở bờ biển và nguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguyhiểm Theo kịch bản dâng cao mực nước biển Việt Nam, đến 2050 nước biển sẽ dâng caothêm 33cm, theo quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói lở sẽ là 330m -3300m, có nghĩa là một phần lớn dải đất thấp ven bờ phía Đông của tỉnh - nơi tập trung
Trang 36cơ sở hạ tầng du lịch và nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, nơi cư trú của hàng vạn hộgia đình sẽ bị sóng phá hủy.
Hình 1.2: TP Vũng Tàu có Nguy Cơ bị Ngập do Nước Biển Dâng
(Nguồn: Google Earth, 2008)
Những thành công trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo của tỉnh nhà có thể bị BĐKHlàm sút giảm, thậm chí có thể xóa sạch Hơn thế nữa, việc di dân tái định cư cho hàng vạn
hộ gia đình là thách thức lớn không chỉ về quỹ đất lúc đó đã trở nên hạn hẹp, kinh phí lớn
mà còn làm xáo trộn sinh kế của khoảng 50% dân số cả tỉnh đang cư trú ở vùng bờ,không ít trong số đó lại tái nghèo
I.3.2 Tình hình BĐKH trong những năm vừa qua tại BR – VT
I.3.2.1 Nhiệt độ
Biểu đồ 1.1: Nhiệt độ trung bình tại BR – VT qua các năm
Trang 37Nhiệt độ trung bình
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực phía Nam, 2010)
Hình 1.3 cho thấy, nhiệt độ tại BR – VT trong những năm gần đây có nhiều biếnđộng theo xu hướng tăng lên Trong hơn 30 năm qua (1978 – 2009), nhiệt độ tại BR- VT
đã tăng lên 0,50C Trong thập kỷ 1978 – 1988 nhiệt độ tăng lên trung bình khoảng 0,020Cmỗi năm Thập kỷ tiếp theo (1988 – 1998), nhiệt độ vẫn tiếp tục tăng và tăng cao nhấtvào năm 1998 ở mức 28,20C Những năm gần đây, nhiệt độ cũng luôn ở mức tương đốicao, tăng hơn thập kỷ trước 0,170C Nhiệt độ liên tục tăng cao như vậy ảnh hưởng đếnnhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội, đòi hỏi người dân bỏ thêm nhiều chi phí cho các hoạtđộng chống nắng nóng, bảo đảm sức khỏe gia đình mùa nắng nóng.Ngoài ra, những diễnbiến phức tạp của nhiệt độ trung bình năm thể hiện cụ thể qua tháng nắng nóng kéo dài,thời tiết hanh khô hơn cũng gây không ít lo ngại cho cộng đồng địa phương
I.3.2.2 Lượng mưa
Biểu đồ 1.2:Lượng mưa trung bình tại BR – VT qua các năm
Trang 381500
2000
2500
Nămmm
Tổng lượng mưa
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực phía Nam, 2010)
Qua biểu đồ 1.2 ta thấy, tổng lượng mưa trung bình hàng năm trong hơn 20 nămqua tại BR – VT ổn định nhưng có xu hướng đi theo chiều giảm dần Lượng mưa trungbình năm nhiều nhất vào năm 1990 (ở mức 1981,8 mm/năm) Lượng mưa trung bình thấpnhất vào năm 2004 (ở mức 1197,5mm/năm) Bên cạnh đó, từ năm 1997 trở đi, lượng mưa
có chiều hướng giảm và qua nhiều năm có lượng mưa rất thấp gây nhiều ảnh hưởngnghiêm trọng đến hoạt động sản xuất cũng như việc sinh hoạt của người dân Mặt khác,các diển biến bất thường của thời tiết như mưa bão lại diễn ra rất thất thường trong nhữngnăm từ 2005 – 2009 gây ra những thiệt hại rất lớn Riêng trong năm 2009, có 11 cơn bãoxuất hiên trên biển Đông, trong đó con bão số 6 (Gino) và cơn bão số 9 (Ketsana) đã gâymưa và dông trong khu vực đất liền tỉnh BR – VT, các cơn bão còn lại không ảnh hưởngđến đất liền nhưng gây gió Tây Nam mạnh cấp 6, cấp7, giật trên cấp 7 và biển độngmạnh Hiện tượng mưa bão xuất hiện trong những năm gần đây được cho là khá hiếm hoiđối với khu vực tỉnh BR – VT, vì vậy cũng gây không ít lo lắng và quan ngại từ phíachính quyền địa phương và cộng đồng dân cư về vấn đề an toàn tính mạng, tài sản vànghề nghiệp, nhất là trong các cộng đồng có hoạt động ngư nghiệp mạnh mẽ
I.3.2.3 Mực nước biển
Biểu đồ 1.3:Mực nước biển tại BR – VT qua các năm
Trang 39Mực nước biển
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực phía Nam, 2010)
Theo biểu đồ trên,tình hình tăng lên của mực nước biển từ năm 1979 đến 2009 đangdiễn ra rất rõ rệt.Mực nước biển trong 3 thập kỷ qua liên tục tăng với tốc độ trung bình0,37cm mỗi năm và biến động nhiều nhất trong thập kỷ từ (1988– 1998) Nước biển dângcao nhất vào năm 1994 (ở mức 271cm so với cao độ 0) với cao độ 0 là một vạch chuẩndùng làm mốc trên thước đo mực nước biển Đến thập kỷ (1999 – 2009) mực nước biển
có xu hướng tăng đều qua các năm ở mức trung bình 269cm so với cao độ 0 Trongkhoảng 30 năm qua, mực nước biển đo tại Trạm hải văn Vũng Tàu dâng lên khoảng11cm.Đặc biệt tại khu vực nghiên cứu là xã Phước Tỉnh, hiện tượng nước biển xâm lấn
đã diễn ra khá rõ rệt trong nhiều năm trở lại đây, đặt ra các thử thách cho chính quyền địaphương trong công tác giữ đê, giữ đất đai nông nghiệp cho khu vực Ngoài ra, hiện tượngnước biển dâng cũng đã tác động đến nhận thức của người dân địa phương về vấn đềBĐKH, người dân bắt đầu có ý thức cao hơn về những diễn biến bất thường của khí hậu
và thời tiết trong những năm gần đây, không còn duy trì tâm lý chủ quan
I.4 Đặc điểm dân số nghiên cứu
Bảng 1.5: Giới tính người được phỏng vấn
Trang 40Nam 29 52.7 33 60.0 62 56.4
(Nguồn: Phỏng vấn bảng hỏi, 2010)
Trong tổng số 55 người được phỏng vấn ở thị trấn Phước Hải thuộc huyện Đất Đỏ,
nữ chiếm tỷ lệ 47.3% và nam chiếm 52.7% Ở xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền) tỉ lệ nữchiếm 40.0% và nam chiếm 60.0% Tỉ lệ nam và nữ ở hai địa bàn không có chênh lệchlớn và mỗi nhóm giới tính có những mối quan tâm và vai trò riêng liên quan đến vấn đềđược nghiên cứu
Bảng 1.6: Tuổi người được phỏng vấn
là tỷ lệ phổ biến tại từng địa bàn phỏng vấn Cụ thể ở thị trấn Phước Hải có 58.2% ngườiđược phỏng vấn có độ tuổi từ 41 đến 60 tuổi, ở xã Phước Tỉnh thì tỷ lệ này cao hơn, là65.5% Với độ tuổi từ 21 đến 40 tuổi thì ở thị trấn Phước Hải có tỉ lệ chiếm 40.0%, còn ở
xã Phước Tỉnh chiếm 32.7%
Bảng 1.7: Trình độ học vấn người được phỏng vấn