1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết

107 2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm và tăng hiệu quả quản lý sông Cà Ty là Chính quyền địa phương cần nhanh chóng có giải pháp huy động vốn triển khai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ XUÂN CHI

MỨC SẴN LÒNG TRẢ

ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

SÔNG CÀ TY, PHAN THIẾT

Chuyên ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường

LUẬN VĂN THẠC SỸ MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 4/2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin gởi những dòng tri ân đến Ba Má và cả gia đình, những người đã sinh thành, nuôi nấng, khích lệ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tác giả xin cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi nền tảng kiến thức vững chắc về chuyên ngành Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phan Thị Giác Tâm – Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh – đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài “Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty, Phan Thiết”

Xin cảm ơn sự hỗ trợ của Chính quyền địa phương ở Phan Thiết, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình từ Ông Lê Nam Quốc – Chi cục Thủy lợi Bình Thuận; Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Phan Thiết; Ủy ban Nhân dân Phường Phú Thủy, Đức Nghĩa và Xã Tiến Lợi trong việc tạo điều kiện cho tôi thu thập tài liệu và tổ chức khảo sát tại địa bàn

Ngoài ra, tác giả cũng rất cảm ơn nhóm sinh viên K26 của Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ trong giai đoạn phỏng vấn hộ dân ở thành phố Phan Thiết vào tháng 7/2011

Xin cảm ơn tất cả bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi, đặc biệt là bạn Nguyễn Văn Hậu và anh Phạm Ngọc Anh Tuấn Sự đồng hành của các bạn đã tiếp thêm nghị lực cho tôi hoàn thành luận văn này

Trang 3

TÓM TẮT

NGUYỄN THỊ XUÂN CHI Tháng 4 năm 2012 Mức sẵn lòng trả để cải thiện

chất lượng nước sông Cà Ty, Phan Thiết.

Mục tiêu chính của đề tài là ước lượng mức sẵn lòng trả WTP) trung bình của người dân Phan Thiết cho dự án cải thiện chất lượng nước sông

(Willingness-to-Pay-Cà Ty để đưa ra giải pháp về huy động sự đóng góp của người dân địa phương cho dự

án này Đề tài áp dụng phương pháp Định giá Ngẫu nhiên (Contingent valuation Method-CVM) là phương pháp được áp dụng phổ biến trên thế giới về định giá việc cải thiện chất lượng nước Đề tài thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn 169 hộ sống tại Phan Thiết được chọn ngẫu nhiên với phiếu khảo sát Kết quả ước lượng cho thấy

số tiền trung bình một hộ dân đồng ý đóng góp là 399,434 VNĐ, từ đó suy ra tổng giá trị kinh tế của sông Cà Ty đối với người dân Phan Thiết là 21,432,738,810 VNĐ Khoản tiền này có thể là nguồn ngân sách bổ sung cho dự án

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả là tính phù hợp của dự án, mức độ hài lòng đối với các chương trình đóng góp trước đây, thu nhập gia đình và mức giá đề xuất Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm và tăng hiệu quả quản lý sông Cà Ty là Chính quyền địa phương cần nhanh chóng có giải pháp huy động vốn triển khai các dự án về vấn đề môi trường sông Cà Ty (có thể huy động đóng góp từ người dân); xây dựng chiến lước truyền thông nâng cao ý thức người dân

về vai trò, các giá trị của nguồn nước và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên nước khỏi ô nhiễm và suy thoái; hoàn thiện cơ chế quản lý, giải quyết triệt để và xử phạt nghiệm khắc những trường hợp vi phạm gây tổn hại đến chất lượng nước sông

Trang 4

NGUYEN THI XUAN CHI April, 2012 The Willingness to Pay for

Improved Water Quality in Ca Ty River, Phan Thiet City.

With the main objective is to estimate the mean willingness to pay (WTP) of people in Phan Thiet City for improved water quality in Ca Ty River, the contingent valuation method (CVM) is used to ask people about the money they want to pay to carry out some parts of the two environmental projects of Ca Ty River This thesis is the first study which research on total economic value of water resources in Phan Thiet City, do promote a new way of environmental searching at this site

The result is that each household in Phan Thiet will agree to pay the everage money is 399,434 VNĐ, so total economic value of Ca Ty River is 21,432,738,810 VNĐ This money might be supplementary budget of the projects Besides, we also put forward a great many ideas to solve the pollution and improve sustainability management effect on Ca Ty River forwards community participation

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN II

MỤC LỤC V

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VII

DANH MỤC CÁC BẢNG VIII

DANH MỤC CÁC HÌNH X

PHỤ LỤC XI

CHƯƠNG 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chính 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 2 5

TỔNG QUAN 5

2.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 5

2.1.1 Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá trong lĩnh vực tài nguyên nước 5

2.1.2 Tài liệu nghiên cứu về sông Cà Ty và một số dự án đầu tư 9

2.2 Đặc điểm khái quát về địa bàn nghiên cứu 10

2.2.1 Giới thiệu về thành phố Phan Thiết 10

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên 10

2.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 13

2.2.2 Tổng quan sông Cà Ty 14

2.2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 14

2.2.2.2 Tình hình ô nhiễm sông Cà Ty 18

CHƯƠNG 3 23

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

Trang 6

3.1 Cơ sở lý luận 23

3.1.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên nước 23

3.1.2 Định giá tài nguyên môi trường 23

3.1.2.1 Khái niệm định giá tài nguyên môi trường 23

25

3.1.2.2 Vai trò của định giá tài nguyên môi trường trong việc ra quyết định 26

3.1.3 Cơ sở lý thuyết của phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) 27

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 33

3.2.1.1 Số liệu thứ cấp 33

3.2.1.2 Số liệu sơ cấp 33

3.2.2 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) 36

3.2.2.1 Xây dựng tình huống giả định 36

3.2.2.2 Thiết kế bảng hỏi ban đầu 36

3.2.2.3 Phỏng vấn thử nghiệm bảng câu hỏi 38

3.1.2.4 Triển khai điều tra và xử lý số liệu 38

CHƯƠNG 4 41

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41

4.1 Mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu điều tra 41

4.2 Nhận thức của người dân về các giá trị của sông Cà Ty 42

4.3 Nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty 44

4.2.1 Nhận thức về hiện trạng ô nhiễm và các nguyên nhân gây ô nhiễm 44

4.2.2 Nhận thức về những vấn đề do sự ô nhiễm sông Cà Ty gây ra 47

4.2.3 Nhận thức về mức độ ảnh hưởng trực tiếp đối với người được phỏng vấn 49

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty 51

4.5 Ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình 55

4.5.1 Kết quả ước lượng 55

4.5.2 Kiểm định tính hiệu lực của mô hình 57

4.5.2.1 Hệ số tương quan 57

4.5.2.2 Dựa vào hệ số Sig 57

4.5.2.3 Dựa vào R2 57

4.5.2.4 Dựa vào khả năng dự đoán của mô hình 57

4.5.3 Mức sẵn lòng trả trung bình 58

4.6 Giải pháp đề xuất 59

CHƯƠNG 5 62

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Kiến nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBA : Phân tích chi phí – lợi ích

CVM : Phương pháp định giá ngẫu nhiên

CTCQ&VSMT : Cải tạo cảnh quan và Vệ sinh môi trường ĐTM : Báo cáo đánh giá tác động môi trường

Trang 8

ITCM : Mô hình giá trị du lịch địa phương

PES : Chi trả dịch vụ môi trường

BẢNG 2.2: DÂN SỐ CHIA THEO GIỚI TÍNH VÀ ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH 15

BẢNG 2.3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA LƯU VỰC SÔNG CÀ TY 16

BẢNG 2.4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU NƯỚC MẶT ĐIỂM CẦU TRẦN HƯNG ĐẠO – 2003 18

BẢNG 2.5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU NƯỚC MẶT BỜ KÈ CHẮN SÓNG C2 (HẠ NGUỒN) 19

Trang 9

BẢNG 2.6: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU NƯỚC MẶT GẦN CẦU DỤC THANH 20

BẢNG 3.1: CÁC BIẾN ĐƯA VÀO MÔ HÌNH VÀ KỲ VỌNG DẤU 39

BẢNG 4.1: ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA MẪU ĐIỀU TRA 41

BẢNG 4.2: CÁC GIÁ TRỊ CỦA SÔNG CÀ TY 43

BẢNG 4.3: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY 44

BẢNG 4.4: CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY 45

BẢNG 4.5: NHỮNG ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP DO VẤN ĐỀ Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY GÂY RA 50

BẢNG 4.6: PHẢN ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI CÁC MỨC GIÁ ĐỀ XUẤT 51

BẢNG 4.7: LÝ DO ĐỒNG Ý TRẢ TIỀN CHO DỰ ÁN 52

BẢNG 4.8: LÝ DO KHÔNG ĐỒNG Ý TRẢ TIỀN CHO DỰ ÁN 53

BẢNG 4.9: MIÊU TẢ THÁI ĐỘ CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐỒNG Ý ĐÓNG GÓP THEO MỨC ĐỀ XUẤT 54

BẢNG 4.10: GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CỦA CÁC BIẾN 56

BẢNG 4.11: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH 57

BẢNG 4.12: KHẢ NĂNG DỰ ĐOÁN CỦA MÔ HÌNH 57

BẢNG 4.13: CÁC GIẢI PHÁP ĐƯỢC SẮP XẾP THEO MA TRẬN CHÍNH SÁCH 59

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

HÌNH 2.1: BIỂU ĐỒ SO SÁNH KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU NƯỚC MẶT VÀ QCVN 08:2008/BTNMT TẠI VỊ TRÍ KÈ CHẮN SÓNG C2 20

HÌNH 3.1: SƠ ĐỒ TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA TÀI NGUYÊN NƯỚC .24

HÌNH 3.2: CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TIỀN TỆ CỦA MÔI TRƯỜNG 25

HÌNH 3.3: SƠ ĐỒ KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH CHỌN MẪU 36

HÌNH 4.1: CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY 47

HÌNH 4.2: NHỮNG VẤN ĐỀ DO SỰ Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY GÂY RA CHO CON NGƯỜI 48

HÌNH 4.3: TỶ LỆ HỘ DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP VÀ KHÔNG TRỰC TIẾP BỞI SÔNG CÀ TY 49

HÌNH 4.4: SỐ NGƯỜI TRẢ LỜI “ĐỒNG Ý” TRONG MỖI MỨC GIÁ 51

HÌNH 4.5: TỶ LỆ ĐỒNG Ý GÓP NGÀY CÔNG LAO ĐỘNG CHO DỰ ÁN 55

XI

Trang 11

PHỤ LỤCPHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN I

PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH SỬ DỤNG MINH HỌA CHO BẢNG HỎI X

PHỤ LỤC 3: SỐ LIỆU ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG Ở PHAN THIẾT XII

PHỤ LỤC 4: BẢN ĐỒ VỊ TRÍ SÔNG CÀ TY XII

PHỤ LỤC 5: ĐẶC TRƯNG DÒNG CHẢY NĂM TẠI MỘT SỐ VỊ TRÍ CHỦ YẾU TRÊN SÔNG CÀ TY XIII

PHỤ LỤC 6: SỐ LIỆU MỰC NƯỚC ĐẶC TRƯNG CỦA SÔNG CÀ TY (CM) XIV

PHỤ LỤC 7: ĐẶC ĐIỂM CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN SÔNG CÀ TY XV

PHỤ LỤC 8: CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGẦM TẠI KHU VỰC SÔNG CÀ TY XVI

PHỤ LỤC 9: SƠ ĐỒ MÔ PHỎNG CÁCH HỎI BIDDING GAME XVIII

PHỤ LỤC 10: THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN BUỔI PRA PHƯỜNG ĐỨC NGHĨA XIX

PHỤ LỤC 11: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH BẰNG SPSS XXI

PHỤ LỤC 12: DANH SÁCH SINH VIÊN THAM GIA PHỎNG VẤN XXV

PHỤ LỤC 13: HÌNH ẢNH TRIỂN KHAI PHỎNG VẤN XXVI

Trang 12

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Tài nguyên nước mặt là một nguồn tài nguyên đa chức năng, cung cấp cho con người rất nhiều lợi ích, không chỉ các lợi ích kinh tế trực tiếp như thủy lợi, cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, giải trí… mà bên cạnh đó còn có những giá trị ẩn Các giá trị này thường rất khó nhận biết, và nếu có nhận biết được thì cũng không có một thị trường nào có thể định giá được bằng một con số cụ thể Ngoài ra, con người vẫn luôn quan niệm và sử dụng nguồn nước như một loại tài sản công cộng miễn phí, dù trả hay không thì họ vẫn được hưởng lợi nên giá trị của tài nguyên nước thường bị đánh giá thấp

Việc này dẫn đến một thực tế là người ta liên tục xả nước thải độc hại xuống sông, ngăn dòng chảy để xây dựng các công trình thủy điện, khai thác quá mức các nguồn lợi từ sông… làm mất cân bằng hệ sinh thái sông, phá hủy môi trường sống của các loài thủy sinh, ô nhiễm nguồn nước, làm cạn dòng chảy, không ít con sông đã bị xóa khỏi bản đồ tự nhiên thế giới…

Thực tiễn ở nhiều nơi cho thấy việc xác định giá trị kinh tế của việc cải thiện chất lượng nguồn nước có ý nghĩa quan trọng Nó giúp cho các nhà quản lý, các cấp chính quyền, cả xã hội và từng người dân nhận thức được giá trị kinh tế của việc cải thiện và duy trì chất lượng nguồn nước; từ đó có những quyết định đầu tư, hỗ trợ, đóng góp và sử dụng hợp lý, đảm bảo lợi ích kinh tế và sinh thái bền vững Tuy nhiên, việc lượng giá lợi ích từ việc nâng cao chất lượng nguồn nước là không đơn giản vì loại dịch vụ này không được mua bán trên thị trường Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng phổ biến nhất để lượng giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường, như cải thiện chất lượng nguồn nước, bằng cách tạo ra thị trường giả định để xác định mức sẵn lòng trả (WTP) hoặc sẵn lòng nhận đền bù (WTA) Vì thế, các

Trang 13

nghiên cứu xác định giá trị kinh tế tài nguyên nước mặt đang được thực hiện ngày càng phổ biến và đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, nơi mà nguồn nước mặt, đặc biệt là các con sông, đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về diện tích lưu vực, lưu lượng dòng chảy, cũng như chất lượng nguồn nước

Sông Cà Ty từ lâu vẫn được nhớ đến như một điểm nhấn ấn tượng và duyên dáng góp phần tạo nên nét đẹp của Thành phố Phan Thiết Con sông chảy qua thành phố như dòng ký ức khắc sâu trong tâm hồn và là niềm tự hào của người dân nơi đây Mặt khác, sông Cà Ty còn là nguồn mưu sinh của một bộ phận lớn dân cư

Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, sông Cà Ty đang hàng ngày bị ô nhiễm bởi nước thải chưa qua xử lý của cả thành phố, hàng chục tấn vỏ sò đổ trộm xuống sông mỗi ngày, người dân lấn chiếm lòng sông để xây cất nhà ở, chất thải của hàng trăm ghe thuyền neo đậu ở khu vực cửa sông… Ngày nay người ta chỉ còn thấy tại nhiều nơi ven sông là các dãy nhà tạm bợ, sông cạn trơ đáy khi nước rút và kèm theo đó là mùi hôi thối rất phản cảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân địa phương

Đây chính là hậu quả của việc các cấp quản lý và người dân địa phương đã

dù Chính quyền địa phương đã hoạch định các dự án cải thiện chất lượng môi trường sông Cà Ty và dự kiến sẽ hoàn thanh vào cuối năm 2012 Tuy nhiên, đến nay các dự án này chỉ đang được triển khai một cách ì ạch và thiếu kiên quyết, một phần khó khăn vì thiếu kinh phí Ngoài ra, chưa có một công trình nghiên cứu nào về những khía cạnh khác của vấn đề sông Cà Ty như: thái độ và hành vi của người dân, những giải pháp xã hội học, chính sách khai thác và quản lý con sông theo hướng bền vững… Xuất phát từ

quan điểm ấy, đề tài “Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty, Phan Thiết” được thực hiện với mong muốn tìm ra một giải pháp huy động nguồn vốn

triển khai các dự án một cách kịp thời và góp phần mở ra một định hướng nghiên cứu mới cho các vấn đề môi trường ở Phan Thiết nói chung

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chính

Mục tiêu chính của đề tài là ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình của người dân thành phố Phan Thiết cho việc cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nước tại khu vực nghiên cứu

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xếp hạng các giá trị của sông Cà Ty

- Đánh giá nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả

- Ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình để cải thiện chất lượng nước sông

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng môi trường và công tác quản lý sông Cà

Ty theo hướng bền vững và có sự tham gia của cộng đồng

1.4 Cấu trúc của luận văn

Luận văn dự kiến sẽ gồm 5 chương

Chương 1: trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

và bố cục của luận văn

Chương 2: tổng quan tài liệu nghiên cứu; điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Phan Thiết; hiện trạng sông Cà Ty

Trang 15

Chương 3: trình bày cơ sở lý thuyết và các phương pháp được sử dụng trong đề tài.

Chương 4: phân tích, thảo luận các kết quả đạt được và các giải pháp cải thiện tình trạng ô nhiễm sông Cà Ty

Chương 5: tóm tắt kết quả của đề tài và kiến nghị đối với các nghiên cứu sau

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu.

2.1.1 Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá trong lĩnh vực tài nguyên nước

Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người ngày càng có nhiều mối quan tâm về các vấn đề môi trường Cho đến nay, các nghiên cứu về xác định giá trị các loại tài nguyên, các dịch vụ môi trường được thực hiện ngày càng nhiều trên thế giới và ở Việt Nam Riêng về tài nguyên nước, đã có nhiều kỹ thuật định giá kinh tế được áp dụng trong những nghiên cứu thuộc lĩnh vực này, như là phương pháp chi phí

du hành (TCM – Travel Cost Method), định giá ngẫu nhiên (CVM – Contingent Valuation Method), phân tích lợi ích-chi phí (CBA – Cost Benefit Analyses), phương pháp tham khảo giá trị (BT – Benefit Transfer)…

CVM đã được áp dụng trong các nghiên cứu về tài nguyên nước từ rất sớm ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong số đó có thể kể đến công trình của Desvousges, Smith và Fisher xuất bản năm 1987 Tác giả đã sử dụng CVM để dự đoán giá trị nhiệm

ý (giá trị lựa chọn sử dụng trong tương lai) cho việc gia tăng chất lượng nước sông Monogahela ở Mỹ Các hộ dân được đưa ba tình huống chất lượng nước sông và họ sẵn lòng trả thêm bao nhiêu cho mỗi trường hợp Tình huống 1: Giữ nguyên chất lượng nước sông ở mức có thể bơi thuyền được như hiện tại (thay vì nó có thể bị suy giảm tới mức không thể bơi thuyền được) Tình huống 2: Nâng cao chất lượng nước từ mức có thể bơi thuyền lên mức có thể câu cá được Tình huống 3: Nâng cao chất lượng nước từ mức có thể bơi thuyền lên mức có thể tắm được Kết quả khảo sát cho thấy người dân đồng ý trả một khoản tiền khá cao (24.5$) cho tình huống 3 Tiếp đến họ lại sẵn lòng trả thêm ít hơn cho tình huống 2 (17.6$) và tình huống 1 (12.4$) Với số liệu này, chúng ta có thể tính toán tổng giá trị lợi ích của việc cải thiện ở mỗi mức chất lượng

Trang 17

nhất định (mức sẵn lòng trả thêm trung bình x số hộ bị ảnh hưởng), so sánh với chi phí cải thiện để xem dự án đó có hiệu quả không (Trích bởi Turner, 1999, tr 109-110)

Trường hợp đập thủy điện Glen Canyon ở Mỹ: Đập này được xây dựng phía trên thượng nguồn của con sông Colorado để khai thác thủy điện, trong khi Khu giải trí quốc gia Glen Canyon (GCNRA) và Công viên quốc gia Grand Canyon (GCNP) ở hạ nguồn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi hoạt động của đập thủy điện này Một trong số những công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề môi trường của đập Glen Canyon là của Bishop và cộng tác viên (1989) CVM được sử dụng để định giá giá trị giải trí (câu cá, bơi thuyền) nếu dòng chảy được duy trì ở hai khu vực dưới hạ nguồn Cuộc khảo sát được thực hiện vào giữa năm 1980 đối với những du khách đến tham quan và cho thấy giá trị này lên đến hai triệu đô-la hàng năm, cao hơn nhiều so với khai thác điện năng Kết hợp với một vài nghiên cứu môi trường sau đó, cuối cùng, Đạo luật Bảo vệ Grand Canyon đã được thông qua năm 1992 để duy trì dòng chảy và bảo vệ dòng sông (trích Loomis, tr.7)

Năm 1998, Du Yaping định giá giá trị của việc cải thiện chất lượng nước cho hoạt động giải trí ở Hồ Đông – Wuhan, Trung Quốc Tác giả áp dụng song song hai phương pháp, đó là định giá ngẫu nhiên và chi phí du hành Các khảo sát cho thấy, trong cả hai phương pháp, mức sẵn lòng chi trả của người dân để cải thiện chất lượng nước là tương đương nhau Từ đó, đề tài này đã chỉ ra rằng, nếu một bảng câu hỏi được thiết kế cẩn thận và một cuộc khảo sát được triển khai tốt thì cả hai phương pháp CVM

và TCM đều có thể áp dụng để xác định giá trị của những loại hàng hóa không có thị trường với những kết quả đáng tin cậy

Ngoài ra, một năm sau đó (1999), Du Yaping còn ứng dụng phương pháp tham khảo giá trị trong định giá việc nâng cao chất lượng nước ở Trung Quốc Cô Du đã so sánh kết quả nghiên cứu của cô với các kết quả nghiên cứu tương tự ở những vùng khác trên thế giới để xem có tương tự với nhau hay không và chúng có ủng hộ cho việc

sử dụng phương pháp tham khảo giá trị hay không Ba trường hợp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là:

Trang 18

(1) Lợi ích kinh tế của việc cải thiện chất lượng nước mặt ở các nước đang phát triển – trường hợp ở Davao, Philippines của Choe, Whittington, và Lauria (1996) Một cuộc khảo sát CVM đưa ra mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước nhưng không có sự khác biệt trong các mức chất lượng.

(2) Nghiên cứu của Carson và Mitchell (1993), đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Tài Nguyên Nước (Mỹ) khảo sát mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước của những con sông ở Mỹ bằng CVM

(3) Công trình của Desvousges, Smith, và Fisher xuất bản năm 1987 đã được trình bày ở phần 2.1.1.1

Phương pháp tham khảo được khuyến khích như một cách đánh giá nhanh, ít tốn kém áp dụng cho các sản phẩm môi trường Nghiên cứu cũng đã chứng minh được giữa giá trị tham khảo và giá trị “thực tế” (trong nghiên cứu của cô Du.) có thể khác nhau trong khoảng dao động từ rất ít cho đến gấp tám lần Tác giả cho rằng việc mô tả các đặc điểm của hàng hóa môi trường trong phương pháp CVM càng cụ thể thì các giá trị tham khảo sẽ càng đáng tin cậy

Churai Tapvong và Jittapatr Kruavan (2003) thực hiện nghiên cứu định giá ngẫu nhiên sông Chao Phraya Với quan điểm cho rằng chính phủ sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc đầu tư kinh phí cho dự án xây dựng hệ thống cống thoát nước nhằm nâng cao chất lượng nguồn nước sông Chao Phraya, nhưng tất cả người dân thành phố Bangkok – Thái Lan cũng cần có trách nhiệm trong việc đóng góp vào chi phí xây dựng, chi phí vận hành và duy trì hệ thống; mục tiêu của đề tài là ước lượng mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước ở sông Chao và đề xuất một số công cụ kinh tế như: phí sử dụng nước, thuế tài sản và các công cụ đo lường khác Phương pháp chính được sử dụng để đạt được các mục tiêu trên là phương pháp định giá ngẫu nhiên Tác giả đã xây dựng hai tình huống giả định (cải thiện chất lượng nước từ mức đi thuyền được đến mức cá có thể sống được và mức có thể bơi lội được) để khảo sát mức sẵn lòng trả trong từng tình huống cụ thể, hình thức đóng góp, quản lý và sử dụng nguồn vốn… để có cơ sở đề xuất các phương án triển khai phù hợp tình hình thực tế Ngoài

ra, nghiên cứu này là một trong những đề tài triển khai một cách bài bản và trình bày rõ

Trang 19

ràng các giai đoạn thực hiện một cuộc khảo sát CVM, thảo luận chi tiết các kết quả đạt được Có thể nói đây là một tài liệu tham khảo quan trọng và rất có giá trị cho các nghiên cứu áp dụng công cụ CVM, đặc biệt là về nguồn tài nguyên nước.

Sau đó, năm 2004, Margaret M Calderon và ctv đã khảo sát về Phí Sử Dụng Nước Cho Hộ Gia Đình ở Thủ Đô Manila, Philippines Bài nghiên cứu đã sử dụng CVM để tìm ra mức sẵn lòng trả của cư dân thủ đô Manila cho việc bảo vệ bốn lưu vực sông: Angat, Ipo, Umiray và La Mesa là những lưu vực chính cung cấp nước cho thủ

đô Manila Kết quả thu được là người dân ở thu đô Manila sẵn lòng trả một mức phí 29 Peso/người/tháng, chiếm 10% tiền hóa đơn nước trung bình hàng tháng và 2% thu nhập trung bình hàng tháng của người được phỏng vấn Trước thực trạng các con sông bị ô nhiễm và hủy hoại, ngoài việc tìm ra một mức giá mà người dân đồng ý chi trả, nghiên cứu này còn đề xuất biện pháp tổ chức triển khai thực hiện việc thu phí sử dụng nước nhằm duy trì bền vững việc cung cấp nước cho thủ đô Manila

Tại Việt Nam , phương pháp CVM cũng đã được sử dụng để xác định Mức Sẵn

Lòng Trả Của Người Sử Dụng Nước ở TP.HCM Để Bảo Vệ Lưu Vực Sông Đồng Na i

(Đặng Thanh Hà, 2008) và Mức Sẵn Lòng Trả Của Người Sử Dụng Nước tại Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai cho việc bảo vệ Rừng Nam Cát Tiên (Đoàn Duy Trí, 2009) Hai đề tài này đã tìm ra mức đóng góp để chi trả cho những người sống ở vùng cao vì mục đích phục hồi rừng đầu nguồn để duy trì dịch vụ cấp nước của rừng và bảo vệ lưu vực sông Đây là một hình thức chi trả dịch vụ môi trường (PES – Payment for Environmental Services) Trong đó, đối tuợng hưởng lợi từ rừng là những người sử dụng nước phải trả tiền cho người ở thượng nguồn có công bảo vệ rừng để cung cấp dịch vụ môi trường rừng

Như vậy, phương pháp định giá ngẫu nhiên đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực định giá giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường của tài nguyên nước Nhiều kinh nghiệm nhằm cải thiện phương pháp CVM bằng cách giảm sai sót trong thiết kế bảng hỏi và tổ chức điều tra đã được đúc kết Đây là những điểm thuận lợi cho tác giả để kế thừa trong việc khảo sát mức sẵn lòng trả của hộ dân ở Phan Thiết để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty

Trang 20

2.1.2 Tài liệu nghiên cứu về sông Cà Ty và một số dự án đầu tư

Là một dòng sông biểu tượng của thành phố, là đường giao thông thủy quan trọng nối trực tiếp với cảng biển Cồn Chà, có thể nói sông Cà Ty giữ vai trò rất lớn trong việc phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội của thành phố Phan Thiết Từ trước năm 1975 đã có nhiều chuyên gia và tổ chức nước ngoài (Nam Triều Tiên, Đài Loan, Niponkoei, Ủy ban Quốc gia sông Mekong) thực hiện các nghiên cứu sử dụng nguồn nước ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận, trong đó có nhiều thông tin liên quan đến sông

Cà Ty Từ sau năm 1975 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu và xây dựng các công trình thủy lợi lưu vực sông Cà Ty đã được các cơ quan trong nước thực hiện Trong đó

có một số công trình cung cấp thông tin tham khảo cho đề tài:

NN&PTNT phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu động lực-công trình sông nghiên cứu

Dự án quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Cà Ty Căn cứ vào các kết quả tính toán, công trình đã đề nghị phương án chống lũ, ngập úng cho lưu vực sông Cà Ty và thành phố Phan Thiết bao gồm các hạng mục: xây dựng hai

hồ chứa nước Ka Bét và Sông Móng, nạo vét lòng dẫn sông Cà Ty, xây dựng đê bao hai bờ

Trung – Khoản vay ADB số VIE-2272 (SF) – Tiểu dự án Bình Thuận do công ty Cổ phần cấp thoát nước Bình Thuận là chủ đầu tư đã được UBND tỉnh Bình Thuận ký quyết định phê duyệt số 2597/QĐ-UBND ngày 10/9/2009 Với các hạng mục như: hệ thống cống thoát nước toàn thành phố Phan Thiết, trạm bơm nước thải, nhà máy xử lý nước thải tập trung, hồ điều hòa sinh học, hồ kỵ khí và các công trình phụ trợ khác; đây được xem là giải pháp cho vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty nói riêng và toàn thành phố Phan Thiết nói chung Dự án dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2012 với tổng vốn đầu tư khoản 16 triệu USD (Nguồn: Binh Thuan Provincial People’s Committee, 2011)

(VMEC) vừa biên soạn tài liệu Thuyết minh Dự án cải tạo cảnh quan và vệ sinh môi

Trang 21

trường (CTCQ & VSMT) sông Cà Ty Dự án được thiết kế với mục tiêu giữ mặt sông thông thoáng, đáy sông luôn ngập nước kể cả khi triều thấp; cải tạo cảnh quan vệ sinh môi trường ven sông; chống sạt lở bờ, đảm bảo điều kiện nạo vét lòng sông nhằm tăng cường khả năng tiêu thoát lũ và thỏa mãn nhu cầu giao thông thủy cho ghe thuyền nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản về thủy lợi, giao thông, môi trường, cảnh quan, phù hợp với yêu cầu của thành phố trước mắt và lâu dài.

Các tài liệu kể trên chủ yếu phục vụ cho công tác tưới tiêu nông nghiệp, thoát lũ

và một số giải pháp kỹ thuật tổng hợp để thúc đẩy khai thác tốt hơn nguồn lợi sông Cà

Ty cho phát triển kinh tế xã hội nói chung Ngoài ra, tác giả chưa tìm được một tài liệu nào có hướng nghiên cứu khác về sông Cà Ty

2.2 Đặc điểm khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.2.1 Giới thiệu về thành phố Phan Thiết

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Thành phố Phan Thiết là thủ phủ, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội

- khoa học kỹ thuật của tỉnh Bình Thuận Phan Thiết thuộc miền Nam Trung Bộ, diện tích tự nhiên là 206,45 km², có bờ biển trải dài 57,40 km

Thành phố Phan Thiết có hình cánh cung, trải dài từ 10°42'10" đến 11° vĩ độ Bắc, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Hàm Thuận Nam - tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp biển Đông và huyện Hàm Thuận Nam - tỉnh Bình Thuận, phía Bắc giáp huyện Hàm Thuận Bắc và huyện Bắc Bình - tỉnh Bình Thuận

b) Địa hình – Địa mạo

Thành phố Phan Thiết nằm trong vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được kiến tạo bởi bồi tích sông biển Hướng dốc chính của địa hình về phía sông, phía biển, độ dốc từ 0.2% - 5% Nhìn chung, địa hình thành phố thấp và bằng phẳng, cao độ trung bình +0m - +4m, thấp nhất từ +0.7m - +1.3m, cao nhất từ +6m - +8m ở đỉnh các cồn cát

Trang 22

Nhìn chung, Phan Thiết có ba dạng địa hình chính:

- Vùng đồng bằng ven sông Cà Ty: diện tích chiếm 11,7% tổng diện tích tự nhiên, độ dốc nhỏ (0-3°)

- Vùng cồn cát, bãi cát ven biển: chiếm 85,6% tổng diện tích tự nhiên Có địa hình tương đối cao, độ dốc 80 - 150, một số nơi dốc 250 - 300

- Vùng đất mặn: ở Thanh Hải, Phú Thủy, Phú Trinh và Phong Nẫm, chiếm 2,7% tổng diện tích tự nhiên

c) Địa chất

Thành phố Phan Thiết nằm trên đới Đà Lạt, phía trên là tầng phủ gồm lớp cuội sỏi lòng suối lòng sông, chiều dày khoảng 0.5 – 1m, các thành tạo Đệ Tứ chủ yếu là Aluvi, Deluvi không phân chia, cuối cùng là miền nền có các loại đá khác nhau (bazan, trầm tích, granit, mozonit, thạch anh, trầm tích )

d) Đặc điểm khí tượng

Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình các tháng ở thành phố Phan Thiết

Tháng Một Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười M.một M.hai

có khi lên đến 29 °C Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm từ 78% đến 80,7%

Hàng năm có hai loại gió chính, gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Vào thời kỳ gió mùa Tây Nam hoạt động ổn định, trong đất liền gió thịnh hành hướng Tây và Tây Nam, mạnh cấp 2-3 Ngoài khơi có gió Tây Nam mạnh cấp 6-7 vào thời kỳ cuối tháng 6 đến hết đầu tháng 7

Trang 23

và thời kỳ giữa tháng 8 Tốc độ gió trung bình năm là 3.3m/s, nhìn chung tốc độ gió trung bình mùa khô lớn hơn tốc độ gió trung bình mùa mưa.

Phan Thiết có số giờ nắng mỗi năm từ 2500 đến trên 3000 giờ Lưu lượng mưa hàng năm dao động từ 890,6 mm đến trên 1335 mm

e) Đặc điểm thủy văn

Thành phố Phan Thiết có bốn con sông chảy qua, đó là: Sông Cà Ty: đoạn chảy qua Phan Thiết dài 7,2 km; Sông Cát (Suối Cát): 3,3 km; Sông Cái: 1,1 km; Sông Cầu Ké: 5,4 km Trong các con sông kể trên, sông Cà Ty có đoạn chảy qua thành phố dài nhất và cũng là dòng sông có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân Phan Thiết có thủy triều hỗn hợp nhưng chủ yếu mang tính bán nhật triều không đều

f) Tài nguyên - Khoáng sản

Tài nguyên biển

Vịnh biển Phan Thiết là một ngư trường giàu tiềm năng ít nơi nào có được Tài nguyên sinh vật biển rất phong phú và đa dạng có khả năng khai thác 60 nghìn tấn/năm; ngoài ra còn có nguồn lợi thủy sản có giá trị hàng năm có thể khai thác 600-

700 tấn tôm các loại, 3.200 - 3.500 tấn mực, 10.000-12.000 tấn sò điệp, sò lông và các loại hải sản khác Với 260 hécta mặt nước có thể đưa vào nuôi tôm, làm ruộng muối, trong đó diện tích có khả năng nuôi tôm là 140 ha

Tài nguyên đất: Phan Thiết có một số loại đất chính:

Cồn cát và đất cát biển, diện tích 15.300 ha (79,7% diện tích tự nhiên)

Đất phù sa, diện tích 2.840 ha (14,8% diện tích tự nhiên) Hầu hết diện tích đất này đã được khai thác trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn quả

Đất vàng trên đá Mácmaxít-granít, diện tích 540 ha (2,82% diện tích tự nhiên) Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, diện tích 350 ha (1,82% diện tích tự nhiên)

Khoáng sản: Phan Thiết có mỏ Imenít-Zircon ven biển Hàm Tiến - Mũi

Né có trữ lượng 523,5 ngàn tấn Mỏ đá Mico-granít ở Lầu Ông Hoàng với trữ lượng

Trang 24

200.000 tấn có thể sản xuất men sứ Mỏ cát thủy tinh dọc theo các đồi cát ven biển Nam Phan Thiết có trữ lượng khoảng 18 triệu tấn Tại vùng biển ngoài khơi thành phố Phan Thiết đã phát hiện ra mỏ dầu và đang được tiến hành khai thác thử nghiệm.

2.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội

Phan Thiết hiện có 1.042 cơ sở sản suất công nghiệp với 16.069 lao động Năm

2009 giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố đạt trên 601,520 tỷ đồng, trong công nghiệp nổi bật có cảng Phan Thiết và khu công nghiệp Phan Thiết đã thu hút được nhiều dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh Cảng Phan Thiết được đầu tư bài bản tạo bệ phóng cho ngư dân đầu tư tàu có công suất lớn với trang thiết bị hiện đại để vươn ra biển lớn đánh bắt xa bờ Phan Thiết đang có trên 2.800 tàu đánh bắt với tổng công suất 179.861CV và 13.180 lao động, sản lượng khai thác gần 52.000 tấn với tổng giá trị hàng năm trên 1.000 tỷ đồng Ngoài ra, thành phố có 7.560 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch Riêng lĩnh vực du lịch phát triển rất nhanh, doanh thu du lịch Năm 2010 đạt 2.539 tỷ đồng

Song song với phát triển kinh tế, sự nghiệp y tế, giáo dục cũng được thành phố quan tâm đầu tư Hiện nay Phan Thiết đã có trường đại học, trường cao đẳng y tế, cao đẳng cộng đồng và một số trường trung cấp, trung tâm dạy nghề giúp đào tạo nguồn trí thức trẻ trong và ngoài tỉnh, để đáp ứng nguồn nhân lực cho thành phố tăng tốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

b) Hệ thống cấp thoát nước

Hệ thống cấp nước

Nhà máy nước công suất 22,000 m3/ngày đêm lấy nước từ sông Cà Ty Nguồn nước sông chỉ đảm bảo cho nhà máy hoạt động bình thường 8 tháng trong năm, còn 4

Trang 25

tháng mùa khô thường thiếu nước Hệ thống mạng lưới đường ống chuyển trong thành phố có đường kính ф60 – ф500 với tổng chiều dài 180,000m Đài điều hòa W=300m3, cao 25m Năm 2004, thành phố có tỷ lệ cấp nước sạch và tập trung là 57.8%.

Toàn thành phố chỉ đạt chỉ tiêu 20m cống mương trên 1ha đất xây dựng đô thị

và 17/86 tuyến đường có cống, chủ yếu tập trung ở phía Nam sông Cà Ty, còn lại đường sá và các khu dân cư chủ yếu tự tiêu thoát theo độ dốc địa hình

Hai trục tiêu thoát nước chính trong thành phố là sông Cà Ty và sông Cầu Ké Khi triều lên cùng với lũ về, mực nước sông lên cao, các khu vực có cao độ dưới 2m hầu như không thoát nước được, hậu quả là 35% diện tích nội thành (gồm cả đường phố và khu dân sư) bị ngập lụt vào mùa mưa

Sông Cà Ty bắt nguồn từ núi Ông, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với

rồi đổ ra biển tại cửa Thương Chánh Ngoài một số đặc điểm liên quan đến vị trí địa lý, lưu vực sông Cà Ty có một số đặc trưng được mô tả như bảng 2.3

Trang 26

Bảng 2.2: Dân số chia theo giới tính và đơn vị hành chính

(Nguồn: Chi cục thống kê Thành phố Phan Thiết)

Thượng nguồn sông Cà Ty có các nhánh sông suối lớn như sông Ka Bét xuất phát từ xã Mỹ Thạnh – huyện Hàm Thuận Nam, sông Móng xuất phát từ huyện Tánh Linh Phần trung lưu và hạ lưu được hợp lưu bởi các sông suối như: suối Ngà, sông Lớn, suối Gầu, suối Cẩm Hang, Mương Thị, suối Choi, suối Găng Làng, suối Sâu, suối

Bà Thiềm, suối Tân Định, sông Bến Lội (Cầu Kè, Cầu Ké, sông Cái)

Nhìn chung mạng lưới sông ngòi lưu vực sông Cà Ty khá dày đặc và phức tạp, mật độ sông suối ở thượng nguồn 0,8km/km2, ở hạ lưu 0,4km/km2, hệ số uốn khúc

Trang 27

lớn Sông Cà Ty là một trong những nguồi cung cấp nước chính cho đồng bằng Phan Thiết, là đường giao thông thủy và là nơi neo đậu tàu thuyền của thành phố Phan Thiết.

Bảng 2.3: Một số đặc trưng của lưu vực sông Cà Ty Diện

tích lưu

vực

(km 2 )

Chiều dài sông (km)

Chiều dài lưu vực (km)

Cao độ bình quân lưu vực (m)

Độ dốc bình quân lưu vực (%)

Độ rộng bình quân lưu vực (km)

Mật độ lưới sông (km/km 2 )

Hệ số uốn khúc

Dạng địa hình bằng phẳng và dải cồn cát ven biển tập trung ở hạ lưu sông Cà Ty

và khu vực đồng bằng ven biển, có cao độ bình quân từ 30m – 60m

Theo Dự án cải tạo cảnh quan & VSMT sông Cà Ty, kết quả khảo sát địa hình cho thấy như sau:

Bờ sông có cao độ khoảng +3,0m đến +4,5m ở khu vực cầu Cà Ty, giảm dần còn +1,2m đến +1,5m ở khu vực cảng cá Cao độ đáy sông điểm cao nhất tại khu vực cầu Cà Ty là -2,0m, sâu dần đến -4,3m ở cảng cá Tuy nhiên, đây chỉ là cao độ cục bộ

Trang 28

ở vị trí các hố xói, còn cao độ đáy sông trung bình chỉ vào khoảng -0,7m ở cầu Cà Ty

và -3,0m ở khu vực cảng

Chiều rộng mặt sông lớn nhất khoảng 140m (tại cầu Trần Hưng Đạo) và nhỏ nhất khoảng 90m Dòng sông uốn khúc mạnh dẫn đến hiện tượng bên bồi bên lở với những bãi sông rộng Khi triều rút, nhiều đoạn có chiều rộng mặt nước nhỏ hơn 50m, phần lớn diện tích đáy sông cao hơn mực nước chân triều

Với địa hình như vừa nêu, mùa mưa lũ mặt cắt ướt không đủ tiêu thoát nước gây ngập lụt Mặt khác, hàng ngày vào lút triều thấp rác thải tồn đọng trên bãi sông ảnh hưởng đến cảnh quan và vệ sinh môi trường

c) Đặc điểm thủy văn

Sông Cà Ty mang tính chất thủy triều hỗn hợp nhưng chủ yếu là nhật triều không đều (khoảng 18-20 ngày nhật triều/tháng) Biên độ kỳ triều cường tại cửa sông

có thể đạt từ 1,5m-2m, biên độ kỳ triều kém khoảng 0,5m Dòng chảy mặt phụ thuộc trực tiếp vào mưa, vì thế hình thành hai mùa lũ và kiệt rất khác biệt Dòng chảy phân

bố không đều trên lưu vực, vùng thượng nguồn có lưu lượng dòng chảy lớn hơn

Mùa lũ thường xuất hiện sau mùa mưa khoảng 2 tháng, kéo dài 5 tháng (từ tháng 7 -11) Tổng lượng dòng chảy chiếm khoảng 80% tổng lượng dòng chảy năm Lũ lớn nhất thường tập trung vào tháng 8, 9, 10, lượng dòng chảy trong mỗi tháng này chiếm 17%-18% lượng dòng chảy năm Thời gian duy trì một trận lũ trên dòng chính kéo dài từ 1-5 ngày, trong đó thời gian lũ lên từ 6-15 giờ, đỉnh lũ kéo dài 1-2 giờ

Mùa kiệt thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến khoảng tháng 4-5 năm sau, chiếm khoảng 20% lượng dòng chảy cả năm Do lượng mưa trong mùa này rất thấp, thảm thực vật bị suy thoái nên khả năng giữ nước trên lưu vực rất kém, phần lớn các suối đều bị khô cạn không có dòng chảy Lượng dòng chảy nhỏ nhất thường rơi vào các tháng 1-3 và chiếm khoảng trên dưới 1,9% lượng dòng chảy cả năm

d) Tài nguyên sinh vật

Sông Cà Ty có độ dốc cao tạo nên thủy vực nội địa có cả nhóm cá nước ngọt điển hình, cá nước lợ và cá nước mặn Phía thượng nguồn sông, các loài cá nước ngọt

Trang 29

điển hình chủ yếu là cá thuộc nhóm vây tia cao (cá rô, cá sặc, cá chép, cá trắm đen, cá

mè đen, cá trôi, cá diếc…), họ cá lóc (cá quả, cá tràu, cá chuối…), họ cá trê (trê trắng, trê vàng…), họ cá nheo (cá nheo, cá thèo, cá niết), họ ngạnh (cá lăng, cá chốt)… Nhóm

cá nước lợ gồm có cá đối, cá chẽm, cá hanh…

Về động vật nổi: là loại động vật nhỏ không xương, sống ở tầng nước mặt (phù

du sinh vật) Động vật nổi thuộc lớp trùng chân giả gồm nhiều bộ: trùng phóng xạ, trùng lỗ, trùng lông đầu Riêng ruốc là loài giáp xác 10 chân được khai thác làm thực phẩm Động vật nổi còn có các loài ốc nhỏ chân bụng sống nổi Loài ruột khoang sống nổi như thủy tức, sứa

Động vật đáy: Phần cửa sông tiếp giáp với biển có gần 7.000 loài động vật không xương sống: nhuyễn thể, giáp xác, da gai, chân đầu Ngoài ra, khu vực này có cấu tạo cát và bùn rất thích hợp cho các loài tôm sinh sống và phát triển

Trang 30

Theo kết quả khảo sát chất lượng nước mặt trong mùa khô tháng 3/2003 của Trung tâm Tài nguyên nước và môi trường – Viện khoa học thủy lợi cho thấy chất lượng nước mặt tại một số vị trí có các đặc tính: Các chỉ tiêu TSMT, độ cứng TS, Cl-, COD, SO4 , NO3-, Coliform, Clostridiumperfringgens không đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt (bảng 2.4).

Bảng 2.5: Kết quả phân tích mẫu nước mặt bờ kè chắn sóng C2 (hạ nguồn) STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả

(Nguồn: Báo cáo ĐTM dự án nạo vét sông Cà Ty)

Ghi chú: QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng

nước mặt

Trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Nạo vét sông Cà Ty, kết quả phân tích hai mẫu nước mặt được lấy tại vị trí kè chắn sóng C2 và tại khúc sông cách

Trang 31

cầu Dục Thanh khoảng 50m về hướng cầu Lê Hồng Phong vào lúc 16g00 ngày 08/10/2009 được miêu tả trong bảng 2.5.

Nhận xét: So sánh kết quả phân tích với tiêu chuẩn nước sinh hoạt A1 của

QCVN 08:2008/BTNMT, có 6/13 chỉ tiêu phân tích có kết quả vượt chuẩn cho phép, thể hiện qua hình 2.1

Hình 2.1: Biểu đồ so sánh kết quả phân tích mẫu nước mặt và QCVN

08:2008/BTNMT tại vị trí kè chắn sóng C2.

Bảng 2.6 cho thấy các chỉ tiêu như BOD5, chất rắn lơ lửng vượt giới hạn cho phép nhưng mức độ vượt không nhiều so với tiêu chuẩn Điều này được giải thích do vị trí lấy mẫu nằm trên thượng nguồn sông Cà Ty nên hàm lượng các chất ô nhiễm thấp hơn so với khu vực hạ nguồn

Các kết quả được nêu ở trên chỉ phản ánh phần nào tình hình ô nhiễm nước sông

Cà Ty vì đa số là các dữ liệu cũ Hiện tại, bộ số liệu quan trắc chất lượng nước mặt của sông Cà Ty trong khoảng thời gian gần đây nhất vẫn chưa được công bố

Bảng 2.6: Kết quả phân tích mẫu nước mặt gần cầu Dục Thanh

Trang 32

STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả

phân tích

QCVN 08:2008/BTNMT Nước sinh hoạt A1

(Báo cáo ĐTM dự án nạo vét sông Cà Ty)

Ghi chú: QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng

nước mặt

Nguồn gây ô nhiễm sông Cà Ty

Theo báo cáo của Phòng Tài nguyên - Môi trường TP Phan Thiết, có khoảng một vạn hộ dân phía nam TP Phan Thiết đang xả nước thải chưa qua xử lý ra hệ thống cống rồi đổ trực tiếp vào dòng sông Cà Ty Dọc hai bên bờ sông thuộc các phường Bình Hưng, Đức Thắng, Đức Nghĩa, Phú Trinh… là những ống nước thải sinh hoạt đen ngòm ngày đêm đổ vào dòng Cà Ty Mỗi ngày sông Cà Ty phải “tiếp nhận” hơn 5.000m3 nước thải chưa qua xử lý (trích http://www.baomoi.com)

Trang 33

Hàng ngày, hàng chục tấn vỏ sò của người dân và các doanh nghiệp đổ trộm xuống sông tạo thành những bãi rác khổng lồ lấn chiếm lòng sông, làm hẹp luồn lạch, cản trở dòng chảy và phân hủy các chất ô nhiễm vào nguồn nước sông.

Hiện nay còn khoảng 300 hộ dân các phường Đức Nghĩa, Phú Trinh, Phú Tài vẫn cất nhà tạm ven bờ (trên bãi vỏ sò) và giữa dòng sông Cà Ty Họ sinh sống lâu đời tại đây và sông Cà Ty trở thành hố rác thiên nhiên của mọi gia đình thay vì phải đóng góp để thuê người thu gom

Thêm vào đó, hàng trăm thuyền ghe đánh cá xả thải trực tiếp xuống sông Cà Ty, tập trung tại khu vực của sông tiếp giáp với biển (các loại rác thải như túi ni-lông, cọng rau, đá lạnh, cơm thừa, phân người…)

Trang 34

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên nước

Một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi trong định giá tài nguyên môi trường là tổng giá trị kinh tế Tổng giá trị kinh tế (TEV) của tài nguyên nước bao gồm giá trị sử dụng (UV) và giá trị không sử dụng (NUV) Giá trị sử dụng bao gồm sử dụng trực tiếp (DUV - có tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp với tài nguyên), sử dụng gián tiếp (IUV - cung cấp, hỗ trợ những dịch vụ quan trọng đối với hệ sinh thái) và giá trị nhiệm

ý (OV – các lợi ích hiện tại chưa sử dụng nhưng sẽ được sử dụng trong tương lai) Giá trị không sử dụng hình thành từ việc mong muốn nguồn tài nguyên được duy trì, bao gồm ba nhóm cơ bản: giá trị tồn tại (EV), giá trị vị tha (AV – bảo vệ nguồn tài nguyên

để những người khác được sử dụng) và giá trị lưu truyền (BV – giữ gìn cho các thế hệ sau) (trích CCME 2010, tr 12-14)

TEV = UV + NUV = (DUV + IUV + OV) + (EV + AV + BV)

3.1.2 Định giá tài nguyên môi trường

3.1.2.1 Khái niệm định giá tài nguyên môi trường

Định giá tài nguyên môi trường là quá trình gán một giá trị định lượng, thường

là bằng đơn vị tiền tệ, cho một nguồn tài nguyên, sản phẩm hoặc hoạt động môi trường nhất định (Douglas, 1995)

Theo Barbier và các cộng sự (1997), định giá kinh tế là nỗ lực nhằm áp các giá trị định lượng đối với hàng hoá và dịch vụ do các nguồn tài nguyên môi trường tạo ra,

dù có hay không có sẵn giá thị trường để giúp chúng ta Giá trị kinh tế của bất kỳ loại hàng hoá và dịch vụ nào nói chung được đo theo nghĩa chúng ta sẵn lòng trả bao nhiêu cho loại hàng hoá đó, ít hơn giá trị để làm ra nó Ở nơi mà, nguồn tài nguyên môi trường đơn giản là tồn tại và cung cấp cho chúng ta các sản phẩm và dịch vụ không có

Trang 35

giá, thì chỉ có giá mà chúng ta mong muốn trả sẽ thể hiện giá trị của nguồn tài nguyên cung cấp cho chúng ta hàng hoá đó, cho dù trong thực tế chúng ta có trả tiền hay không.

Hình 3.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế của tài nguyên nước

Theo PTG.Tâm (2007) “Định giá giá trị tài nguyên môi trường là nỗ lực đưa ra những giá trị bằng tiền của các tài nguyên tự nhiên và dịch vụ môi trường vốn không

có giá trên thị trường.”

Theo ĐT.Hà (2006) “Định giá là việc thừa nhận giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên môi trường thông qua các chức năng của nó như cung cấp nguyên liệu thô, hấp thụ chất thải, cân bằng sinh thái, hỗ trợ cuộc sống con người, nuôi sống các loài….Nghĩa là gán một giá trị được lượng hóa bằng tiền tệ cho các hàng hóa và dịch

TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ (TEV)

Giá trị nhiệm ý(OV)

Giá trị tồn tại(EV)

Giá trị

vị tha(AV)

Giá trị lưu truyền(BV)

Các lợi ích được lựa chọn sử dụng trong tương lai

Nhận thức về

sự tồn tại tiếp tục của tài nguyên

Mong muốn giữ gìn tài nguyên

để người khác sử dụng

Nhận thức về việc giữ gìn tài nguyên cho thế

hệ sau

Trang 36

vụ mà tài nguyên thiên nhiên môi trường cung cấp cho các quá trình kinh tế và đây là

Có thể thấy rằng, khái niệm về định giá tài nguyên môi trường được diễn giải dưới nhiều cách khác nhau, nhưng đều có một đặc điểm chung là định giá trị các lợi ích

mà tài nguyên môi trường mang lại cho con người dưới thước đo bằng tiền cho dù nó

có giá trên thị trường hay không

Đa số các sản phẩm, dịch vụ môi trường đều không có thị trường thực Do vậy, người ta thường áp dụng các phương pháp định giá không dựa vào thị trường (hình 3.2)

Phương pháp phát biểu sở thích

Phương pháp không dựa vào đường cầu

Phương pháp bộc lộ sở thích

Phương pháp định giá ngẫu nhiên

Phương pháp chi phí

du hành

Phương pháp đánh giáhưởng thụ

Phương pháp đáp ứng theo liều lượng

Phương pháp chi phí thay thế

Phương pháp hành vi xoa dịu

Phương pháp chi phí cơ hội

Trang 37

3.1.2.2 Vai trò của định giá tài nguyên môi trường trong việc ra quyết định

Việc định giá tài nguyên môi trường luôn có vai trò nền tảng trong phân tích lợi ích – chi phí các vấn đề về sức khỏe, sự an toàn và môi trường Ngày nay, vai trò này càng rõ ràng hơn trong việc đánh giá thiệt hại tài nguyên thiên nhiên (natural resource damage assessment – NRDA) và phân tích lợi ích – chi phí phục hồi môi trường (environmental restoration – ER), quản lý chất thải (waste management – WM) Vì thế, các chuyên gia môi trường ngày càng quan tâm đến việc các giá trị tài nguyên thiên nhiên sẽ bị ảnh hưởng như thế nào từ các hoạt động này (trích Ulibarri, 1997)

Có thể thấy, định giá trị tài nguyên môi trường đem lại rất nhiều thông tin về tài nguyên hay dịch vụ môi trường đó Những thông tin này đặc biệt có ý nghĩa trong việc

ra quyết định đối với người làm chính sách Điều này được thể hiện ở các mặt sau:

- Lượng giá môi trường hay hệ sinh thái (HST) sẽ rất hữu ích nếu nó được sử dụng như một công cụ góp phần xác định những ưu tiên chính sách và hành động môi trường đối với các dự án bảo tồn HST với các giá trị chức năng của chúng

- Lượng giá HST có thể giúp cho các nhà quản lý tài nguyên đo được chi phí xã hội về những lợi ích kinh tế bị mất Những chi phí xã hội đó có thể được sử dụng để xác định giá trị của hành động làm giảm thiểu hoặc loại bỏ tác động đối với môi trường

- Lượng giá kinh tế dưới cách tiếp cận hỏi mức sẵn lòng trả chính là số đo về tầm quan trọng của nguồn tài nguyên hoặc dịch vụ môi trường đó đối với con người thông qua số tiền họ sẵn lòng bỏ ra để bảo tồn hay cải thiện chất lượng của tài nguyên

đó Đây cũng là cơ sở để cân nhắc xem có nên hay không nên triển khai những dự án

có liên quan đến tài nguyên này

- Việc định giá giúp cho việc so sánh chi phí và lợi ích giữa những ảnh hưởng

có thể lượng hóa được và không thể lượng hóa được hoặc giữa các giá trị đo được bằng tiền tệ và phi tiền tệ được dễ dàng hơn

- Một số ví dụ cho thấy việc định giá phi thị trường cần thiết trong việc triển khai các công cụ kinh tế tối ưu nhất, góp phần tăng hiệu quả quản lý môi trường:

Trang 38

• Việc thiết lập các mức phí môi trường đòi hỏi các mức này phải bằng với chi phí thiệt hại do hành động ô nhiễm gây ra, như thế mới đảm bảo hiệu quả cải thiện môi trường của các loại phí Trong những trường hợp không có dữ liệu thị trường (giá trị giải trí, giá trị tồn tại bị ảnh hưởng bởi một dự án nào đó) thì phương pháp định giá phi thị trường rất cần thiết để xác định những chi phí thiệt hại có liên quan.

xác định lợi ích cận biên của việc cải thiện môi trường cao hơn chi phí triển khai dự án hay không và nếu thế thì ngân sách cho dự án cần được phân bổ thêm

này nhưng góp phần cải thiện cho một khu vực khác, cộng đồng có thể trả những mức giá khác nhau cho những sự thay đổi chất lượng môi trường tương tự nhau về mặt sinh thái Việc định giá phi thị trường giúp xác định lợi ích cận biên của những sự thay đổi này đối với cộng đồng có tương đương hay không và dự án đền bù này có cần điều chỉnh (tăng hoặc giảm) góp phần đem lại an sinh cộng đồng

3.1.3 Cơ sở lý thuyết của phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)

Phương pháp CV được sử dụng để ước lượng giá trị của các sản phẩm, dịch vụ môi trường Theo Ulibarri và Wellman (1997), khi dữ liệu thị trường không có sẵn hoặc không đáng tin cậy cho việc định giá một loại hàng hóa nào đó, các nhà kinh tế có thể áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên dựa vào việc xây dựng một thị trường giả định Thông qua thị trường giả định đó các nhà nghiên cứu có thể thăm dò mức sẵn lòng trả hay sẵn lòng nhận đền bù cho một sự thay đổi trong chất lượng môi trường Phương pháp này thường được dùng trong các lĩnh vực như chất lượng nước, chất lượng không khí, những nơi có các hoạt động vui chơi giải trí (như câu cá, săn bắn…), bảo tồn đa dạng sinh học, những ảnh hưởng đối với sức khỏe con người… mà do một

dự án nào đó sắp được triển khai gây tác động đến chúng (tích cực hay tiêu cực)

a) Ưu điểm

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên có thể áp dụng được cho nhiều loại hàng hóa môi trường khác nhau Bên cạnh việc ước lượng được các giá trị sử dụng trực tiếp và

Trang 39

gián tiếp, nó còn có thể đánh giá được giá trị không sử dụng Như vậy có thể thấy rằng CVM là một phương pháp rất linh hoạt, áp dụng được cho hầu hết các loại giá trị của một hàng hóa môi trường hay một loại tài nguyên.

CVM là một phương pháp quan trọng để ước lượng các sản phẩm, dịch vụ của tài nguyên môi trường khi không tồn tại thị trường Đây là một ưu điểm nổi trội của CVM Thông thường, các phương pháp định giá cần một thị trường cụ thể về giá cả của một loại hàng hóa nào đó, để biết được các yếu tố môi trường tác động lên giá cả của hàng hóa đó như thế nào Các dạng phương pháp này có thể kể đến như là phương pháp đánh giá hưởng thụ (Hedonic Pricing Method – HPM), chi phí thay thế (Replacement Cost Method – RCM)… Đối với các giá trị không sử dụng sẽ không có thị trường để quyết định giá cả, vì thế muốn định giá được nó không có phương pháp nào ngoài việc sử dụng CVM Một thị trường giả định sẽ được xây dựng lên để ước lượng cho các loại giá trị đó

b) Nhược điểm

Các kết quả nghiên cứu khi sử dụng CVM bị phụ thuộc vào các điều kiện của thị trường giả định, cách lấy mẫu, cách thức điều tra phỏng vấn… Một số sai lệch thường gặp trong việc ứng dụng CVM là:

- Sai lệch xuất phát từ tình huống giả định (cung cấp thông tin về “hàng hóa” đang nghiên cứu, cách thức đóng góp, đơn vị thu tiền…) Kết quả CVM phụ thuộc rất nhiều vào các chi tiết và tính hợp lý của tình huống giả định Do đó, tình huống này cần được xây dựng trên một cơ sở vững chắc và kiểm nghiệm thực tế cẩn thận

- Sai lệch tổng thể và bộ phận: nếu hỏi WTP của một cá nhân cho một phần tài sản môi trường (ví dụ: một khúc sông trên cả dòng sông) và toàn bộ tài sản môi trường (một dòng sông), người được phỏng thường đưa ra số tiền như nhau

- Sai lệch chiến thuật: trường hợp này xảy ra khi người được hỏi cố tình đưa ra

số tiền sẵn lòng trả cao hơn hoặc thấp hơn mức mà họ sẽ trả thực tế Tuy vậy, tỷ lệ chênh lệch này tương đối nhỏ nên các nhà nghiên cứu khẳng định đây không phải là vấn đề nghiêm trọng

Trang 40

- Sai lệch giữa WTP và WTA: WTA thường cao hơn WTP rất nhiều trong cùng một nội dung nghiên cứu Có những nguyên do về tâm lý và kinh tế cho thấy người ta thường cảm nhận về “chi phí của việc mất mát” mạnh mẽ hơn nhiều so với “lợi ích của việc đạt được” Ngoài ra, đa số người dân quen thuộc với khái niệm “trả tiền cho cái gì đó” hơn là “nhận bồi thường vì mất đi cái gì đó” Vì thế, cách hỏi WTP thường được

sử dụng rộng rãi hơn là WTA, ngay cả trong trường hợp có tổn thất môi trường thì các nhà nghiên cứu cũng có thể hỏi “sẵn lòng trả bao nhiêu để ngăn ngừa xảy ra thiệt hại”

- Sai lệch do điểm khởi đầu trong phương pháp hỏi về mức sẵn lòng trả theo cách “trả giá” (bidding game) Nghĩa là khi hỏi có đồng ý trả theo một mức giá nào đó, nếu câu trả lời là ‘có” thì tiếp tục hỏi một mức giá được nâng lên, nếu câu trả lời là

“không” thì hạ giá xuống Quá trình mặc cả này ngừng khi người hỏi đạt được giá trị tối đa mà người được hỏi muốn trả Nhiều số liệu được tổng hợp đã chứng minh kết quả CVM sẽ khác nhau tùy thuộc vào mức giá khởi đầu Do vậy, trong các nghiên cứu gần đây người ta thường ít sử dụng phương pháp hỏi này mà thường vận dụng cách hỏi có câu trả lời “có” hay “không’ với một mức giá đưa ra

Bên cạnh đó cũng có thể có những sai lệch do thông tin cung cấp cho người được điều tra, sai lệch do sự không hiểu giữa phỏng vấn viên và người được điều tra, sai lệch do cách chọn phương thức đóng góp Do vậy, để thực hiện được một nghiên cứu CVM đúng qui cách cần phải có nhiều thời gian, tiền bạc và nguồn nhân lực

Tất cả các yếu tố trên đã dẫn đến nhiều sự tranh luận về cơ sở thực tế cũng như

lí thuyết, tính bền vững và tin cậy của CVM Tuy nhiên, việc áp dụng CVM trong các nghiên cứu đã và đang được tiến hành rất phổ biến ở các nước, trong các tổ chức và trong các trường đại học Các chuyên gia hàng đầu trong ngành, những người yêu thích CVM không ngừng cải tiến các khâu trong tiến trình thực hiện các nghiên cứu CVM để

nó phù hợp, logic và thực tế hơn

c) Các nội dung quan trọng trong bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi trong các nghiên cứu sử dụng CVM thường là những bảng câu hỏi tương đối dài và khó hiểu Vì thế, việc xác định các nội dung then chốt trong bảng câu

Ngày đăng: 18/04/2015, 20:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Lâm Quang Hiền và các đồng chủ biên (2006), Địa chí Bình Thuận, Sở VHTT Bình Thuận, tr 48-54, 143-150, 425-442 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Bình Thuận
Tác giả: Lâm Quang Hiền và các đồng chủ biên
Năm: 2006
5. Phòng VHTT – TDTT thành phố Phan Thiết (2000), Phan Thiết – 5 năm (1996-2000) Một chặng đường phát triển, tr 2-15, 34-40, 48-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thiết – 5 năm (1996-2000) Một chặng đường phát triển
Tác giả: Phòng VHTT – TDTT thành phố Phan Thiết
Năm: 2000
7. Nguyễn Văn Hậu (2008), Ứng dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để tính tổng giá trị kinh tế rừng ngập mặn Cần Giờ, Tp.HCM, tr 6 -8, 26 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để tính tổng giá trị kinh tế rừng ngập mặn Cần Giờ, Tp.HCM
Tác giả: Nguyễn Văn Hậu
Năm: 2008
8. Theodore Pana yoyou, Thị trường xanh, kinh tế về phát triển bền vững (Phan Thị Giác Tâm dịch). Tài liệu giảng dạy “Kinh tế Môi Trường” do IDRC tài trợ năm 1995. Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xanh, kinh tế về phát triển bền vững" (Phan Thị Giác Tâm dịch). Tài liệu giảng dạy “Kinh tế Môi Trường
9. Thomas Sterner (2002), Công cụ chính sách cho quản lý tài nguyên và môi trường (Đặng Minh Phương dịch), NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cụ chính sách cho quản lý tài nguyên và môi trường
Tác giả: Thomas Sterner
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
10. R.Kerry Turner, David Pearce & Ian Bateman (1994), Kinh tế môi trường (Nhóm Cán bộ giảng dạy lớp kinh tế tài nguyên môi trường dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: R.Kerry Turner, David Pearce & Ian Bateman
Năm: 1994
11. Trung tâm Quản lý dự án và Tư vấn xây dựng công trình NN&PTNT, Trung tâm Nghiên cứu động lực-công trình sông (2004), Dự án quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Cà Ty.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Cà Ty
Tác giả: Trung tâm Quản lý dự án và Tư vấn xây dựng công trình NN&PTNT, Trung tâm Nghiên cứu động lực-công trình sông
Năm: 2004
1. Binh Thuan Provincial People’s Committee (2011), Viet Nam: Central Region Small and Medium Towns Development - Sewerage and Interceptor Systems in Phan Thiet City, Binh Thuan Province, Asian Development Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viet Nam: Central Region Small and Medium Towns Development - Sewerage and Interceptor Systems in Phan Thiet City, Binh Thuan Province
Tác giả: Binh Thuan Provincial People’s Committee
Năm: 2011
5. Lipton Douglas W., Katherine Wellman, Isobel C. Sheifer, 1995. Economic Valuation of Natural Resources: A Handbook for Coastal Resource Policymakers, National Oceanic and Atmospheric Adminstration (NOAA), USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Valuation of Natural Resources: A Handbook for Coastal Resource Policymakers
8. Hanemann (1994), Valuing the Environment through Contigent Valuation, Journal of Economic Perspective 8(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Valuing the Environment through Contigent Valuation
Tác giả: Hanemann
Năm: 1994
10. Jack L Knestch (1993), Environmental valuation: some practical problems of wrong questions and misleading answers, Occational publication Number 5, The Australian Government Puplishing Service, Canberra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental valuation: some practical problems of wrong questions and misleading answers
Tác giả: Jack L Knestch
Năm: 1993
18. Dale Whittington (2002), Improving the Performance of Contingent Valuation Studies in Developing Countries, Kluwer, 323 – 367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improving the Performance of Contingent Valuation Studies in Developing Countries
Tác giả: Dale Whittington
Năm: 2002
20. Du Yaping (1999), The Use Of Benefit Transfer In The Evaluation Of Water Quality Improvement: An Application In China.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Use Of Benefit Transfer In The Evaluation Of Water Quality Improvement: An Application In China
Tác giả: Du Yaping
Năm: 1999
1. Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Vina Mekong – VMEC (2010), Thuyết minh Dự án cải tạo cảnh quan và vệ sinh môi trường (CTCQ & VSMT) sông Cà Ty Khác
2. Đặng Thanh Hà (2008), Xác Định Mức Sẵn Lòng Trả Của Người Sử Dụng Nước ở TP.HCM Để Bảo Vệ Lưu Vực Sông Đồng Nai Khác
3. Đoàn Duy Trí (2009), Định Giá Dịch Vụ Cung Cấp Nước Rừng Nam Cát Tiên, Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai Khác
2. Binh Thuan Provincial People’s Committee (2011), Viet Nam: Central Region Small and Medium Towns Development - Wastewater Treatment Plant and Khác
3. Margaret M. Calderon, Leni D. Camacho, Myrna G. Carandang, Josefina T Khác
9. David Hoyos and Petr Mariel (2010), Contingent valuation: past, present and future, 334-342 Khác
11. John B. Loomis (1997), Use of non-market valuation studies in Water resource management assessments Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Dân số chia theo giới tính và đơn vị hành chính - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 2.2 Dân số chia theo giới tính và đơn vị hành chính (Trang 26)
Bảng 2.3: Một số đặc trưng của lưu vực sông Cà Ty - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 2.3 Một số đặc trưng của lưu vực sông Cà Ty (Trang 27)
Hình 3.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế của tài nguyên nước - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Hình 3.1 Sơ đồ tổng giá trị kinh tế của tài nguyên nước (Trang 35)
Hình 3.2: Các phương pháp xác định giá trị tiền tệ của môi trường - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Hình 3.2 Các phương pháp xác định giá trị tiền tệ của môi trường (Trang 36)
Bảng 3.1: Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 3.1 Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu (Trang 50)
Bảng 4.1: Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu điều tra - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu điều tra (Trang 52)
Bảng 4.2: Các giá trị của sông Cà Ty - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.2 Các giá trị của sông Cà Ty (Trang 54)
Bảng 4.5: Những ảnh hưởng trực tiếp do vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty gây ra - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.5 Những ảnh hưởng trực tiếp do vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty gây ra (Trang 61)
Bảng 4.6: Phản ứng của người dân đối với các mức giá đề xuất - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.6 Phản ứng của người dân đối với các mức giá đề xuất (Trang 62)
Bảng 4.7: Lý do đồng ý trả tiền cho dự án - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.7 Lý do đồng ý trả tiền cho dự án (Trang 63)
Bảng 4.12: Khả năng dự đoán của mô hình - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.12 Khả năng dự đoán của mô hình (Trang 68)
Bảng 4.13: Các giải pháp được sắp xếp theo ma trận chính sách. - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
Bảng 4.13 Các giải pháp được sắp xếp theo ma trận chính sách (Trang 70)
Phụ lục 9: Sơ đồ mô phỏng cách hỏi bidding game - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
h ụ lục 9: Sơ đồ mô phỏng cách hỏi bidding game (Trang 96)
4. Bảng tóm tắt mô hình - Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty - Phan Thiết
4. Bảng tóm tắt mô hình (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w