Chính vì lẽ đó, các tác giả của cuốn sách “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản
Trang 1MỞ ĐẦU 1-TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất nước ta sau 20 năm đổi mới đã thu được những thành tựu về kinh tế,chính trị, xã hội Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tới tốc độ tăngtrưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước bình quân trong 5 năm 2001 -
2005 là 7.5%/năm và phát triển tương đối toàn diện Văn hoá và xã hội cónhiều tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội
có chuyển biến tốt, nhất là trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộnghèo giảm đáng kể từ 10% năm 2000 xuống còn 7% năm 2005, đời sống cáctầng líp nhân dân được cải thiện, tuổi thọ bình quân và dân trí được nâng cao.Chính trị xã hội ổn định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càngđược củng cố và nâng cao nhờ đường lối cải cách đúng đắn của Đảng và nhà
Trang 2nước Tuy nhiên Việt Nam vẫn còn là một trong những nước nghèo, GDPbình quân đầu người còn thấp dưới mức nghèo khổ theo tiêu chuẩn quốc tế.Trình độ phát triển của ta còn thấp hơn nhiều so với các nước trung bình trongkhu vực và trên thế giới Nền kinh tế đang đứng trước những thách thức trongtiến trình hội nhập và phát triển, các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đáp ứng đượcnhu cầu của nhân dân như: thiếu trường học phục vụ cho học sinh, nhiều nơicòn học ca 3; trang thiết bị y tế thiếu, lạc hậu không đáp ứng được nhu cầuchữa bệnh, trình độ của nhân viên y tế cần được đào tạo và nâng cao; các hoạtđộng văn hoá tinh thần cho nhân dân ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu; phóc lợi
xã hội chưa giúp đỡ được nhiều cho các đối tượng trẻ mồ côi, trẻ lang thang,người già cô đơn; quy mô dân số còn tiếp tục gia tăng, chất lượng dân số chưacao, phân bè dân sè chưa hợp lý vẫn đang là vấn đề lớn đối với sự phát triểnbền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế, vai trò của nguồn nhân lực trở nên quan trọng hơn bao giê hết Nguồn nhânlực là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Không
có sự đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn nh đầu tư phát triển nguồn nhân lực.Hướng tới mục tiêu nói trên, với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của nước ta từ 2001 - 2010 mà Nghị quyết đại hội IX đã đề ra là: Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì vậy để thực hiện được
mục tiêu trên thì trước tiên phải nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao sứckhoẻ của người dân để tạo ra một lực lượng khoẻ mạnh về thể chất, tinh thầnđược trang bị những tri thức phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, đây làmối quan tâm hàng đầu là phương tiện quan trọng trong chính sách phát triểnkinh tế xã hội của đất nước Vậy, với thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sảncho phụ nữ vùng sâu vùng xa luôn là vấn đề quan tâm của những nhà hoạchđịnh chính sách, nhà xã hội học, nhà dân số học, nhà quản lý xã hội, y tế
Trang 3Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và nhànước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống, sức khoẻ chođồng bào các dân téc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh
sự phát triển toàn diện của miền núi, hải đảo Tuy nhiên, thực tế cho thấy sựphát triển về kinh tế, văn hoá - xã hội tại khu vực này vẫn còn thấp hơn nhiều
so với các khu vực khác của cả nước Mức sống thấp, trình độ dân trí chưađược nâng cao, giao thông đi lại khó khăn, điều kiện chăm sóc y tế và phóclợi xã hội còn thiếu thốn, là những vấn đề bức xúc đang đòi hỏi sự quan tâm,đầu tư nhiều hơn nữa của chính phủ đối với người dân sống ở những vùngkhó khăn này
Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nước nóichung, cho miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề
ưu tiên trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nỗ lực trongviệc triển khai các chiến lược quốc gia còng nh các chương trình y tế đã đemlại những cơ hội khả quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ Tuynhiên, trong thực tế, không diễn ra một sự phát triển đồng đều giữa các vùng:miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị, hải đảo và đất liền
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những mục tiêu và là nội dungcông tác quan trọng của Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, hiện nay là chứcnăng của Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình- (Bé Y tế) Đối với chiếnlược Dân số- Kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộphận tối quan trọng Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bạicủa chiến lược quốc gia này Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, ở mỗi vùng và ởmỗi dân téc khác nhau, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình cũng khácnhau, vì thế kết quả thu được ở mỗi vùng, mỗi téc người cũng rất khác nhau.Nhìn chung, ở các vùng đô thị, các tỉnh đồng bằng chăm sóc sức khỏe sinhsản, dân số- kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả cao hơn nhiều so với vùng núi,hải đảo, vùng sâu vùng xa
Trang 4Ở miền núi và hải đảo, do điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều khó khănnhư giao thông đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết
bị y tế còn thiếu, do trình độ dân trí thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã hạn chếnhững cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em Đặc biệt, là vấn đềchăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với phụ nữ ở vùng sâu vùng xa, thực trạngmức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là những nguyên nhân gây lêntình trạng tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh hoặc là ảnh hưởng lớn đến sứckhoẻ của bà mẹ và trẻ em sau này Bên cạnh đó ở khu vực này hệ thống chămsóc chăm sóc y tế và dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai tại đây còn cómột khoảng cách khá xa so với tình hình chung của cả nước Mục tiêu giảmquy mô dân số của chương trình dân số thực hiện tại nơi này còn gặp nhiềukhó khăn, do vậy, những vấn đề liên quan đến nâng cao chất lượng dịch vụchăm sóc sức khoẻ sinh sản đang là vấn đề đòi hỏi phải giải quyết lâu dài Nhận thức được tầm quan trọng còng nh ý nghĩa của vấn đề xã hội trên,
tôi chọn đề tài "Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo Bạch Long Vỹ - Hải Phòng ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo
và các yếu tố tác động đến đời sống sức khỏe sinh sản ra sao, để đóng gópmột phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu , từ đó đưa ra các giải pháp đềxuất và kiến nghị với chính quyền địa phương nhằm tháo gỡ, cải thiện vànâng cao đời sống sức khỏe nhân dân địa phương nói chung và chăm sóc sức
khỏe sinh sản cho phụ nữ huyện đảo nói riêng
2 Ý NGHĨA LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Ý nghĩa lý luận khoa học.
Nghiên cứu xã hội học về "Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo Bạch Long Vỹ - Hải Phòng” nhằm tìm hiểu thực
trạng chăm sóc sức khỏe cũng như chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữvùng sâu, vùng xa Tìm hiểu xem mức độ họ nhận thức, thái độ và hành vicủa họ với công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, yếu tố nào tác động đến việc
Trang 5chăm sóc sức khỏe sinh sản của họ Qua đó làm sáng tỏ hơn cho một số lýthuyết xã hội học nh lý thuyết hành động xã hội của Max Weber, lý thuyếtgiới (Thuyết nữ quyền cấp tiến) Đồng thời từ nghiên cứu này có tác dụngđóng góp những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn để kiểm nghiệm, minh họatính tương thích của lý thuyết và thực tiễn xã hội, làm sáng tỏ, củng cố vàhoàn thiện thêm một số lĩnh vực nghiên cứu xã hội học và sức khỏe/ sức khỏesinh sản.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng sâu, vùng xa có một ý
nghĩa hết sức thiết thực Mét mặt nó chỉ rõ hiện trạng nhận thức của phụ nữvùng sâu vùng xa về các vấn đề sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinhsản đã đầy đủ, toàn diện chưa hay hiểu biết chưa đầy đủ, thậm chí còn hiểusai lệch Mặt khác, nghiên cứu giúp chỉ rõ các nguồn tiếp cận thông tin vàdịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ vùng sâu vùng xa thực tế nhưthế nào Từ đó đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao nhậnthức về sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo, thay đổi hành vi chăm sócsức khỏe sinh sản và nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏecũng như dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa
3- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Mục tiêu cô thể của cuộc nghiên cứu này nhằm:
-> Tìm hiểu thực trạng mức độ nhận thức về sức khỏe sinh sản và chămsóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo hiện nay như thế nào và từ nhậnthức đó họ hành động ra sao, thực trạng hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sảncủa họ có liên quan như thế nào tới sức khỏe sinh sản của họ
-> Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sảncủa phụ nữ huyện đảo, nguyện vọng của phụ nữ huyện đảo với công tác chămsóc sức khỏe sinh sản ở địa phương, nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sứckhỏe sinh sản
Trang 6-> Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị phù hợp giúp nâng cao nhậnthức, làm thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản theo hướng tích cực,tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ Ytế cũng như nâng cao chất lượngdịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ huyện đảo.
4- ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
4.2 Khách thể nghiên cứu.
Phô nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã kết hôn và chưa kết hôn
4.3 Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: Huyện đảo Bạch Long Vĩ – Hải Phòng.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/ 2008 đến tháng 05/2008.
Giới hạn các vấn đề nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sứckhỏe sinh sản; do hạn chế về thời gian và nhận thức cho nên trong khuôn khổkhóa luận tốt nghiệp chỉ đề cập nghiên cứu tới một số khía cạnh cơ bản nhấtcủa chăm sóc sức khỏe sinh sản như: nhận thức về sức khỏe sinh sản và chămsóc sức khỏe sinh sản; nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai; tìnhhình chăm sóc thai nghén và sinh đẻ; tình hình trẻ em chết chu sinh; tình hìnhnạo phá thai và nhiễm khuẩn đường sinh sản
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
5.1 Phương pháp luận.
* Chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Theo phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng yêu cầu phảinhìn các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng Nghĩa là phải nhìnmọi sự vật, hiện tượng không tồn tại riêng biệt tách rời mà luôn luôn trongmối quan hệ tương tác quyết định lẫn nhau Trong quá trình xem xét, đánh giámọi hiện tượng, sự kiện xã hội phải đặt trong mối quan hệ toàn diện với điềukiện kinh tế- xã hội đang vận động, biến đổi trên địa bàn nghiên cứu
Trang 7Trong đề tài nghiên cứu này, khi tìm hiểu về thực trạng nhận thức vàhành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ chúng ta phải đặt trong bốicảnh kinh tế- xã hội nước ta ở thời điểm hiện tại Các giá trị mới của xã hộihiện đại, sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, sự toàn cầu hóa đang tác độnglên mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có người phụ nữ.
* Chủ nghĩa duy vật lịch sử:
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử yêu cầu người nghiêncứu khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng xã hội cần phải đặt trong mét giaiđoạn lịch sử nhất định, trên quan điểm kế thừa và phát triển Nghiên cứu nàyđược xuất phát từ thực tế lịch sử xã hội cụ thể ở trong mỗi giai đoạn trong sựphát triển của nó, và thực tế lịch sử này được xem xét nh cơ sở mục tiêu, tiêuchuẩn của thông tin thực nghiệm
Nghiên cứu này đặt thực trạng nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏesinh sản của phụ nữ vùng hải đảo trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang trongthời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa Nền kinh tế thị trường với tác độngtích cực làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao.Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta cũng bộc lé nhiềuvấn đề xã hội ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt
là nhóm xã hội dễ bị tổn thương như phụ nữ và trẻ em
5.2 Những phương pháp thu thập thông tin.
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu.
Phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua
nguồn tài liệu có sẵn Những nguồn tài liệu này đã có trước khi nghiên cứu
Để báo cáo thực tập được hoàn thiện đầy đủ nội dung và thông tinphong phú, cá nhân đã khai thác thu thập và xử lý thống kê được từ nhiềunguồn khác nhau Phương pháp phân tích tài liệu là một phương pháp quantrọng trong nghiên cứu của đề tài Tài liệu thu thập được từ các báo cáo tổngkết năm của Huyện ủy, Uỷ ban Nhân dân huyện Bạch Long vĩ phản ánh tìnhhình kinh tế- xã hội của huyện đảo Ngoài ra, còn sử dụng một số tài liệu của
Trang 8Trung tâm Ytế huyện; số liệu thống kê của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong
03 năm trở lại đây và sử dụng một số tài liệu liên quan tới sức khỏe sinh sảncủa phụ nữ như Tạp chí xã hội học, Tạp chí dân số và phát triển, tài liệuchuyên ngành dân số, Ytế… Các thông tin trong các tài liệu này được xử lý,phân tích và nêu ra nhằm giải quyết các vấn đề trong giả thuyết nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp tiếp cận phỏng vấn sâu cá nhân.
Cuộc nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn sâu.Những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu được soạn thảo chi tiết thànhmột đề cương để người phỏng vấn sử dụng trong quá trình tiến hành các cuộcphỏng vấn Đây là những phỏng vấn để xem xét nghiên cứu một cách sâu sắc
có căn cứ và cũng là để hiểu sâu bản chất nguồn gốc của vấn đề đang nghiêncứu Phương pháp này phục vụ cho việc khai thác sâu các thông tin định tínhnhư nhận thức và hành vi của phụ nữ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, đánh giácủa họ về những người xung quanh cũng như thái độ của chị em phụ nữ khinói đến chuyện chăm sóc sức khỏe sinh sản
Phỏng vấn sâu ở đây đã được tiến hành tới 30 người, gồm: một sè cán bộchủ chốt thuộc các ngành văn hoá, Ytế, giáo dục và xã hội, người đứng đầucác đoàn thể xã hội, chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn huyện.Phỏng vấn sâu ở đây còn có ý nghĩa minh hoạ và khẳng định kết quả nghiêncứu bởi những thông tin qua phân tích tài liệu, qua quan sát địa bàn huyện đảotrong những năm gần đây
6- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT.
6.1.Giả thuyết nghiên cứu.
Trang 9-> Nhận thức và hành vi của phụ nữ huyện đảo hiện nay về sức khỏesinh sản và chăm súc sức khỏe sinh sản cú hơn trước nhưng cũn sơ sài, chưađầy đủ.
-> Cú sự khỏc biệt về mức độ nhận thức và hành vi chăm súc sức khỏesinh sản giữa cỏc nhúm xó hội
-> Cỏc yếu tố điều kiện tự nhiờn, kinh tế, phong tục, tập quỏn cú ảnhhưởng lớn tới hành vi chăm súc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo
6.2.Khung lý thuyết
CHƯƠNG I: CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHĂM SểC SỨC
KHỎE SINH SẢN.
1 Tổng quan về vấn đề nghiờn cứu.
Nghiờn cứu về sức khỏe sinh sản, được tiến hành rất sớm trờn thế giới,chủ yếu ở cỏc quốc gia phỏt triển nh Mỹ và chõu Âu Ở Việt Nam, do chịuảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn húa phương Đụng, đặc biệt là Nho giỏo chonờn cỏc vấn đề về sinh sản, tỡnh dục, quan hệ nam nữ ít được đề cập Vỡ vậy,nghiờn cứu về sức khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiờn cứu ở nước ta
Điều kiện kinh tế- xã hội
Thực trạng chăm sócSKSS của phụ nữ
thai
Nhận thức về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tình hình chăm sóc thai nghén và sinh đẻ
Tình hình nạo phá thai
Tình hình trẻ em chết chu sinh
Tình hình nhiễm khuẩn
đờng sinh sản
Trang 10Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960, nhận thức sâu sắc về tầm quantrọng của vấn đề dân số trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ChÝnh phủViệt Nam đã luôn dành sự quan tâm thích đáng cho công tác Dân số- Kếhoạch hóa gia đình Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV củaBan chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt “ Công tác Dân sè -
kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước”, vấn đề này được coi như một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàngđầu, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người,từng gia đình và toàn xã hội Công tác Dân sè - kế hoạch hóa gia đình đã huyđộng được sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và tranh thủ được sựgiúp đỡ ngày càng tăng và có hiệu quả của cộng đồng quốc tế Bằng nhữnggiải pháp hữu hiệu, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục được mở rộng vàtừng bước nâng cao chất lượng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chú trọngđến các vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, do đó nhận thức của các tầng lípnhân dân về kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản ngày càng được nângcao, tỷ lệ giảm sinh rất nhanh Tuy nhiên, những mục tiêu của chương trìnhDân số- kế hoạch hóa gia đình mới chỉ chú trọng về số lượng như giảm tỷ lệ
sinh, tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ( chỉ tập trung vào phụ nữ và
biện pháp đặt vòng) mà chưa chú trọng vào chất lượng dân số Vấn đề giáo
dục tình dục, tư vấn kế hoạch hóa gia đình chưa được tập trung và đầu tưđúng mức, kỹ năng tư vấn còn đơn giản Vấn đề sức khỏe sinh sản vị thànhniên chưa được chú ý quan tâm đúng mức Do lối sống truyền thống củangười Á Đông và do nhận thức chưa đầy đủ về quy mô gia đình nhỏ, đồngthời cũng do chưa tuyên truyền, phổ biến rộng khắp về tác dụng, tính ưu việtcủa các biện pháp tránh thai hiện đại như là một phương pháp kế hoạch hóagia đình Do đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ phụ nữ nạophá thai cao nhất thế giới Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nhiễmkhuẩn HIV/AIDS còn nhiều tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe bà mẹtrẻ em Điều đáng lo ngại hiện nay là tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi vị
Trang 11thành niên ngày một phổ biến, tình hình nhiễm khuẩn đường sinh sản và cácbệnh lây nhiễm qua đường tình dục ngày càng tăng… Ngoài những vấn đềnêu trên, vấn đề sức khỏe sinh sản ở Việt nam còn phải đối mặt với vấn đề vôsinh, ung thư vú và ung thư đường sinh sản Những vấn đề đó cần được các
cơ sở y tế quan tâm tạo điều kiện chăm sóc tốt hơn nhằm nâng cao sức khỏecho phụ nữ
Trong " Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001- 2010" đã đánh giá về tình hình sức khỏe sinh sản, công tác chăm sóc sức
khỏe sinh sản và đưa ra quan điểm, mục tiêu đó là:
- Đầu tư cho sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản cũng là đầu tư cho phát triển.
- Đảm bảo sự công bằng, làm cho mọi người đều được tiếp cận với các thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia đình có chất lượng, phù hợp với điều kiện kinh tế của xã hội, đặc biệt chú ý các đối tượng bị thiệt thòi, người nghèo, người có công với nước, các vùng sâu, vùng
xa và vùng có nguy cơ cao về môi trường.
- Thực hiện bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, tăng cường vai trò của ngừơi phô nữ trong quá trình ra quyết định về các vấn đề
có liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, đề cao vai trò và trách nhiệm của nam giới trong việc chia sẻ với phụ nữ thực hiện kế hoạch hóa gia đình
và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Dù phòng tích cực và chủ động trong mọi khâu của chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân téc trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản là sự nghiệp chung của toàn xã hội, là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, của các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng như của các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và nghề nghiệp.
Trang 12Với mục tiêu chung là:
Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản ứng với các giai đoạn của cuộc sống và phù hợp với điều kiện của các cộng đồng
ở các địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn
Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản từ trướctới nay luôn được mọi người quan tâm và coi đó là một việc làm cần thiết.Bởi lẽ, sức khỏe của nhân dân nói chung, người phụ nữ nói riêng là hết sứcquan trọng, nó ảnh hưởng tới mọi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của đấtnước
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, con người lại liên quan chặtchẽ với môi trường Một môi trường lành mạnh, trong sạch là rất cần thiết chosức khỏe và hạnh phóc của con người Phụ nữ có vai trò quan trọng trong mốiquan hệ với môi trường và sự phát triển Phụ nữ không chỉ là người sản xuất
ra của cải vật chất của xã hội mà còn là người duy trì cuộc sống của gia đình
và xã hội, đồng thời họ còn là những người phải chịu hậu quả của sự suy thoáimôi trường và do đó, họ là những thành viên không thể thiếu trong việc quản
lý môi trường Phụ nữ có vai trò là tác nhân quan trọng để đạt được sự pháttriển bền vững, nhất là trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước Chính vì lẽ đó, các tác giả của cuốn sách “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” (Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát
triển) do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2001 đã tập trungnghiên cứu vào vấn đề mối liên quan điều kiện, môi trường làm việc với sứckhỏe lao động nữ, đặc biệt quan tâm nghiên cứu sức khỏe sinh sản của phụ
nữ, nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi phòng ngõa bảo vệ sức khỏe nóichung, sức khỏe sinh sản nói riêng của phụ nữ
Mét công trình nghiên cứu đáng chú ý là “ Phân tích tình hình phụ nữ
và trẻ em của UNICEP” đã phản ánh tình hình kinh tế- xã hội của Việt Nam
Trang 13có ảnh hưởng đến hệ thống chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe của phụ
nữ và trẻ em việt Nam
Tại Hội nghị Dân số thế giới Cairo (Ai cập) và hội nghị phụ nữ thế giớilần thứ tư được tổ chức ở Bắc kinh (Trung quốc) các đại biểu của nhiều quốcgia đã nhất trí cho rằng bình đẳng giới và vấn đề sức khỏe sinh sản của phụ
nữ có mối liên quan mật thiết với nhau Đây là một trong những vấn đề thenchốt để đánh giá những tiến bộ của từng nước đối với vấn đề phụ nữ Ở ViệtNam, vấn đề này chưa có một nghiên cứu chuyên biệt, các chương trình về kếhoạch hóa gia đình người phụ nữ luôn luôn bị coi là đối tượng chính của côngtác này Vì thế, các số liệu thống kê về công tác kế hoạch hóa gia đình ở ViệtNam đã nảy sinh hàng loạt vấn đề liên quan tới sức khỏe sinh sản của phụ nữ Với những nội dung trên đã gợi mở hướng nghiên cứu thực trạng nhậnthức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảoBạch Long Vĩ- Hải Phòng, và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chăm sóc sứckhỏe sinh sản của họ Nh vậy, kết quả nghiên cứu đề tài này đối với mộthuyện đảo cách xa đất liền là rất hữu Ých và cần thiết
2 Một sè khái niệm công cô
2.1 Khái niệm về sức khỏe- sức khỏe sinh sản.
* Khái niệm về sức khỏe:
Từ xưa tới nay người ta thường quan niệm rằng sức khỏe có nghĩa là cơthể không có bệnh tật và ngành Ytế là ngành chuyên chữa bệnh
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe bao gồm sựlành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa “ ngày nào cũng tậpthể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, nh vậy là sức khỏe”
Từ khi tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhấn mạnh đến khái niệm sức
khỏe và đã đưa ra một định nghĩa về sức khỏe là “ một trạng thái thoải mái,
đầy đủ về thể chất, tâm thần và xã hội, sức khỏe không bó hẹp vào nghĩa không có bệnh hay thương tật”.
Trang 14Khái niệm này được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe là yếu
tố cơ bản ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người,ảnh hưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòigiống của xã hội Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng xuất cao,ngược lại sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nó là khái niệm tổng hợp, đòihỏi sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cánhân, của mỗi cộng đồng nhất định Mỗi cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết
để hành động và ứng xử hợp lý, tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình.Tại Hội nghị AlmaAta năm 1978 của tổ chức ytế thế giới, Hội nghị đã
đưa ra định nghĩa về sức khỏe như sau: “ Sức khỏe là một tình trạng hoàn
toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội biểu hiện không chỉ qua việc không mắc bệnh hoặc không ốm yếu”.
* Khái niệm sức khỏe sinh sản:
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai cập) năm
1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản nh sau:
“ Sức khỏe sinh sản là một tình trạng hoàn chỉnh về thể chất, tinh thần
và phóc lợi xã hội mà không chỉ đơn thuần là không có bệnh hoặc tàn tật, trong mọi vấn đề nó liên quan đến hệ thống sinh sản, những chức năng và quá trình của nó Vì vậy, sức khỏe sinh sản hàm ý là những người có một cuộc sống tình dục thỏa mãn và an toàn và họ có khả năng sinh con cũng như
tự do quyết định khoảng cách giữa các đứa con Hàm ý của điều kiện cuối cùng là phụ nữ và nam giới phải được thông tin, được lùa chọn các phương pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả và có thể chấp nhận được cũng như những phương pháp khác họ lùa chọn sinh sản mà không đi ngược lại luật pháp và quyền có được những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp Nh vậy, nã sẽ làm cho phụ nữ an toàn khi có thai và sinh con, đồng thời tạo cho những cặp vợ chồng một cơ hội tốt nhất để có được những đứa con khỏe mạnh” (Tạp chí khoa học về phụ nữ số 4.1996).
Trang 15Theo định nghĩa trên thì sức khỏe sinh sản bao gồm hai khía cạnh, mộtkhía cạnh là những vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, những chức năng
và quá trình của nó như mang thai, sinh con… Mặt khác, sức khỏe sinh sảncòn là vấn đề liên quan đến quyền lùa chọn các biện pháp tránh thai, quyềnđược tiếp cận thông tin với những phương pháp khác mà cả hai lùa chọn Nhvậy, có thể nói khía cạnh thứ nhất hàm ý những vấn đề liên quan đến bảnnăng sinh học của con người đối với quá trình sinh sản; khía cạnh thứ hai đềcập đến quyền được quyết định của con người đối với quá trình đó
Nội dung chính của sức khỏe sinh sản bao gồm các yếu tố sau:
1.Làm mẹ an toàn
2.Kế hoạch hóa gia đình
3.Nạo hót thai
4.Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản
5.Các bệnh lây qua đường tình dục
2.2 Khái niệm về chăm sóc sức khỏe- chăm sóc sức khỏe sinh sản.
* Khái niệm chăm sóc sức khỏe:
Trang 16Theo Hội nghị y tế thế giới AlmaAta thì chăm sóc sức khỏe là nhữngchăm sóc thiết yếu với kỹ thuật thích hợp được mang tới cho mỗi người trongmọi gia đình, được cộng đồng chấp nhận và tham gia với những chi phí rẻnhất Do đó, chăm sóc sức khỏe là sự thường xuyên quan tâm làm một việcnào đó, chăm sóc sức khỏe chính là hoạt động thường xuyên, liên tục để đạtđến một trạng thái hoàn hảo về sức khỏe, đó là sự sảng khoái về thể chất, tinhthần và các quan hệ xã hội Hoạt động này có thể là tự bản thân chăm sóchoặc là sự quan tâm, giúp đỡ của người khác.
Trong Hội nghị AlmaAta cũng đã nêu ra khái niệm về chăm sóc sứckhỏe ban đầu như sau: “ Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những sự chăm sócthiết yếu xây dựng trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành, có cơ sởkhoa học và chấp nhận được về mặt xã hội; có thể phổ biến rộng rãi cho tất cảcác cá nhân và gia đình của cộng đồng xã hội cùng tham gia đầy đủ: với mộtgiá mà cộng đồng nước đó có thể chịu đựng được ở một giai đoạn phát triểncủa họ và theo tinh thần tự giác, tự nguyện”
* Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản:
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp, kỹ thuật vàdịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phóc bằng cách phòng ngõa vàgiải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản nó bao gồm : sức khỏe tình dụcvới mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, tư vấn, chăm sócliên quan đến vấn đề sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Những vấn đề chung áp dụng chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Ytế:
- Đảm bảo sự chấp nhận của hai bên cung và cầu các tiêu chuẩn quốc gia
về chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Thực hiện tốt mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và cộng đồng ởcác tuyến (Xã, Huyện, Tỉnh, Trung ương)
- Đảm bảo đúng về mặt nguyên tắc, yêu cầu, kỹ năng và các bước tư vấntrong chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trang 17- Thực hiện đúng nguyên tắc truyền máu và các dịch vụ thay máu antoàn trong sản phụ khoa.
- Hướng dẫn sử dụng kháng sinh an toàn, đảm bảo cung cấp đầy đủ cácthuốc thiết yếu ở tất cả các tuyến còng nh các nguyên tắc vô khuẩn trong dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Làm mẹ an toàn:
Đảm bảo các chuẩn cho Trạm Y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản sảnphụ trước, trong và sau khi đẻ, các bất thường trong thai nghén và chuyển dạ
Kế hoạch hóa gia đình:
- Đảm bảo 10 quyền cơ bản của khách hàng bao gồm: Quyền được thôngtin, tiếp cận dịch vụ và tự do lùa chọn các biện pháp tránh thai, từ chối hoặcchấm dứt biện pháp tránh thai, nhận dịch vụ an toàn, đảm bảo bí mật, kín đáo,được tiếp nhận hoặc thoải mái khi tiếp nhận dich vụ, được tôn trọng, đượcbày tỏ ý kiến
- Bảo đảm những phẩm chất cần thiết của người tư vấn bao gồm: có kiếnthức chuyên môn, tôn trọng, thông cảm, thấu hiểu và thành thật với kháchhàng, thông tin rõ ràng, có trọng tâm cho khách hàng
- Cung cấp đủ thông tin về các phương pháp và dụng cụ, thuốc tránhthai, các biện pháp triệt sản nam và nữ
- Đảm bảo chuẩn quốc gia về các phòng kế hoạch hóa gia đình bao gồm:
Cơ sở kỹ thuật, nghiệp vụ, dụng cụ, phương tiện, hậu cần, nơi tư vấn
Nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục:
Đảm bảo các chuẩn về khai thác thông tin tiền sử, bệnh sử, lâm sàng,chẩn đoán, xét nghiệm hỗ trợ đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn, tư vấn về phòng
và điều trị
Sức khỏe sinh sản vị thành niên:
Trang 18Đảm bảo các chuẩn về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (cả phòng vàchữa bệnh) cho vị thành niên (đã kết hôn và chưa kết hôn) Các dịch vụ baogồm: Tư vấn về sức khỏe sinh sản, về tình dục, các biện pháp tránh thai, thămkhám, chăm sóc sức khỏe vị thành niên mang thai, sinh đẻ, phá thai an toàn
và xử lý tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và lây truyền qua đườngtình dục
Phá thai an toàn:
Đảm bảo chuẩn quốc gia về dịch vụ phá thai an toàn bao gồm: Tư vấn vàviệc sử dụng các phương pháp kỹ thuật về việc phá thai an toàn Các chuẩnquốc gia về kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn của người tư vấn và cán
bộ y tế, điều kiện thuốc men, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở y tế, phòng khám
thai và sự phân tuyến phục vụ theo các loại đối tượng khác nhau.
3.Mét sè lý thuyết xã hội học vận dụng vào đề tài.
*Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber:
Theo MaxWeber: Hành động xã hội là hành động được chủ thể gắn cho
nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của ngườikhác và khi nó tương quan, định hướng vào hành động của người khác theo ý
đã được nhận thức bởi chủ thể hành động trong đường lối, trong quá trình củanó
Có thể thấy hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của các cá nhân.Tính tích cực này lại bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu, lợiÝch, định hướng giá trị của chủ thể Hành động xã hội còn chịu sự tác độngcủa điều kiện hoàn cảnh bên ngoài, nó có thể được mô hình hóa như sau:
Max Weber đã phân biệt 4 loại hành động xã hội nh sau:
Hoµn c¶nh
Chñ thÓNhu
Trang 19+Hành động duy lý- công cụ: Là hành động được thực hiện với sù cânnhắc, tính toán, lùa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quảcao nhất.
+ Hành động duy lý- giá trị: Là hành động có tính định hướng giá trị,thực hiện vì mục đích tự thân
+ Hành động duy cảm (Cảm xúc): Là hành động do các trạng thái cảmxúc hoặc tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phântích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động
+ Hành động duy lý theo truyền thống: Là loại hành động tuân thủ nhữngthãi quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đờikhác
Trong xã hội thì các loại hành động xã hội luôn có sự đan xen, không có
sự phân biệt rạch ròi cho từng hành động của mỗi chủ thể
Áp dông lý thuyết hành động xã hội của MaxWeber vào trong vấn đềnghiên cứu Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo
Bạch Long Vỹ qua việc phân tích nhận thức, thái độ và một số hành vi chăm
sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ nhằm giải thích và đánh giá tình hình chămsóc sức khoẻ của người phụ nữ Yếu tố nào là chủ yếu tác động, chi phối hành
vi chăm sóc sức khỏe sinh sản, đó là các yếu tố quan niệm truyền thống trong
xã hội; điều kiện kinh tế xã hội ngày một nâng cao; sự xã hội hóa về Y tế vàchăm sóc sức khỏe
* Lý thuyết giới- Thuyết nữ quyền cấp tiến:
Khái niệm “giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân loại học nói đến vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam
và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi Ých Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hóa, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi sinh ra chóng ta không mang theo những đặc
Trang 20tính giới mà chúng ta học được những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta.
Quan điểm chính của thuyết nữ quyền cấp tiến là: hệ thống nam trị là cănnguyên của áp bức phụ nữ Đây là hệ thống riêng biệt với các chính quyền kể
cả chính quyền tư sản Phụ nữ là một giai cấp khác với nam giới và chính hệthống nam trị đã tồn tại từ thời chiếm hữu nô lệ tới nay mặc dù cơ chế chínhtrị có đổi thay Vì vậy, phân tích theo kiểu của các nhà nữ quyền tự do và nữquyền mácxít đều chưa đầy đủ Theo họ, đây là một hệ thống quyền lực, tôn tithứ bậc và cạnh tranh Cần phải xóa bỏ nó mà không thể cải cách vì xét vềbản chất nó đã bắt rễ rất sâu vào xã hội Đặc biệt quyền lực của nó không chỉtrong các cơ cấu pháp lý và chính trị mà còn trong cả các thiết chế xã hội, vănhóa (văn hóa phụ quyền trong gia đình, nhà thờ và viện hàn lâm) Vì vậy, nếuchỉ thủ tiêu xã hội có giai cấp thì vẫn không thủ tiêu được chủ nghĩa nam trị
Họ cho rằng phụ nữ là nhóm bị áp bức đầu tiên và rất sâu sắc nhưng cảnạn nhân lẫn người gây ra đều khó nhận ra vì nó tồn tại không chỉ trong xãhội mà còn trong gia đình, nơi có những quan hệ đặc biệt và thân thiết Quanđiểm của thuyết này là xoay quanh vai trò giới của phụ nữ, đặc biệt là vai tròtái sản xuất và tính dục Các nhà nữ quyền cấp tiến nghi ngờ cái khái niệm
“trật tù tự nhiên” về sinh học giữa nam và nữ khi một số quan điểm cho rằng:
do sinh học nên phụ nữ có trách nhiệm sinh sản, phụ nữ phải có những tínhcách chịu đựng và giữ gìn nữ tính của họ Nữ quyền cấp tiến đã phản đối quanđiểm: sinh ra là phận gái và phụ nữ không phải chịu mọi sự bất công vì sựkhác biệt giới tính bởi lẽ họ không hề được chọn giới tính của mình Phụ nữcần vượt qua những hậu quả tiêu cực của sinh học đối với họ
Sự áp bức của nam giới còn tập trung ở chỗ họ kiểm soát thân thể, vai tròtình dục, sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái của phụ nữ để phục vụ những nhucầu, mong muốn và lợi Ých của mình (như vấn đề tránh thai, triệt sản, nạo
Trang 21thai) Trong khi đó, nam giới đánh giá thấp những phẩm chất nữ và chính điềunày đã sản sinh ra sự áp bức phụ nữ.
Các nhà cấp tiến đã tập trung vào các quan hệ tái sản xuất, chứ khôngphải quan hệ sản xuất là động lực của lịch sử Từ quan điểm này, các nhà nữquyền cấp tiến đã cổ vũ cho việc phụ nữ cần chủ động trong đời sống tình dụccủa mình để được giải phóng.Thông qua chế độ độc thân, tự làm tình hoặcđồng tính Mét phụ nữ có thể được hưởng thụ sự bình đẳng, tự do trong tìnhdục với những khoái lạc thực sự
Gần đây họ có sự thay đổi, họ cho rằng phụ nữ còng được tự do tình dụcnhư nam giới và họ phản đối việc kiểm soát thân thể phụ nữ của nam giới(như vấn đề tránh thai, triệt sản, nạo thai)
Áp dông lý thuyết giới- Thuyết nữ quyền cấp tiến vào trong vấn đề
nghiên cứu Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo
Bạch Long Vỹ qua việc phân tích nhận thức, sù quan tâm của nam giới với
vẫn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhằm giải thích và đánh giá tình hìnhthực hiện bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, tăng cường vai tròcủa người phụ nữ trong quá trình ra quyết định về các vấn đề có liên quan tớisức khỏe sinh sản, đề cao vai trò trách nhiệm của nam giới trong việc chia sẻvới phụ nữ thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản
4 Thực tiễn tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản ở huyện đảo Bạch Long Vĩ.
4.1 Đặc điểm tự nhiên- kinh tế- văn hóa- xã hội của huyện đảo Bạch Long Vỹ
Huyện đảo Bạch Long Vĩ được thành lập theo Nghị định số15/NĐ-CP/1992 của chính phủ, là huyện trực thuộc Thành phố Hải Phòng, có
vị trí địa lí xa nhất trong các đảo ở phía Bắc, nằm ở trung tâm vịnh Bắc bộcách đất liền một khoảng cách 132 hải lý Tuy diện tích nhỏ(hơn 2km2) nhưnghuyện đảo có tầm quan trọng trong chiến lược biển của Đảng và Nhà nước ta.Qua 15 năm xây dựng và phát triển được sự quan tâm đầu tư đúng mức của
Trang 22Trung ương và Thành phố Hải phòng, Quân và Dân huyện đảo đã đoàn kếtphấn đấu xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội phát triển Đời sống nhân dândần ổn định, quốc phòng an ninh vững mạnh, bộ máy Đảng, chính quyền, mặttrận tổ quốc hoạt động có hiệu quả tạo môi trường điều kiện thuận lợi thu hótngư dân hội tụ đến khai thác vùng biển đảo giàu tiềm năng, tạo đà đưa huyện
đảo phát triển bền vững, “ Sớm trở thành Trung tâm chế biến dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc bộ” trước năm 2020.
* Về bộ máy hành chính:
Đảng bộ huyện có 120 đảng viên, có 11 chi bộ và 01 đảng bộ trực thuộc.Cán bộ, đảng viên được rèn luyện trong thử thách khó khăn, đoàn kết, vữngvàng kiên định hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Đảng bộ huyện luôn được đánhgiá là Đảng bộ trong sạch vững mạnh, hoàn thành suất sắc nhiệm vụ
Bộ máy hành chính huyện không phân cấp thành các xã, có 04 khu dân
cư và các đơn vị trực thuộc huyện; bộ máy hành chính gọn nhẹ, cán bộ kiêmnhiệm nhiều chức năng Bao gồm: Khối các phòng ban chuyên môn gồm 07phòng ban; khối nội chính gồm có Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và Đội thihành án; các đơn vị chuyên ngành nh Bưu điện, Hải văn, Hải đăng, Đội thuế,Bảo hiểm xã hội
* Về cơ sở hạ tầng:
Được sù quan tâm của chính phủ, Thành phố 15 năm qua, quân và dânhuyện đảo đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng vốn đầu tư khoảngtrên 400 tỷ đồng Đến nay, hệ thống đường giao thông nội đảo đã được xâydựng với gần 20 km đường trải nhựa, đường bê tông quanh đảo Trụ sở, nhàlàm việc của các cơ quan đơn vị và nhà ở cho dân ở các khu dân cư Trạmđiện gió Diezen công suất 800 KVA cung cấp điện cho sinh hoạt Cảng vàkhu neo đậu tàu hoạt động với khả năng cho trên 300 tàu đánh cá vào tránhgió và tàu trọng tải 400 tấn ra vào bốc dỡ hàng hóa Khu dịch vụ hậu cần nghề
cá với hệ thống cửa hàng bách hóa, kho hàng, xưởng sản xuất nước ngọt,nước đá, cơ sở sửa chữa tàu thuyền, kho xăng dầu Các công trình: Trạm đèn
Trang 23hải đăng; Bưu điện; Trạm chuyển phát sóng truyền hình; Trung tâm y tế;Trường tiểu học đang phát huy tác dụng phục vụ và nâng cao đời sống củaquân và dân trên đảo, ngư dân hoạt động đánh bắt hải sản quanh đảo.
* Về Kinh tế:
Thực hiện chủ trương của Huyện ủy- Hội đồng nhân dân- Uỷ ban nhândân, với mục tiêu xây dựng huyện đảo phát triển toàn diện, bền vững, sớm trởthành trung tâm chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển bắc
bộ Từ năm 2005 trở lại đây đã bước đầu hình thành và phát triển các ngànhnghề kinh tế, một số cơ sở kinh tế của cá nhân, hộ gia đình được xây dựng tậptrung vào các dịch vụ sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, cung cấp nhuyếu phẩm… lao động có đủ việc làm, thu nhập tương đối ổn định; không có
hộ gia đình thuộc diện đói nghèo; 100% hé gia đình có phương tiện nghenhìn; một số hộ gia đình có thu nhập khá từ việc kết hợp chăn nuôi- trồngtrọt- dịch vụ và khai thác thủy sản và đang đầu tư sản xuất dịch vụ
Kinh tế dịch vụ có bước phát triển khá, nhiều loại hình dịch vụ mới xuấthiện, chiếm 71% giá trị sản xuất các ngành kinh tế Trong đó dịch vụ hậu cầnnghề cá là trọng tâm
Do thiên tai, thời tiết khắc nghiệt nên công tác trồng và chăm sóc rừnggặp nhiều khó khăn
Nguồn nước ngọt còn rất khó khăn về mùa khô, chưa đủ đáp ứng cho cáctàu vươn khơi và sản xuất dịch vụ
Cảng và khu neo đậu tàu rộng 30,9 ha, hàng năm bình quân có 20 nghìnlượt tàu thuyền vào neo đậu trao đổi hàng hóa và tránh gió bão
* Về Văn hóa- Xã hội:
Công tác giáo dục- đào tạo:
Đã cải tạo và xây dựng mới Trường tiểu học 2 tầng khang trang, cùngvới việc đầu tư các thiết bị theo quy trình xây dựng trường chuẩn quốc gia.100% trẻ em trong độ tuổi được đi học, học sinh đến tuổi học cấp phổ thông
Trang 24cơ sở trở lên phải về đất liền học nội trú Năm 2005 huyện đảo được côngnhận hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và trên đảo không còn người
mù chữ Công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngò cán bộ được quan tâm Tuynhiên, do số lượng học sinh các líp Ýt, một mặt do trình độ, phương phápgiảng dạy của đội ngò giáo viên Ýt được bồi dưỡng nâng cao, cập nhật kịpthời nên công tác giáo dục ở đảo phát sinh nhiều khó khăn mới
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, công tác dân số gia đình
và trẻ em:
Trung tâm y tế huyện đảm bảo công tác y tế dự phòng và khám chữabệnh cho nhân dân, phối hợp tốt với các ngành thực hiện công tác tuyêntruyền về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Đảm bảo 100% trẻ em trong độtuổi được tiêm phòng 6 bệnh truyền nhiễm và uống vitamin A Thực hiện chế
độ giám sát, phát hiện và tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh Tuynhiên, nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng cho y tế nhưng chưa cóchính sách thu hót bác sỹ ra đảo công tác vì vậy, do Y, Bác sĩ còn hạn chế về
số lượng và trình độ nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân khôngđược cải thiện
Công tác dân số gia đình và trẻ em: Năm 2004 có quyết định thành lậpđược quan tâm đi vào hoạt động, tháng 7 năm 2007 đã tiếp nhận nhà truyềnthông tư vấn và quản lý dữ liệu dân cư, bước đầu đi vào hoạt động nên cónhiều khó khăn và bất cập
Đơn vị tính: Người.
1->14tuổi
Ngườilớn
1->14tuổi
Trong độ tuổisinh đẻ
45->54tuổi
(Nguồn: Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em huyện)
Từ số liệu dân cư nh trên chúng ta thấy:
Trang 25Do đặc thù dân số huyện đảo: dân số Ýt, không ổn định, dao động tùytheo từng thời điểm, tỷ lệ giữa nam và nữ không tương xứng, số nam giớinhiều hơn nữ giới, số nam giới chủ yếu thuộc các đơn vị lực lượng vũ trang(Biên phòng, Hải quân, Phòng không, Quân sự địa phương) và các cơ quanchuyên ngành đóng quân tại địa phương Nữ giới chủ yếu ở các khu dân cư,
số Ýt ở các cơ quan hành chính sự nghiệp Không có người cao tuổi, cho nên
tỷ xuất sinh của trẻ em hàng năm còng mang tính đặc thù
Công tác văn hóa- xã hội:
Địa phương đã đÈy mạnh các hoạt động tuyên truyền phục vụ nhiệm vụchính trị tại địa phương Hoạt động của hệ thống phát thanh, chuyển tiếptruyền hình được duy trì tốt, mặc dù có khó khăn về nguồn điện Các vấn đề
xã hội được quan tâm giải quyết, nhân dân có đủ việc làm và thu nhập ổnđịnh, không có hộ đói nghèo Thực hiện tốt các chế độ thăm hỏi động viên vàtặng quà các thương bệnh binh và gia đình chính sách
*Về Quốc phòng- An ninh:
Tình hình quốc phòng- an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định vàgiữ vững chủ quyền quốc gia Các lực lượng vũ trang triển khai nghiêm túccông tác huấn luyện dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng, thực hiện tốt vaitrò lực lượng chủ lực trong phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, phòngchống cháy nổ Triển khai tốt phong trào toàn dân tham gia phòng chống tộiphạm Nhiều năm không có đơn thư khiếu kiện của nhân dân, các cấp chínhquyền đã thường xuyên lắng nghe và kịp thời giải quyết ý kiến, kiến nghị củanhân dân
* Những khó khăn, trở ngại cho quân và dân huyện đảo:
Do diện tích toàn huyện nhỏ phần nổi của đảo chỉ có hơn 2 km2, khí hậukhắc nghiệt, nắng nhiều, mưa Ýt, không có rừng, suối, ao hồ trên đảo Mặtkhác quỹ đất cho phát triển kinh tế hạn chế, việc bố trí mặt bằng cho các dự
án sử dụng diện tích lớn có tác động và ảnh hưởng tới môi trường
Trang 26Đảo xa, điều kiện đi lại rất khó khăn, chưa có tuyến tàu khách HảiPhòng- Bạch Long Vĩ Việc đi lại của cán bộ và nhân dân phụ thuộc hoàntoàn vào thời tiết do phương tiện chở khách duy nhất hiện nay là tàu cao tốcBạch Long của Tổng đội Thanh niên xung phong chỉ hoạt động được trongđiều kiện thời tiết tốt, sóng và gió cấp 5 trở xuống.
Đến nay, Bộ máy chính quyền còn thiếu nhiều phòng ban chức năng đểquản lý nhà nước ở một số lĩnh vực, năng lực của cán bộ, công chức cònnhiều hạn chế do thiếu môi trường rèn luyện, do kiêm nhiệm nhiều việc nênchuyên môn không sâu
Các dịch vụ xã hội tuy đã có nhiều cố gắng song dịch vụ điện, nước vẫncòn nhiều vấn đề bất cập ảnh hưởng tới sinh hoạt và sản xuất dịch vụ Huyệnđảo chưa có chi nhánh ngân hàng, kho bạc, dịch vụ điện- thư chuyển tiền.Như vậy, đây là những khó khăn tồn tại trong nhiều năm nay và chưa thểtháo gỡ trong một sớm, một chiều, nó ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý, tình cảmcủa quân và dân huyện đảo và gây e ngại cho các nhà đầu tư có ý định đầu tưphát triển kinh tế tại huyện đảo
Tóm lại, qua một số nét về tình hình kinh tế- xã hội của huyện đảo chothấy: Tuy đời sống của nhân dân trong những năm vừa qua được nâng lên,nhưng vẫn còn khoảng cách xa với người dân ở đất liền, cơ sở hạ tầng đượcquan tâm đầu tư xây dựng xong còn nhiều thiếu thốn, làm ảnh hưởng tới tốc
độ phát triển kinh tế- xã hội, những khó khăn đó xuất phát từ đặc điểm là mộthuyện đảo xa đất liền, mới được thành lập, điều kiện kinh tế còn nghèo, lĩnhvực kinh tế cũng còn một số tồn tại hạn chế như việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa còn chậm, chưa bền vững, chưakhai thác hết tiềm năng và lợi thế của huyện đảo, thu nhập của người dânchưa ổn định, trình độ dân trí thấp và không đồng đều Mặc dù Đảng và nhànước đã quan tâm đầu tư nhưng việc tổ chức thực hiện còn chậm và chưađồng bộ, nên ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển chung và việc thực hiện
Trang 27chương trình chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nâng cao chất lượng nguồnnhân lực.
4.2 Tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản của huyện đảo Bạch Long
Vỹ những năm trước đây.
Chóng ta đều biết nâng cao chất lượng dân số là công việc của toàn xãhội, đòi hỏi phải có sự tham gia nỗ lực của các ngành, các cấp Với chức năngquản lý nhà nước về công tác dân số, gia đình và trẻ em, ngành dân số, giađình và trẻ em đã chủ động phối hợp với ngành y tế trong công tác chăm sócsức khỏe cho nhân dân, đặc biệt tiến hành triển khai kế hoạch hành động thựchiện chiến lược truyền thông giáo dục thay đổi hành vi về dân số, sức khỏesinh sản/ kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010
Trong những năm gần đây do đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng
và nhà nước ta, sù chỉ đạo cụ thể của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự nỗ lựccủa toàn bộ hệ thống Y tế và hệ thống Dân sè/ KÕ hoạch hóa gia đình, sựtham gia tích cực của các ngành, các Đoàn thể xã hội, sù hưởng ứng của nhândân và sự hỗ trợ quý báu và có hiệu quả về nguồn lực cũng như về kỹ thuậtcủa các nước, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ, đã tạo được sùchuyển biến tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân trongviệc thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản Các cặp
vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hiểu biết chung về các biện pháp tránh thaihiện đại rất cao chiếm 99,5% Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại
tăng từ 61% năm 2001 lên 67% năm 2006 (theo điều tra biến động dân số- kế
hoạch hóa gia đình 01/04/2006) Đặc biệt nam giới đã tham gia tích cực hơn
trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, cùng chia sẻ, trao đổi với người
vợ trong việc thực hiện các biện pháp tránh thai; tỷ lệ sử dụng bao cao su cao.Người cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia đình ở các cơ sở
y tế được cung cấp kiến thức, kỹ năng truyền thông, tư vấn và bước đầu thựchiện chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản nhằm phục vụ tốthơn người sử dụng dịch vô
Trang 28Công tác vận động đã tạo được dư luận xã hội ủng hộ tích cực và thựchiện chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình của Đảng và nhà nước; Tạođược sự cam kết, ủng hộ của Lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ngành, đoànthể, các tổ chức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng.
Công tác giáo dục dân số/ sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia đình,trong và ngoài nhà trường cho vị thành niên và thanh niên bước đầu đã giúpcác em hiểu biết và có hành vi đúng đắn trong quan hệ tình bạn, tình yêu lànhmạnh, tình dục an toàn, phòng ngõa có thai ngoài ý muốn và các bệnh lâytruyền qua đường tình dục, HIV/AIDS
Năng lực đội ngò làm công tác truyền thông dân số, gia đình và trẻ emđược nâng cao Hệ thống tổ chức làm công tác truyền thông dân số đã đượccủng cố Các hoạt động truyền thông tập trung vào sức khỏe sinh sản, phù hợpvới từng nhóm đối tượng
Sù quan tâm đầu tư của nhà nước cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe chonhân dân và lĩnh vực dân số kế hoạch hóa gia đình không ngừng được tănglên đã tạo điều kiện cho việc củng cố và phát triển mạng lưới cơ sở y tế/ kếhoạch hóa gia đình rộng khắp đến tận các bản làng thôn xóm trong cả nước.Các dịch vụ phòng, chữa bệnh cho bà mẹ trẻ em, chăm sóc trước, trong và sausinh, các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình,… kể cả do nhà nước và tư nhân cungcấp, được mở rộng và chất lượng ngày càng được nâng cao Nhờ đó, chúng ta
Trang 29Hải phòng về đẩy mạnh công tác dân số, gia đình và trẻ em giai đoạn
2006-2010 Với các mục tiêu:
Giảm tỷ xuất sinh hàng năm từ 0,05- 0,15 %
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên dưới 1%
Tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đạilên 80%
Phấn đấu hàng năm giảm từ 3-5% sè ca nạo, phá thai, nhất là lứa tuổi vịthành niên
Giảm tỷ lệ tử vong mẹ liên quan tới thai sản còn dưới 50/100.000 trẻsinh ra sống
Giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh dưới 2.500 gr còn dưới 4%
90-100% nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn được trang bị kiến thức
về hôn nhân và gia đình
Để đạt được mục tiêu chung về tăng trưởng kinh tế và chăm sóc tốt sứckhỏe sinh sản, trong những năm gần đây chính quyền địa phương đã tăngcường chỉ đạo công tác truyền thông giáo dục thay đổi hành vi, bằng mọi biệnpháp, mọi kênh thông tin để nâng cao nhận thức, tri thức của nhân dân về vấn
đề chăm sóc sức khỏe sinh sản Giúp cho người dân hiểu biết đúng và tựnguyện thực hiện các vấn đề về dân số và phát triển, về giáo dục giới tính, vềgia đình và môi trường
Rà soát lại hệ thống chính sách liên quan tới vấn đề sức khỏe sinh sản đểkịp thời bổ xung và đưa vào thực hiện cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xãhội ở địa phương, đúng với chính sách, pháp luật của nhà nước về sức khỏesinh sản
Tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, để phát triển kinh tế- xãhội và cải thiện đời sống nhân dân Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ đạo Trungtâm y tế huyện tạo mọi điều kiện thuận lợi để cung cấp, tư vấn về các biệnpháp tránh thai giúp cho người dân tự lùa chọn và quyết định về số lượng con,
Trang 30khoảng cách sinh và thời gian sinh con, đảm bảo dịch vụ an toàn, thuận tiện,hiệu quả cao.
Tích cực đề ra các giải pháp nâng cao điều kiện sống về kinh tế, văn hóa,
xã hội cho các bà mẹ Tìm giải pháp hữu hiệu nhất để giảm tối thiểu bệnh tậtcho chị em phụ nữ ( nh sinh đẻ trong độ tuổi thích hợp, giảm số lần có thai,hạn chế có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai…)
Triển khai thực hiện chương trình lồng ghép giữa chăm sóc sức khỏesinh sản và chăm sóc sức khỏe trẻ em Duy trì tỷ lệ 100% trẻ em trong độ tuổiđược tiêm chủng mở rộng đầy đủ, phòng chống suy dinh dưỡng
Tổ chức tuyên truyền cho chị em phụ nữ các biện pháp phòng chống cácbệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản như đảm bảo vệ sinh môi trường, bảo vệnguồn nước sạch sinh hoạt, các công trình vệ sinh… hàng năm tổ chức khámphụ khoa cho chị em phụ nữ Các tổ chức đoàn thể xã hội tăng cường việcthông tin, giáo dục về vấn đề tình dục và các biện pháp ngăn chặn các bệnhlây nhiễm qua đường tình dục như HIV/AIDS Đoàn thanh niên tích cựcthông tin truyền thông sâu rộng cho mọi đối tượng hiểu rõ tầm quan trọng củacông tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, giúp cho vị thành niên
có những hiểu biết đúng đắn về gới tính và tình dục, có những hành vi tìnhdục lành mạnh, ngăn chặn có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai an toàn
Phỏng vấn sâu ông P.N.N - Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện- chủnhiệm Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em vÒ kết quả thực hiện công tác dân
số, gia đình và trẻ em trong những 5 năm qua: đặc biệt là công tác chăm sócsức khỏe bà mẹ và trẻ em; việc thực hiện chiến lược quốc gia về chăm sóc sứckhỏe sinh sản ở địa phương cho thấy:
“Kết quả đạt được của công tác DS GĐ&TE của huyện đảo không tách rời sự lãnh đạo của Huyện ủy, HĐND,UBND, sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể trong toàn huyện Triển khai thực hiện Nghị quyết số 21- NQ/TU (khóa XII) về công tác dân số, gia đình và trẻ em trong thời kỳ CNH- HĐH; Nghị quyết số 17/2006/NQ- HĐND; Chương trình hành động đến năm
2010 theo Quyết định số 2793/ QĐ-UB của ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
Trang 31- Tổ chức triển khai các đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ SKSS/KHHGĐ tập trung vào các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nhất là các cặp vợ chồng đã có 2 con, sinh con một bề.
- Tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng dân số; nghiên cứu triển khai mô hình cung cấp dịch vụ thông tin và dịch vụ SCSKSS/KHHGĐ, cung cấp các dịch vụ thích hợp, giảm tỷ lệ phá thai ngoài ý muốn.
- Tăng cường vận động xây dựng mô hình gia đình Ýt con, no Êm,b×nh đẳng, tiến bộ, hạnh phóc và phát triển bền vững.
Mặc dù, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ của Huyện đảoBạch Long Vĩ trong những năm qua còn rất nhiều khó khăn về cán bộ, chuyênmôn, trang thiết bị, thuốc men,… nhưng qua việc chăm sóc sức khỏe sinh sảncho nhân dân đã phần nào được cải thiện Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tếthì vẫn còn quá khiêm tốn Các chương trình về kế hoạch hóa gia đình ngườiphụ nữ luôn được xem là đối tượng chính được vận động tuyên truyền củacông tác này, cũng như được bảo vệ, chăm sóc khi mang thai và sinh con
CHƯƠNG II- MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở HUYỆN ĐẢO BẠCH LONG VỸ.
I- THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở HUYỆN ĐẢO BẠCH LONG VỸ.
1 Nhận thức về chăm sóc sức khỏe và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Từ trước tới nay, nguyện vọng của con người là sống khỏe mạnh, không
bị ốm đau, sống thọ lâu để lao động có kết quả, có mái Êm gia đình hạnhphóc Ai cũng hiểu sức khỏe là vốn quý nhất
Trước đây, người ta thường quan niệm rằng có sức khỏe có nghĩa làkhông ốm đau, bệnh tật và việc chăm sóc sức khỏe là công việc của riêngngành y tế Nhận thức này xuất phát từ nhận thức của con người, các điềukiện thực tế của xã hội hiện tại Chỉ lúc nào ốm đau người ta mới thực sự nghĩtới và lo lắng cho sức khỏe của mình
Khi đi vào tìm hiểu nhận thức của phụ nữ trong chăm sóc sức khỏe vàchăm sóc sức khỏe sinh sản, tôi thấy rằng cách xử lý và lùa chọn loại hìnhdịch vụ y tế của phụ nữ huyện đảo, trong những lúc ốm đau không chỉ phản
Trang 32ánh khả năng thực tế của phụ nữ trong việc chăm sóc sức khỏe, mà còn thểhiện trình độ “ văn hóa y tế” Trong điều kiện “văn hóa y tế” thấp thì nhu cầuchăm sóc sức khỏe cũng thấp và cách ứng xử của chị em cũng thật đơn giản.Ngược lại, trong điều kiện “ văn hóa y tế” cao thì nhu cầu chữa trị cũng cao
và lùa chọn các hình thức phục vụ y tế hợp lý, ngay cả trong điều kiện giađình có những hạn hẹp về kinh tế
Đối với người phụ nữ Việt Nam, trong những ứng xử với bệnh tật, vớisức khỏe của bản thân và gia đình còn bao gồm cả kho tàng kinh nghiệm vềphòng bệnh, dưỡng sinh và giải trí,… nhiều kiến thức phòng và chữa bệnh đãtrở thành gia truyền hoặc truyền thống
Như chóng ta đã biết, nhận thức về chăm sóc sức khỏe tùy thuộc vàonhững điều kiện cụ thể, trước hết là do trình độ học vấn, học vấn giúp choviệc nhận thức các phương pháp hữu hiệu để phòng và có ý thức chữa trị, pháthiện các dấu hiệu bệnh tật cũng như xử lý các tình huống trong việc chăm sócchữa trị bệnh tật, học vấn cũng là phương tiện quan trọng để tìm hiểu và tiếpthu tri thức về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe Một trong những nguyên nhâncủa tình trạng thờ ơ, thiếu hụt về kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản là dovấn đề học vấn và dân trí
Qua điều tra nghiên cứu về trình độ học vấn của chị em phụ nữ huyện
đảo cho thấy: (xem bảng 1)
Bảng 1: Trình độ học vấn của phụ nữ huyện đảo
Trang 33Từ số liệu (bảng 1) cho thấy trình độ học vấn của phụ nữ huyện đảo rất
thấp, trong 325 phụ nữ có: 05 người có trình độ học vấn đại học chiếm 1,5%;
12 người có trình độ học vấn Trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng chiếm3,6%; 32 người có trình độ học vấn Trung học phổ thông chiếm 9,84%; 57người có trình độ học vấn Trung học cơ sở chiếm 17,5 %; 219 người có trình
độ học vấn Tiểu học chiếm 67,4 %; Không có người mù chữ Nh vậy trình độhọc vấn thấp là nguyên nhân hạn chế sự hiểu biết cần thiết của phụ nữ trongviệc chăm sóc sức khỏe sinh sản
Bên cạnh đó, nhận thức của người phụ nữ cũng phụ thuộc rất nhiều vàocông tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản và khả năng tiếp nhận kiếnthức chăm sóc sức khỏe của phụ nữ qua các phương tiện giáo dục, tuyêntruyền thì lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện xã hội
Ngày nay, cùng với sự biến đổi của xã hội và phát triển của các phươngtiện thông tin đại chúng, người phụ nữ ngày nay đã có thể mở rộng tầm hiểubiết của mình về các vấn đề xã hội Do đó, nhận thức của họ còng càng cókhuynh hướng tích cực hơn trước theo xu thế phát triển chung của xã hội.Trong thời gian gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng đã có nhiềuchương trình hướng dẫn người dân cách phòng ngõa bệnh tật, làm cho chị emphụ nữ nhận thức được nâng lên, dễ dàng lùa chọn những biện pháp có lợicho sức khỏe của mình Bên cạnh đó, mức sống hiện nay được cải thiện hơntrước nên họ có cơ hội cải thiện nâng cao chất lượng bữa ăn, có lợi cho sứckhỏe
Ở nước ta, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa qua một số công trình nghiêncứu cho thấy: kiến thức về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe nói chung còn rấthạn chế; Với Bạch Long Vĩ kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn phụ nữtrong các gia đình của huyện đảo tuy đã được nâng cao nhận thức về vấn đềchăm sóc sức khỏe cho bản thân họ và các thành viên trong gia đình song cònhạn chế Pháng vấn sâu đối tượng tại địa bàn nghiên cứu thì kết quả trả lời câu
hỏi “ quan niệm của chị về một người có sức khỏe và để có sức khỏe theo chị
Trang 34phải chăm sóc sức khỏe như thế nào” các câu trả lời gần như là giống nhau họ
nhận định rằng “ sức khỏe là không ốm đau bệnh tật” “ để có sức khỏe, con
người cần phải có chế độ ăn uống hợp lý, chế độ làm việc phù hợp với sức khỏe và giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ” Cơ bản là họ cho là mình đã có sức
khỏe tốt và họ cũng cho rằng để chăm sóc sức khỏe cho mình thì tốt nhất lànên phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu không có sức khỏe tốt thì họ không thểđem lại thu nhập cho gia đình và cũng không thể chăm sóc con cái một cáchtốt nhất
Bên cạnh đó, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng được chị em phụ
nữ quan tâm song chưa nhiều Nh chóng ta đã biết hiểu biết đầy đủ các kiếnthức về sức khỏe sinh sản là một việc làm hết sức thiết thực và hữu Ých đốivới mọi người nói chung và đặc biệt là chị em phụ nữ nói riêng Vì phụ nữluôn được coi là đối tượng chính trong công tác truyền thông vận động thayđổi hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình Khi nghiêncứu về nhận thức của phụ nữ về các vấn đề cơ bản của chăm sóc sức khỏesinh sản thì kết quả cho thấy phần lớn chị em phụ nữ còn nhận thức chưa đầy
đủ về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản
Khi hỏi chị em phụ nữ về sức khỏe sinh sản bao gồm những nội dung
nào? Trong sè 10 nội dung đưa ra thì phần lớn chị em chỉ biết các nội dung kế
hoạch hóa gia đình; làm mẹ an toàn; nạo hót thai; bệnh nhiễm khuẩn đườngsinh sản; bệnh lây qua đường tình dục và giáo dục truyền thông thay đổi hành
vi sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình
Phụ nữ huyện đảo biết đến một số nội dung cơ bản đó của sức khỏe sinhsản là do đây là những nội dung mà các hoạt động tuyên truyền nhằm vàonhiều nhất Các nội dung này, theo nhận định cảm tính thì nó có sự gắn bótrực tiếp với hoạt động sinh sản của con người
Các nội dung còn lại như: vô sinh; ung thư vú và đường sinh sản, giáodục tình dục… phải chăng do mức độ tuyên truyền Ýt hơn, họ cho rằng
Trang 35những nội dung này liên quan tới bệnh tật, sức khỏe của con người nhiều hơn
là nội dung này liên quan tới vấn đề sức khỏe sinh sản
Phỏng vấn sâu chị N.T.C- Chủ tịch Hội Liên Hiệp phụ nữ huyện cho
biết kết quả phong trào phụ nữ thực hiện chiến lược quốc gia về chăm sóc sứckhỏe sinh sản tại địa phương nh sau:
Hội liên hiệp phụ nữ huyện đã tổ chức chiến dịch hàng năm với những mục tiêu cụ thể và thiết thực; phối hợp với trung tâm y tế huyện chuẩn bị cơ
sở vật chất và phương tiện để cung cấp thông tin tư vấn kế hoạch hóa gia đình chăm sóc sức khỏe sinh sản một cách an toàn thuận tiện, phục vụ cho nhóm đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ.
Tập trung làm tốt công tác tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng: hội nghị, diễn đàn phụ nữ với công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, làm mẹ
an toàn, pháp lệnh dân số, nhất là gia đình trẻ thay đổi nhận thức, chuyển đổi hành vi thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản đảm bảo lồng ghép mục tiêu xây dựng gia đình Ýt con, no Êm, bình đẳng, tiến bộ
và hạnh phóc.
Lập danh sách nắm vững các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản chưa
sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại, nhất là các cặp vợ chồng sinh con một
bề gái đã có đủ 2 con để vận động thuyết phục.
Phối hợp chặt chẽ với trung tâm y tế huyện mời bác sỹ sản khoa bệnh viện tuyến trên nói chuyện chuyên đề chăm sóc sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình cho chị em phụ nữ trong toàn huyện (đạt 75% hội viên tham dự): phổ biến kiến thức chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em; các biện pháp tránh thai; các bệnh thường gặp ở phụ nữ và trẻ em; các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục; an toàn mẹ sức khỏe con ; 80% chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được tiêm vắc xin phòng uốn ván.
Tìm hiểu về công tác tuyên truyền vận động thực hiện kế hoạch hóa giađình ở địa phương đã quan tâm truyên truyền tới đối tượng là nam giới chưa ?
Trang 36“Công tác tuyên truyền vận động lĩnh vực này ở địa phương, chủ yếu
giao cho Trung tâm y tế huyện phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ huyện và Đoàn thanh niên tổ chức thực hiện Hoạt động này Hội phụ nữ thực hiện có hiệu quả hơn, có lẽ cũng chưa có hội nghị nào tổ chức riêng cho nam giới cả, nếu có thì Đoàn thanh niên sinh hoạt giáo dục tình bạn, tình yêu an toàn”
(Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em)
Khi phỏng vấn sâu cá nhân tôi nhận thấy rằng nhận thức của chị em vềnội dung và ý nghĩa của sức khỏe sinh sản chưa được đầy đủ, sự thiếu hiểubiết về cách đề phòng các nguy cơ đối với sức khỏe sinh sản
2 Nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai.
Ở Việt Nam hiện nay các biện pháp tránh thai đang được sử dụng là:Thuốc tránh thai, bao cao su, dụng cụ tử cung (vòng tránh thai), đình sản nam,đình sản nữ, Tiêm hoặc cấy thuốc tránh thai,… Trong các biện pháp trên thìbiện pháp đặt vòng tránh thai và dùng bao cao su được coi là biện pháp đượcnhiều người sử dụng nhất, do công tác tuyên truyền vận động thay đổi hành visức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình
Sự nhận thức và tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai của phô nữ ở
độ tuổi sinh đẻ có tác động đến mức sinh Tuy đối tượng ở vùng sâu, vùng xanhưng hiểu biết ban đầu về các biện pháp tránh thai khá cao, 100% phụ nữhuyện đảo biết một biện pháp tránh thai bất kỳ (kể cả biện pháp tránh thaihiện đại) , song mức độ nhận thức còn rất sơ đẳng
Phỏng vấn sâu một phụ nữ làm nghề chèo đò cho biết: “Mình biết được
các biện pháp tránh thai là qua nghe ở sinh hoạt phụ nữ, chỉ biết rõ về đặt vòng tránh thai, uống thuốc tránh thai, bao cao su, chứ những thứ Triệt sản, tiêm thuốc tránh thai mới chỉ nghe nói chứ không rõ lắm” (Nữ, 26 tuổi,
thuyền số 127, Nghề chèo đò)
Đánh giá về nhận thức của chị em với các biện pháp tránh thai hiện đại,lãnh đạo Hội liên hiệp phô nữ cho thấy:
Trang 37“Nhận thức của chị em về các biện pháp tránh thai tương đối cao nhưng
ý thức chấp hành và thực hiện không được hiệu quả, do văn hóa vùng miền quê của họ bao trùm lên giá trị văn hóa cộng đồng” (Chủ tịch Hội liên hiệp
ở huyện đảo, những trường hợp đình sản là do thực hiện ở trong đất liền trước
khi những đối tượng này chuyển gia đình ra đảo định cư (Số liệu năm 2007
của Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em huyện).
Mét trong những nguyên nhân của tình trạng tỷ lệ sử dụng các biện pháptránh thai hiện đại thấp là do sự nhận thức còn hạn chế của các cặp vợ chồngtrong độ tuổi sinh đẻ Hơn nữa, là hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa giađình của huyện đảo chưa hiệu quả và còn nhiều vấn đề bất cập Thuốc tránhthai và bao cao su chưa được phân phát cho phụ nữ thông qua hệ thống cộngtác viên dân số Mạng lưới cung cấp dịch vụ tránh thai ở đảo chưa phát triểnsâu rộng, hoặc là có tình trạng cung cấp bao cao su quá hạn sử dụng chấtlượng kém dễ rách, dễ thủng hiệu quả tránh thai kém, gây dị ứng cho phụ nữkhi sử dụng
“ Trước đây tôi ở trong đất liền, tôi vẫn được cấp phát thuốc tránh thai
và bao cao su không mất tiền Từ dạo định cư ra đảo sinh sống đến bây giê toàn phải đi mua ở trung tâm y tế về để dùng, vì ở đây tôi thấy chưa thấy có cộng tác viên dân số làm việc Êy, mang về dùng toàn bị viêm ngứa khó chịu lắm, không mua ở đấy chẳng còn chỗ nào bán những thứ đó cả,…”(Nữ , 32
tuổi, Dịch vụ ăn uống, Khu dân cư số I)
Trang 38Hơn nữa, “ Vợ chồng em thường dùng bao cao su để kế hoạch nhưng
vẫn bị vỡ kế hoạch do chất lượng bao cao su mua ở Trung tâm y tế kém, toàn
bị thủng thôi chị ạ Em bị có thai phải về đất liền nạo phá thai 02 lần rồi chị
ạ, khổ lắm ” (Nữ, 29 tuổi, Đội viên liên đội Thanh niên xung phong, ở Làng
Thanh niên xung phong)
Vì vậy, mặc dù bao cao su là biện pháp duy nhất vừa tránh được có thaingoài ý muốn, vừa tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhưngcũng chỉ có 10,5% đối tượng sử dụng biện pháp dùng bao cao su
Nh vậy, mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 52,6 %khoảng cách này còn rất xa so với tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiệnđại của phụ nữ cả nước trong độ tuổi sinh đẻ (67%)
“Phô nữ không được cấp miễn phí bao cao su, thuốc tránh thai, chị em
phải mua Trung tâm có bán bao cao su/ thuốc tránh thai, theo giá cả thị trường Ngoài trung tâm y tế không còn có chỗ nào bán nữa” (Nam, 31 tuổi,
Bác sỹ, Giám đốc Trung tâm y tế huyện)
Hệ thống chăm sóc y tế và dịch vô cung cấp các biện pháp tránh thai tạicác khu vực này còn có một khoảng cách khá xa so với tình hình chung cảnước Tình trạng giao thông đi lại khó khăn góp phần gây bất tiện cho việcphân phối các biện pháp kế hoạch hóa gia đình tới chị em phụ nữ Đồng thờigây khó khăn cho người dân trong tiếp cận với các cơ sở khám chữa bệnhtrong đất liền
3 Tình hình chăm sóc thai nghén và sinh đẻ
3.1 Chăm sóc thai nghén:
Việc chăm sóc thai nghén thể hiện ở việc theo dõi quản lý thai nghén của
y tế cơ sở, việc khám thai và tiêm phòng uốn ván,…
Như chóng ta thấy, hiện nay hệ thống chăm sóc sức khỏe và kế hoạchhóa gia đình đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và hoạt động khá rộngrãi trên phạm vi cả nước, tuy nhiên không phải mọi người dân đều được chămsóc chu dáo như nhau đặc biệt là người dân ở những vùng sâu, vùng xa, hải