Trong khi tại các xã hội phức tạp, nó có thể bao gồm các mối quan hệ xuyên văn hóa tinh vi gi ữa những con người phục vụ cho du khách ví dụ như nhân viên công ty lữ hành và quản lý khách
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV KHOA NHÂN HỌC
2013
Trang 21
DU LỊCH, TRUYỀN THỐNG, VÀ TIẾP BIẾN VĂN HÓA: WEEKENDISMO TẠI MỘT NGÔI
LÀNG MEXICO
Theron Nunez, 1963 (Nguyên văn “Tourism, Tradition, and Acculturation: Weekendismo in a Mexican Village,” 1963
Ethnology 2:347-352)
Trong những năm gần đây các nhà nhân học có xu hướng tìm hiểu các dạng thức tiếp
biến văn hóa nông thôn-thành thị chủ yếu từ hai quan điểm Một số học giả, như là Lewis (1959) và Little (1955, 1962) đã t ập trung vào những mô thức hành vi đã b ị biến đổi có đặc điểm của các nông dân di dân vào các trung tâm đô thị, trong khi những người khác ví dụ như Fallers (1954) và Srinivas (1956) thì lại quan tâm đến sự chắt lọc hoặc là khuếch tán của các
mô thức văn hóa đô thị đến cấp độ làng xã
Trong bài viết này tôi đề xuất một bối cảnh khác cho nghiên cứu mối tiếp xúc nông thành thị và tiếp biến văn hóa Trong những quốc gia mới công nghiệp hóa, với sự nổi lên của các tầng lớp thị dân khá giả, các dạng thức nghỉ ngơi thì sử dụng các đặc trưng điển hình của các xã hội Tây Âu bắt đầu phát triển Một mô hình thường xuyên bắt gặp của sự nghỉ ngơi là du
thôn-lịch, và một trong những hình thức của nó tạo nên sự tiếp xúc với các cộng đồng nông thôn mà
có thể gọi bằng tiếng Tây Ban Nha là Weekendismo Tôi đề xuất rằng du lịch có thể được
nghiên cứu và hiểu trong một khung phổ quát của lý thuyết tiếp biến văn hóa; ví dụ, các du khách thành thị có thể được cho là đại diện cho một văn hóa “cho đi”, trong khi cộng đồng chủ
lại có thể được coi là nền văn hóa “tiếp nhận” Tuy nhiên, những vấn đề đặc biệt nhất định của
sự miêu tả và phân tích lại tự nó bộc lộ ra "Mặt cắt” của đời sống đô thị được trưng bày bởi du khách trước cộng đồng chủ nông thôn là một thứ bị méo mó và không được những người nông dân hiểu một cách đầy đủ Nhà nhân học phải rút tỉa từ phương diện của du khách một chút gì
đó chủ quan và dựa vào ấn tượng ban đầu, mặc dù các dữ liệu từ những nghiên cứu về đô thị hóa và cấu trúc giai cấp thị dân là rất vô giá
Hệ quả của một tầng lớp thị dân du lịch cuối tuần tại một ngôi làng nông dân Mexico là gì?
Cajititlan, Jalisco, là một ngôi làng Mexico ở miền cao nguyên điển hình, với 1800 cư dân sống dọc theo bờ của một cái hồ nhỏ và đẹp như tranh, cách Guadalajara 32 km (thành
phố lớn thứ 2 ở Mexico) Nó chủ yếu là một cộng đồng nông nghiệp, sống dựa vào việc trồng
bắp và đậu và một ít vào các cây trồng thương mại – chủ yếu là ớt và cà chua – trồng ở những
mảnh đất có nước tưới tiêu dọc theo bờ hồ Một số gia đình làm nghề đánh cá và chăn nuôi Theo truyền thống thì làng này có một sự tách biệt và tự trị về mặt chính trị khá cao, mặc dù về
mặt kĩ thuật thì nó nằm trong chế tài của cabecera thuộc municipio (thị trấn) cách làng 20km
Một hội đồng làng dân cử, đứng đầu là một trưởng thôn không lương, hìn h thành nên chính quyền địa phương; viên chức địa phương thường không được người dân tìm đến, mà họ cũng không có nhiều danh tiếng cho lắm Kiểm soát xã hội là một chức năng thuộc về nhà thờ và dư
luận xã hội, chứ không phải là của cảnh sát và nhà chức trách Không có chợ phiên, cũng không có vẻ gì là trước đây có các phiên chợ như thế
Trang 32
Đặc điểm nổi bật nhất của tổ chức xã hội ở Cajititlan là sự phân chia của làng thành ra
hai barrios đối đầu và bằng nhau, một sự phân chia không có chức năng tôn giáo hiện tại (mà
cũng không ai nhớ là có hay không nữa) và không có cơ sở cho sự phân biệt giai cấp hay là giàu nghèo Các barrios có xu hướng nội hôn, và quyền thành viên là được thừa kế Sự thiết
lập hệ thống ejido phân chia đất đai trong các cuộc cải cách nông nghiệp ở những năm 1920
đánh dấu một sự gia giảm của mâu thuẫn rõ rệt và đầy bạo lực giữa 2 barrios, do chỗ việc chiếm giữ và phân chia đất đai của ejido thúc đẩy một mức độ thống nhất và hợp tác của cả
làng
Cũng như đa phần ở bang Jalisco, Cajititlan là một xã hội do nam giới làm chủ, nơi mà
hầu hết các khía cạnh của đời sống công cộng chỉ được mở ra cho nam giới và là nơi phụ nữ bị đẩy vào trong địa vị phục tùng cực kì Những thành phần chủ chốt của vai trò nam giới lý tưởng trong cộng đồng này hình thành nên cái đã được gọi là hội chứng machismo, hay là “giáo phái
nam tính”, biểu tượng quan trọng nhất của nó là ngựa, cây gậy baton, và những kĩ năng mà họ dùng như là một hành động của một người đàn ông Huyết thù là phổ biến và theo truyền thống
hầu hết nam giới trưởng thành đều có gậy baton và nhiều người xuất hiện có vũ trang nơi công
cộng
Những kẻ chinh phục người Tây Ban Nha tiến vào Cajititlan, sau đó là một khu định cư
của người da đỏ vào tháng 3 năm 1530, bắt đầu sự tiếp biến văn hóa Âu châu của người dân Cajititlan Các cuộc chiến tranh và cách mạng giành độc lập của người Mexico bỏ qua ngôi làng, mặc dù ngôi làng cũng đã thụ hưởng lợi ích của các các cuộc cải cách nông nghiệp theo sau các trận đánh đấm cách mạng Vào năm 1960, một cuộc chinh phục mới và một giai đoạn
tiếp biến văn hóa lại bắt đầu; du khách xâm nhập vào Cajititlan Hậu quả tức thời to lớn của
cuộc xâm chiếm lần 2 này được cảm nhận sâu sắc nhất trong lĩnh vực chính quyền, tổ chức xã
hội, kinh tế, và giá trị
Năm 1959, hai thương nhân người Guadalajara, quan tâm đến việc đầu cơ đất đai, đã
bắt đầu cổ xúy việc xây dựng một con đường đến Cajititlan Họ “đã khám phá” ra ngôi làng, thu mua nhiều khu đất ở bờ hồ, và thuyết phục chỉnh quyền bang rằng việc xây dựng con đường
và việc khai thác tiếp theo sau vẻ đẹp tự nhiên của cả khu vực sẽ làm gia tăng nguồn tài nguyên du lịch của bang này
Cajititlan đã có một lịch sử lâu dài tiếp xúc thông thường với thành phố Guadalajara, là nơi mà người dân đi lại bằng ngựa hay là lừa thồ hay là đi bộ Dịch vụ xe bus hàng ngày hiện nay cũng đã có tại Cajititlan Nhưng dù sao thì h ầu hết các tiếp xúc trước đó với trung tâm đô
thị này chỉ giới hạn tại các khu ổ chuột và khu vực chợ búa Tiếp xúc mặt đối mặt với những du khách nghỉ cuối tuần người Guadulajara tại Cajititlan sẽ mang lại một lát cắt mới của đời sống
đô thị vào trong nhận thức của dân làng “Du khách” chủ yếu là những thị dân Guadalajara trung và thượng lưu giàu có Tuy vậy, một số lượng lớn người Mỹ cũng đã đến thăm cộng đồng này vào năm 1962 vào dịp lễ hội thường niên, và một đôi vợ chồng người Mỹ đã mua một điểm xây dựng ngay trước hồ nước
Việc xây dựng con đường xa lộ nâng cấp mới, đưa du khách đến với Cajititlan đã được hoàn thành vào năm 1960, và kết nối ngôi làng với tuyến đường có mật độ lưu thông cao giữa Guadalajara và khu nghỉ mát Hồ Chapala Từ đây du khách nghỉ cuối tuần đã có thể thưởng
thức những cơ sở của khu nghỉ mát tại làng, vì một trong những người cổ vũ ban đầu chuyện
Trang 43
xây đường đã xây nên bảy đơn vị nhà trọ qua đêm, với các cơ sở du lịch dưới nước dọc theo
bờ hồ Những cơ sở này, được gọi là Los Bungalos, đã sẳn sàng để được lắp đầy ngay khi con
đường được xây xong
Hầu hết du khách lái xe đến Cajititlan vào buổi sáng thứ Bảy hay Chủ nhật để ở chơi cả ngày với trò cắm trại, bơi lội, chèo thuyền và trượt nước Những vị khách giàu có hơn thì mua các điểm xây nhà ngay trước hồ, xây nên những ngôi nhà khang trang hơn, hay là sửa chữa
những kiến trúc đã có s ẵn theo kiểu thành thị Họ đã giới thiệu máy bơm và nước máy vào
cộng đồng này, mặc dù những thứ này chỉ dành cho họ sử dụng mà thôi Tám ngôi nhà mới đã được dựng lên từ khi khánh thành con đường mới, và bốn ngôi nhà truyền thống đã được cho thuê hay là mua lại để sửa chữa
Du khách đến từ Guadalajara mang theo họ những vật dụng của tầng lớp nghỉ ngơi an nhàn của thế kỉ 20: thuyền chèo và trượt nước, dụng cụ nướng thịt ngoài trời và radio bán dẫn,
những chiếc dù bãi biển và đồ tắm nhỏ xíu, xe Mercedes và những người hầu mặc đồng phục –
bất kì thứ gì mà tiền bạc có thể mua được Lát cắt này của văn hóa thành thị quá là xa lạ với
những trải nghiệm của nông dân Cajititlan đến nỗi nhiều dân làng nghĩ rằng du khách là người
Mỹ, và khu vực nằm trong làng giờ đây du khách tụ tập và xây nhà được gọi là Barrio Americano Đó là sự bất liên tục của lối sống nông thôn và thành thị
Hình ảnh mới về đời sống thị thành của Mexico được giới thiệu cho người dân Cajititlan
là một lối sống giàu có và được giả định là ăn chơi nghỉ ngơi bất tận, những đặc điểm mà họ,
những người Mexico nông dân, không thể nào nhận biết được Họ dường như không ý th ức được rằng lát cắt của văn hóa đô thị đang phơi bày trước mắt họ là cực kỳ chọn lọc và đại diện cho hoạt động nghỉ ngơi giải trí cuối tuần mà thôi Về phần mình, du khách trung bình không tham gia vào hay là hiểu biết về đời sống hàng ngày của ngôi làng Mối quan hệ giữa du khách thành thị và chủ nhà nông thôn về cơ bản là có tính kinh tế Tuy vậy, hành vi giai cấp xã hội thường được biểu hiện trong mối quan hệ này, với người dân làng bị xếp vào tầng lớp thấp hơn đối lập với du khách Dân làng gần như luôn luôn được du khách gọi bằng hình thức động từ ở ngôi thứ 2 Có thể nói là một mối quan hệ bảo trợ-khách hàng tạm thời hay là ngắn ngủi là đặc điểm của sự tương tác giữa du khách và dân làng
Ngay khi hoàn tất con đường đến Cajititlan, một viên chức bang có địa vị cao đã quan tâm đặc biệt đến việc nội bộ của làng và đối với việc phát triển ngôi làng Cajititlan mới được kết
nối thông thoáng đã trở thành một nguồn tài nguyên du lịch Ông đã liên ti ếp đến thăm ngôi làng và là người cách tân, tạo ra những “cuộc cải cách” nhất định, và lên kế hoạch làm cho ngôi làng nổi bật hơn từ quan điểm của du khách Tuy nhiên những cuộc cải cách này đã bi ến đổi
một cách ngoạn mục dạng thức văn hóa địa phương
Cuộc cải cách quan trọng nhất và đi sâu nhất là phân công đến cộng đồng này ba viên
chức cảnh sát, gọi là rurales, chịu trách nhiệm trực tiếp với chính phủ bang Những rurales có
vũ trang hạng nặng này đã hình thành nên l ực lượng thực thi luật pháp hiệu quả đầu tiên mà Cajititlan biết đến trong thời hiện đại, và hai phương tiện mà họ sử dụng đã tấn công vào tận
cốt lõi ủa hệ thống giá trị theo định hướng nam giới ở đây Theo lệnh từ chính quyền bang, các rurales cưỡng bức việc bãi bỏ đua ngựa Đây là một hoạt động giải trí truyền thống và thể hiện
cạnh tranh của kĩ năng nam tính, vốn không phải là không thường xuyên đi kèm với căng thẳng
bạo lực Các rurales cũng đã thành công trong vi ệc giải giáp một cộng đồng nơi mà chưa tới
Trang 5thương do súng Từ khi có sự xuất hiện của các rurales vào tháng Giêng 1962, không còn cái
chết nào như thế xảy ra Phản ứng đối với luật lệ mới và trật tự mới là hỗn hợp: những người đứng đầu gia đình lớn tuổi thì có khuynh hướng chào đón sự an toàn của giới chức có vũ trang, trong khi nam giới trẻ hơn thì cảm thấy rằng các quyền của họ - đua ngựa, tranh cãi cá độ, bắn vào một tờ tạp chí bằng những viên đạn đắt tiền tại nơi thật lộ liễu, giết và bị giết vì danh dự - đang bị xâm phạm Sự phản đối là nhằm đến chính những rurales, và không phải chống lại lý
do của sự hiện diện của những viên chức này, đó là du lịch
Những công cụ khác do chính quyền bang ban ra, mặc dù ít sâu sắc hơn, đã giới hạn hành vi truyền thống Một số là ngăn cấm chuyện đi săn có vũ khí t ại những ngọn đồi gần đó,
cấm súc vật tại đường phố, một lệnh ban ra chống lại những con chó đi lạc (chó đi lạc sẽ bị rurales bắn hạ), bỏ tù như là hình ph ạt đối với say rượu và tiểu tiện ngoài đường, bãi bỏ việc
mặc quần bằng cotton trắng truyền thống (gọi là quần calzone) trên cơ sở là quần này là quần
lót và vì vậy khiếm nhã Tất cả những biện pháp này được tiến hành và củng cố chỉ bởi một bên với ý tư ởng rằng ngôi làng nên thích hợp và an toàn hơn cho du khách Thành viên của
cộng đồng này đã không đư ợc tham vấn Dù sao thì họ đã chấp nhận những sắc lệnh này với
chỉ những phản ứng bằng miệng – rất giống với chuyện người nông dân theo truyền thống là cúi đầu trước quyền lực bên ngoài Cần phải lưu ý r ằng, với sự nhấn mạnh về mối quan hệ
giữa chuyện xuất hiện của lực lượng cảnh sát bên ngoài và du lịch là nhóm lực lượng cảnh sát
ba người rurales kia được tăng cường vào những ngày cuối tuần và lễ lạc
Tuy vậy những người Cajititlan đã không đáp ứng theo một cách tích cực những cơ hội kinh tế được bày ra cho họ bởi du lịch Trong một khoảng thời gian ngắn từ khi con đường được khai thông, hai quán bia đã đư ợc dựng lên ở bờ hồ, và một tổ hợp quán trọ và nhà hàng
cũng đi vào hoạt động Những mảnh đất lớn ở trước mặt hồ, thông thường được dùng để sản
xuất hàng nông sản thương mại, đã bị bán đi làm nơi xây nhà Một thành viên của cộng đồng
đã tự mình đứng ra làm nhà môi giới bất động sản, gạ gẫm giá bán cho những đất đai do người địa phương sở hữu từ những người du khách cuối tuần đưa ra và thu 2 ½ phần trăm tiền bán đất được Quảng trường làng đã h ấp thu không khí chợ búa vào những ngày cuối tuần khi
những thương nhân địa phương bày hàng nhiều hơn bình thư ờng những mặt hàng như là thuốc lá, bia, nước ngọt, trái cây và rau Hàng thịt trưng thêm nhiều thịt tươi tại quảng trường hơn thông thường và bán những thịt heo quay tại chỗ và thịt dê nướng cho những du khách đói
bụng Ngư dân địa phương biến thuyền chèo của họ thành ra những thuyền chở khách du ngoạn theo yêu cầu của khách, trong khi các nghệ sĩ của làng thì chơi nhạc tình cho các nhóm
cắm trại Chỗ đậu xe do chủ nhân của xe thuê tại những địa điểm cắm trại và bơi lội ở phía trước hồ đầy quyến rũ Những hình thức hoạt động mua bán mới và ngày càng tăng chỉ ra một
nền kinh tế thị trường địa phương chớm nở và sự xuất hiện của kinh doanh như là một vai trò
mới và quan trọng
Rằng biến đổi đi liền với mâu thuẫn gần như là một phương châm trong ngành Nhân
học Những xung đột giữa hai barrios đối đầu, tương đối ngủ yên từ cuối những năm 1920 gần đây đã trở nên căng thẳng, và việc kiểm soát quyền lực chính trị bởi một barrio này hay barrio
Trang 65
kia đã trở thành mối quan tâm sống còn Một loạt những hành động chưa từng có trước đây đã
xảy ra từ khi có sự xuất hiện của du lịch Những hành động đó bao gồm sự từ chức của ông trưởng làng, những cuộc bầu cử đặc biệt, hoàng loạt các cuộc họp chính trị và thỉnh nguyện
thư, tranh luận về việc hoạt động của ejido, những lời cáo buộc về sai trái của các viên chức ở
làng, và những thứ tương tự như vậy Phe đảng liên quan đến những vấn đề chính trị đã được
dựng lên dọc theo làn ranh giữa hai barrio Cajititlan đã có 3 trường làng trong một khoảng thời gian nhiều tháng, ngay sau khi xuất hiện những rurales Vị trưởng làng thường thi hành nhiệm
vụ trong nhiệm kì 1 năm Nh ững mâu thuẫn này đã gây ra m ột sự sụp đổ nói chung trong sự
sự căng thẳng của đối nghịch giữa hai barrio một sự tương đương về chức năng
Những khía cạnh nào của văn hóa đô thị mà họ đang được phơi bày có thể đóng
một vai trò tương đương về mặt chức năng tại điểm giao nhau này lại không thể đạt được
(2) Có một sự gia tăng trong nhận thức rằng quyền lực chính trị tại cấp độ địa phương –
bất chấp sự thật rằng sự tự trị của địa phương đã tạm thời bị thế chỗ - có thể cho phép nhóm này nắm giữ quyền lực đó để hưởng lợi ích vật chất theo một cách thức nào đó từ những hoạt động kinh tế ngày càng gia tăng do du lịch mang lại
Như đã lưu ý trên đây, các v ị trí chính trị không được theo đuổi và có rất ít danh tiếng
Nắm giữ vị thế chính trị cao nhất thì được coi là một nhiệm vụ hay là bổn phận phải thực hiện
một lần trong suốt cuộc đời của một người đàn ông Tuy vậy, giờ đây vì những lí do có tính
chức năng, một thành tố có tính cấu trúc đang tồn tại của xã hội này đã tiếp thu một tầm quan
trọng mới
Mặc dù tôi đã đ ặc biệt quan tâm ở đây đến những tác động của du khách thành thị người Mexico và du lịch tại một cộng đồng nông dân người Tây Ban Nha lai thổ dân Mỹ, một vài nhận xét tổng quát cũng nên được đưa ra ở đây Chúng ta có thể tóm lược rằng khi cộng đồng dân cư đô thị bành trướng trong sự tương ứng với công nghiệp hóa và phát triển kinh tế, các bộ phận dân cư đô thị sẽ ngày càng tìm kiếm sự giải trí tại những môi trường nông thôn và khu nghỉ mát thích hợp Cho nên, không phải là không có khả năng rằng một khu nghỉ mát có
tiềm năng du lịch, vì tầm quan trọng về mặt kinh tế khả dĩ của nó đối với xã hội rộng lớn, sẽ thu hút các quan tâm tài chính và quyền lực chính trị từ bên ngoài đến với cộng đồng chủ Rõ ràng
là du lịch và tác động của nó trong một xã hội làng xã không thể nào được hiểu biết một cách thích đáng nếu không tham khảo đến cấu trúc kinh tế xã hội của xã hội lớn mà nó là một thành
tố Sự hiểu biết về hiện tượng này sẽ được thúc đẩy hơn khi sự hiểu biết về bản chất của các
cộng đồng dân cư đô thị công nghiệp hóa – nơi xuất phát của những lát cắt du lịch – tiếp tục
tiến triển hơn
Tôi mong rằng tôi đã trình bày đư ợc rằng (1) du lịch có thể mang lại biến đồi nhanh
chống và to lớn trong thành trì củ thẩm quyền, dạng thức sử dụng đất, hệ thống giá trị, và các thành phần của một nền kinh tế; (2) nó là một lãnh vực hợp pháp và cần thiết đối với nghiên
Trang 76
cứu về biến đổi văn hóa; và (3) nghiên cứu du lịch có thể cung cấp một tình huống thực nghiệm khác để kiểm định lí thuyết tiếp biến văn hóa Chắc hẳn rằng du khách ngày nay nhan nhản
khắp nơi hơn là các nhà truyền giáo, những nhân viên trợ giúp kĩ thuật, hay là thương nhân, là
những người đã từng được xem là những môi giới của sự khuếch tán và tiếp biến văn hóa
Trong những quốc gia đang phát triển mới của thế giới ngày nay, khi xã hội lớn hơn (cụ
thể là những bộ máy chính thức của nhà nước) có sự quan tâm đặc biệt đến những cộng đồng nông thôn bị xem thường trước đây, vì bất kì lí do nào – du lịch, chủ nghĩa bản địa, hay là chủ nghĩa dân tộc – thì nhà nhân học nên cảnh giác với các hậu quả của nó Redfield (1956:68) đã
viết: “Nền văn hóa của một cộng đồng nông dân … không phải là có tính tự trị Nó là một khía
cạnh hay là một phương diện của nền văn minh mà nó là một bộ phận.” Nền văn hóa của vùng đất Cajititlan nông nghiệp đã ch ắc chắn và nhanh chóng cảm nhận được tác động của đất
nước Mexico công nghiệp hóa thông qua trung gian của weekendismo – du lịch cuối tuần
Trang 8T ầm quan trọng của nghiên cứu về du lịch
T ại sao các nhà nhân học đã né tránh chủ đề du lịch mãi cho đến gần đây? Chúng ta có thể ước đoán rằng trước hết các nhà nhân học có xu hướng tự cho rằng mình là những nhà nghiên cứu điền dã gan dạ dũng cảm nên không muốn bị dính líu gì với du khách Thứ hai, như đã nói ở trên, chủ đề này có thể tạo nên một lĩnh vực nghiên cứu phù phiếm về văn hóa (ăn chơi) mà các nhà nhân học muốn né tránh Th ứ ba, du lịch có thể đươc cho là một cái gì đó hiện đại, một phương thức sống chỉ gần đây mới
có được sự hợp pháp hóa của nhân học Sau hết, các nhà nhân học đơn giản là có thể không ý thức được mức độ và hậu quả của du lịch, đặc biệt là tại những xã hội mà họ có ý tiến hành nghiên cứu
Nhưng không cần xem xét lâu thì chúng ta cũng thấy rằng du lịch thực sự là một chủ đề thích đáng cho tìm hiểu nhân học Do nó gắn liền với sự di chuyển, cho nên nó cũng g ắn với sự tiếp xúc giữa các n ền văn hóa hay là tiểu văn hóa, một lãnh vực quan tâm của ngày càng nhiều các nhà nhân học vốn
đi tìm hiểu về sự tiếp biến văn hóa hay là phát triển Thêm vào đó, như bài viết này sẽ cho thấy, du lịch phổ biến trong xã hội loài người Thực sự nó có thể được xác định tại các cấp độ phức tạp của xã hội Đối với những nhà nhân học là người chịu trách nhiệm xem xét trạng huống loài người, sự thật văn hóa
phổ biến như thế sẽ đòi hỏi một sự thẩm tra Sau cùng, du lịch hiện thời đang góp phần vào sự biến đổi
của lãnh thổ mà nhân học yêu thích, đó là thế giới tiền công nghiệp Thực sự thì trong vài trường hợp nó chính là nguyên nhân ch ủ yếu của sự biến đổi này
Có m ột số đòi hỏi rõ ràng nhất định đối với việc tiếp cận một chủ đề theo cách thức của nhân
h ọc Thứ nhất, chủ đề này phải được định nghĩa và rồi có các giải thích rõ ràng Như chúng ta s ẽ thấy
1
Bài vi ết này nhận được sự hỗ trợ từ Camargo Foundation (do Russell Young làm chủ tịch) ở Cassis và Centre des Hautes Etudes Touristiques (do Rene Baretje là ch ủ tịch) ở Aix-en-Provence, Pháp Tôi cũng thu hoạch được nhiều từ sự tiếp xúc với Valene Smith và Erik Coden, hai người đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của
m ột ngành Nhân học/Xã hội học về du lịch Mặc dù nhân học có đưa ra một quan điểm độc nhất vô nhị, nhưng tôi không cho r ằng nó sẽ hưởng lợi khi dựa vào sự phân biệt rạch ròi giữa ví dụ như nhân học và xã hội về du lịch tại
th ời điểm hiện tại Chúng có rất nhiều điểm chung Trên thực tế, một quan điểm chung có thể đang được hiện ra trong r ất nhiều lĩnh vực có liên quan đến nghiên cứu về du lịch Ví dụ như trong bài viết này, tôi sẽ hấp thu vài quan điểm chung trước đây được đưa ra bởi một nhà nhân học (Smith 1980a), một nhà xã hội học (Cohen 1979c), một nhà địa lý học (Mitchell 1979), và một chuyên gia trong nghiên cứu du lịch (Leiper 1979) Điều này có nghĩa là cách
ti ếp cận chung mà Cohen cổ xuý cho nghiên cứu xã hội học về du lịch đang lan truyền sang nhiều ngành khác
Trang 98
sau đây, một định nghĩa xác đáng về du lịch không dễ dàng gì có thể phát triển được Do định nghĩa này
ph ải nên được rút ra từ quan điểm nhân học, nó phải có tính ứng dụng xuyên văn hóa, hoặc thậm chí là phổ quát Tại mức độ nghiên cứu của chúng ta hiện nay, một định nghĩa nên theo nghĩa rộng hơn là hẹp Điều này sẽ giúp chúng ta thoát khỏi việc sớm bước vào một ngõ cụt về mặt lý thuyết và giúp cho các lựa
ch ọn của chúng được để ngõ Điều này cũng có nghĩa là t ốt hơn chúng ta nên xem xét một định nghĩa bao hàm các lo ại hình du lịch nội địa và quốc tế, xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, công nghiệp và tiền công nghiệp Định nghĩa của chúng ta cũng không nên ph ản trực giác; đòi h ỏi này khó mà thực thi
b ởi vì có rất nhiều khái niệm về du lịch hiện nay đang được dùng rộng rãi trong xã hội và trong giới học thu ật Sau cùng, trừ khi chúng ta có thể đưa ra các phản biện thuyết phục, định nghĩa của chúng ta nên tương thích với các lý thuyết và phương pháp nhân học sẵn có sao cho khi chúng ta dùng nó chúng ta sẽ tạo ra một sự tiến bộ về khoa học Chỉ sau khi chúng ta đã phát tri ển một định nghĩa thoả mãn về du lịch thì chúng ta m ới có thể bắt đầu nghĩ đến những phương thức giúp chúng ta tìm hiểu nó, các biến thể của
nó và h ậu quả của nó nữa
Du l ịch là gì?
Trung tâm của bất kì định nghĩa về du lịch (tourism) nào là con người mà chúng ta nhìn nhận là
du khách (tourist) T ừ quan điểm này, chúng ta sẽ buộc phải định nghĩa về du lịch theo các khía cạnh động cơ và thực hành của một loại người mà theo Boyer (1972:7) trước tiên xuất hiện tại thế giới phương Tây vào thế kỉ 18 dưới hình thức của một quý ông người Anh trẻ đi nước ngoài với thầy dạy của mình Mục tiêu nổi bật của “chuyến đi” của người thanh niên này là có tính giáo dục, cùng với những thứ đáng kể mà chúng ta sẽ gọi là để ngắm cảnh, nhưng ngoài ra còn có r ất nhiều động cơ và thực hành khác có liên quan MacCannell (1976) đã h ấp thu định nghĩa ngắm cảnh này của du lịch trong một luận thuyết trong đó du khách trở thành một loại người hiện đại điển hình Tuy nhiên, rõ ràng là một định nghĩa như vậy sẽ không phục vụ cho mục đích của chúng ta Ngắm cảnh (sightseeing) chỉ là một trong
vô s ố hoạt động đã được chúng ta gọi là có tính du lịch Người ta nằm dài trên bãi biển, đi bộ, trượt tuyết, mua s ắm, bơi lội, ngủ nghỉ, thi đấu, thăm viếng, hay là thực hiện một số các hành động khác, chẳng hạn như ngắm cảnh thì đều được gọi là du khách cả
Nhiều người cho là du khách là một loại lữ khách (traveler) Định nghĩa này cũng có vấn đề của
nó, mà vấn đề cơ bản là có quá nhiều chi tiết cần được thêm vào nhằm loại bỏ những người như là thương nhân đi làm ăn xa Cho nên Cohen (1974) nhằm làm cho định nghĩa này “có hiệu lực” đã lý luận
r ằng du lịch bao gồm việc di chuyển hay lưu trú tạm thời, tự nguyện, không lặp lại, tìm kiếm những điều mới lạ Sự hấp dẫn khả dĩ của nhận định này với cảm giác của chúng ta bị phủ nhận bởi sự thiếu xót về tính chi li và thi ếu xót về mối liên hệ trực tiếp với các lý thuyết nhân học và lý thuyết khác Chắc chắn là
nh ững mối liên hệ như vậy có tồn tại, nhưng Cohen lại không đề xuất một cái nào cả
M ột tiếp cận hứa hẹn hơn đối với định nghĩa về du lịch xuất phát từ các lý thuyết về công việc và nghỉ ngơi thư giãn Du khách có thể được xem như là những con người đang nghỉ ngơi và du lịch là các
ho ạt động mà họ tham gia vào khi ở trong tình trạng đó Rõ ràng là không ph ải tất cả mọi người đang ngh ỉ ngơi thư giãn đ ều có thể được coi là du khách, nhưng nếu chỉ một đặc điểm cụ thể, đó là du hành, được thêm vào, thì chúng ta có thể đạt được một định nghĩa thoã mãn nhất, nếu không nói là tất cả, các đòi hỏi của chúng ta Tuy nhiên chúng ta không phải là xong việc rồi Vì bất kì ai đã thử định nghĩa này sẽ nói cho chúng ta bi ết là thuật ngữ nghỉ ngơi thư giãn (leisure) không phải dễ dàng định nghĩa được
Dumazedier (1968:250) cung c ấp cho chúng ta một nhận thức về nghỉ ngơi thư giãn có v ẻ như thoát được những điều khó khăn trên Ông cho rằng mọi xã hội đều ấn định lên các thành viên của nó một tập hợp các bổn phận “cơ bản” hay là “chủ yếu.” Trong xã hội của chúng ta những bổn phận này bao
g ồm lao động hữu ích, học tập, tránh nhiệm gia đình và c ộng đồng, v.v Một người sẽ bước vào không gian thư nhàn khi nào người đó được tự do khỏi những nhiệm vụ bổn phận đó Trong hoàn cảnh đó, cảm giác “ph ải” đi liền với các bổn phận cơ bản biến mất và một sự vô tư lự nhất định sẽ nổi lên Như tôi đã
Trang 109
d ẫn chứng đâu đó (Nash 1979b), tôi không thấy lập luận của Dumazedier cho rằng thư nhàn là độc nhất
vô nh ị trong xã hội hiện đại thì có tính thuyết phục lắm, nhưng tôi thực sự cho rằng nhận thức của ông về
sự thư nhàn như là sự tự do khỏi các bổn phận cơ bản là thích hợp cho nghiên cứu xuyên văn hóa Có
th ể là khó hơn cho chúng ta khi phân biệt rạch ròi nghỉ ngơi thư giãn trong những xã hội khác biệt ít hơn, nhưng sự thật là điều này gắn liền với các khía cạnh khác của một nền văn hóa thì không có nghĩa là nó không t ồn tại hay là không thể tách rời vì mục đích nghiên cứu
Dumazedier chỉ ra rằng nghỉ ngơi thư nhàn không thể hoàn toàn tách bạch thậm chí là trong xã
h ội hiện đại, và ông cảm thấy bị thôi thúc phải dùng thuật ngữ “bán nghỉ ngơi” (semi-leisure) ở những nơi
mà các động cơ “kinh doanh, vụ lợi, hay ý thức hệ” có liên quan Tuy vậy, chúng ta không nên bị quấy nhi ễu bởi các khó khăn của mình trong việc tìm ra các hoạt động nghỉ ngơi thư giãn “thuần khiết” Đây có thể xem là nơi mà các khái niệm thực nghiệm cần được xem xét Chúng ta sẽ phải chấp nhận sự thật là trong vài trường hợp chúng ta có thể sẽ không thể nào quyết định được rằng liệu một hoạt động có phải
là m ột sự nghỉ ngơi thư giãn hay không Một vấn đề tương tự liên quan đến du hành có thể được giải quy ết bằng cách chấp nhận quyết định có tính võ đoán r ằng một con người nghỉ ngơi thư giãn ph ải rời khỏi cộng đồng của mình nhằm thoả mãn vị trí như là một du khách Đó là bởi vì dường như có sự đồng tình khá l ớn rằng một du khách tìm kiếm một sự thay đổi trong cuộc sống ở nhà Dĩ nhiên, sự du hành
c ủa du khách không dẫn đến một sự định cư vĩnh viễn tại một xã hội khác; người đó phải không được là một người di cư
Nếu chúng ta chấp nhận khái niệm về du khách như là một người đang nghỉ ngơi thư giãn, đang
đi đâu đó, thì du l ịch là hoạt động của con người ấy (không kể đến việc hoạt động đó là gì và nó đư ợc thúc đẩy ra sao) Một người trở thành một du khách khi người đó rời khỏi nhà mình trong khi được tự do
kh ỏi các bổn phận cơ bản Những hoạt động mà người đó tham dự thì thường không được tiến hành riêng lẽ Bởi vì du khách phải được vận chuyển, lưu trú, giải trí, ăn uống… những con người khác (phi du khách) phải được lôi kéo vào trong các hoạt động của du khách Những nghĩa vụ của những người phục
v ụ cho du khách cũng đư ợc ám chỉ như là du lịch hay là (trong xã hội hiện đại) ngành công nghiệp du
l ịch Nhằm khỏi bị nhầm lẫn, chúng ta có thể cần phải phân biệt giữa những ai (không nghỉ ngơi thư giãn) đang phục vụ trong ngành du lịch và những ai đang thực hành việc nghỉ ngơi thư giãn như là du khách
Do du l ịch gắn liền với việc đi lại, một sự tương tác xuyên văn hóa (hay là tiểu văn hóa) sẽ được tạo ra
m ột cách không thể tránh khỏi, và chính sự giao dịch xã hội gắn liền với sự tương tác này sẽ tạo ra một chìa khóa cho vi ệc hiểu biết của nhân học về du lịch
Sự tương tác du lịch trong hình thức đơn giản nhất của nó là một loạt các giao dịch giữa chủ nhà
và khách du l ịch Trong khi tại các xã hội phức tạp, nó có thể bao gồm các mối quan hệ xuyên văn hóa tinh vi gi ữa những con người phục vụ cho du khách (ví dụ như nhân viên công ty lữ hành và quản lý khách s ạn ở nơi nào đó ở nước ngoài), thì chính là sự tương tác giữa chủ nhà và du khách sẽ tạo nên cốt lõi của một hệ thống du lịch Trong sự tương tác này người ta tiếp cận lẫn nhau như những người lạ,
nh ững người có các định hướng khác nhau không chỉ bởi vì họ đến từ những nguồn gốc văn hóa khác
bi ệt nhau mà còn bởi vì một người đang làm việc và người kia thì đang nghỉ ngơi thư giãn Các v ấn đề giao dịch nổi lên như là kết quả của sự khác biệt trong định hướng này phải được xử lý với sự sắp xếp
về mặt tổ chức thích hợp nếu muốn mối quan hệ này còn tiếp tục
Với quan điểm năng động hơn, thì có thể chúng ta sẽ thấy rằng một tiến trình du lịch khởi phát từ
m ột thế hệ du khách tại xã hội hay tiểu xã hội ở nhà, tiếp tục khi những du khách này đi đến những nơi
ch ốn khác, tại đó họ sẽ tương tác với chủ nhà có một văn hóa khác, và kết thúc khi việc tương tác và-nhận này tác động lên du khách, những ai phục vụ họ, và rất nhiều xã hội và tiểu xã hội có liên quan
cho-Thêm vào đó, tiến trình du lịch này có thể phát sinh từ trong một hệ thống du lịch, vốn tự nó có thể trộn
l ẫn vào trong bối cảnh xã hội rộng lớn hơn Những người tập trung vào một khía cạnh của hệ thống này
n ếu khôn ngoan sẽ luôn nghĩ trong đầu về các bối cảnh lớn hơn mà du lịch chỉ là một bộ phận
Trang 1110
M ặc dù tất cả các khía cạnh của tiến trình du lịch đều có tính cơ bản đối với sự tồn tại của du
l ịch, phần có liên quan đến thế hệ của du khách dường như là quan trọng nhất Đó là do không có những
lữ khách nghỉ ngơi thư giãn thì không th ể có du lịch Một xã hội sản sinh ra nghỉ ngơi thư giãn b ởi (1) thi ết lập nên mức độ hoạt động cần có để thoả mãn các bổn phận cơ bản, (2) cung cấp các phương tiện
để tiến hành hoạt động như thế trong một cách thức ít hoặc nhiều có năng suất, và (3) tạo nên một thặng
dư cần có để duy trì những con người không thực hiện hoạt động này Nó tạo nên sự du hành bằng cách tạo ra sự cơ động và phương tiện để đạt được nó Nơi mà du hành và nghỉ ngơi thư giãn giao nhau, thì
du khách và du l ịch được tạo ra Chất lượng và số lượng của những điều này sẽ phụ thuộc vào đặc điểm
c ủa xã hội sản sinh ra chúng
Ở đầu kia của tiến trình du lịch là xã hội chủ hay là tiểu xã hội chủ nhà, vốn phụ thuộc vào một hay các khu vực tạo ra du khách Xã hội đó phụ thuộc ra sao và quyền lực nào nó sở hữu để định hình nên ti ến trình du lịch sẽ khác biệt tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả các đặc điểm của chính nó và
b ản chất của mối quan hệ với xã hội sản sinh ra du khách Từ quan điểm của chủ nhà, chúng ta sẽ có
th ể cho rằng việc cho-và-nhận giữa các xã hội có liên quan trong tiến trình du lịch là gần như “nhận” nhưng cũng có nhiều ví dụ về xã hội chủ nhà đã tích cực định hình nên du lịch của họ để ngăn cản điều này cho nên r ất cần xem xét và nghiên cứu thực nghiệm Xã hội chủ sẽ chịu tác động của khách-du lịch
mà nó đón nhận và bởi các công cụ máy móc hành chính đã đư ợc tạo ra bởi nỗ lực của chính nó và từ bên ngoài nhằm phục vụ khách du lịch, nhưng xã hội đó cũng s ẽ đóng vai trò quan tr ọng trong việc xác định loại hình du khách nó đón nh ận và hình thức du lịch mà nó thực hiện Thêm vào đó, nó có thể tác động đến xã hội tạo ra du khách thông qua du khách và các nhân viên môi giới của họ Một ví dụ nhỏ về điều này có thể thấy rõ ở những công nhân hiện đại, là người có đời sống không phải xoay quanh công
vi ệc, mà là xung quanh các kì nghỉ thường niên và nghỉ cuối tuần rời khỏi nhà
Ngoài các giao dịch du lịch giữa xã hội nhà và chủ, có thể nổi lên một hệ thống du lịch với sự năng động của chính nó Đặc điểm của nó là gì và liệu nó có thay đổi hay không sẽ phụ thuộc không chỉ vào s ự phát triển của các xã hội đối tác mà còn dựa vào các diễn tiến siêu xã hội Chúng ta có thể nghĩ đến hai xã hội sẽ trở nên gắn kết chặt chẽ hơn về mặt du lịch để sao cho mỗi xã hội sẽ trở thành một phần của xã hội kia, như là trường hợp của thành phố Bordeaux và vệ tinh du lịch của nó là Arcachon (xem Cassou-Mounot 1973); ho ặc chúng ta có thể cảm nhận về mối liên kết này như là trở nên ngày càng m ỏng manh và có thể gãy đổ hoàn toàn, như là trường hợp của giới quý tộc Anh ngừng không còn đến Pau vì lý do sức khoẻ và giải trí (xem Duloum 1963) Khi thảo luận về sự lên xuống của du lịch quý tộc tại Nice từ 1763 đến 1936 (Nash 1979a), tôi cho rằng số phận của một khu nghỉ mát gắn chặt với một
lo ạt các thế lực không phải có thể xem xét một cách đúng đắn như là bộ phận của một hệ thống du lịch
Do v ậy, sự thăng trầm của một khu nghỉ mát phải được hiểu thông qua việc tham chiếu không chỉ hệ
th ống du lịch mà còn các thế lực bên ngoài khác vốn duy trì và định hình nó
Tóm lại, tôi đã lập luận ở đây rằng các nhà nhân học có thể hưởng lợi khi xem du lịch như là kết
qu ả của sự giao thoa của lịch sử của hai hay là nhiều các nền văn hóa hay tiểu văn hóa Khi nhìn theo
ki ểu này, du lịch trở thành một tiến trình liên quan đ ến thế hệ du khách, sự đi lại của họ, sự tiếp xúc sau
đó của họ với những người ở xã hội chủ nhà Một sự tiếp xúc như vậy ám chỉ sự giao dịch giữa du khách, nhân viên môi giới của họ, và chủ nhà và sẽ tác động đến những con người và các nền văn hóa
có liên quan S ự tiếp xúc du lịch này có thể làm phát sinh một hệ thống du lịch mà sự phát triển của nó là đối tượng của rất nhiều thế lực, không chỉ trong các nền văn hóa hay tiểu văn hóa đối tác mà còn cả trong và ngoài h ệ thống nữa
Du l ịch trong xã hội loài người
Nhìn t ừ góc độ của xã hội tạo ra du khách, thì du lịch lan rộng như thế nào trong xã hội loài người? Có phải nó chỉ có trong xã hội công nghiệp như Dumazedier đã lý lu ận, hay là liệu chúng ta có
th ể xác định nó – hay là cái gì đó tương tự - ở những cấp độ khác của nền văn hóa? Vài nhà nghiên cứu
Trang 12b ộ, và luôn ao ước rằng họ đang làm một cái gì đó khác ‘Chúng ta hãy đi đ ến Campania.’ ‘Không, bờ biển chán lắm Miền quê mới là cái đáng xem Chúng ta hãy đi đ ến Bruttium và ngắm những dãy núi ở Lucania.’” Cho r ằng du lịch có thể được xác định trong những xã hội nông nghiệp với thành thị và nhà nước, liệu có chứng cứ nào của nó trong các xã hội đơn giản hơn không? Tôi tin rằng có và rằng nếu định nghĩa của chúng ta được áp dụng, chúng ta có thể sẽ thấy rõ vài hình thức của du lịch ở tất cả các cấp độ của văn hóa loài người Để thoả mãn những phê phán mà chúng ta có, chúng ta có thể gọi nó là
“prototourism” – “du l ịch sơ khai” nhưng nó dù sao vẫn là du lịch
Gi ữa những người săn bắt hái lượm như người Washo (Downs 1972) hay là người Pitjandjara (Tindale 1972), thì có nh ững khoảng dừng trên con đường đi lang thang hàng năm của họ khi đó người
ta tham gia vào rất nhiều cái rõ ràng là hoạt động nghỉ ngơi thư giãn Chúng ta có th ể phải minh chứng
r ằng chuyến đi, vốn là một phần của chu kì đi vòng quanh thư ờng niên 1 vùng đất cụ thể nào đó, thực
ch ất là du hành du lịch, nhưng nếu nó được coi là đồng nghĩa với việc đi lang thang của quý tộc Âu châu
từ thành thị đến nông thôn hay là từ khu nghỉ dưỡng này đến khu nghỉ dưỡng khác (xem Boyer 1972:136-46), sẽ dễ dàng hơn để chúng ta chấp nhận những khoảng dừng này (và các cuộc du hành quý t ộc) là một hình thức của du lịch
Chúng ta không c ần phải phụ thuộc quá nhiều vào những trường hợp ngoại vi như thế này để xác định du lịch trong cộng đồng người săn bắt hái lượm Ở người San (Bushmen) có rất nhiều sự nghỉ ngơi thư giãn ít nh ất là được diễn ra khi đi thăm những nhóm người khác Về người !Kung San, Lee (1968:37) đã nói như sau:
M ột người phụ nữ thu lượm cả ngày đủ thực phẩm để nuôi cả nhà trong 3 ngày, và dành thời gian còn l ại nghỉ ngơi trong lều, thêu thùa, đi thăm các lều khác, hay là tiếp khách từ những lều khác đến thăm… Thợ săn đôi khi bị xúi quẩy và ngừng đi săn trong suốt 1 tháng hay lâu hơn Trong su ốt những gian đoạn này, việc thăm viếng, giải trí, và đặc biệt là nhảy múa là hoạt động
cơ bản của đàn ông
M ột sự song song hiện đại đối với những hoạt động du lịch hay là du lịch sơ khai là kì ngh ỉ thăm viếng của công nhân thành thị Pháp với họ hàng và bạn bè ở vùng quê (xem Boyer 1972:48-49)
T ại mức độ loại hình sinh kế trồng trọt, việc thăm viếng dường như là hình thức cơ bản của hoạt động du lịch hay du lịch sơ khai Các chuyến thăm viếng như vậy có thể là đơn giản như những chú bé người Piaroa mà Kaplan (1975:41) kể lại rằng sẽ gần như tham gia vào tất cả các nhóm rời khỏi [nhà rông] vì lí do làm việc hay là vui chơi,” hay là tinh vi như “các cuộc chơi sôi nổi vui vẻ” liên bộ lạc của người Arawak và Caribs, theo Drummond (1977:85) trong đó người ta nhảy múa, uống rượu, đánh nhau,
và làm tình
Trong nh ững xã hội ít khác biệt hơn, rõ ràng là khó khăn hơn đ ể chúng ta có thể phân biệt nghỉ ngơi với không nghỉ ngơi và theo đó là việc xác định du lịch Ví dụ như trong cộng đồng người trồng trọt Nam M ỹ, việc buôn bán gắn liền với các chuyến viễn thám của nam giới, giống như thương nhân ngày nay, h ọ có thể tự mình vui vẻ trên đường đi Kể về những chuyến viễn thám như thế trong cộng đồng người Ye’cuana, Arvelo-Jiménez (1971:47) nói rằng “các nhóm buôn bán lợi dụng lòng hiếu khách của tất cả dân làng trên đường đi của họ.” Nói rằng những người trồng trọt này không phải đi du lịch trên con đường họ đi buôn bán thì s ẽ bỏ qua vài phẩm chất của hoạt động kinh tế hiển nhiên này Tương tự, sẽ không h ợp lý nếu bỏ qua sự thật hiển nhiên rằng việc buôn bán kula ở người Trobriand mà Malinowski
Trang 1312
tường thuật (1961) bao gồm ma thuật, lễ nghi, tiệc tùng, và các khía cạnh phi kinh tế khác của văn hóa Tôi không th ấy có lý do gì đ ể tranh luận, như Dumazedier (1968:248-49) đã làm, rằng bởi vì trong các xã hội đơn giản hơn thì ho ạt động nghỉ ngơi thư giãn (bao g ồm cả du lịch) thường trộn lẫn với những sự theo đuổi vụ lợi hơn vốn không hiện hữu Trên thực tế, nếu chúng ta chạm đến nền tảng tận cùng của du
l ịch, chúng ta cũng phải nhìn vào các xã hội mà trong đó sự nghỉ ngơi thư giãn, và theo sau đó là du l ịch, không d ễ dàng gì mà phân biệt rõ
Trên mức độ sinh kế nông nghiệp, du lịch thường dễ dàng nhận biết được Chúng ta đã đ ề cập đến hai xã hội nông nghiệp khá phức tạp hơn, là xã h ội Hy Lạp và La Mã Có ngư ời sẽ chỉ ra nước Anh
c ủa thời trung cổ, như được miêu tả bởi Jusserand (1930), với các hội chợ, chuyến lưu diễn, hành hương, vốn tất cả đều có yếu tố du lịch trong đó, hay là người Yucatán thập niên 1930, 1940 như Redfield (1941, 1950) đã miêu t ả, là nơi mà du lịch đã bắt đầu xuất hiện Mặc dù du lịch dễ dàng nhận
bi ết hơn trong những xã hội như thế, các vấn đề mới sẽ nảy sinh đối với những ai nghiên cứu về du lịch
b ởi vì các đ ặc điểm khác biệt của nó Khác biệt trong hành vi du lịch tuỳ theo địa vị, quy mô cộng đồng,
và gi ới là một số sự phân biệt giờ đây cần được xem xét đến Cho dù chứng cứ rời rạc, nhưng chúng ta
có thể đưa ra một số giả thuyết ban đầu về những sự phân biệt như thế Ví dụ như tôi đã lý lu ận rằng (Nash 1979b: 22-23) trong nh ững xã hội như vậy, những người thuộc địa vị cao hơn thì s ẽ rất có thể tham gia vào các hình th ức du lịch xa, xa xỉ, và dài ngày, nam giới có tự do hơn để đi so với phụ nữ, và
cư dân thành thị (đặc biệt là những người thuộc tầng lớp trên) sẽ rất có thể đi du lịch hơn so với người dân sống tại thôn quê Các giả thuyết như vậy, tôi phải thừa nhận, là không sâu sắc lắm, nhưng chúng
m ở ra cánh cửa cho các giải thích về biến thể của du lịch
Nét khác bi ệt du lịch nổi lên trong các xã hội nông nghiệp tiếp tục hiện diện trong các xã hội công nghi ệp, và bởi vì chúng ta có cứ liệu tốt hơn nên chúng ta có thể xem xét các yếu tố thêm vào như là tuổi tác, loại hình cư trú , tình trạng hôn nhân và gia đình, và m ức độ giáo dục, như Boyer (1972:19-34) đã
ti ến hành đối với nước Pháp hiện đại Sự khác biệt du lịch nội xã hội không cần thiết phải tăng lên trong
nh ững xã hội công nghiệp phức tạp hơn Trên thực tế, như trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa, chúng
có th ể sẽ bị suy giảm Trong những đất nước này, hay là trong những đất nước tư bản chủ nghĩa, nơi mà
có sự can thiệp ngày càng lớn của nhà nước, có thể còn có nhiều sự phân bổ thành quả nghỉ ngơi của
vi ệc sản xuất gia tăng và giao thông hiệu quả hơn Ví dụ như tại Pháp, hiến pháp quy định về các kì nghỉ được trả lương đã làm gia tăng đáng k ể số lượng du khách mùa hè và tạo điều kiện cho việc lan truyền
c ủa cái được gọi là du lịch “đại chúng” Chắc hẳn là công bằng khi nói rằng trong xã hội công nghiệp nhiều người dân có thể đi du lịch xa hơn trước đây rất nhiều, nhưng chúng ta phải giải quyết bất kì nhận
th ức có tính tiến hóa chung giản đơn nào về tiến bộ du lịch Chắc hẳn là trong vài xã hội săn bắt hái lượm, một bộ phận lớn của dân cư dành nhiều thời gian cho việc du lịch hơn là trong xã hội công nghiệp
Để kết luận phần thảo luận này về du lịch trong xã hội loài người, chúng ta nên tóm lược rằng du lịch, định nghĩa như là hoạt động nghỉ ngơi thư giãn đòi hỏi phải đi lại, tồn tại trong tất cả các mức độ của
độ phức tạp của văn hóa xã h ội Sự tồn tại rộng khắp của nó dường như gắn bó chặt chẽ với sự phổ
bi ến đâu cũng có của sự nghỉ ngơi thư giãn và du hành T ừ quan điểm kinh tế, chúng ta có thể tính đến điều này theo yếu tố thặng dư và thương mại, nhưng đó chỉ là một quan điểm mà thôi, còn những yếu tố khác cũng nên được xem xét Trong tất cả các trường hợp, các nguồn lực tạo nên du lịch hay là du lịch
sơ khai dường như hiện hữu trong hầu hết, nếu không nói là tất cả, các xã hội, và có lý do tốt để nghi
ng ờ rằng chúng ta sẽ tìm thấy một xã hội không tưởng như là xã hội của Lão Tử (Lin 1977:141), trong đó
“các chư hầu sẽ quá gần gũi đến độ họ có thể nhìn thấy nhau, và nghe tiếng gà gáy, chó sủa Nhưng người ta sẽ già đi và chết, mà không thăm viếng nhau.”
Nguyên nhân c ủa du lịch
T ừ phần thảo luận trên đây, chúng ta đã th ấy rõ là tôi không cho là chúng ta hiện tại đang ở vào
v ị trí nêu ra nghi vấn về nguyên nhân của du lịch nói chung Vấn đề là chúng ta phải giải quyết sự tồn tại
Trang 1413
và giao nhau của nghỉ ngơi thư giãn và du hành Có thể là sau hết chúng ta có thể giải thích không chỉ tại
sao chúng t ồn tại, mà còn tại sao chúng lại sóng đôi với nhau Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, nhiệm vụ này dường như có liên quan quá nhiều với việc phỏng đoán Chắc chắn là chúng ta sẽ không thu được
gì t ừ việc đưa ra một loại nhu cầu cho sự biến thiên giữa tình trạng bình thường và phi bình thư ờng như Graburn (1977:17- 31) đã làm Ngay từ đầu không có vẻ gì là chúng ta có thể phân biệt một nhu cầu như
th ế, và thứ hai là cho dù một nhu cầu như vậy có tồn tại thì chúng ta vẫn phải tìm hiểu những điều kiện là nguyên ngân làm cho người ta phải thoã mãn nó thông qua du lịch
M ột hướng tìm hiểu hứa hẹn hơn sẽ là sự xem xét nguyên nhân của các biến thiên du lịch Tại sao con người trong một xã hội lại ít đi du lịch hơn so với người ở xã hội khác? Tại sao du lịch tại một xã
h ội hay là tiểu xã hội lại có hình thức như vậy? Chúng ta sẽ lý giải ra sao về các biến thiên du lịch trong một xã hội? Những câu trả lời ít nhiều có tính thăm dò cho nh ững câu hỏi như thế có thể có được từ dữ
li ệu so sánh của các xã hội trong lịch sử (có lẽ cả tiền sử) và đương đại Ví dụ, việc tổng kết du lịch tại
nh ững mức độ phức tạp xã hội khác nhau cho thấy rằng sự khác biệt xã hội và du lịch thường đi sóng đôi và rằng phân tầng xã hội gắn liền với sự khác biệt trong độ dài, khoảng cách, và sự thoải mái của chuyến đi chơi Tại nước Anh thời trung cổ, một quý tộc và đoàn tuỳ tùng của mình sẽ tham gia vào lữ hành qu ốc tế để tham dự các cuộc thi đấu vì ông ta có của cải, sự nghỉ ngơi lâu dài, tự do đi lại, và có phương tiện đi lại mà chuyến đi cần có (Jusserand 1930:229) Mặc khác, người thuộc các tầng lớp xã hội thấp hơn sẽ có xu hướng bó hẹp trong sự nghèo túng và mệnh lệnh của nhà nước cho nên chỉ thỉnh thoảng đi tham dự các hội chợ địa phương (trang 250-51)
Các ngu ồn lực thúc đẩy con người rời khỏi nhà mình trong suốt thời gian nghỉ ngơi thư giãn của
h ọ là gì? Một số tác gia đã tập trung vào sự đô thị hóa như là một nhân tố Một trường phái khác thì có khuynh hướng ám chỉ sự tha hóa của lối sống thị thành Ví dụ, Cribier (1969:68-75) lý luận rằng trong xã hội hiện đại con người với các phương tiện thích hợp sẽ trốn thoát khỏi các vấn đề của đời sống thị thành b ất kì khi nào họ có thể Nhưng những cư dân thành thị (hay tiểu thành thị) hiện đại cũng có thể bị thôi thúc phát tri ển các quan tâm lớn hơn và sự tò mò sống động hơn về thế giới Simmel (1971[1903]) là
m ột trong số những tác gia nhấn mạnh vào sự trung tâm được nảy sinh trong không gian đô thị “Sự năng động về mặt tâm lý” vốn được cho là phát triển trong hoàn cảnh hiện đại (xem Lerner 1958) cũng
gi ống như trung tâm đô thị dường như đóng vai trò như là v ật kích thích cho hoạt động du lịch Tuy nhiên chúng ta đừng nhanh nhẩu đoản và giả định rằng sự khác biệt đô thị-nông thôn làm nảy sinh biến thể du
l ịch ở mọi nơi Dữ liệu thống kê ở Mỹ cho thấy rằng tại đất nước này không có sự khác biệt du lịch nông thôn-thành thị quan trọng nào tồn tại cả (Muller và Gurin 1962:41) Không nghi ngờ gì là các nhân tố kinh
t ế, chẳng hạn như mức thu nhập, và nhân tố chính trị như là vai trò c ủa chính phủ, cũng phải được xem xét để lý giải các biến thể du lịch trong các xã hội phức tạp hơn
N ếu chúng ta giả định rằng có nhiều nguyên nhân tác động lên quyết định đi du lịch hay không đi
du lịch của con người và rằng những quyết định như vậy về phần mình sẽ lại tác động lên tỉ lệ của các chuy ến khởi hành du lịch, thì chúng ta sẽ phải quyết định nhân tố nào là có tính ảnh hưởng và tầm quan
tr ọng của chúng ra sao trong một trường hợp cụ thể như thế nào? Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc đặt câu h ỏi với chính du khách (và không phải du khách) Boyer (1972:233-37) đã đề cập đến dữ liệu thống
kê của nước Pháp hiện đại vốn đã đưa ra các lý do cho vi ệc người dân không đi nghỉ mát và cảm nhận
c ủa họ về việc này Dĩ nhiên chúng ta có thể đề xuất rằng câu trả lời cho câu hỏi thống kê không đưa ra
lý do th ật sự trong bất cứ chuyện gì và rằng người ta có thể mù quáng trước các nhân tố thực sự tác
động đến hành động của họ, nhưng câu trả lời của những con người được lựa chọn thích hợp để trả lời những câu hỏi được thiết kế cẩn thận có vẻ như cần thiết cho việc bắt đầu lý giải về du lịch Sử dụng một quan điểm rộng nhất, một sự tìm hiểu như vậy sẽ hướng đến việc xây dựng nên bản đồ chủ đề và vẽ ra các gi ới hạn, tưởng thưởng khả dĩ, và chi phí, tất cả đóng vai trò quan tr ọng trong quyết định đi du lịch hay là không đi du lịch, hay là đi cách này hay cách khác Nó c ũng s ẽ liên quan đến việc nghi vấn nhạy cảm và quan sát bởi các nhà nghiên cứu tài năng Các bước theo con đường này đã đư ợc thực hiện với
du khách người Mỹ bởi Myers và Moncreif (1978) và Smith (1979)
Trang 1514
Ch ất lượng hay là phong cách của nền du lịch được tạo ra bởi một xã hội hay là tiểu xã hội là
m ột câu hỏi quan trọng Sự cuốn hút gì mà vùng Đ ịa Trung Hải có đối với người Bắc Âu? Tại sao con người lại hướng đến một số khu vực nhất định vì tốt cho sức khoẻ mình, hay là thám hiểm, “văn hóa”…?
T ại sao 1 số phương tiện giao thông hay là lưu trú được sử dụng? Cái gì lý giải cho nhịp điệu của các chuy ến khởi hành của du khách? Tại sao một số du khách lại chọn đi theo nhóm trong khi người khác lại theo đuổi các phương thức cá nhân hơn? Liệu chúng ta có thể giải thích tại sao vài loại du lịch lại được diễn ra một cách nghiêm túc, đầy duy lý (với một Baedeker hay là Hướng dẫn viên Michelin chẳng hạn) trong khi m ột số chuyến du lịch lại mang tính ngẫu hứng và hời hợt? Có phải du lịch trong xã hội hiện đại
là cu ộc tìm kiếm cho các trải nghiệm “chân thật” hay là “giả tạo” (một câu hỏi tạo nên nền tảng của một tranh luận giữa Boorstin [1964] và MacCannell [1973])? Điểm mấu chốt của việc du lịch của con người ta
là gì?
Điểm bắt đầu hiển nhiên là trả lời những câu hỏi như thế với du khách và tình huống tạo ra du khách T ừ điểm này thì du lịch có thể được xem như là một biểu hiện của một vài sự kiện tâm lý hay xã
h ội cơ bản Một loạt các quan điểm lý thuyết đã được dùng để lý giải phẩm chất của nền du lịch của một
xã hội hay là các hiện tượng nghỉ ngơi thư giãn khác Ch ắc hẳn thảo luận có tính khơi mở nhất là của Veblen (1973[1899]) m ặc dù ông không đề cập cụ thể đến du lịch, nhưng trong đó có các hiện tượng du
l ịch như là một loại hình tiêu dùng mà ông gọi là giai cấp nghỉ ngơi thư giãn phi sản xuất Một nhà duy vật khác, là Hobsbawn (1975:203-7) thì cho rằng chủ nghĩa tư bản công nghiệp có xu hướng sản xuất ra các loại hình du hành nhất định vì mục tiêu thoải mái MacCannell (1976), xem du lịch từ một quan điểm của Durkheim, xem nó như là một biểu hiện của cấu trúc của xã hội hiện đại Barthes (1972:74-77), trong phân tích c ủa ông về Hướng dẫn viên Bleu, và Dufour (1977) trong nghiên cứu của ông về các hình ảnh
cu ối tuần của Pháp đã xem du lịch như là một loại thần thoại Sau hết, mặc dù không ai có vẻ như đã đạt được mức này, nhưng có thể họ đã mở rộng lý thuyết về loại hình cá tính cơ b ản (Kardiner 1939, 1945),
và xem du l ịch như là một hệ thống “biểu thị” hay là “ảnh xạ”
S ự đa dạng của các quan điểm lý thuyết cho thấy rằng tình huống tạo ra du khách là mảnh đất màu m ỡ cho nghiên cứu nhân học; nhưng thật khó để tìm ra nghiên cứu trọng điểm trong lĩnh vực này Các nhà nhân học dường như hứng thú với chuyện diễn ra tại đầu kia của tiến trình du lịch tại xã hội chủ nhà Tuy nhiên, cho dù là ở đó thì bóng mờ của các tâm tạo ra du khách cũng vư ợt khỏi các vệ tinh du
l ịch của nó, và không thể nào chúng ta có thể hiểu hết cái gì đang di ễn ra tại những nơi đó mà không xem xét đến sự phát triển của các trung tâm Đây không phải là lý do duy nhất mà các nhà nhân học nên quan tâm đến những xã hội hay là trạng huống tạo ra du khách Nghiên cứu về việc sản sinh ra du khách
và du l ịch tại những xã hội như vậy cũng sẽ tạo ra cùng một loại mẫu số như là nghiên cứu về tôn giáo, huy ền thoại, nghệ thuật và các hiện tượng “thượng tầng” khác Cho nên, bên cạnh việc không thể tách
r ời trong việc tìm hiểu tiến trình du lịch, việc nghiên cứu về trạng huống tạo nên du khách có thể cung cấp cho chúng ta các mũi nhọn trọng yếu tiến vào hiện thực văn hóa xã hội
Cho đến giờ chúng ta đã xem xét du lịch như là một biểu hiện và trích xuất của một vài xã hội tạo
ra du khách, nhưng du lịch cũng có thể được coi là du nhập vào xã hội chủ nhà Theo quan điểm có tính giao d ịch, sự du nhập của du lịch vào trong một xã hội chủ hay là tiểu xã hội chủ không bao giờ là một hành động song phương, mà thay vào đó là cho-và-nhận Biển Miami, Gambia, Cancún (Mexico), San Juan (Puerto Rico), Sochi (Liên Xô), hay là Nice tr ở nên gắn bó với sự phát triển du lịch ra sao và tại sao
du l ịch tại mỗi nơi này lại có hình thức như vậy? Chắc chắn là vai trò của những nguồn ngoại lực chẳng
h ạn như doanh nghiệp, nhà hoạt động xã hội, các tổ chức chính phủ và liên chính phủ cần nên được xem xét; nhưng truyền thống phục vụ, lòng hiếu khách, và hấp thụ sự xâm lấn của bên ngoài của cộng đồng xã hội chủ cũng sẽ đóng vai trò quan tr ọng trong việc quyết định liệu du lịch có phát sinh và phát tri ển hay không Các nhân tố thích nghi ban đầu của một xã hội với du lịch hay với một hình thức nào đó
c ủa du lịch là gì? Các nhà tư vấn về các dự án du lịch, chẳng hạn như các chuyên gia Liên Hiệp Quốc đã thẩm định tiềm năng du lịch quốc tế của Gambia và đưa ra một dự án phát triển du lịch cụ thể (xem Harrell- Bond 1978), dường như có trong đầu một vài ý tư ởng về châm ngôn nhân học cơ bản, rằng một người phải hiểu biết bối cảnh văn hóa xã h ội nhằm hiểu được hay là tạo ra các dự đoán về các bộ phận
Trang 1615
c ủa nó, nhưng họ dường như không quan tâm đến việc theo đuổi các ý nghĩa của sự tìm hiểu của họ đối
v ới chức năng và biến đổi văn hóa xã hội Có sự hấp thu khoa học xã hội to lớn là nghiên cứu của Young (1977), trong đó cho rằng các hòn đ ảo Caribe khác nhau nên lựa chọn hay là định hình các loại hình du
l ịch mà thực sự về sau họ đã có được Tuy nhiên, cho đến nay, các cuộc điều tra như của Young dường như rất ít Câu hỏi về tiềm năng du lịch của các xã hội chủ vẫn còn rộng mở cho các cuộc nghiên cứu nhân h ọc đầy lý thú
Tóm lại, chúng ta phải nói là rất ít quan tâm nhân học đã hướng đến việc tìm hiểu nguyên do của
du l ịch, vốn được xem như là sự xuất đi từ một xã hội tạo ra du khách hay là nhập vào trong xã hội chủ
Do nghiên c ứu du lịch của các nhà nhân học chỉ là mới bắt đầu, có thể sẽ chẳng có ích gì để phỏng đoán
v ề lý do của chuyện này, nhưng tìm hi ểu về một khía cạnh của hiện thực văn hóa xã h ội cần phải được xem xét như là một lý do của du lịch Chúng ta cần phải biết tại sao du lịch lại diễn ra với mức độ, thời gian, địa điểm và trong hình thức như thế Tầm quan trọng về mặt lý thuyết của việc tìm hiểu như vậy đối
v ới sự hiểu biết của chúng ta về chức năng và biến đổi văn hóa xã hội dường như là đã rõ ràng rồi
H ệ quả của du lịch
Theo quan điểm giao dịch, du lịch có thể được xem là gây ra tác động lên xã hội tạo ra du khách,
xã hội chủ và bất kì hệ thống xã hội xuyên văn hóa nào mà nó gắn liền Những tác động này có thể được xem là v ận hành không chỉ thông qua chính du khách, mà còn thông qua bất kì hạ tầng du lịch nào phục
v ụ họ Cho đến nay, các nhà nhân học đã cho thấy là họ có rất ít quan tâm đến việc tìm hiểu khám phá các hệ quả của du lịch đối với chính xã hội tạo ra du khách Nếu chúng ta chấp nhận rằng du lịch là một
bi ểu hiện thượng tầng hay là biểu đạt của một vài xã hội và rằng nó có khả năng tác động ngược lại các
y ếu tố cơ bản hơn của một xã hội sinh ra nó, thì con đư ờng này dường như sẽ gợi mở cho chúng ta tiến hành r ất nhiều dự án nghiên cứu quan trọng về mặt lý thuyết Một vài dẫn chứng cho khả năng theo con đường này được thể hiện bởi Geshekter (1979), người xem du lịch quốc tế hiện đại như là đang tiến hành các ch ức năng kinh tế đối với các “siêu cường tạo ra du khách giàu có,” hay là bởi Vogt (1978), người đã nói về giá trị giáo dục và trị liệu của việc “đi lang thang” đối với các cá nhân (và giả định là cả
nh ững xã hội mà từ đó họ xuất phát), và bởi Dufour (1977) thảo luận về du lịch cuối tuần như là một loại hình thần thoại được đề cập trên đây Khi nêu lên câu hỏi về chức năng “giải phóng” hay là “làm biến
ch ất” của rất nhiều thần thoại, Dufour cho rằng du lịch có thể có cả hệ quả tích cực và tiêu cực đối với du khách và xã h ội quê nhà của họ Khoảng cách giữa những mong đợi mà du khách có và thực tiễn chỉ là
m ột trong những tương phản khả dĩ mời gọi sự phân tích của những nhà nghiên cứu hứng thú đến sự ổn định và thay đổi trong xã hội sản sinh ra du khách
Mặc dù có thể đã rõ ràng là quan đi ểm nhân học thực sự về du lịch gợi ra một quan điểm rộng
l ớn hơn, quan tâm của các nhà nhân học đối với du lịch cho đến nay đã khá là h ạn hẹp Các nhà khoa
h ọc xã hội đã có khuynh hư ớng bộc lộ một loại phản ứng “co giật đầu gối” đối với “sự áp đặt” của du lịch lên trên xã hội quan tâm của họ; nghĩ là những xã hội tiền công nghiệp hay là ở Thế giới thứ ba Kết luận
có đôi chút nhìn thấy trước mà họ đã đạt được là du lịch là “xấu” cho các xã hội đó Một kết luận như vậy được hỗ trợ bởi một trong những nghiên cứu cẩn trọng và tinh tế tính đến nay của nhà kinh tế học Dryden (1973) T ập trung vào vùng Caribe thuộc khối Thịnh vượng chung và sử dụng loại phân tích chi phí-lợi nhuận trực tiếp, ông đã k ết luận rằng (trang 218) “một trường hợp ‘có tính kinh tế’ có thể thấy rõ
m ột cách hoàn hảo có thể được đưa ra để chống lại sự phát triển du lịch.” Ông đã chỉ ra rằng không cần
ch ỉ ra chi phí “xã hội” hay là “siêu vượt”, chúng ta cũng có th ể nêu ra câu hỏi nghiêm túc về giá trị của phát tri ển du lịch đối với một xã hội tiền công nghiệp Nếu chúng ta tính đến phí tổn, thì có rất nhiều tham khảo trong tuyển tập về du lịch mà tôi đã đề cập trên đây Các phí tổn này bao gồm sự xuống cấp về môi trường, tách ly xã hội, gia tăng sự phụ thuộc vào các trung tâm du lịch, gia tăng sự thiếu hụt tài chính,
gi ảm chất lượng sống, và gia tăng bất bình đ ẳng xã hội Giọng điệu tự do-cấp tiến của các quan điểm
của các nhà nhân học cô đọng trong một trích dẫn dưới đây từ tạp chí xã hội chủ nghĩa Dollars and Sense (1978:15):
Trang 1716
Cho dù là ngành du l ịch có trông có vẻ to lớn cở nào đối với viên chức của Ngân hàng Thế giới
t ừ phòng thượng hạng tầng 20 của khách sạn Manila Hilton, thì cái nhìn từ đáy là một thứ khác Các cơ sở lưu trú du lịch sang trọng điều hành bởi TWA không hứa hẹn cách thức phát triển kinh
t ế thích hợp gì, tương tự như các hầm mỏ đồng do Kennecott điều hành hay là các nhà máy lắp ráp xe Mustang c ủa Ford
Tuy nhiên có nh ững trường hợp mà du lịch không chỉ không gây hại cho một xã hội tiền công nghiệp, mà còn trên thực tế mang lợi cho nó Cohen (1979c:32) bắt đầu nghiên cứu của ông về tác động
c ủa du lịch lên trên các ngôi làng vùng cao của Thái Lan với ý niệm rằng tác động này gần như chắc
ch ắn là tồi tệ, nhưng ông đã phải kết luận rằng “du lịch tại các vùng bộ lạc trung du không được trông đợi
là s ẽ gây ra tác động huỷ diệt… trong tương lai gần.” Boissevain (1979) thậm chí còn đưa ra một kết luận thuyết phục hơn, trong đó ông tường thuật rằng bằng chính các tiêu chí của người Malta về phát triển, du
l ịch đã có những hiệu ứng lợi ích to lớn Một quan điểm cân bằng hơn về hệ quả tích cực và tiêu cực của
du l ịch đối với các nước đang phát triển có thể được tìm thấy trong tuyển tập của de Kadt (1979)
N ếu như du lịch có thể có các tác động tích cực và tiêu cực lên phát triển, thì câu hỏi thực tiễn sẽ
là làm sao nâng cao tính tích cực Các đề xuất chính sách đưa ra bởi hội thảo do Ngân hàng Thế giới tổ
ch ức (de Kadt 1979:339-47) chỉ ra các nhân tố như là quy mô của cơ sở du lịch, tỉ lệ tăng trưởng, địa điểm, đầu tư và kiểm soát bên trong đối lập với bên ngoài Một thái độ khoa học hơn sẽ là đặt qua một bên khái ni ệm tốt và xấu và hướng đến việc xem du lịch như là một nhân tố trong việc duy trì và biến đổi không chỉ các xã hội đang phát triển, mà còn của tất cả các xã hội chủ Loại hình khung nhận thức nào
để nhìn vào vấn đề này mà chúng ta nên trang bị bây giờ?
Trong m ột công trình khác (Nash 1978) tôi đã ch ỉ ra rằng du lịch có thể được xem như là tác động lên một xã hội chủ thông qua một khu vực (sector) du lịch 2
Khu v ực du lịch cũng bao gồm một loạt các vai trò, đư ợc tổ chức đa dạng, có liên quan ít nhiều trực tiếp với du lịch Trong kỉ nguyên hiện đại, những vai trò này bao gồm quản lý khách sạn, cứu hộ, đầu
b ếp, dọn phòng, hư ớng dẫn viên, lái xe taxi, công nhân xây dựng, người bán hàng, thợ thủ công và tương tự như vậy Tác động của du lịch lên họ và xã hội của họ, mặc dù là sẽ phụ thuộc vào du khách, nhưng sẽ được gây nên bởi việc tồn tại và đòi hỏi vai trò phục vụ du khách Smaoui (1979:102-7) trong thảo luận của ông về công việc được tạo ra bởi du lịch ở Tunisia đã nghiên cứu loại hình tác đ ộng này Thêm vào đó, bằng cách chỉ ra những việc làm gián tiếp gắn liền với du lịch, ông đã nêu lên câu h ỏi về tác động sơ và thứ cấp ví dụ như của ngành “công nghiệp” khách sạn hay là khu vực nông nghiệp Cái
g ọi là hiệu ứng đa tầng, ám chỉ hậu quả thứ cấp của đầu tư du lịch, sẽ phát sinh thông qua các mối liên kết mà khu vực du lịch có với toàn thể phần còn lại của xã hội Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng, như trong trường hợp mối quan hệ giữa xã hội tạo ra du khách và xã hội chủ, các liên kết này không phải là đường 1 chiều Có một sự cho-và-nhận giữa khu vực du lịch và bối cảnh xã hội của nó Một cách thức khác m ới mẻ hơn đối với xu hướng chung vốn xem du lịch như là tác động lên xã hội chủ (thông qua một
Khu v ực này, có thể ít nhiều khác biệt với toàn thể phần còn lại của xã hội chủ, sẽ bao gồm trước hết là du khách, những người sẽ trực tiếp tác động lên chủ Một kết quả của sự tương tác này là cái gọi là hiệu ứng trình diễn (demonstration effect),
m ột ví dụ của nó đã được Johnson (1978:64-65) đưa ra trong thảo luận của ông về sự phản ứng đôi chút khắt khe của người Tongan đối với trang phục và hành vi của du khách Như Farrell (1979b) chỉ ra rằng
cả chủ và du khách đều có vấn đề với việc đánh giá chính xác những con người mà họ phải đối mặt nhưng lại biết rất ít về họ Sự thật là sự đánh giá của họ không chính xác hoặc có thể là không có tính đại
di ện sẽ không làm cho hệ luỵ của du lịch bớt thực hơn
2 Smith (1980) ám ch ỉ điều này là một “khu vực” (region), và phân tích của bà thì tương tự nhưng không
gi ống với phân tích của tôi
Trang 1817
khu v ực du lịch) chứ không phải theo hướng ngược lại được đưa ra bởi Young Như đã đề cập trên đây, nghiên c ứu của Young gắn liền loại hình cấu trúc kinh tế và chính trị của xã hội chủ ở Caribe với hình thức du lịch mà họ phát triển Nghiên cứu của bà cũng nêu lên câu hỏi thực tiễn về mức độ kiểm soát mà
m ột xã hội chủ có đối với đầu tư du lịch của nó, một vấn đề được quan tâm đặc biệt của các thành viên
c ủa hội nghị do Ngân hàng Thế giới tổ chức
Các nhà nhân h ọc đã khá là tự do trong việc đề xuất rằng các quan hệ nhân quả giữa đầu tư du lịch và các phát triển khác trong xã hội chủ Phương pháp thông thường đã là thu thập một loại chỉ số
c ủa mỗi bên và đề ra rằng bất kì sự kết hợp nào cũng là chỉ dẫn của nhân quả Có lúc điều này được tiến hành m ột cách đầy ấn tượng, như là trong nghiên cứu của Greenwood (1977) về sự hàng hóa hóa do du
l ịch gây ra của cộng đồng người Basque, hay là được diễn đạt về mặt thống kê, như trong nghiên cứu của Boissevain (1978) về du lịch và phát triển ở Malta Nhưng như bất kì nhà khoa học xã hội nào cũng
bi ết, sự phơi bày của một sự kết hợp không đơn thuần phải là nhân quả Có phải là đầu tư du lịch chính
là th ứ mang lại hậu quả nhất định nào đó không, hay là các loại hình đầu tư khác có liên quan? Sự thật là
t ại các quốc gia đang phát triển, phát triển du lịch diễn ra song đôi với sự phát triển của công nghiệp và các tác động hiện đại hóa khác nên làm cho chúng ta cực kì cẩn trọng khi đề xuất các mối dây nhân quả Như tôi đã trình bày ở nơi khác (Nash 1978:139) “phương pháp thử nghiệm của sự khác biệt là công cụ
có tính phương pháp mà chúng ta nên nhớ đến khi nghiên cứu loại này….” Trừ khi chúng ta lựa chọn các
xã h ội chủ trong đó đầu tư ngoài du lịch là ít nhất hoặc là không có, như trong nghiên cứu của Lewi (1972) về đảo Virgin Island thuộc Mỹ, hay là nghiên cứu của tôi (1979a) về du lịch quý tộc ở Nice Dĩ nhiên, m ột phương pháp luận thích hợp phải đi liền với lý thuyết thích hợp nếu như các nhà khoa học
mu ốn xem xét các câu kết luận nhân quả một cách nghiêm túc Và sự thực đơn thuần là một vài nghiên
c ứu du lịch của chúng ta tại các hoàn cảnh của chủ nhà, bao gồm những nơi đầy quyền lực như Paris, Moscow, hay New York sẽ giúp chúng ta thoát khỏi việc giả định về bất kì sợi dây nhân quả đơn tuyến nào đó
Sau h ết, chúng ta nên xem xét hệ luỵ của du lịch đốivới hệ thống xã hội vượt khỏi xã hội quê nhà
và xã h ội chủ hay là các tiểu xã hội Điều này có lẽ sẽ rõ ràng hơn trong trường hợp du lịch nội địa, đặc biệt là tại những xã hội chính trị tập trung như là Hungary, nhưng đôi khi sự phân chia giữa du lịch nội địa
và qu ốc tế khá là mờ nhạt Người San (Bushmen) trưng bày một mô hình thăm viếng giữa các nhóm phù
h ợp với khuôn khổ đồng minh rõ ràng là chịu tác động của các hoạt động du lịch hoặc là du lịch sơ khai đó; và dữ liệu do Silberbauer (1972), Lee (1968, 1972, 1979) và những người khác đã cung c ấp cho chúng ta một đề xuất rằng không chỉ những quá trình khác biệt của sự ly và hợp, mà còn cả việc đến và
đi giữa các nhóm, vốn ít nhất là có tính du lịch sơ khai, đóng chức năng logic cho cả một hệ thống của toàn khu v ực của những người săn bắt hái lượm và các liên minh nông nghiệp hay là chăn nuôi Đề cập đến nền văn hóa phức tạp hơn, Turner và Turner (1978:1-79) cho rằng rất nhiều chức năng khác nhau được thực hiện bởi các chuyến hành hương thời trung cổ, một hình thức di cư ít nhất có tính du lịch Theo nh ững nhà nghiên cứu này, các chuyến hành trình như vậy cho phép con người vượt khỏi việc tồn
t ại tại địa phương, và điều này về phần mình nuôi dưỡng sự cố kết trong một tập thể với thẩm quyền siêu địa phương hay là siêu quốc gia Trong kỉ nguyên của chúng ta, chúng ta ngày càng thấy rõ ràng là có một cái gì đó “ở ngoài kia” tác động và chịu tác động của sự phát triển của các xã hội riêng biệt Các nền kinh t ế của những quốc gia khác nhau đã tr ở thành phụ thuộc lẫn nhau mà một số học giả đã bắt đầu dùng thu ật ngữ như là “kinh tế thế giới”, “hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới”… Đối với một nền kinh tế hay là h ệ thống như thế, sự vận hành của một khối tập đoàn du lịch xuyên quốc gia như là Pan American Airways (Hãng hàng không Xuyên Mỹ), các công ty tập đoàn và thành viên gắn kết với nó, sẽ dường như
có các h ệ quả cần phải được nghiên cứu
Chúng ta ph ải thấy rõ ngay từ đầu rằng bất kì nghiên cứu về nhân quả hay là hệ quả của du lịch
ph ải tính đến bối cảnh xã hội rộng lớn hơn mà nó hoà vào Bối cảnh xã hội rộng lớn hơn nào dĩ nhiên sẽ được quyết định bởi bản chất của vấn đề được đặt ra cũng như th ực tế của tình huống du lịch Adams (1974:240) giúp chúng ta nh ận thức rõ hơn v ề điều này khi đề cập đến nghiên cứu của thương mại cổ đại: “Cả biến đổi xã hội và liên tục xã hội đều đòi hỏi các quá trình tương tác, v ới các tương tác quan
Trang 1918
tr ọng theo một vài khía cạnh chỉ bó gọn trong các cộng đồng đơn lẻ, trong khi ở những tương tác khác thì trong các nhóm đa phương trong b ối cảnh xã hội theo trình tự thời gian, trong tương tác khác thì bó gọn trong toàn bộ các khu vực, trong các tương tác khác nữa thì lại trong các tiếp xúc liên vùng với vai trò l ịch sử nằm ngoài tỉ lệ quy mô và tần suất hạn chế của chúng.”
Các kh ả năng lý thuyết
Chính b ởi vì số lượng đáng kể của các nghiên cứu thực nghiệm về du lịch cho đến nay, có lẽ sẽ
là quá khi nói rằng nghiên cứu nhân học về du lịch vẫn còn trong bư ớc dự đoán Nhưng tìm hi ểu thực nghi ệm – thậm chí là khi nó được tổ chức bởi một phương pháp luận nghiên cứu đầy mạnh mẽ - tự nó không đủ cho một nghiên cứu khoa học về du lịch Lý thuyết cũng cần đến, và theo khía cạnh này nghiên
c ứu nhân học về du lịch lại thiếu sót nhất Mặc dù chúng ta hiện nay không ở vào vị trí có thể vượt qua được sự thiếu sót này chỉ trong một cuộc đột kích, sau khi tổng kết lại lĩnh vực nghiên cứu này, chúng ta
có th ể đưa ra một số xem xét lý thuyết sơ khởi
Có v ẻ như các nhà nhân học có thể xem xét một cách có lợi rằng du lịch như là một sự giao dịch
gi ữa các xã hội tạo ra du khách và xã hội chủ Các đối tác trong giao dịch du lịch có thể ít nhiều phụ thuộc lẫn nhau, nhưng sau cùng các nhà nhân học có thể xem chúng như là các bộ phận của một bối
c ảnh xã hội lớn hơn, bao gồm cả toàn bộ quá trình hay là hệ thống du lịch Một vài lý thuyết trao đổi (xem
ví d ụ như Ekeh 1974) sau hết có thể cho thấy là cách tốt nhất để tổ chức một tổng kết thích hợp, nhưng trong th ời điểm này thì dư ờng như chưa có quan điểm có tính tham vọng nào có thể được chỉ ra ở đây Trong hệ thống du lịch, các tập trung tự nhiên của việc xem xét là tình huống tạo ra du khách, tình huống
ch ủ nhà, và các giao dịch giữa họ Các tiếp cận lý thuyết khác dường như thích hợp cho các tập trung này
T ại đầu mút tạo ra du khách của tiến trình du lịch, chúng ta có thể bắt đầu cuộc nghiên cứu với ý niệm rằng du lịch là một loại thể hiện cấu trúc thượng tầng của một hiện thực cơ bản hơn Dĩ nhiên, cấu trúc thượng tầng du lịch này có thể được cảm nhận như là có năng lực tác động ngược trở lại hiện thực
t ạo ra nó Thêm vào đó, chúng ta có thể cảm nhận việc tìm kiếm, lựa chọn và mối quan hệ với các vệ tinh
c ủa chủ như là nổ lực tạo ra các biểu hiện cấu trúc thượng tầng của xã hội tạo ra du khách Nếu Ritchie
và Zins (1978) đặt câu hỏi với du khách và những người thị thành cùng với rất nhiều thông tín viên chủ nhà trong nghiên c ứu tìm hiểu của họ về các nhân tố quyết định sự thu hút của một vùng du lịch, họ chắc
h ẳn đã ở vào trong vị trí bắt đầu phân tích các cách thức trong đó một xã hội chủ nhà đáp ứng lại với các giá tr ị du lịch trung tâm thị thành, và qua đó họ sẽ hiểu được tiến trình mà qua đó những biểu thị như thế được tạo ra Cho dù là những tác động của trung tâm thị thành trong một tiến trình như thế là quan trọng, thì chúng ta cần phải cẩn trọng khi dùng từ chủ nghĩa đế quốc về du lịch (touristic imperialism), như tôi
đã dùng (Nash 1977), mà một ví dụ cực đoan của nó là việc tạo ra những nơi giống như là Disneyworld –
v ốn ít nhất là về mặt bên ngoài không có chủ kiến riêng gì cả
Mặc dù là mức độ quyền lực mà du khách, nhân viên môi giới của họ, và chủ nhà có được trong giao d ịch của họ với nhau là khác nhau, tất cả các giao dịch như vậy đều có chung hai thứ là: thứ nhất, như Cohen (1972) và tôi (1977) đã nh ấn mạnh, chúng sẽ gắn với một mối quan hệ giữa hai người xa lạ
Nh ững con người có liên quan xuất thân từ những nền văn hóa hay tiểu văn hóa khác biệt nhau Thêm vào đó, họ có vị thế khác nhau Du khách, những con người đang nghỉ ngơi thư giãn, đư ợc tự do khỏi
nh ững bổn phận cơ bản, trong khi chủ nhà, phải phục vụ cho du khách, lại không phải Sự phân biệt rõ
gi ữa nghỉ ngơi-phục vụ là tính phổ quát thứ hai của mối quan hệ giữa du khách và chủ nhà Tất cả các
th ể chế du lịch phải ứng đáp với những yếu tố cơ bản này của mối quan hệ chủ - du khách
Du khách lạ và chủ nhà của họ có thể được coi là tương tác theo một loại “mặt tiền tiếp xúc”, như Aspelin (1978) đã đ ề cập khi dùng thuật ngữ của Ribeiro (1967) để phân tích các quan hệ giữa những nhóm t ộc người Ở cấp độ vi xã hội, quan điểm của Goffman (1959, 1967) với phân tích về bản chất bấp
Trang 2019
bênh c ủa các quan hệ xã hội trong đời sống hàng ngày dường như đặc biệt có thể ứng dụng cho tiếp xúc
du l ịch, đã đư ợc dùng trong nghiên cứu du lịch của Cohen (1979c), Kemper (1979), La-Flamme (1979),
và MacCannell (1976) Các quan điểm và tiếp cận này đối với tương tác chủ-du khách tất cả đều sẽ hưởng lợi từ khái niệm về người lạ của Simmel (1950[1908]:402-7) vốn nổi tiếng trong các nhà xã hội
h ọc hơn là nhân học Du khách, người dường như rất gần với kiểu người lạ điển hình-lý tư ởng của Simmel, là người (đối với chủ) dường như gần bên nhưng thực tế lại xa cách về mặt văn hóa Kết quả là
sự tương tác chủ-du khách chứa đựng một sự pha trộn đầy tò mò của sự gần gũi và khoảng cách trong
đó các đối tác có xu hướng đối xử với nhau không những như những loại người, mà còn như những đối tượng Pi-Sunyer (1977) nghiên cứu tại Catalonia và Brewer (1978) tại Mexico đã n ắm bắt được vài
ph ẩm chất của sự tương tác như thế giữa chủ và du khách Dĩ nhiên, bản chất của những tương tác như vậy sẽ khác biệt với những nhân tố như là tỉ lệ khách đến và số lượng du khách và mối quan hệ tổng thể
c ủa các xã hội có liên quan Ví dụ như nếu sự phân tán quyền lực là lớn, thì chúng ta có hi vọng là sẽ tìm
th ấy mối quan hệ giữa người định cư và người bị cai trị, như Fanon (1968) đã phân tích r ất nhạy cảm và
k ết quả có thể có của điều này là sự không hài lòng ngày càng tăng v ới cái cũ và hoang mang khi người
ta c ố nhìn ra cái mới Người Bắc Mỹ khổ hạnh, bị kích thích bởi những cách thức đầy nhục cảm của chủ nhà người Caribe, có thể trở nên bớt hài lòng với cuộc sống của họ ở nhà Mặt khác, chủ nhà của họ lại
có th ể xem những người du khách này như là một nhóm tham khảo cho những dạng thức tiêu dùng mới
v ốn không thể nào hoàn toàn nhận ra Dĩ nhiên, s ự không nhất quán về mặt văn hóa lớn hơn sẽ rất có
th ể sản sinh ra sự mâu thuẫn loại này Một hệ luỵ trực tiếp khác của tiếp xúc chủ-du khách là sự căng thẳng gắn liền trong sự lạ lẫm Người ta phản ứng với sự căng thẳng đối với người lạ theo nhiều cách khác nhau M ột cách phản ứng từ phía du khách là co cụm lại với nhau để chống lại “kẻ thù” chủ nhà Đối với chủ, Levine (1979:31-32) đề xuất một loạt các phản ứng liên tục từ “sự thân thiện bị ép buộc” đến
“s ự đối đầu bị ép buộc.” Loại phản ứng nào nổi lên sẽ tuỳ thuộc vào phẩm chất của người lạ và chủ nhà Cho dù chúng ta có đồng ý hay không với tính đặc thù của chủ đề này, thì nó thật sự dường như có thể đặt du khách vào trong “khuôn mẫu cho xã hội học về người lạ” của Levine và đề xuất ra một phản ứng
c ủa chủ nhà đối với du khách người lạ, là một sự trộn lẫn của sự thân thiện và đối đầu Du khách phải được chào đón, không cần biết là việc đó khó khăn ra sao
Sự hiện hữu của du khách cũng tác động lên xã hội chủ gián tiếp thông qua các dịch vụ phải tồn tại để đáp ứng với những du khách nghỉ ngơi thư giãn này Du khách cần phải được cho ăn uống, ở trọ,
v ận chuyển, và rất có thể là giải trí và nhiều thứ khác nữa Những cách thức được thể chế hóa của việc
ti ến hành các nhiệm vụ này có thể được xem như là tạo ra một hạ tầng vốn một khi được thiết lập sẽ tác động lên xã hội tạo ra nó Một hạ tầng du lịch là một ngành dịch vụ hay là ngành công nghiệp phụ trợ vốn
có th ể tác động một cách quan trọng lên nền kinh tế và xã hội của chủ mặc dù nó có thể sẽ không có khả năng sản xuất của nền sản xuất hay nông nghiệp Tính đa tầng được tranh cãi nhiều, vốn đánh giá hệ
qu ả kinh tế của một đầu tư du lịch nhất định, là một cách để nhìn vào loại tác động như thế này Theo nghĩa đơn giản nhất, sự đa tầng minh chứng cho tỉ lệ của lợi nhuận có thể mong đợi từ một đầu tư du
l ịch cụ thể nào đó, nhưng nó cũng có thể được dùng để ám chỉ hiệu ứng kinh tế hay là hiệu ứng khác lên các khu v ực khác nhau của xã hội chủ Ví dụ, khi đề cập đến doanh thu du lịch ở Antigua vào năm 1963, Bryden (1973:156) ch ỉ ra rằng hầu hết doanh thu được nắm bởi khách sạn và khu vực phân phối, rằng khu vực nông nghiệp chẳng thu lợi ích gì cả Chúng ta có thể nghĩ về các xã hội, trong đó khu vực nông nghi ệp, vốn đã đư ợc vận động để sản xuất cho tiêu thụ của du khách, sẽ thu lợi được nhiều hơn Hình ảnh mà chúng ta nên giữ trong đầu khi xem xét tác động của hạ tầng du lịch lên kinh tế và xã hội chủ nhà
là m ột cái ao bị quấy động bởi một hòn đá thải vào nó Trong trường hợp này, xung động gây ra sẽ mở
Trang 2120
r ộng ra bên ngoài thông qua các ngành dịch vụ kinh tế khác nhau có liên quan đến du lịch Tuy nhiên, hệ
qu ả này không chỉ gói gọn trong kinh tế, mà còn mở rộng ra sự duy trì của văn hóa và môi trường nữa
Các nhà nhân học đã xem xét các hiệu ứng của du lịch lên xã hội chủ gần như hoàn toàn ở tại
th ế giới đang phát triển Do vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên gì khi biết rằng nếu lý thuyết xuất hiện trong tài li ệu nhân học, nó thường được định dạng bởi các vấn đề của hiện đại hóa, phát triển, hay là kém phát tri ển Trong trường hợp này du lịch được gộp chung với tất cả những loại hình đ ầu tư công nghiệp vào trong các xã hội tiền công nghiệp Điều này có thể được giải thích bởi sự thật rằng bản chất
c ủa du lịch chỉ gần đây mới được khai phá bởi các nhà xã hội học và nhân học Hầu hết các nghiên cứu, như Boissevain (1978:39) đã lưu ý th ấy, là một sự “phân chia loại ra của các phân tích được xây dựng nên và v ận hành để gợi ra thông tin trên các chủ đề khác.” Lý thuyết nào thích hợp để xử lý du lịch trong tình huống đang phát triển sẽ phụ thuộc phần nào vào câu hỏi được đặt ra Sử dụng một ví dụ, như là Virgin Islands thu ộc Mỹ, mà Lewis (1972) đã phân tích, chúng ta có th ể nhìn thấy một loạt các xử lý lý thuy ết khác nhau
M ặc dù đảo Virgin thuộc Mỹ không có một nền kinh tế thuần du lịch, nhưng du lịch (Bắc Mỹ) dường như là nguồn thu nhập chính của các hòn đ ảo phụ thuộc cao này Kết quả là, theo Lewis (1972:127) “đời sống kinh tế và hoạt động kinh tế nổi lên ngày càng tăng quanh nghệ thuật moi tiền của
du khách.” T ất cả các nhóm trong xã hội này – thậm chí là những người cách mạng – đều ưu ái du lịch,
m ặc dù họ có thể khác nhau trong định hướng Một nhà chức năng luận sẽ thấy nó có tính phá huỷ khi truy nguồn của phương thức mà du lịch mở rộng ra trong toàn bộ các khu vực của xã hội này – thậm chí
là nhà th ờ Một nhà Marxist sẽ có thể bị kinh ngạc bởi cách thức mà lợi nhuận từ du lịch bị hấp thu một cách không công b ằng bởi một nhóm khá nhỏ các nhân vật kinh doanh bên trên vốn dường như nhúng tay vào mỗi một phần của miếng bánh có liên quan đến du lịch Một nhà tiến hóa luận sẽ quan tâm vào
sự hiện đại hóa có thể sẽ bị ấn tượng bởi con đường chung của phát triển du lịch, dường như hướng đến cái mà Lewis gọi là “chống lại nền văn minh” của Las Vegas hay là khu vực Condaro Beach của San Juan Quy ền lực ngày càng tăng của sự quan tâm của đất liền đối với nền kinh tế của địa phương, sự vắt
ki ệt nền kinh tế đó theo ý thích của họ, và chia phần ngày càng tăng của đồng tiền của du khách bị lấy đi bởi những người quan tâm này có thể sẽ cuốn hút những nhà lý thuyết phụ thuộc
Từ ví dụ này, chúng ta thấy rõ ràng là một loạt các tiếp cận lý thuyết có thể được dùng để phân tích du l ịch trong các xã hội đang phát triển Nhưng nhằm làm cho nó hoàn toàn công bằng đối với một
ch ủ đề, chúng ta phải hoàn toàn hiểu về du lịch và cách thức nó vận hành Thêm vào đó, chúng ta phải nhớ cho sự thật là một lý thuyết thích hợp với một vấn đề trong một tình huống đang phát triển có thể là
vô d ụng khi xem xét du lịch tại một tình huống chủ nhà như là ở Moscow hay là một nhóm người San Sau h ết, các khía cạnh khác nhau của tiến trình du lịch dường như kêu gọi các tiếp cận lý thuyết khác nhau Có th ể đây là một vị trí quá chiết trung tại thời điểm hiện tại của nghiên cứu của chúng ta, nhưng luôn có một sự nguy hiểm về sự khép kín lý thuyết non trẻ trong một khu vực chưa được vẽ ra Tương tự như vậy, có một mối nguy của các nghiên cứu thực nghiệm quá đơn thuần mà không được trình bày về
m ặt lý thuyết Như Cohen (1979c:32) chỉ ra trong nghiên cứu của ông về du lịch như là một chủ đề xã hội
h ọc, chúng ta sẽ lên kế hoạch cắt ra “một trung đạo giữa một nỗ lực để tạo ra “lý thuyết du lịch” (tổng
quát) đơn điệu và một sự tìm hiểu tuỳ cơ ứng biến, từng phần của các vấn đề thực tiễn rời rạc.” Sau
cùng, chúng ta nên nh ớ quan điểm nhân học đặc thù của chúng ta trên thế giới, một quan điểm (mà tôi mong là bài vi ết này đã bộc lộ) có thể phơi bày một cách rõ ràng du lịch như là bản thân nó, cũng như đối
v ới các chủ đề khác
Trang 22Du lịch gắn liền với nhiều vấn đề lí thuyết và thực tiễn trong ngành Nhân học Về mặt
nhận thức, các chủ đề chính mà các nhà nhân học đã thực hiện trong nghiên cứu về du lịch có
thể được chia thành 2 nửa: một nửa tìm hiểu về nguồn gốc của du lịch và nửa kia tiết lộ những tác động của du lịch Thậm chí là kết hợp cùng nhau, hai nửa tiếp cận này dường như cũng chỉ cho chúng ta một phân tích có tính bộ phận về du lịch mà thôi Vấn đề là hầu hết các nghiên
cứu hướng đến việc tìm hiểu về nguồn gốc của du lịch thường có xu hướng tập trung vào du khách, và hầu hết các nghiên cứu quan tâm đến tác động của du lịch thì lại tập trung vào người địa phương Mục đích của các nghiên cứu trong tương lai nên khám phá các tưởng thưởng và tác động đối với cả du khách và người địa phương trong suốt các giai đoạn của du lịch Quan điểm toàn diện hơn này sẽ rất quan trọng khi chúng ta khám phá những cách thức mà du lịch sinh thái và các hình thức thay thế khác của du lịch có thể tạo ra các nguồn lợi về mặt xã hội, kinh tế, và môi trường cho các cộng đồng địa phương trong khi cũng t ạo nên các trải nghiệm đầy tính biến đổi cho du khách
Các nhà nhân học và du khách dường như có rất nhiều điểm chung Cả 2 đều dành thời gian khám phá việc sản sinh ra văn hóa và nghi thức của xã hội, và đều có một địa vị là người ngoài khi họ đột nhập vào trong cuộc sống của những con người khác Cho dù với tư cách là
một nhà nhân học, chúng ta có thể phải miễn cưỡng chấp nhận bất kì mối liên hệ nào với
những đoàn người chân mang giày sandal, cổ đeo lủng lẳng máy chụp hình, nhưng sự thật thì
du lịch có thể là một bối cảnh lý tưởng để nghiên cứu về các vấn đề kinh tế chính trị, biến đổi xã
hội và phát triển xã hội, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, và bản sắc văn hóa và thể hiện văn hóa Trên thực tế, rất nhiều câu hỏi chủ đạo mà các nhà nhân học văn hóa chúng ta quan tâm đã xuất hiện trong nghiên cứu về du lịch Sử dụng lăng kính của du lịch, nhà nhân học đã đặt ra nhiều câu hỏi Ý nghĩa xuyên văn hóa của công việc và thư giãn là gì (MacCannell 1976; Nash 1981, 1996)? Mối liên kết giữa chơi đùa, nghi lễ, và hành hương là gì (Cohen 1972, Graburn 1983, Turner 1982)? Các động thái và tác động của tiếp xúc liên văn hóa giữa du khách và người địa phương là gì (Machlis & Burch 1983, Nufiez 1989, Rossel 1988, Silverman 2001)? Văn hóa được thể hiện trong bối cảnh du lịch ra sao, và nó được cảm nhận như thế nào (Adams 1984, 1995; Bruner 1987; Bruner & Kirshenblatt- Gimblett 1994; Urry 1990)? Các truyền thống văn hóa bị biến đổi hoặc tái tạo theo thời gian ra sao để cho phù hợp với ước
vọng của du khách (Bendix 1989, Gamper 1981, Leong 1989), và cái gì có thể phân biệt cái
Trang 2322
chân thật với cái giả mạo (Boorstin 1964)? Khuôn mẫu tộc người được hình thành và thao túng
vì du lịch như thế nào và tại sao (Cohen 1979, Desmond 1999, MacCannell 1984, Van den Berghe 1994)? Những xã hội bản địa biến đổi như thế nào khi họ trở nên hội nhập với thị trường du lịch (Mansperger 1995, Seiler-Baldinger 1988)? Giá trị của văn hóa biến đổi ra sao
một khi chúng bị hàng hóa hóa (Cohen 1988, Greenwood 1977), và các giá trị của thiên nhiên
đã thay đổi như thế nào (Davis 1997, Groom et al 1991, Orams 1999)? Làm cách nào để các khu vực bảo tồn thiên nhiên và các truyền thống văn hóa dành cho du lịch có thể dẫn đến lợi ích cho cộng đồng địa phương (Eadington & Smith 1992, Honey 1999, Lindberg 1991)? Mối quan hệ quyền lực trong bối cảnh du lịch là gì đ ể có thể quyết định người thắng và kẻ bại (Stonich 2000, Young 1999), và tại sao sự tham dự của người dân địa phương lại có liên hệ
mật thiết với sự thành công của du lịch (Bookbinder et al 1998, Wunder 1999, Epler Wood 1998)? Thông qua việc tìm kiếm câu trả lời cho những nghi vấn trên, rất nhiều nhà nhân học đã
biến du lịch trở thành tiêu điểm chính trong diễn giải và phân tích của họ Trong phần điểm luận này, tôi sẽ nhấn mạnh một số chủ đề chủ chốt mà các nhà nhân học đã bao quát trong nghiên
cứu về du lịch Về mặt nhận thức, tôi đề xuất rằng lý thuyết về du lịch có thể được chia thành 2
nửa như sau: một nửa tập trung vào tìm hiểu nguồn gốc của du lịch và nửa kia hướng đến phân tích tác động của du lịch Một trong những luận điểm của tôi là cả hai cách tiếp cận này, cho dù là có kết hợp cùng với nhau đi chăng nữa, cũng dường như chỉ kể được cho chúng ta nghe có một nửa câu chuyện mà thôi Vấn đề là rất nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của du lịch
có xu hướng tập trung vào du khách, và phần lớn các nghiên cứu hướng đến tác động của du
lịch thì lại phân tích chỉ người địa phương mà thôi Khám phá chỉ các bộ phận của sự tương tác hai chiều giữa du khách và người địa phương, hoặc là giữa “chủ và khách,” đã mang l ại cho chúng ta có phân nửa giải thích mà thôi Mặc dù chúng ta có các lý thuyết về nguồn gốc lịch sử
của du lịch (Adler 1989, Towner & Wall 1991), nhưng tại sao người ta lại lên đường làm du khách trong thời hiện đại (MacCannell 1976), hay là tại sao du khách lại tìm kiếm các loại hình đích đến và trải nghiệm nhất định chứ không phải cái khác (Cohen 1988), nghĩa là chúng ta thiếu một sự hiểu biết về việc tại sao người ta và các cộng đồng địa phương tham dự vào du
lịch theo những cách thức cụ thể nào đó Ở mặt kia, khi chúng ta thẩm định tác động của du
lịch, công việc của chúng ta dường như đã t ập trung hơn vào người địa phương chứ không
phải là du khách, và thêm một lần nữa, chúng ta bị bỏ lại với chỉ một phân tích bộ phận mà thôi
Ví dụ như, chúng ta đã học hỏi một số điều về cách thức mà các cộng đồng chủ có xu hướng
biến đổi hậu du lịch Nền kinh tế địa phương có xu hướng trở nên hoặc là mạnh lên từ các cơ
hội việc làm (Mansperger 1995) hoặc là bị làm cho trở nên phụ thuộc hơn vào chi tiêu của du khách (Erisman 1983); truyền thống và các giá trị ở địa phương có thể trở nên hoặc là vô nghĩa (Greenwood 1977) hoặc là quan trọng hơn (Van den Berghe 1994) một khi chúng bị hàng hóa hóa trong du lịch; và cư dân địa phương có thể hoặc là phải hứng chịu sự xuống cấp của ngưồn tài nguyên (Stonich 2000) hoặc sẽ trở thành những người trông coi chủ chốt trong bảo
vệ nguồn tài nguyên (Young 1999) trong bối cảnh du lịch Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta
chẳng biết gì về tác động của du lịch lên chính du khách Họ bị tác động như thế nào bởi những
gì họ thấy, họ làm, và trải nghiệm trong suốt cuộc hành trình? Những lỗ hổng này trong sự hiểu
biết của chúng ta cũng có th ể tóm lược về mặt lý thuyết đối đầu với nguồn tư liệu dành cho
những loại phân tích khác nhau Trong đánh giá động lực nào đã thúc đẩy du khách (đó là các nhân tố tâm lý, điều kiện vật chất,…), nhiều học giả đã khẳng định được một số lý thuyết có tính khái quát (MacCannell 1976, Graburn 1983, Nash 1981) Tuy nhiên, hầu như không có dữ liệu
thực chứng nào đã đư ợc phân tích để hỗ trợ hay là phản bác các lý thuyết ấy Ngược lại, khi
thẩm tra tác động của du lịch, các nhà nghiên cứu lại dựa vào dữ liệu nhiều hơn là vào lý thuyết Mặc dù các bài viết chứa đầy các nghiên cứu trường hợp dân tộc học về tác động của
du lịch đối với cộng đồng chủ, nhưng chúng ta vẫn chưa phát triển được các mô hình hay là
Trang 2423
khung phân tích có thể giúp chúng ta dự đoán các điều kiện trong đó người dân địa phương sẽ
trải nghiệm du lịch theo một cách thức nhất định nào đó Tôi sẽ làm rõ hơn các l ỗ hổng này trong tài liệu ngành trong những trang tiếp theo đây Thông điệp chính của tôi là chúng ta nên nêu ra những loại câu hỏi mới trong nhân học nghiên cứu về du lịch, đặc biệt khi chúng ta bắt đầu xem xét các đóng góp xã h ội, kinh tế, và môi trường của du lịch sinh thái và những loại hình du lịch thay thế khác Trong thập kỷ vừa qua, ngành du lịch đã có những chuyển biến lớn hướng đến mục tiêu là bền vững về kinh tế và sinh thái, sự tham gia của địa phương và giáo
dục về môi trường Khi ngành du lịch thay đổi, thì mục tiêu nghiên cứu của chúng ta cũng s ẽ thay đổi theo Tôi cho rằng chúng ta nên hướng chú ý đến 2 loại truy vấn Về phía chủ, những nhân tố nào có thể giải thích được loại hình tham dự nhất định của người địa phương vào du
lịch? Về phía khách, tác động khác biệt nào của các loại hình du lịch nhất định lên thái độ và hành vi của du khách, cả trong lúc họ đi du lịch và một khi họ về đến nhà? Trong suốt bài này tôi chủ yếu hướng đến loại du lịch có liên quan đến những người xuất thân từ những khu vực phát triển phương Tây đến thăm những bộ phận kém phát triển về mặt kinh tế, không thuộc phương Tây Dĩ nhiên, ng ành du lịch bao gồm rất nhìêu loại hình đi l ại và nghỉ ngơi thư giãn, bao gồm cả các kì nghỉ gia đình đ ến Disney World, du lịch theo đoàn đến các bảo tàng nghệ thuật và chiến trường, và du lịch trăng mật ở Las Vegas Một vài thảo luận của tôi gắn liền với
những loại hình du lịch khác, nhưng hầu hết tôi nói đến du lịch quốc tế vốn đưa con người từ
những nền tảng kinh tế xã hội và văn hóa khác biệt cao độ lại với nhau
Mãi cho đến những năm 1970, rất ít nhà nhân học bộc lộ quan tâm học thuật nhiều vào
du lịch Mặc dù du lịch chắc chắn là gắn bó mật thiết với các dân tộc và nơi chốn mà những nhà nhân học này đang nghiên cứu, rất ít học giả cảm nhận nó là một tiêu điểm thích hợp cho phân tích (Nash 1996) Một ngoại lệ là Nunez, người đã miêu tả du lịch cuối tuần tại một ngôi làng Mexico vào năm 1963 Trong hai thập kỉ qua, một lĩnh vực mới đã xuất hiện, hoàn thiện
với các tạp chí riêng, đáng chú ý nh ất là quyển tạp chí Annals of Tourism Research, các cuộc
hội thảo, khóa học trong trường đại học, và những công trình gây tiếng vang thường được trích
dẫn Một trong số các tác phẩm tiên phong nổi tiếng nhất trong giới nghiên cứu học thuật về du
lịch là của Smith (1989), xuất bản lần đầu tiên năm 1977 Tuyển tập của bà cung cấp cả một quan điểm lý thuyết ban đầu và 12 nghiên cứu trường hợp ghi nhận các tác động của du lịch MacCannell (1976) cũng có ảnh hưởng lớn, đặc biệt là cho việc phát triển một lý thuyết về du
lịch trong thế giới hiện đại Nhiều học giả chủ chốt đã xuất bản các bài khảo cứu định hình nên
lĩnh vực nghiên cứu [du lịch – ND] trong những năm qua (Cohen 1972, 1984; Crick 1989; Grabur 1983; Jafari 1977; Nash 1981; Nash & Smith 1991) Những hợp tuyển được giới thiệu
gần đây hơn của Bums (1999), Chambers (1997, 1999), và Nash (1996) Có nhiều nhân tố làm cho du lịch trở nên đặc biệt gắn bó với nhân học Thứ nhất, du lịch diễn ra trong hầu hết, nếu không nói là tất cả, các xã hội loài người Ít nhất sẽ an toàn nếu nói rằng con người trong gần như tất cả mọi xã hội đều bị chạm đến theo một kiểu nào đó bởi du lịch Nhiều nhà nhân học đã
chứng kiến tận mắt những biến đổi mang đến từ du lịch tại các thực địa nghiên cứu của họ
Thật vậy, du lịch dường như chiếm lĩnh ít ra là một tiểu ngành trong rất nhiều ngành nghiên cứu
vốn tự bản thân nó không liên quan gì với du lịch cả Những nơi c hốn nằm ngoài-lối-mòn -
những nơi vốn thường thu hút các nhà nhân học nhất – ngày càng mở rộng cửa cho du lịch khi kinh tế quốc tế toàn cầu hóa, và khi các mạng lưới xuyên quốc gia về vận chuyển và thông tin liên lạc được (Lanfant và đồng sự, 1995) Ngày nay, du khách có được con đường thâm nhập vào tận những đích đến xa xôi nhất trên vùng đầm lầy sông Amazon (Castner 1990, Linden 1991), dãy Himalaya (Jayal 1986, McEacher 1995), vùng Nam cực (Hall & Johnston 1995,
Trang 2524
Vidas 1993), và, đúng vậy, cả ngoài không gian vũ trụ nữa (Rogers 1998) Tầm quan trọng về
mặt kinh tế của du lịch cũng đã góp ph ần vào trong sự chú ý của các nhà nhân học Như Greenwood (1989) đã lưu ý th ấy, du lịch là “một làn sóng dịch chuyển có quy mô lớn nhất các hàng hóa, dịch vụ, và con người mà nhân loại đã từng thấy” (trang 171) Tổ chức Du lịch Thế
Giới (WTO) (2000) đã ư ớc lượng rằng con số du khách quốc tế đi lại trên thế giới vào năm
1999 là 664 triệu lượt người Hội Đồng Du lịch sinh thái Quốc Tế (The International Eco- tourism Society) (1998) tính toán được là chi tiêu du lịch chiếm 1/3 thương mại quốc tế về dịch
vụ Những con số như thế chỉ ra một sự thật rằng du lịch là một bệ phóng quan trọng của phát triển kinh tế và biến đổi địa xã hội, những tiến trình nằm ở vị trí trung tâm trong sự quan tâm
của rất nhiều nhà nhân học Đặc biệt là trong số những nhà nhân học quan tâm đến phát triển
bền vững và bảo tồn, du lịch sinh thái đã tr ở thành một tiêu điểm đặc biệt Sau hết, du lịch đã chiếm lấy sự quan tâm của các nhà nhân học vì nó thư ờng gắn với sự tiếp xúc mặt đối mặt
giữa con người của các nền tảng văn hóa khác nhau Lett (1989) có lần đã tán dương du lịch là
nó đã mang lại “dòng người dịch chuyển xuyên qua biên giới văn hóa êm dịu nhất trong lịch sử
thế giới” (trang 275) Khi du khách và người địa phương đến gần với nhau, cả hai phía có cơ
hội không chỉ liếc nhìn người kia sống ra sao, mà còn phản ánh được cuộc sống của chính họ thông qua đôi mắt của người khác Kết qủa là, sự tương tác xuyên văn hóa này thường chú thích cho “các cuộc trình diễn trực tiếp” những vấn đề lý thuyết rộng nhất trong ngành nhân
học Nhìn chung, các loại câu hỏi mà nhà nhân học đặt ra về du lịch đã xuất phát từ một trong hai giai đoạn của cái đã được gọi là “tiến trình du lịch” (Nash 1981) Nói một cách đơn giản, tiến trình du lịch là một dòng chảy người từ một nơi “tạo ra du khách”, chẳng hạn như Mỹ hay Âu Châu, đến một đích đến, thường là tại các quốc gia “ngoài rìa” (Jafari 1977; để tham khảo thêm
về thảo luận có phê phán cách thức dòng chảy này đã đi theo chi ều ngược lại trong giai đoạn
“người cựu nguyên thuỷ” và “người hậu hiện đại” ra sao, hãy xem MacCannell 1992) Khi xem
du lịch theo kiểu cách giống như là một đường thẳng đồ thị này, các nhà nghiên cứu tựu chung
một mặt đã thẩm tra nguồn gốc của du lịch, mặt kia là về tác động của du lịch Các nghi vấn quan tâm đến cội nguồn của du lịch bao gồm cái gì làm cho một người trở thành du khách, cái
gì thôi thúc du khách lên đư ờng, cái gì quyết định loại hình nơi ch ốn và trải nghiệm mà du khách tìm kiếm? Các truy vấn về tác động của du lịch nói chung tập trung vào các biến đổi kinh
tế xã hội, tâm lý, văn hóa và môi trường mà du lịch đã gây nên cho các đích đến
Dù cho nó có quan hệ mật thiết với loài người gần như ở khắp mọi nơi, các nhà nhân
học đã có một khoảng thời gian khó khăn để định nghĩa du lịch (Cohen 1974, Nash 1981) Về
cơ bản, một du khách là “một người nghỉ ngơi tạm thời, tình nguyện đến thăm một nơi cách xa nhà của mình vì mục đích trải nghiệm một sự thay đổi nào đó” (Smith 1989, tr.2) Một chủ đề
hấp dẫn đối với các học giả về du lịch là truy ra nguồn gốc của động cơ, nền tảng xã hội và các
hoạt động của con người “nghỉ ngơi thư giãn” ấy theo thời gian Họ là ai? Họ đi đâu và họ tìm
kiếm cái gì? (Pearce 1982) Có một tổng kết lịch sử gần đây do Lofgren (1999) thực hiện
Những trang viết ấy đọc giống như là một nhật kí đi đường khi Lofgren đưa độc giả của ông đi
một chuyến hành trình trong thế giới nghỉ ngơi phương Tây, từ các nẻo đường Du lịch Đám đông vào thế kỉ 18, cho đến những “bãi biển quốc tế” ngày nay Mục đích của ông là cho chúng
ta thấy hai thế kỉ du lịch lữ hành đã dạy dỗ chúng ta thành các du khách ra sao và đã di chuyển như thế nào , thường là theo ấn định xã hội, qua các loại hình “không gian thư nhàn” Cái mà các du khách làm và trải nghiệm mà họ tìm kiếm đã thay đổi theo thời gian, chỉ vì họ khác nhau theo từng quốc gia, và giữa các loại hình xã hội về giai tầng, giới, và chủng tộc Rất nhiều học
giả du lịch đã tìm cách giải thích các động cơ tâm lý của các loại hình đa dạng này MacCannell
Trang 2625
(1976) cho rằng bằng cách theo chân của du khách, chúng ta có thể bắt đầu hiểu được các hệ giá trị của thế giới hiện đại Trên thực tế, bằng cách lấy du khách là đối tượng nghiên cứu, mục đích của MacCannell là mài dũa nên “m ột miêu tả dân tộc học về xã hội hiện đaạ.” Theo MacCannell, hiện đại có đặc điểm là các cảm giác về sự tha hóa, vụn vỡ, và nhỏ nhặt cực kì
Việc đi tìm các trải nghiệm chân thật là một sự phản ánh niềm khao khát của các du khách hiện đại muốn tái kết nối với “cái nguyên sơ, cái nguyên thuỷ, cái tự nhiên vẫn chưa bị chạm đến bởi
sự hiện đại” (Cohen 1988, tr 374; đọc them trong Dobkin de Rios 1994, Harkin 1995, Redfoot 1984) Điểm đặc biệt hình tư ợng trong công trình của MacCannell là ý tư ởng cho rằng du lịch
có thể đóng vai trò là một nguồn lực thống nhất trong các xã hội hiện đại, mang con người lại
với nhau để xác định cùng nhau các nơi chốn, sự kiện, và biểu tượng vốn dường như quan
trọng và có ý nghĩa nào đó (nghĩa là “không nên bị bỏ qua”) Những cái đó có thể bao gồm Hẻm
vực Grand Canyon, Cầu Cổng Vàng, và Tháp Eiffel Cái hành động ngắm nhìn những cái đó
“bằng chính đôi mắt của mình” và rồi chia sẻ trải nghiệm ấy với những người khác bằng các
bức ảnh, quà lưu niệm, và những câu chuyện kể cho phép du khách tái tổng hợp những mảnh
rời rạc của đời sống vốn vụn vỡ của họ Và thông qua du lịch, đời sống và xã hội có thể xuất
hiện thành một loạt trật tự những sự trình diễn, giống như là những loạt ảnh trong một quyển album gia đình (nhưng hãy đ ọc Lippard 1999) Trên thực tế, Kirshenblatt-Gimblett (1998) đã
diễn giải những cách thức du lịch chia thành các giai đoạn và phơi bày thế giới như là một bảo tàng vậy Bằng cách đi tham quan các địa điểm của cái “bảo tàng” toàn cầu này, du khách sau cùng có thể khẳng định và củng cố cái mà họ nghĩ rằng họ đã biết về thế giới (Bruner 1991) Tương tự như thế, Graburn (1989) nêu lên đặc điểm của du lịch như là một loại hình tiến trình nghi thức phản ánh các giá trị ẩn sâu của xã hội về sức khỏe, tự do, thiên nhiên, và tự hoàn thiện Theo quan điểm này thì các kì nghỉ có thể được diễn giải như là cái tương đương có tính
thế tục và hiện đại của các lễ lạc thường niên và các cuộc hành hương trong những xã hội truyền thống và tôn giáo hơn Dẫn theo Durkheim, Graburn phân tích chức năng có tính nghi lễ
của du lịch trong xã hội, đặc biệt là vai trò của nó trong việc xây dựng và duy trì ý thức tập thể
Những vật tổ totem trong nghi thức hiện đại của du lịch xuất hiện trong các trang sách hướng
dẫn du lịch, trên website, và trên bề mặt của các món quà lưu niệm Thông qua việc tôn sùng
tập thể đối với các vật tổ này, du khách có thể tăng cường sự nối kết của họ với nhau cũng như
với xã hội rộng lớn hơn Turner và Turner (1978) đã lý thuyết hóa được rằng các chuyến du lịch nghỉ ngơi thật sự giống như một cuộc hành hương, một cuộc hành hương có thể nâng con người khỏi cấu trúc thông thường của đời sống thường nhật của họ Du lịch có thể mang lại sự
tự do khỏi công việc và những ràng buộc về thời gian khác, một cuộc vượt thoát khỏi vai trò xã
hội truyền thống và tự do sử dụng thời gian của mình tuỳ thích Giống như những hoạt động có tính nghi lễ khác, du lịch thúc đẩy những người tham dự vào trong một trạng thái ngưỡng, hoặc
là “một thời gian ngoài thời gian” khi cấu trúc Bằng cách này, du lịch hiện đại phản ánh một “sự
phản cấu trúc” của đời sống, một sự chạy trốn khỏi một cái gì đó, ch ứ không hẳn là một cuộc mưu cầu tìm kiếm cái gì đó (Turner 1969, 1982) Và ở đây, tầm quan trọng của sự chân thật bị đẩy ra khỏi một giải thích cho cái gì là đ ộng cơ thúc đẩy du khách đi du lịch (Burner 1991) Trong những nghiên cứu khác có liên quan đến nguồn gốc của du lịch, các nhà nhân học đã tìm cách giải thích tại sao một số loại hình du lịch nảy sinh trong một số loại xã hội cụ thể nào
đó (Cohen 1972) Trong chuỗi những nghiên cứu như thế này, du lịch được nhìn nhận như là
một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, phụ thuộc vào một loạt các nhân tố vật chất (Nash 1996) Câu hỏi bây giờ là tại sao tại một xã hội nào đó, và các điều kiện xã hội, chính trị, và môi trường nào đã dẫn đến sự nảy sinh các loại hình du lịch nghỉ ngơi nhất định hoặc các loại hình
du khách nhất định nào đó (Crandall 1980, Dann 1981)? Ví dụ như cái gì trong xã hội Nhật Bản
đã thôi thúc con người Nhật Bản thích đi tham quan thành các nhóm lớn?
Trang 27chức hỗ trợ hoặc là những người bán sỉ lương thực thực phẩm và các hàng hóa khác Từ quan điểm kinh tế, thì các chủ nhà cũng sẽ khác biệt theo số lượng thời gian và sức lực mà họ đầu
tư vào du lịch: một số người sẽ làm việc như là công nhân hưởng lương toàn thời gian trong khi những người khác sẽ làm việc hợp đồng thời vụ hoặc là nhận tiền mặt qua việc bán hàng Thông qua việc tách bạch khác nhau như vậy trong cách thức chủ nhân địa phương tham dự -
hoặc chọn không tham dự - vào du lịch, chúng ta có thể bắt đầu phân tích một loạt các nhân tố quyết định nên ai sẽ tham gia, tại sao và theo cách nào Chỉ bằng cách hỏi những câu hỏi này
mà chúng ta mới có thể khám phá được cái mà du lịch quyết định nên trong đời sống con người và nhân tố nào trong đời sống của người dân xác định nên mối liên hệ của họ với du lịch
Từ các nghiên cứu trường hợp, chúng ta biết được rằng giới là một biến số quan trọng quyết định ai trong cộng đồng chủ sẽ tham gia vào trong du lịch Swain (1989) phát hiện rằng vai trò
giới ở người da đỏ Kuna ở Panama đã định hình nên sự đáp ứng địa phương đối với du lịch
Cụ thể là, phụ nữ người Kuna đã s ản xuất ra các tác phẩm mola bằng vải dệt, do vậy duy trì
một hình ảnh đầy tính tiếp thị về tộc người cho du khách, trong khi nam giới người Kuna thì lại
nắm giữ các quyết định chính trị định nên các tương tác của người Kuna với du lịch Wilkinson
& Pratiwi (1995) thì thấy rằng phụ nữ tại một ngôi làng ở Indonesia không thể tham gia vào việc hướng dẫn du khách vì việc này không được ưa chuộng bởi dân làng, có ý cho rằng phụ nữ sẽ
bị cho là làm gái mãi dâm nếu hứng thú với việc tiếp xúc với du khách ngoại quốc Levy và Lerch (1991) đã bi ết được tổng quát hơn rằng phụ nữ có xu hướng làm các công việc ít ổn định, lương thấp và kém quyền lực hơn trong ngành công nghiệp du lịch ở Barbados Các khuôn mẫu giới cũng có thể gây nên việc phụ nữ là những người đầu tiên trong một cộng đồng địa phương kí hợp đồng làm việc trong ngành du lịch Kinnaird & Hall (1994) đã th ấy rằng sự
gắn bó của phụ nữ với du lịch tại Ireland đã đư ợc chấp nhận trong một xã hội mà, về mặt lịch
sử, công việc của phụ nữ gắn với vai trò của người vợ, người mẹ và người chăm lo cho người khác Đánh giá sự khác biệt về giới trong việc chủ tham gia vào du lịch như thế nào là một bước tiến cải thiện sự hiểu biết của chúng ta về nguồn gốc của du lịch từ quan điểm của chủ nhà (Swain 1995) Tuy nhiên, rất nhiều câu hỏi vẫn còn ở đó về việc tại sao và dưới điều kiện nào mà người dân địa phương có thể lựa chọn, hoặc bị đẩy đến phải lựa chọn, trở nên gắn bó
với du lịch Hiểu biết của chúng ta cũng sẽ cải thiện nếu chúng ta thẩm tra mức độ mà chủ nhà hành động với tư cách là những người quyết sách trong việc định hình nên các loại hình du lịch
sẽ diễn ra tại các cộng đồng của chính họ Đề xuất của tôi ở đây không phải là mới Vào năm
1981, Nash đã đề nghị rằng trong khi một xã hội địa phương có thể không tránh khỏi việc bị tác động bởi du lịch, “nó cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định loại hình du khách mà nó sẽ đón nhận và hình thức du lịch mà họ thực hiện” (trang 462) Tương tự như vậy, Chambers (1999) đã ch ỉ ra rằng, “chúng ta rất thường xuyên xem các cộng đồng địa phương
và các khu vực địa phương đón khách du lịch là những người đón nhận thụ động trong sự năng động của du lịch” (trang x), và hơn nữ, nỗ lực của chúng ta để hiểu được du lịch chỉ dựa trên đơn thuần là nền tảng động cơ hay là hành vi của du khách không thôi “thì chắc chắn sẽ để lại
Trang 28thấy tự hào hay tủi hổ về chính họ và về truyền thống của họ hay không, hay là liệu họ sẽ có được những tưởng thưởng để bảo vệ hoặc tàn phá môi trừơng của họ hay không Hầu như không có ý kiến nào của các học giả về những tác động của du lịch lên cộng đồng địa phương
là tích cực cả Rossel's (1988, tr 1) nhận xét rằng “du khách tiến hành các cuộc tàn phá bộ mặt
cảnh quang xã hội và văn hóa” rõ ràng đã ph ản ánh cảm nhận chung của các nhà nhân học
Thật vậy, như Crick đã lưu ý, du l ịch bị kết tội “cho sự biến đổi giá trị dưới ánh mặt trời” (1989, trang 308) Một sự khinh bỉ đau đớn đối với du lịch đã đ ặc biệt hiển hiện trong những năm trước khi du lịch sinh thái và các hình thức du lịch khác đạt được sự thừa nhận
Bi ến đổi kinh tế
Sự lạc quan về du lịch đã không đư ợc chia sẻ bởi tất cả các nhà khoa học xã hội Cụ
thể là trong suốt những năm 1970, mà theo mức độ nào đó, ngay cả ngày nay (xem Schwartz 1997), các nhà kinh tế học đã nhiệt tình đ ề cử du lịch như là một chiến lược lý tư ởng cho sự phát triển Các tổ chức cơ quan cho vay đa phương tài trợ cho hạ tầng du lịch trong Thế Giới
Thứ Ba như là một cách thức để gia tăng nguồn thu ngoại tệ và nâng cao tổng thu nhập quốc
nội theo đầu người Đặc biệt là tại những khu vực được gọi là cát trắng nắng vàng biển xanh,
du lịch đã được coi là có tiềm năng phát triển vô hạn (Crick 1989) Khi nguồn tiền tài trợ được chuyển về phía Nam [ý nói các nư ớc thuộc thế giới thứ 3 – ND], các nhà hiện đại hóa của thập niên 1970 đã tán thư ởng du lịch như là một bệ phóng mạnh mẽ cho việc giúp đỡ các quốc gia vùng Caribe và những nơi khác “cất cánh” thành những nền kinh tế dựa trên dịch vụ phát đạt
Bất chấp những hi vọng ban đầu này, du lịch như là một “hộ chiếu” để phát triển kinh tế vĩ mô
đã không bành trư ớng như đã đư ợc lên kế hoạch (de Kadt 1979) Thay vì xóa nghèo, du lịch dường như đang giới thiệu nhiều loại hình vấn đề xã hội mới, bao gồm thị trường ngoại tệ chợ đen, ma tuý, và mãi dâm (xem Opperman 1998) Thêm vào đó, du lịch gắn liền với tiêu dung xa
xỉ, quá đông đúc, và ô nhiễm, tất cả những điều này đã đang kết hợp thành sự xuống cấp về
mặt môi trường (Honey 1999) Trong khi đó, các loại hình cơ sở hạ tầng mà chính phủ và các
cơ quan viện trợ đang đầu tư như là sân golf, các khách sạn chọc trời đang gần như không làm
gì để giúp giải quyết các nhu cầu về giáo dục, sức khoẻ và an sinh của cộng đồng cư dân địa phương (Richter 1982) Cùng lúc đó, lợi nhuận từ du lịch đã bị bòn rút bởi những người đứng đầu của ngành công nghiệp này tại những quốc gia phát triển (Crick 1989) Tóm lại, du lịch đã
trở thành một kẻ tiên phong của chủ nghĩa thực dân mới (Nash 1989)
Ở cấp độ kinh tế địa phương, các nhà nhân học đã biết được rằng du lịch đang tiến hành các loại tàn phá khác nhau Một trong số đó là các cơ hội làm việc ăn lương, được tạo ra thông qua du lịch, đã làm gián đoạn những hoạt động mưu sinh của những nhà sản xuất nhỏ Các nghiên cứu trường hợp dân tộc học từ các đích đến trên khắp thế giới đã cho thấy rằng lao
Trang 2928
động ăn lương có được do du lịch mang lại đã làm tăng cao chi phí cơ h ội của các hoạt động
kiếm sống Oliver-Smith (1989) đã miêu t ả một trường hợp ở tại Tây Ban Nha, tại đó các chủ nhà địa phương đã thay th ế lao động của họ trong nghề nông bằng làm việc trong ngành du
lịch Mansperger (1995) đã phân tích vi ệc du lịch ở trong cộng đồng cư dân đảo Thái Bình Dương đã dẫn đến việc chấm dứt các hoạt động kiếm sống và làm cho người địa phương phụ thuộc hợn vào thế giới bên ngoài ra sao Nghiên cứu của Seiler-Baldinger (1988) trong vùng thượng lưu song Amazon đã gắn việc suy giảm sức khoẻ của người địa phương với sự thật là
họ đã rời khỏi các hoạt động kiếm sống để đi làm trong ngành du lịch Rosenberg (1988) lập
luận rằng du lịch góp phần vào sự giãy chết của nông nghiệp tại một ngôi làng miền núi nhỏ bé
ở Pháp, nơi mà bãi chăn th ả của động vật đã bị biến thành dốc trượt tuyết trống trải Sự đứt quãng của các hoạt động kiếm sống tự nó không nhất thiết là một vấn đề, nhưng nó trở thành
một vấn đề khi dòng du khách bị sụt giảm, và người ta bị rơi vào hoàn cảnh không còn có lựa
chọn kinh tế nào khác để có thể nuôi sống mình Thật không may là điều này đã (và vẫn đang)
là một hiện tượng khá phổ biến vì ngành công nghiệp du lịch đặc biệt thiên về các chu kì bùng phát -lụi tàn
Một vấn đề thứ hai mà các nhà nhân học tìm thấy trong sự phát triển châm ngòi bởi du
lịch là nó thường dẫn đến sự phân tầng về của cải ngày càng gay gắt tại các cộng đồng chủ, sau cùng sẽ bùng phát hoặc là trầm trọng thành ra mâu thuẫn xã hội Trong cộng đồng người Yape, Masperger phát hiện rằng “Tù trưởng không chia tiền vé vào cổng với dân làng … và tiền làm cho người ta bủn xỉn, do đó làm hại đến tinh thần cộng đồng” (1995, trang 90) Vickers (1997) dẫn một câu chuyện về người Siona và Secoya ở Ecuador, ở đó các cá nhân đang làm các công việc kinh doanh, hướng dẫn du khách với các thuyền máy đuôi tôm, và thậm chí là xây dựng nhà nghỉ của riêng Vấn đề phát sinh khi những người có tinh thần kinh doanh nhất bị coi là đang mưu tìm sự giàu có cho bản thân mà lại không nghĩ gì đến lợi ích của cả cộng đồng Trong các trường hợp này, cũng như trong các t rường hợp khác, du lịch dường như đã góp
phần vào trong sự phân tầng xã hội và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt
Mặc dù thư tịch trong ngành nhân học du lịch hiện thời bao gồm cả những bản miêu tả
xuất sắc về những thứ có thể không hay xảy ra khi du lịch được giới thiệu vào trong cộng đồng địa phương, nhưng thật lạ lùng là các phân tích cho đến bây giờ đã phớt lờ tiếng nói của người dân địa phương Chúng ta biết rất ít về việc chính người dân địa phương cảm nhận như thế nào về những cái được và mất gắn liền với du lịch Thường thì giả định của chúng ta là người địa phương bị mắc lừa phải chấp nhận du lịch, chứ không phải là đã l ựa chọn một cách có ý
thức một lựa chọn như vậy cho chính họ Tạo nên sự thiếu vắng quan điểm địa phương là sự
vắng mặt của sự nghiêm túc về phương diện phân tích tác động đơn thuần của du lịch đối với các vấn đề mới và/hoặc sự cải thiện trong cộng đồng địa phương Cho dù là có thể đúng là du
lịch kết tạo nên mâu thuẫn trong các cộng đồng địa phương, cũng có thể đúng là những nhân
tố khác trong một đích đến nhất định nào đó, chẳng hạn như việc xây dựng một con đường, hay là công bố một khu vực bảo tồn mới đều có thể gây ra các mâu thuẫn Nhìn chung, các nghiên cứu trường hợp lặt vặt về du lịch thường chịu một vấn đề nguyên nhân ngược Ví dụ,
mặc dù du lịch có thể gây ra sự phân tầng về của cải ngày càng gay gắt trong một số cộng đồng, có lẽ những người sống tại những nơi mà sự khác biệt về của cải vốn trước đó đã được
thừa nhận sẽ ít nhiều thích gắn bó với du lịch hơn
Bi ến đổi xã hội và văn hóa
Trang 3029
Ngoài phát triển kinh tế, tương tác liên văn hóa và các biến đổi gây ra từ nó đã là một
chủ đề ám ảnh đặc biệt trong nghiên cứu tác động của du lịch (Nash 1996) Một ví dụ trên đây
của Nunez (1963, trang 347), đã miêu t ả du lịch như là một “tình huống có tính thử nghiệm” để
kiểm tra cách thức tiếp biến văn hóa diễn ra như thế nào khi các du khách thành thị, đại diện cho văn hóa “cho” tương tác với các cộng đồng dân cư địa phương thuộc các nền văn hóa
“nhận.” Mặc dù các nhà nhân học có thể sẽ né tránh thuật ngữ tiếp biến văn hóa vốn đã bị chính trị hóa đi rồi, thì cái khái niệm nằm đằng sau nó vẫn còn hiện hữu trong diễn ngôn công chúng và trong giới học thuật về du lịch tại các cộng đồng bản xứ Tiếp biến văn hóa là cái mà nhiều người e sợ là sẽ xảy ra với sự thâm nhập của du khách, chủ nghĩa tiêu dung, và sự
“hàng hóa hóa văn hóa” (xem Chicchón 1995, McLaren 1997, Rossel 1988, Seiler-Baldinger 1988)
“Sự hàng hóa hóa văn hóa” đã đư ợc dùng để miêu tả một quá trình mà qua đó các đ ồ
vật trở nên được định giá chủ yếu dựa vào giá trị trao đổi của chúng, trong bối cảnh mua bán,
do vậy trở thành một hàng hóa (Cohen 1988) Greenwood (1977) đã dung khái ni ệm hang hóa
hóa đi liền với du lịch để miêu tả cách thức lễ hội Alarde tại một thị trấn của người Basque ở
Fuenterrabia đánh mất đi ý nghĩa văn hóa và biểu tượng của nó đối với người dân địa phương như thế nào một khi nó bị mở ra cho du khách và bị tiếp thị giống như bất kì món hàng nào khác Mối bận tâm của các học giả nghiên cứu du lịch là liệu một vật thể văn hóa hoặc một nghi
lễ có đánh mất ý nghĩa c ủa nó đối với người địa phương một khi nó bị hàng hóa hóa hay không Liệu vật thể văn hóa đó có trở thành một tài sản vật chất thuộc về người trả giá cao hơn, chứ không đơn thuần là một đồ tạo tác quan trọng về mặt tâm linh, nghi lễ hay là gì gì khác trong văn hóa của chủ hay không? Ví dụ như khi ứng dụng câu hỏi nào vào hội họa vỏ cây của thổ dân Úc Châu, Hall (1994) đã th ấy rằng một khi các bức vẽ đã bị tiếp thị với người tiêu dùng quốc tế, chúng bị nhổ bật gốc khỏi bối cảnh văn hóa xã hội của chúng, và do vậy mất
đi tầm quan trọng đối với người địa phương Picard (1990) nhận định rằng văn hóa của người Bali đã bị hàng hóa hóa quá mức đến nỗi sự phân biệt giữa cái gì là thuộc về người Bali và cái
gì có thể là thuộc chất của du lịch không còn rõ ràng nữa, thậm chí là đối với ngay bản thân người Bali
Thường hiện rõ trong các bàn thảo về sự hàng hóa hóa là ý tư ởng rằng người dân tại các đích đến sẽ đánh mất bản sắc văn hóa của họ là kết quả của du lịch Nhiều người lo lắng
rằng du lịch có thể làm cho chủ nhà quên bỏ quá khứ của họ hoặc là “đánh mất văn hóa” khi họ
tiếp thu các phong cách sống mới và những cách thức tồn tại mà họ học hỏi từ người ngoài Erisman đã l ập luận rằng dòng chảy khổng lồ hàng hóa ngoại nhập, con người và ý tư ởng ngoại vào các đích đến địa phương ở vùng quê có một tác động tiêu cực mà sau cùng sẽ “làm xói mòn lòng tự tôn của người dân” (1983, p 350) Theo quan điểm này thì du lịch có thể dẫn đến một loại “phụ thuộc văn hóa” trong đó người dân địa phương thu được lợi ích kinh tế, nhưng chỉ khi nào họ đáp ứng được nhu cầu của người ngoài mà thôi Sự đánh mất bản sắc sẽ
xảy ra trong khung cảnh này khi kinh tế địa phương cải thiện, và chủ nhà bắt đầu hành xử và suy nghĩ gi ống như du khách, những người mà họ cảm nhận là cao hơn họ trong mọi thứ Trong những nghiên cứu khác cũng vậy, hàng hóa đã được coi là một nguồn lực có tính suy đồi đặc biệt trong các tộc người bản địa Reed (1995) lưu ý r ằng hàng hóa được cảm nhận như là lôi kéo con người “lún sâu hơn vào trong vòng xoáy đen t ối của các hoạt động thương mại và
thải họ ra ở phía bên kia ranh giới tộc người, vào trong ánh sáng chói chang của xã hội quốc gia và nền kinh tế quốc tế” (tr 137)
Trang 3130
Các học giả khác thì cảm nhận rằng du lịch tác động lên bản sắc địa phương thông qua
việc truyền tải những sự ước vọng [của du khách – ND] Theo quan điểm này thì du khách sẽ định hình kết quả của sự tiếp xúc trong du lịch bằng cách đưa ra sự đòi hỏi đối với người địa phương, những người sẽ có vẻ ngoài và hành xử theo những cách thức bản địa hay là tộc người một cách chân thật Một vấn đề ở đây là sự chân thật là một khái niệm có tính chủ quan,
và du khách thường tự định nghĩa cái gì là chân thật, dựa vào khuôn mẫu phổ thông được lấy
là điểm lựa chọn, chứ không phải là dựa vào những sự thật có tính lịch sử hay là dân tộc học (Adams 1984, Crick 1989) Boorstin (1964) đã miêu tả sự tiếp xúc giữa du khách và người dân địa phương là các “sự kiện giả tạo” (pseudo-events) dựa vào cái mà du khách muốn thấy chứ không phải là trên cái có thật ở đó Cái mà du khách chọn nhìn lại chịu tác động mạnh mẽ bởi
những nỗ lực tiếp thị của các nhà tổ chức tour (Silver 1993), truyền thông đại chúng (Urry 1990), và nhà nước (Volkman 1990) Trong một phân tích về các quyển sách hướng dẫn du
lịch, Rossel (1988, trang 5) đã tìm th ấy rằng “sự cường điệu, các câu khẳng định lệch lạc, và
những điều giả dối” đã cung cấp một cách thức chắc chắn cho sự hiểu biết về hiện thực, và đã mang lại “cái nhìn của du khách.” Adams (1984, trang 470) đã lý luận rằng các quyển sách giới thiệu tour và các nhân viên môi giới du lịch về cơ bản đã cung cấp cho du khách một cái nhìn ban đầu đối với người dân địa phương thông qua “các khuôn mẫu tộc người đã được đóng gói
sẵn” mà sau đó hoặc là được cụ thể hóa hoặc là phơi bày trong suốt cuộc hành trình của khách Đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, nhà nước cũng đóng một vai trò then chốt trong việc định khung tộc người cho du lịch, một phần như là một cách để xây dựng sự đoàn
kết quốc gia, và một phần như là một chiến lược để thu hút du khách nước ngoài (Matthews và Richter 1991) Theo lý thuyết thì khuôn mẫu của du khách được truyền đến người dân địa phương thông qua cái mà Urry (1990, 1996) đã gọi là “cái nhìn soi mói của du khách.” Việc hình thành một cách đơn giản cái ý tưởng này là du khách sử dụng quyền lực thông qua cái cách họ nhìn người địa phương và hi vọng họ sẽ ăn vận và hành xử như ý họ muốn Về phần mình, người dân địa phương mặc nhận cái nhìn săm soi đó bằng cách phản chiếu lại những hình ảnh
mà họ mong là sẽ làm vừa lòng du khách Kết quả về lâu về dài là người địa phương sẽ duy trì, hay ít nhất sẽ hành xử, những truyền thống mà họ chắc chắn là sẽ làm hài lòng và thu hút nhiều du khách hơn MacCannell (1984) đã g ọi quá trình này là “tái tạo dân tộc tính.” Thật sự thì người dân địa phương có thể cố gắng cho khít với ước mong của du khách về cái gì là chân
thật, cho dù kết quả có vẻ như giả tạo hay là giả mạo Evans-Pritchard (1989) đã vi ết về một người phụ nữ da đỏ bản địa ở Mỹ cảm thấy là bà phải “trông giống ‘da đỏ’ nhằm được chấp
nhận là chân thật bởi du khách, người có những đồng đô la mà bà bị phụ thuộc vào” (trang 97) Cohen (1979, trang 18) đã miêu t ả người địa phương “đóng vai người bản địa” để sống theo hình ảnh [trong đầu – ND] của du khách Chuyện “đóng vai” này đã không luôn đư ợc miêu tả
bởi các nhà nhân học như là một xu hướng tiêu cực Có một số học giả lập luận rằng, nếu cái nhìn săm soi của du khách thật sự không có quyền lực nào để làm một tấm gương phản chiếu,
và sau hết, chuyển hóa bản sắc của con người mà họ săm soi, thì sau cùng du lịch sẽ có nhiều
tiềm năng làm sống lại những giá trị cổ xưa cũng như nó sẽ tàn phá chúng Ví dụ như Smith (1982) đã khám phá được là du lịch có thể “đóng vai trò củng cố bản sắc tộc người” (trang 26) Tương tự, Mansperger (1995) cho rằng du lịch “có thể giúp người bản địa duy trì bản sắc của
họ” (trang 92) Van den Berghe (1994) viết rằng du lịch có thể dẫn tới “một sự phục hưng các
nền văn hóa bản địa hoặc là sự tái tạo dân tộc tính” (trang 17) Du lịch vì vậy có thể trở thành
một phương tiện mạnh mẽ của sự tự thể hiện, và người dân địa phương có thể lựa chọn một cách có chủ ý tái tạo chính mình theo thời gian, bổ sung vào việc họ nên được nhìn và cảm
nhận ra sao bởi các nhóm người bên ngoài khác nhau (Cohen 1988)
Trang 3231
Hai nghiên cứu trong thập niên 1980 đã minh họa rất tốt cách những người địa phương thay đổi một cách có ý thức biểu hiện bên ngoài của họ như thế nào cho hài lòng du khách Một trong số đó là Gramper (1981) đã phát hi ện được là người dân ở Nam Áo bắt đầu thay đổi trang phục của họ vì du lịch Trong lệ thường hàng ngày, người dân địa phương mặc các trang
phục điển hình như bất kì nơi nào ở Âu châu, nhưng trong suốt mùa du lịch, họ trở nên ý thức hơn về nhu cầu phải mặc các bộ phục trang truyền thống Tuy vậy, thậm chí là các phục trang này cũng đã được điều chỉnh Mặc dù theo truyền thống thì là màu nâu, đen và tr ắng, nhưng
một màu đỏ tươi đã đư ợc thêm vào sau đó, vì như m ột thông tín viên đã gi ải thích, “màu đỏ nhìn hay hơn trong dãy màu của máy ảnh Kodac” (trang 439) Trong nghiên cứu còn lại, Albers
và James (1983) đã xem xét 600 tấm ảnh bưu thiếp về người Mỹ da đỏ được phát hành từ năm
1900 đến 1970 Họ phát hiện được rằng hình ảnh đã thay đổi cùng với sự phát triển của du lịch
tại miền Tây nước Mỹ, và rằng sự trưng bày về người Da đỏ ngày càng được đo ni đóng giày sao cho phù hợp với ước vọng của du khách Sự thay đổi to lớn nhất là sự biến mất của những hình ảnh phơi bày người Da đỏ trong bối cảnh thông thường của họ và trong trang phục hàng ngày Càng ngày các bức ảnh càng thích ứng với một hình ảnh khuôn mẫu, “trích xuất từ
những người da đỏ rong ngựa, săn trâu, và sống trong các căn lều của thế kỉ 19” (trang 136) (xem thêm trong Mamiya 1992)
Ném tr ả lại cái nhìn săm soi
Các nhà nhân học đã lập luận rằng sự tương tác chủ - khách có xu hướng phi đối xứng
về mặt quyền lực, và rằng khách tay trên trong việc quyết định bất kì một cuộc tiếp xúc nào đó
sẽ diễn ra như thế nào Hơn nữa, các bảng miêu tả dân tộc học đã cho thấy là cái nhìn săm soi
của du khách có thể tác động đặc biệt lên việc quyết định xem chủ nhà nên có vẻ, hành xử và
cảm thấy ra sao Nhìn chung, chủ nhà được khắc họa trong những cuộc tương tác này là thụ động, không có khả năng gây ảnh hưởng lên các sự kiện, như thể họ chút gì bị đông cứng về
mặt thể xác trong cái nhìn săm sói ấy Cái thiếu xót trong những phân tích này là khả năng người địa phương cũng có thể, và thường là có, đóng một vai trò trong việc quyết định cái gì sẽ
diễn ra trong sự tiếp xúc của họ với du khách Một ngoại lệ đáng lưu ý đã đư ợc tìm thấy trong công trình dân tộc học của Silverman (2001), người đã nhìn thấy trước một cách có ý thức cái
khả năng của người Iatmul ở Papua New Guinea “hành động với chủ ý và sách lược,” và thực hành sự sáng tạo trong bối cảnh tương tác của họ với người ngoài (trang 105)
Cũng bị thiếu xót trong rất nhiều phân tích đương thời là một nỗ lực học hỏi hơn nữa về các động thái của tương tác chủ - khách bằng cách quan sát và nói chuyện với người cả 2 phía
của cuộc tiếp xúc đó Evans-Pritchard (1989) lưu ý th ấy rằng giới học thuật đã lờ đi phần lớn
chủ đề về việc người địa phương đã c ảm nhận như thế nào về người ngoài Mặc dù có rất nhiều tài liệu tồn tại về chủ đề người địa phương phản ứng lại với những biến động xã hội do
du khách mang lại, nhưng có khá ít nghiên cứu khám phá thái độ và ý tư ởng của cư dân địa phương đối với người ngoài
Kincaid (1988) đã có m ột bước tiến quan trọng trong việc lấp đầy khoảng trống này
bằng cách viết thật mộc mạc và rõ ràng nỗi giận dữ và căm phẫn của bà đối với những du khách viếng thăm đảo Antigua ở Caribe Kincaid bản thân là một người dân Antigua, và tác
phẩm của bà khởi phát từ một quan điểm của người trong cuộc Không ngạc nhiên gì khi miêu
tả của bà về Antigua không khớp với những miêu tả khác thường thấy trong các sách giới thiệu
du lịch Bà viết rằng “Antigua mà tôi biết, Antigua mà tôi lớn lên, không phải là Antigua mà bạn,
Trang 3332
một du khách, sẽ nhìn thấy ngày nay” (1988, trang 23) Với sự hóm hỉnh chua chát, bà bảo đảm các du khách của Antigua rằng “Bạn không cần để cho cái cảm giác tươi vui nhẹ nhàng mà bạn
có về sự bóc lột, đàn áp, thống trị bùng lên thành ra sự bức bối, sự khó chịu hoàn toàn; bạn có
thể sẽ phá huỷ kì nghỉ của mình đ ấy” (trang 10) Thật là lạ khi những lời nhận xét như thế từ
những con người ở các đích đến, mặc dù nặng trĩu các tầng ý nghĩa, l ại phần lớn vắng mặt
khỏi các tài liệu
Trong nghiên cứu của mình Evans-Pritchard khám phá được rằng người Mỹ da đỏ thường dùng các chuyện cười dựa trên tộc người để chế giễu du khách, là những người ngoài
ngốc nghếch bằng cách “cường điệu các khuôn mẫu đã bị thổi phồng quá mức về một nhóm nào đó” (1989, trang 96; đọc thêm trong Laxson 1991) Trong một nghiên cứu khác, Howell (1994) đã quan sát thấy là người địa phương có thể thụ hưởng niềm vui từ việc đùa chơi với du khách là những kẻ “khá ngu ngốc về điều kiện ở địa phương, và do vậy thường có vẻ gì đó bất tài, buồn cười, cả tin, và có thể bị bóc lột một cách rõ rệt” (trang 152) Thêm vào chuyện “chơi đùa với du khách,” người địa phương có thể là những người môi giới tích cực trong việc quyết định cái mà họ muốn bảo tồn, sáng tạo một cách có mục đích các truyền thống và/hoặc nghệ thuật dân gian cho du khách, tuy vậy lại hoàn toàn tự nhận thức rõ về cái gì là thực hay là đóng
kịch, chân thật hay là giả mạo Evans-Pritchard (1989) biết được là những người thợ bạc người
da đỏ thường dùng những nhân vật và biểu tượng truyền thống để tạo ra hiệu quả thẩm mĩ đúng cho các tác phẩm của họ Tuy vậy, họ cũng chế ra những câu chuyện về nghệ thuật, một cách có ý thức lợi dụng niềm mong ước của du khách kiếm tìm ý nghĩa và t ầm quan trọng về
mặt văn hóa trong mọi thứ mà họ nhìn thấy Hành vi làm ăn này dường như là trái ngược với ý
niệm là người địa phương là những nạn nhân thụ động, bị túm gọn mà không biết khi họ đánh
mất bản thân và văn hóa của họ vì sự hàng hóa hóa và cái nhìn săm soi s ồng sộc của người ngoài
Thậm chí là trong những trường hợp mà chủ nhà địa phương biến đổi các khía cạnh
bản sắc của họ hoặc cuộc sống của họ để hấp dẫn du khách, họ không nhất thiết đánh mất văn hóa của họ hoặc khả năng tự mình phán xét cái gì là giả mạo và chân thật Ngược lại, chủ nhà địa phương có thể cảm thấy mình có quyền lực bởi sự tương tác với người ngoài để tái định nghĩa họ là ai và khía cạnh nào trong bản sắc của họ mà họ muốn làm nổi bật hoặc hạ thấp Trong lúc tái sinh quá khứ hoặc là sáng tạo truyền thống, những người địa phương có thể hoàn toàn ý thức được về sự thật là họ đang thể hiện các trưng bày văn hóa cho du khách và không phơi bày các biểu tượng và nghi lễ có ý nghĩa thật sự trong đời sống riêng và “hậu trường” của
họ
Davis (1997) đã s ử dụng phương pháp dân tộc học để phơi bày việc Sea World [Thế
giới đại dương – ND] tạo ra các trải nghiệm được kiểm soát chặt chẽ và hình ảnh cho du khách
ra sao Khi hấp thu một quan điểm của chủ nhà - trong trường hợp này là một tập đoàn lớn – Davis đã trình bày một mô hình tiềm năng cho việc làm cách nào những nhà nghiên cứu khác
có thể khám phá du lịch trong những cộng đồng chủ nhỏ khắp nơi trên thế giới Các câu hỏi có
thể là, những người dân địa phương đang làm gì m ột cách có ý thức nhằm thao túng những
loại hình hình ảnh nhất định hoặc khơi gợi nên những cảm giác nhất định trong lòng khách của
họ? Một ví dụ của loại công trình này là của Adams (1995), đã ki ểm tra cách người Toraja ở Indonesia đã thao túng du lịch vì những mục đích chính trị của họ ra sao Trong nhiều năm, người Toraja đã đư ợc nghiên cứu và săm soi bởi cả du khách và nhà nhân học Adams phát
hiện được rằng người địa phương phản ứng lại sự chú mục toàn cầu như thế là lợi dụng nó
Trang 3433
làm một phương tiện để đạt được các mục tiêu của địa phương Một cách chính xác thì Adams
đã miêu tả người Toraja là “những nhà chiến lược năng động” và “những nhà hoạt động chính
trị văn hóa khéo léo” trong bối cảnh của du lịch
Chỉ có một số ít ngoại lệ, còn thì các nghiên cứu trong ngành nhân học về du lịch đã quá xem trọng nguồn gốc và động cơ của du lịch từ quan điểm của chủ nhà Mặc dù rất nhiều nhà nhân học đã miêu tả một cách hùng hồn những cách thức mà du lịch đã làm biến đổi đời sống
của người địa phương, chúng ta lại bỏ qua việc xoay và hình dung các phân tích này quanh
việc chủ nhà có thể tác động lên khách như thế nào Xu thế này có thể sẽ thay đổi khi chúng ta chuyển đổi từ việc giả định rằng du lịch luôn luôn áp đặt lên những con người thụ động và bất
lực Thậm chí là trong những trường hợp mà bản chất cưỡng bức và bóc lột của du lịch là không thể phủ nhận, chúng ta vẫn có thể bắt đầu thăm dò sâu hơn vào vi ệc tìm hiểu làm cách nào người địa phương tự họ cảm nhận về cái áp đặt ấy, chứ không hẳn là cứ tiếp tục dựa vào quan điểm của chính chúng ta, những nhà nhân học
Vào những năm 1970, 1980, những bài tiểu luận điểm luận về nghiên cứu du lịch thường đặt ra câu hỏi tại sao các nhà nhân học lại né tránh du lịch với tư cách là một chủ đề thích hợp để phân tích Ngày nay, câu hỏi này có lẽ sẽ là ngược lại: tại sao các nhà nhân học chú ý quá nhiều đến những hình thức thay thế khác của du lịch? Đặc biệt là trong thập kỉ vừa qua, du lịch đã đạt được quá nhiều tiếng thơm trong lòng các nhà khoa học xã hội, những nhà
bảo vệ môi trường, những thực hành gia về phát triển, và những nhà họat động về quyền của người bản địa Đó là vì m ột nhóm ngày càng bành trướng các công ty du lịch mới, thường là đối tác của các tổ chức phi chính phủ, giờ đây đã tuyên bố là tạo sự thoải mái dễ chịu cho môi trường và cho các tộc người bản địa, thậm chí cho dù họ có cố chiến đấu vì lợi nhuận của mình Những công ty này dán mác các chuyến tham quan của họ rất đa dạng như là “du lịch sinh thái,” “du lịch dựa vào cộng đồng,” “du lịch văn hóa,” hay chỉ giản dị là “du lịch theo cách
thức khác.”
Định nghĩa một cách chung chung thì du lịch theo cách thức khác bao gồm “những hình
thức du lịch gắn liền với các giá trị tự nhiên, xã hội, và cộng đồng, và cho phép cả chủ và khách
tận hưởng sự tương tác tích cực và xứng đáng và các trải nghiệm được chia sẻ” (Eadington và Smith 1992, trang 3) Loại du lịch mới này đã cuốn hút sự chú ý của các học giả quan tâm với
những chương trình hành đ ộng nối liền với bảo tồn và phát triển (đó là Guillen 1998, Lamont
1999, Sills 1998, Stronza 2000, Wildes 1998) Ít nhất 2 tạp chí, bao gồm Tạp chí về Du lịch sinh thái và Tạp chí về Du lịch bền vững, đã bắt đầu tập trung vào những khả năng và giới hạn của
du lịch theo hình thức khác Nhìn chung, các tài liệu này dường như được cân đối hơn so với
những nghiên cứu trước đây về du lịch Ít nhất các nhà nhân học không tự động kết tội tác động của du lịch lên cộng đồng địa phương Nếu có, có lẽ thang đo đứng trên một chiều kích khác Giờ đây xu hướng này dường như là phải cổ vũ du lịch như là một phương thuốc bách
bệnh để đạt được một loạt các mục tiêu xã hội, kinh tế và môi trường Munt (1994) đã quan sát được rằng “trong lúc du lịch đại chúng đã th u hút cực nhiều các phê phán như là một trải nghiệm nông cạn hời hợt và hạ tiện đối với các quốc gia và tộc người chủ nhà ở thế giới thứ 3,
những thực hành du lịch mới đã được xem như là có tính nhân từ” (trang 50)
Trang 35của du khách sinh thái đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của một vùng có
thể góp phần vào sự quan tâm và nguồn thu cho các nỗ lực bảo tồn của địa phương trong khi
vẫn cung cấp các cơ hội kinh tế cho cư dân địa phương (Sherman và Dixon 1991) Mối liên kết
giữa các mục tiêu này cũng có nghĩa là nghiên cứu ứng dụng của các nhà nhân học đã trở nên
có tính phê phán đối với quy hoạch và thực thi các dự án du lịch trên khắp thế giới
Các nhà bảo tồn vừa lạc quan vừa hoài nghi rằng du lịch sinh thái có thể giúp bảo vệ thiên nhiên trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu kinh tế của cư dân địa phương (Barkin 1996, Boo
1990, Cater & Lowman 1994, Honey 1999, Lindberg 1991, Lindberg & Enriquez 1994, Orams
1999, Whelan 1991) Có tính tương đối so với các hoạt động khác như là săn bắn, đốn gỗ,
hoặc là nông nghiệp, du lịch sinh thái dường như có một tác động thấp lên các hệ sinh thái (Groom et al 1991, Kusler 1991), và những nguồn thu lý tưởng từ du lịch sinh thái có thể được phân chia cho bảo tồn và nhu cầu phát triển địa phương Tuy nhiên phê bình tính toán rằng quá nhiều du lịch thái, đặc biệt là nếu nó không được kiểm soát và phi quy tắc, có thể phá huỷ
những khu vực tự nhiên và làm quấy nhiễu cả đời sống hoang dã lẫn đời sống con người (Begley 1996, Giannecchini 1993) Một số người còn lo sợ rằng từ hoa mỹ du lịch sinh thái là
một nguỵ trang cho kinh doanh như thông thường Vickers (1997) đã nh ấn mạnh rằng “rất nhiều cái bật đèn xanh cho ‘du lịch sinh thái’ bao gồm cả những dự án kinh doanh có mục tiêu
là tối đa hóa lợi nhuận của các đơn vị lữ hành và hướng dẫn viên chuyên nghiệp” (trang 1) Ám
chỉ này là việc tìm kiếm lợi nhuận sẽ bịt kín bất kì ý định bảo vệ thiên nhiên hay là cải thiện đời
sống của người địa phương nào
Giữa cuộc tranh luận về cái tốt và cái xấu của du lịch sinh thái, chủ đề sự tham gia của người địa phương và sở hữu của người địa phương đối với các hạ tầng du lịch đã có được tầm quan trọng mới (Eadington và Smith 1992) Càng ngày thì các cộng đồng địa phương càng đang tham gia vào trong các quan tệ đối tác với các tổ chức chính phủ, cơ quan phi chính phủ,
và những công ty lữ hành tư nhân để hoạch định những chiến lược du lịch và phát triển những nét thu hút mới cho du khách Kết quả là, chủ nhà địa phương đang có được sự kiểm soát nhiều hơn đối với việc du lịch tác động lên cộng đồng của họ như thế nào
Bất chấp những chú ý mới đối với du lịch thay thế và việc đưa ra quyết định của địa phương trong du lịch, sự yếu kém về nhận thức và phân tích tương tự vẫn còn tồn tại trong
những nghiên cứu về du lịch truyền thống Ví dụ các nhà cổ xuý cho du lịch sinh thái đã t ập trung vào ý tưởng rằng những loại hình du lịch thích hợp sẽ dẫn đến các tác động tích cực lên các cộng đồng địa phương và hệ sinh thái tại địa phương, và rằng những đầu vào du lịch nhất định sẽ tạo ra những đầu ra đáng mong ước cho cả người dân và các khu vực tự nhiên Tài
liệu về du lịch sinh thái được chất chồng với những hướng dẫn và “thực hành tốt nhất” để đạt được thành công (Ceballos-Lascurain 1996) Một tập hợp các bài viết được trình bày tại Hội
thảo của khoa Lâm học của trường đại học Yale về Du lịch sinh thái (Miller và Malek-Zadeh 1996) chẳng hạn đã tập trung vào “các chiến lược” và “các thông số thành công” để phát triển các dự án du lịch sinh thái Những ý tưởng này nhìn chung là có tính miêu tả, lập luận rằng nếu ngành du lịch sinh thái cung cấp những đầu vào đúng đắn, chẳng hạn như “một cách tiếp cận
Trang 3635
có tính tham dự” thì tác đ ộng tiêu cực của du lịch lên chủ nhà địa phương có thể được giảm
bớt Tuy vậy, điều nhấn mạnh vẫn còn là cái gì là bên ngoài đ ối với một nơi chốn, chứ không
phải là nhấn mạnh vào cái điều kiện tồn nào có thể tiết lộ về việc liệu du lịch sẽ có một tác động tích cực hoặc tiêu cực lên người dân địa phương
Cũng giống như việc chúng ta thiếu một sự hiểu biết về vịêc chủ nhà tham gia như thế nào vào trong nguồn gốc của du lịch truyền thống, chúng ta cũng biết rất ít về cách thức và tại sao chủ nhà địa phương gắn với du lịch sinh thái Mặc dù người địa phương có lẽ không đang cung cấp tài chính vào cơ sở hạ tầng mới hay là thương lượng trực tiếp với các tổ chức lữ hành quốc tế, nhưng dù sao thì họ cũng tác động lên cái sẽ xảy ra tại rất nhiều địa điểm du lịch sinh thái Trong những trường hợp mà người địa phương chống đối lại du lịch sinh thái, họ có
thể thể hiện sự chống đối bằng cách cố ý phá hoại cơ sở hạ tầng Tương tự, bằng cách đi săn
và mở lối đi trong những khu vực xung quanh khu nhà nghỉ sinh thái, những cư dân địa phương
có thể bôi bẩn hình ảnh về một thiên nhiên nguyên sơ mà rất nhiều khu nghỉ mát sinh thái
quảng bá Bennett (1999) đã miêu tả một trường hợp ở Panama mà các thành viên của người Kuna đã phản đối sự đầu tư của người ngoài vào du lịch bằng cách đốt một khách sạn tới 2
lần, và tấn công một trong các chủ nhân khách sạn Belsky (1999) đã viết về một ví dụ tương tự
tại một ngôi làng của Maya Center ở Belize, là nơi mà người địa phương đã phóng hỏa một trung tâm thủ công Người dân địa phương cũng có thể quyết định số phận của một hoạt động
du lịch sinh thái bằng cách chơi trò đối thủ cạnh tranh thanh toán lẫn nhau, đưa ra những điều
kiện mà họ sẽ dung nạp hay là chào đón dòng du khách Nếu có nhiều công ty cạnh tranh cho
một sự chấp thuân của một cộng đồng, họ có thể sẽ tham dự vào một trận đấu xem ai là người
có thể mang lại lợi ích tốt nhất, một tình huống mà người địa phương sẽ quyết định, theo một
mức độ nào đó, chi phí hoạt động của các công ty Bằng những phương thức này, chủ nhà ở địa phương có thể gây ảnh hưởng lên sự thành hay bại của du lịch, bất kể các đầu vào từ bên ngoài và ý định của những nhà tư vấn bên ngoài
Gi ờ đây [thì] từ cả hai phía
Trong các nỗ lực hiện thời nhằm biến du lịch trở thành có tính tham dự hơn và gắn với
cư dân địa phương với tư cách là những người ra quyết định trong các dự án du lịch, các nhà
du lịch có thể đóng góp to lớn vào trong lĩnh v ực nghiên cứu này bởi sự tập trung nhiều hơn vào các lý do mà người địa phương chọn, hoặc là có thể chọn, được tham gia vào trong du lịch Thông tin này sẽ quan trọng nếu chúng ta cho rằng các đầu vào bên ngoài đúng đắn là cần thiết, nhưng không đủ để đảm bảo lợi ích từ du lịch cho người địa phương Những điều kiện
thông thường, chẳng hạn như cấu trúc các thể chế chính trị và kinh tế địa phương, các mối quan hệ tộc người, khuôn mẫu giới và nhiệm vụ lao động sinh nhai của người địa-phương-sẽ-có-thể-là-chủ-nhà có lẽ sẽ có quan hệ đặc biệt mật thiết Một ít các học giả đã phát triển các giả thuyết về điều kiện địa phương nào cho phép sự thành công cho du lịch dựa vào cộng đồng Ví
dụ Smith (1989) đã vi ết rằng “du lịch đặc biệt được ưa thích tại nơi mà những bộ phận trọng
yếu của cộng đồng dân cư có nền giáo dục tối thiểu hoặc các kĩ năng kĩ thuật, cũng như trong
những ngành công nghiệp khác có thể đòi hỏi sự đào tạo tập trung” (trang xi) Năm 1996, King
và Stewart (1996) đã đ ặt giả thuyết rằng “những tác động tích cực của du lịch sinh thái rất có
thể là lớn nhất khi nền văn hóa bản địa đã trong một trình trạng suy kiệt là kết quả của sự khan
hiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên” (trang 299) Những giả thuyết này chính xác là những
loại giả định mà chúng ta có lẽ sẽ muốn khám phá trong tương lai Mặc dù chúng ta giờ đây đã
có rất nhiều phân tích miêu tả có cơ sở về cái sẽ xảy ra khi du lịch được giới thiệu vào trong
Trang 3736
các cộng đồng, chúng ta lại thiếu sự so sánh xuyên địa điểm để phân tích những nhân tố ngoại lai và nội sinh quyết định nên tại sao chúng ta lại tìm thấy những loại hình tương tác với du lịch trong các bối cảnh cụ thể nào đó
Cũng như với du lịch truyền thống, chúng ta cũng đã thiếu thông tin về tác động của du
lịch sinh thái lên du khách Các nhà nghiên cứu đã đ ầu tư những nỗ lực đáng kể vào các tác động của du lịch sinh thái lên chủ nhà, và đã đ ặt nhiều hi vọng vào khả năng rằng du lịch sinh thái sẽ mang lại những tưởng thưởng kinh tế cho chủ nhà để duy trì và bảo vệ những địa điểm
tự nhiên và truyền thống văn hóa mà du khách sẽ đến để thưởng lãm Rất ít nỗ lực được đặt vào trong phân tích những tưởng thưởng mà du lịch sinh thái dâng tặng cho du khách để làm
biến đổi quan điểm và hành vi của họ Lỗ hổng này tồn tại trong nghiên cứu, bất chất sự thật là
một mục tiêu quan trọng của du lịch sinh thái là làm nâng cao sự nhận thức về môi trường và văn hóa trong lòng du khách
Ví dụ, chúng ta không biết loại hình lữ hành nào nâng cao ý thức hay là giáo dục con người trong các cách thức nhất định nào đó Chúng ta không biết nhiều về việc du khách cảm
thấy như thế nào về mặt tiện nghi cơ sở lưu trú của họ - hầu hết các công ty đều yêu cầu khách đánh giá hậu chuyến đi – nhưng chúng ta lại không biết suy nghĩ, tình cảm, hay hành vi của họ thay đổi ra sao từ kết quả của những gì mà họ nhìn thấy tại các đích đến Chúng ta có thể đặt
ra nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề này Ví dụ như, liệu du khách sinh thái có xem xét chuyện xài ít nước máy tại nhà hơn một khi họ đã chứng kiến là người ta đã phải khó khăn vất
vả ra sao để lấy nước dùng tại những đích đến xa xôi mà họ đã đến thăm hay không? Liệu họ
có bắt đầu tái chế thường xuyên hơn không? Cơ bản hơn là, liệu các giá trị của họ có thay đổi không? Loại ấn tượng nào đã được hình thành từ những loại trải nghiệm du lịch khác nhau? Du
lịch và giải trí có thể được kết nối rõ ràng hơn với học hỏi như thế nào? Bất chấp tính chặt chẽ
của những câu hỏi trên về mục tiêu của du lịch hình thức khác, chúng ta vẫn thiếu các nghiên
cứu truy tìm thái độ, ít tìm hiểu về hành vi hơn, của du khách trước và sau khi họ đã đi đến một đích đến nào đó Hai mô hình về việc chúng ta có thể bước tiếp như thế nào đến từ Orams (1997) và Jacobson (1995)
Tôi đã thảo luận các lý do tại sao du lịch có thể là một chủ đề hấp dẫn cho nghiên cứu
của các nhà nhân học Bất chấp việc nó gắn liền với những chuyện nông cạn và có vẻ nhỏ
nhặt, du lịch liên hệ mật thiết với rất nhiều vấn đề có tính lí thuyết và thế giới hiện thực trong nhân học Đối với con người ở tại các đích đến, du lịch thường là một bệ phóng cho những
biến đổi kinh tế và xã hội quan trọng, là bối cảnh của những tiếp xúc xuyên văn hóa, và là bối
cảnh giống như sân khấu cho việc trưng bày và tái tạo văn hóa và truyền thống Đối với du khách, du lịch có thể là một hình thức nghi lễ của sự trốn thoát khỏi cấu trúc của đời sống hàng ngày, hay nó có thể tái hiện một mưu cầu có tính biểu tượng về những loại hình trải nghiệm chân thật vốn đã lu mờ trong xã hội hiện đại Đối với các nhà nhân học, du lịch có thể là một ống kính qua đó khám phá những vấn đề kinh tế chính trị, biến đổi xã hội và phát triển xã hội,
quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, và bản sắc và thể hiện văn hóa Nghiên cứu hiện thời về
du lịch có đôi khi đang trên đà đi xuống Khi thẩm tra nguồn gốc của du lịch – cái gì thúc đẩy du khách đi du lịch, và cái gì quyết định nơi mà họ sẽ đi – các nhà nhân học đã tập trung chú ý
trọng điểm vào du khách, mà hầu như đã loại bỏ người địa phương Kết quả là chúng ta biết rất
ít về động cơ của những con người ở tại các đích đến đã bắt đầu tham dự vào trong du lịch,
Trang 3837
hay là quảng bá những loại hình du lịch nhất định hơn so với các loại hình khác Quá thư ờng xuyên chúng ta đã giả định rằng du lịch bị áp đặt lên chủ nhà, chứ không phải là được mời gọi đến
Khi khám phá các tác động của du lịch, các nhà nhân học đã đứng trên hai hướng đối
lập nhau Các nhà nghiên cứu đã phân tích chuyên sâu, thư ờng bằng cách thức dân tộc học miêu tả, các tác động của du lịch lên nền kinh tế và bản sắc văn hóa của chủ nhà Nhưng chúng ta lại đang thiếu thông tin về tác động của du lịch lên khách Quá thường xuyên, chung
ta đã giả định là chủ nhà tương đối thụ động và rằng vị trí bất lợi của họ dưới cái nhìn săm soi đầy quyền lực của du khách đã ngăn ngư ời địa phương khỏi việc định hình sự tiếp xúc với du khách
Một hình thức khác rất hấp dẫn của du lịch, cụ thể là du lịch sinh thái, đã bùng nổ trong
những năm gần đây Những người ủng hộ đã khẳng định rằng sự tham dự của cư dân địa phương có thể là quan trọng sống còn cho việc tối đa hóa các lợi ích về kinh tế, môi trường và
xã hội của du lịch Bất chấp sự quan tâm này đến vai trò tích cực của cư dân địa phương, các nhà nghiên cứu có xu hướng nhấn mạnh vào tầm quan trọng của đầu vào ngoại sinh, chứ không phải là vào động cơ nổi bật hay là mâu thuẫn của người địa phương, trong việc mở rộng
sự thành công của du lịch Những người cổ xuý cho du lịch sinh thái cũng đã đ ề xuất rằng du
lịch có thể có tính giáo dục đối với du khách, và rằng loại hình trải nghiệm du lịch đúng đắn sẽ
có thể gây nên sự nhận thức về môi trường và nhạy cảm văn hóa ngày càng tăng lên trong lòng du khách Dù cho chúng ta lạc quan về cái khả năng nâng cao ý thức thông qua du lịch, nhưng rất ít học giả đã phân tích thái đ ộ của du khách thật sự thay đổi ra sao từ kết quả của các loại trải nghiệm nhất định nào đó
Mục tiêu của các nghiên cứu nhân học trong tương lai về du lịch nên lấp đầy những khoảng trống này trong sự hiểu biết hiện thời của chúng ta Chúng ta nên biết toàn bộ câu chuyện về cái sẽ xảy ra cho cả chủ và khách thông qua tất cả các bước của chuyến hành trình
của họ và các tương tác xuyên văn hóa Điều này sẽ đặc biệt đúng nếu chúng ta cố gắng phát triển những loại hình du lịch có thể xây dựng nên một loại các lợi ích cho chủ nhà cũng như các
trải nghiệm có tính giáo dục và biến đổi cho khách
Trang 3938
LỢI ÍCH CHUNG: NGHIÊN CỨU LÂU DÀI TẠI ĐÔNG INDONESIA
STROMA COLE
In trong Qualitative Research in Tourism: Ontologies, epistemologies and methodologies; Edited by
Jenny Phillimore and Lisa Goodson London & New York: Routledge, pp 292-310, Trương Thị Thu Hằng dịch
Mục đích của chương này:
• Thảo luận cách thức các mối quan hệ qua lại, lòng tin và quyền lực thay đổi theo thời gian và tác
động lên bản chất của tư liệu thu thập được tại thực địa
• Minh họa cách thức các nhóm tập trung có thể được áp dụng trong một bối cảnh phi phương Tây
và có thể là một phương pháp nhân học quý báu
• Minh hoạ cách thức nghiên cứu du lịch có thể được tiến hành theo một cách thức mang lại lợi ích
cho cả người nghiên cứu và người được nghiên cứu
Gi ới thiệu
Nghiên cứu điền dã chuyên sâu đư ợc xem là dấu ấn của ngành nhân học và thường gắn với việc
thực hiện quan sát tham dự trong một năm hay là hơn Tuy nhiên, trong lĩnh v ực du lịch, nhiều nghiên
cứu nhân học thường đại diện một ảnh chụp nhanh (Wilson 1993) và chính vì vậy bị phê phán là bỏ qua
bản chất lịch đại của sự biến đổi do du lịch mang lại (Nash 1996) Nghiên cứu trong phần này được tiến hành trong một giai đoạn mười năm, từ 1989-1999, trong suốt thời gian đó, vị trí của tôi là một nhà nghiên cứu được hiện lên và thay đổi Cuộc nghiên cứu được tiến hành trong ba giai đoạn: một giai đoạn khi tôi là một nhà nghiên cứu đang thực tập, một giai đoạn đánh giá nông thôn tham dự và một giai đoạn nghiên cứu điền dã dân tộc học dài hơi Hai giai đoạn đầu rất quan trọng trong việc đặt ra bối cảnh và hiểu biết về mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu-người được nghiên cứu trong giai đoạn ba, vốn là tập trung chính của chương này Chương này thảo luận cách thức tiến trình nghiên cứu hiện lên khi mối quan hệ và
sự hiểu biết của bối cảnh nghiên cứu thay đổi theo thời gian Nó thẩm tra bản chất của mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu và thông tín viên và cách thức mối quan hệ này tác động lên quá trình thu thập dữ liệu và tác động lên cách thức phương pháp nghiên cứu được áp dụng, chất lượng của dữ liệu thu thập được và những công dụng sau hết khi dữ liệu có thể được dùng
Cách tiếp cận theo định hướng hành động một cách cơ bản đã được áp dụng trong giai đoạn cuối
của cuộc nghiên cứu dựa vào mức độ tin cậy và tự tin cao, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, và những dính líu cá nhân Mặc dù là để thiết lập nên một quan hệ tốt, tôi chọn các quan hệ phi thứ bậc giữa thông tín viên và nhà nghiên cứu, điều này khó mà đạt được bởi vì là một nhà nghiên cứu có học, da trắng, người phương Tây trong một bối cảnh hậu thực dân, tôi bị ấn định vào một địa vị nhất định Cả việc tự
phơi bày và tương hỗ được dùng để tối thiểu hóa những cạm bẫy thứ bậc đẳng cấp (Reinharz 1992) Khi các mối quan hệ tiến triển theo thời gian và trở nên bền vững, có một xu hướng là tìm ra một sự cân bằng tương hỗ để cho cả nhà nghiên cứu và thông tín viên cảm thấy thoải mái trong mối quan hệ Không
giống trường hợp nghiên cứu thực địa một hay hai lần, khi các mối quan hệ được tiếp diễn trong nhiều năm và nhà nghiên cứu muốn được chào đón trên cơ sở liên tục, có một nhu cầu là nhà nghiên cứu và thông tín viên phát triển một sự tương hỗ thoải mái Tiếp theo sau phần thảo luận về việc tôi có được các
tiếp cận ra sao, thiết lập những quan hệ quan trọng và tin tưởng, và phương diện quyền lực trong quan hệ
Trang 40Những ấp thôn truyền thống mang lại một sự phức hợp các nét thu hút: ‘totem’ của thị tộc, đại cự
thạch và những ngôi nhà truyền thống Bốn ngôi làng của người Ngadha, bao gồm những ngôi làng mà
cuộc nghiên cứu đã diễn ra, đã được trao tặng danh hiệu ‘nét thu hút du khách chủ đạo’ bởi chính quyền Các ngôi nhà của người Ngadha, vượt lên trên việc là những nét thu hút du lịch quan trọng, còn là nguyên tắc tổ chức trung tâm trong xã hội Ngadha Tất cả các thành viên của xã hội Ngadha thuộc về
một ngôi nhà có tên và một dòng tộc Các ngôi nhà thuộc về một số các dòng tộc được sắp xếp thành hai hàng song song hay là xung quanh các góc của một tam giác, mang lại cho du khách ‘một cảm giác được khép kính trong sự cổ xưa’ (Cole 1997b)
Giai đoạn 1: Nghiên cứu như là một nhà điều hành tour
Lần đầu tiêu tôi đến thăm Wogo là với tư cách của một nhà điều hành tour, tháp tùng bởi ngừơi
chồng người Indonesia của tôi Sự chấp nhận ban đầu đối với tôi thật dễ dàng vì tôi là một người vợ của
một người Indonesia Không chỉ là địa vị của tôi, là một phụ nữ có gia đình, không phải là một đe dọa đối với các phụ nữ địa phương (xem Angrosino 1986 về sự đe doạ mà một nhà nhân học nam giới không vướng bận gia đình gây ra), mà tôi còn có được sự thông cảm của một sự chung sống cùng một quốc gia Hơn nữa, do tôi nói tiếng Indonesia, tôi được kính trọng (người phương Tây nói tiếng Indonesia đã, và
vẫn còn, hiếm) Mặc dù ngôn ngữ chính của làng là tiếng Sara Ngadha, đại đa số dân làng có một khả năng tốt về tiếng Indonesia Trong khi sẽ lý tưởng khi thực hiện nghiên cứu bằng ngôn ngữ chính của làng, nhưng tiếng Indonesia vẫn được chấp nhận như là ngôn ngữ của việc trao đổi đôi bên
Cuộc nghiên cứu được thực hiện trong suốt những năm đầu này có định hướng là giúp đở thành công của công ty Là một lãnh đạo tour, dẫn các tour văn hóa được tiếp thị như là ‘dẫn dắt bởi các nhà nhân học’, công việc làm ăn của tôi phụ thuộc vào việc cung cấp những thông tin văn hóa chi tiết cho khách hàng Hơn thế nữa, là một nhà nhân học, tôi rõ ràng có một quan tâm về học thuật đối với việc khám phá nền tảng văn hóa của ngôi làng Ngoài ra, sự thành công của công việc làm ăn phụ thuộc vào việc mang thêm nhiều tour hơn đến với làng Vì mục đích này, chúng tôi cần phải đáp ứng các yêu cầu của dân làng, vốn tập trung vào việc tránh những hành vi có thể gây ra sự phản cảm, chẳng hạn như phô bày nơi công cộng sự âu yếu hay là mặc những trang phục thiếu vải
Nhiều dân làng có những trải nghiệm tích cực về du lịch, là kết quả của những hành động của công ty du lịch của tôi: ví dụ, đưa đón khách, nguồn thu nhập quan trọng và nước máy vào làng (Cole 1997a) Trong suốt những cuộc thăm viếng này, tôi đã thi ết lập nên các mối quan hệ giao hảo với dân làng Điều này rất quan trọng khi tôi dấn thân vào cuộc nghiên cứu của mình, trong hoàn cảnh là mối quan hệ giữa một nhà điền dã và các thông tín viên đư ợc xem là chủ chốt trong quá trình nghiên cứu (Bernard 1988) Angrosino khẳng định rằng ‘quá trình xây dựng tư cách địa phương có thể chấp nhận được là một công việc thử và sai’ (1986:66) Cho đến lúc tôi bước vào làm nghiên cứu dài hơi, tôi đã tìm
thấy một tự cách vừa thoải mái cho tôi và không đe dọa cho chủ nhà của tôi Tôi hoàn toàn quen thuộc
với các chuẩn mực văn hóa, trang phục, hành vi cử chỉ và dạng thức giao tiếp trong làng Không chỉ sự thành công của các tour đến Wogo tác động lên sự lựa chọn địa điểm nghiên cứu cho tiến sĩ của tôi, mà