Là một cán bộ trong lĩnh vực Dân số-KHHGĐ tôi xin chọn đề tài “Tăng sinh ở Thành phố Nam Định những nguyên nhân và giải pháp” nhằm bày tỏ những thực tiễn khó khăn của đơn vị và những giả
Trang 1PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
Gia tăng dân số hiện nay không còn là vấn đề riêng của địa phương, dân téc hay của 1 quốc gia nào đó mà còn là mối quan tâm của toàn nhân loại.Tăng Dân số đồng nghĩa với việc gia tăng nhu cầu thiết yếu cho sự sống, tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, thiếu việc làm, nghèo đói, chậm phát triển mất ổn định an ninh trật tự xã hội
Ngày 11/07/1987trước sự kiện ra đời của công dân thứ 5 tỷ trên đất nước Nam Tư cũ thế giới đã dóng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng gia tăng dân số Điều đáng chú ý là những nước có tốc độ gia tăng nhanh dân số lại tập trung ở những nước nghèo, chậm và đang phát triển.Trước tình hình đó đại hội đồng Liên hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết kêu gọi cổ vũ các nước thực hiện các chương trình về Dân số – KHHGĐ để giảm bớt sự gia tăng dân số Nước ta là nước nghèo nàn, lạc hậu chậm phát triển nhưng Đảng và Nhà
nước ta cũng đã sớm nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác “Dân
sè – KHHGĐ” đối với sự phát triển của đất nước.Từ những năm 1961 tỷ lệ
sinh ở nước ta cao xấp sỉ 6,39 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Bằng những chủ trương, nghị quyết bằng những đường lối chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước về dân số – KHHGĐ đã thu được nhiều thắng lợi to lớn Đến năm 1989 ở nước ta sè con / phụ nữ giảm xuống còn 3,8 con/phụ nữ, năm
1999 bình quân 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ còn 2,3 con với những kết quả đó nước ta đã được Liên Hợp Quốc trao tặng giải thưởng về Dân Số Cùng với cả nước Thành phè Nam Định còng là những hạt nhân tích cực đóng góp nên thành công chung trong công tác Dân số-KHHGĐ ở nước ta trong thời gian qua
Trang 2Năm 2003 pháp Lệnh Dân số ra đời 1 lần nữa tiếp tục khẳng định sự quan /tâm của Đảng và Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để mọi công dân thực hiện tốt hơn chính sách Dân số – KHHGĐ Nhưng 1 thực trạng đáng lo ngại không chỉ riêng ở Thành phố Nam Định mà ở trên cả nước đó là việc mức sinh đột ngột tăng cao trở lại Trong đó các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 cũng tăng lên Điều đó là 1 trở ngại không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước
Là một cán bộ trong lĩnh vực Dân số-KHHGĐ tôi xin chọn đề tài “Tăng sinh ở Thành phố Nam Định những nguyên nhân và giải pháp” nhằm
bày tỏ những thực tiễn khó khăn của đơn vị và những giải pháp để áp dụng.Do mới bước vào làm công tác Dân số-KHHGĐ kinh nghiệm còn non kém kính mong các thầy cô và các thế hệ đi trước tạo điều kiện đóng góp
và chia sẻ những ý kiến quý báu để tôi được học hỏi và rót ra những bài học quý báu cho riêng mình
Xin trân trọng cảm ơn !
Trang 3PHẦN II BIẾN ĐỘNG MỨC SINH Ở THÀNH PHỐ NAM
I Điều kiện tự nhiên và xã hội:
1 Vị trí:Thành phè Nam Định nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định.
- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình
- Phía Tây Bắc giáp huyện Mỹ Léc
- Phía Tây Nam giáp huyện Vụ Bản
- Phía Đông Nam giáp huyện Nam Trực
Thành phè Nam Định có địa hình tương đối bằng phẳng cả thành phố không có ngọn núi nào
Thành phè Nam Định có diện tích khoảng 46,4 km2 với dân số đến 31/12/2008 là 258348 người.Thành phố hiện nay có 25 phường xã bao gồm
20 phường néi thành và 5 xã ngoại thành
2 Phân bố dân cư:
Với diện tích đất nhỏ hẹp chỉ khoảng 46,4 km2 nhưng chứa đựng một khối lượng dân cư lớn 258348 người Mật độ 5.567 người/ km2 bao gồm
63021 hộ Thành phè Nam Định là một trong những nơi có mật độ dân cư cao nhất cả nước
3 Hệ thống y tế:
Hệ thống y tế của Thành phè Nam Định tương đối đầy đủ Toàn Thành phố
Trang 4phòng khám khu vực Ngoài ra trên địa bàn Thành phố còn có bệnh viện Đa khoa tỉnh và bệnh viện Phô sản và các phòng khám tư nhân nên việc đáp ứng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình là vô cùng thuận lợi và đảm bảo an toàn
4 Hệ thống giáo dục
Toàn Thành phố có 21 trường tiểu học 18 trường trung học cơ sở và 11 trường trung học phổ thông, ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có 4 trường đại học 3 trường cao đẳng và 4 trường trung học chuyên nghiệp Với tiêu chí học tốt dạy tốt hệ thống giáo dục của Thành phố hiện nay là khá tốt và được đánh giá là một trong những nơi có nền giáo dục đứng đầu cả nước
5 Văn hóa thể dục thể thao
Phong trào văn hoá thể dục thể thao của thành phố trong những năm vừa qua phát triển không ngừng.nhiều hình thức vui chơi giải trí phong trào thể dục thể thao được mở rộng đã thu hót được nhiều tầng líp quần chúng nhân dân tham gia
6 Cơ cấu dân số:
Với số dân năm 2008 là 258348 người
Trong đó sè phụ nữ 15-49 có chồng là 40574 người
Từ khi có chính sách về Dân số-KHHGĐ năm 1993 đảng bộ chính quyền địa phương đã xác định phải giảm mức sinh đặc biệt là giảm mức sinh con thứ 3 Các biện pháp tránh thai ngày càng đa dạng đã tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các biện pháp tránh thai nhờ đó mà tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ngày một tăng Nhưng trong một vài năm trở lại đây đặc biệt là từ năm 2003 khi Pháp lệnh dân số ra đời mức sinh đã tăng trở lại tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai còn
Trang 5thấp Đây cũng là câu hỏi lớn đặt ra không chỉ cho riêng ngành dân số mà đòi hỏi đảng bộ chính quyền và nhân dân cùng tích cực hưởng ứng để giãn sinh và giảm tỷ
lệ sinh con thứ 3 trong những năm tiếp theo
II THỰC TRẠNG TĂNG SINH Ở THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TRONG NHỮNG NĂM QUA.
Cùng với xu thế chung của cả nước, trước năm 2003 thành phè Nam Định luôn duy trì mức giảm sinh và sinh con thứ 3 trở lên hằng năm Các hoạt động truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi chăm sóc sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ được tổ chức thường xuyên, có hiệu quả Các phong trào nhóm nhỏ thực hiện kế hoạch hoá gia đình, làng, xã không có người sinh con thứ 3 trở lên, câu lạc bộ gia đình hạnh phúc,…được triển khai xây dựng ở rộng khắp các xã, phường Nhiều khẩu hiệu hành động, khẩu hiệu khuyến nghị được xây dựng trở thành gần gũi với đời sống dân cư, trở thành những tiêu chí trong phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng xã văn hoá Năm 2003 Pháp lệnh dân số ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới trong công tác Dân số ở nước
ta Sù ra đời của pháp lệnh Dân số nhằm khẳng định tính nhất quán của đảng
và Nhà nước, luôn quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để công dân tham gia thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ; đánh giá cao vai trò phát triển nguồn lực con người ưu tiên đầu tư thích đáng cho việc phát triển của mỗi cá nhân Đảm bảo hài hoà lợi Ých cá nhân, lợi Ých mỗi gia đình, cộng đồng, quốc gia Thật đáng tiếc một nhóm cán bộ, Đảng viên và công dân nhận thức không đầy đủ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện chính sách Dân số – KHHGĐ Kèm theo đó là hiệu quả của gần 20 năm đổi mới, đất nước phát triển, kinh tế đa dạng, đời sống nhân dân đuợc nâng cao, tài sản tích luỹ phong phú, các nhu cầu cá nhân phát triÓn, phong tục trọng
Trang 6nam khinh nữ còn nặng nề trong mỗi gia đình, dòng họ và hệ quả của việc tăng sinh trước đó 20-30 năm; dẫn đến việc tăng sinh trở lại, đặc biệt là việc tăng sinh con thứ 3 trở lên Đây chính là trở ngại lớn nhất của ngành dân sè Thành phè Nam Định nói riêng và cả nước nói chung
BIỂU CHỨNG MINH MỨC SINH CỦA THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2008
(Nguồn: Trung tâm Dân sè - KHHGĐ Thành phố Nam Định)
BIỂU CHỨNG MINH SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
NĂM 2007 VÀ 2008
(Nguồn: Trung tâm Dân sè - KHHGĐ Thành phố Nam Định)
Nhìn vào biểu tổng hợp ta co thể thấy cụ thể nh sau:
+ Sè sinh: sè sinh của thành phố Nam Định vẫn ở mức cao Năm 2004 là
3142 cháu sang đến năm 2005 có giảm xuống chút Ýt nhương vẫn ở mức cao
là 3120 cháu Nhưng sang đến 3 năm 2006, 2007, 2008 tỷ lệ này lại tăng dần.Năm 2006 tăng 182 cháu so với 2005 lên 3302 cháu Năm 2007 tăng 88 cháu so với 2006 lên 3390 cháu Sang đến năm 2008 số trẻ em mới sinh tăng mạnh lên 212 cháu so với 2007 lên 3602 cháu cao nhất trong một vài năm trở lại đây
Trang 7Theo báo cáo thống kê 6 tháng đầu năm 2009 số trẻ em mới được sinh tăng
112 cháu so với cùng kỳ năm 2008 Điều đã cho thấy công việc của ngành Dân sè của Thành phố Nam Định trong những năm tới con rất nhiều khó khăn
+ Tỷ suất sinh: Năm 2004 tỷ suất sinh của thành phố Nam Định là
13,50%o sang năm 2005 có giảm đi chút Ýt xuống còn 12,96%o nhưng trong 3 năm tiếp theo tỷ xuất sinh của thành phố Nam Định không những không giảm mà còn tăng Năm 2006 tỷ suất sinh là 13,31%o tăng 0,35%o
so với năm 2005 Năm 2007 tỷ xuất sinh của thành phè Nam Định là 13,42%o tăng 0,11%o so với 2006, đặc biệt năm 2008 tăng lên 14,09%o tăng 0,67%o so với 2007
+ Sè sinh con thứ 3 trở lên: Năm 2004 cã 152 cháu chiếm tỷ lệ 4,83%
trong tổng số trẻ sinh ra trong năm 2004, sang năm 2005 có 140 cháu là con thứ 3 trở lên giảm 12 cháu Năm 2006 giảm 2 cháu so với năm 2005 chiếm tỷ
lệ 4,1% tổng số trẻ sinh trong năm 2006 Đến năm 2007 có xu hướng tăng trở lại 146 cháu chiếm 4,3% Sang năm 2008 số trẻ em là con thứ 3 trở lên tăng vọt lên 185 cháu tăng 35 cháu so với 2007 Qua đây ta cũng thấy được tỷ lệ sinh con thứ 3 vẫn còn cao và đó cũng là thách thức rất lớn mà ngành dân số phải giải quyết trong những năm tiếp theo
+ Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn Thành phè tăng dần theo
mỗi năm đây chính là tác nhân trực tiếp của việc tăng sinh
+ Số người áp dụng các biện pháp tránh thai: Qua bảng thống kê cho ta
thấy tỷ lệ người sử dụng các biện pháp tránh thai vÉn còn thấp
Như vậy mục tiêu đặt ra cho Thành phố Nam Định trong những năm tới là vận động giãn sinh và giảm sinh con thứ 3 trở lên Đây cũng là mét bài toán
Trang 8đầy khó khăn cho Đảng bộ và nhân dân thành phè Nam Định đặc biệt là với ngành Dân số
III NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỘNG MỨC SINH Ở THÀNH PHÈ Nam ĐỊNH.
Xu hướng tăng sinh trở lại hiện nay là một vấn đề nhức nhối được cả xã hội quan tâm Thành phố Nam Định cũng không nằm ngoại lệ, sau khi Pháp lệnh Dân số ra đời năm 2003 tỷ lệ trẻ em mới sinh ra hàng năm có xu hướng tăng lên rõ rệt và vẫn giữ ở mức cao Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến mức sinh, sau đây tôi xin đưa ra một số nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng sinh trở lại ở Thành phố Nam Định trong những năm vừa qua Rất mong được chia sẻ
+ Do cơ cấu dân số trẻ
Đây là hệ quả của việc tăng sinh ở những năm đầu thập kỷ 80,90 số phụ
nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ hằng năm tăng dần, số cặp kết hôn tăng, lực lượng lao động trẻ từ các nơi chuyển đến các nhà máy xí ngiệp cũng góp phần tăng tỷ lệ kết hôn và tăng sinh
+ YÕu tố tập quán:
Những phong tục nặng nề, những quan niệm cũ đã ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ đều muốn có con trai để nối dõi tông đường để thờ cóng cha mẹ ông bà, cộng với tư tưởng thích đông con, muốn có nếp có tẻ trời sinh voi trời sinh cá Chính vì vậy các gia đình vẫn thích đông con
+ Do cơ chế kinh tế:
Thành phè Nam Định là trung tâm kinh tế của tỉnh Nam Định có nhiều nhà máy cơ quan xí nghiệp đãng trên địa bàn, đời sống đại bộ phận công
Trang 9nhân khá giả có nhiều chủ doanh nghiệp giàu lên rất nhanh các hộ kinh tế gia đình cũng ngày một khấm khá cần có người thừa kế tài sản Chính vì vậy họ bất chấp sự động viên của các tổ chức, không cần nghĩ đến trách nhiệm cộng đồng, người thì muốn có con trai người thì muốn có con gái người thì sinh cho có anh có em…
+ Do tâm lý chủ quan của lãnh đạo các cấp:
Những năm trước đây công tác Dân số – KHHGĐ đã đạt được nhiều kết quả kỳ diệu chúng ta đã tiến dần đến đạt mức sinh thay thế nhưng do sớm thoả mãn với thành tích đó mà lãnh đạo một số địa phương đã chủ quan buông lỏng quản lý thiếu sâu sát, đầu tư cho công tác Dân sè - KHHGĐ giảm Cá biệt có nơi lãnh đạo còn xem nhẹ công tác Dân sè - KHHGĐ vì chưa thấy hậu quả phát sinh Dẫn đến nhiều cán bộ Đảng viên công dân vi phạm hàng loạt
+Công tác truyền thông giáo dục kém hiệu quả:
Từ khi có quyết định thành lập các Trung tâm Dân sè - KHHGĐ thuộc Chi cục Dân số - KHHGĐ nhiều nơi cho rằng công tác dân số là của ngành dân số cho nên việc chỉ đạo phố hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục không được nhiệt tình còn mang nặng hình thức xa thực tiễn, khó hiểu chưa hợp lòng dân
Lực lượng cán bộ chuyên trách và cộng tác viên còn thiếu và yếu đặc biệt
là trong công tác tuyên truyền vận động Nhiều hoạt động truyền thông còn mang nặng hình thức không cụ thể, không thường xuyên chưa sát thực với đời sống gây tốn kém mà hiệu quả mang lại không cao
+ Hiểu sai về pháp lệnh Dân số năm 2003:
Trang 10Pháp lệnh dân số ra đời năm 2003 nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực hiện chính sách về Dân sè - KHHGĐ nhưng không nhỏ một
bộ phận cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đã hiểu sai hoặc cố tình hiểu sai vÒ điều 10 Pháp lệnh dân số năm 2003 để sinh thêm con
+ Bé máy tổ chức:
Thông tin giải thể Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em năm 2007 đã có tác động rất lớn đến tư tưởng nhận thức của một bộ phận cán bộ nhân dân và ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của đội ngò cán bộ làm công tác dân số từ Thành phố đến cơ sở
Năm 2008 giải thể Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em không Ýt người trong
đó có cả một số cán bộ Đảng viên cho rằng sẽ được đẻ thoải mái Tư tưởng cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ không ổn định làm ảnh hưởng đến việc tuyên truyền vận động, từ đó dẫn đến việc thực hiện các chỉ tiêu sử dụng các biện pháp tránh thai đạt thấp
Đội ngò cán bộ bị xáo trộn một số chuyển công tác khác một số còn trẻ chưa có kinh nghiệm nên còn gặp nhiều lúng túng
+ Chính sách dân số:
Việc ra đời Pháp lệnh dân số năm 2003 có nhiều bất cập nhưng chậm được sửa đổi Công tác hướng dẫn chỉ đạo còn chậm, chưa có những chế tài sử lý vi phạm cụ thể, còn để tuỳ địa phương tự vận dụng nên đôi lúc còn lệch lạc đường lối chính sách
Chế độ khen thưởng động viên hạn chế nên chưa khuyến khích được phong trào
Trang 11Chế độ thù lao cho cộng tác viên và cán bộ chuyên trách còn thÊp chưa tương xứng với công sức, sự đầu tư nguồn lực tài chính còn Ýt chưa đáp ứng được nhu cầu công việc Đa phần các cộng tác viên và cán bộ chuyên trách phải kiêm nghiệm công việc khác nên đã hạn chế hiệu quả của công tác dân sè
IV GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Nhiều năm qua, thực hiện chủ chương của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác Dân sè – KHHGĐ Đảng uỷ hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân TP đã tích cực chỉ đạo các ngành, các cấp cùng vào cuộc, tăng cường phổ biến giáo dục về công tác dân sè - KHHGĐ thực hiện giảm sinh
và giảm sinh con thứ 3 trở lên Xây dựng mô hình gia đình Ýt con bình đẳng tiến bộ Êm no hạnh phóc
Trong 1 vài năm vừa qua do sự chủ quan lơ là thoả mãn với thành tích cùng với sự ra đời của Pháp lệnh dân số năm 2003 và giải thể Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em năm 2008 dẫn đến việc tăng sinh đặc biệt là sinh con thứ 3 tăng trở lại Đây là 1 vấn đề đòi hỏi công tác Dân số – KHHGĐ cần sớm khắc phục trong những năm tới
Mục tiêu phấn đấu
1.Mục tiêu chung:
Thực hiện tốt chương trình mục tiêu Dân số – KHHGĐ
Phấn đấu xây dùng quy mô gia đình Ýt con (1-2 con) tiến bộ bình đẳng hạnh phóc
Tăng cường tuyên truyền cho người dân hiểu về các chính sách về Dân số – KHHGĐ của Đảng và Nhà nước
Trang 122 Mục tiêu cụ thể:
- Duy trì ổn định mức sinh hàng năm từ 0.2 – 0.5 % Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên từ 0.4 – 0.8%
- Tổ chức tốt có hiệu quả các hoạt động truyền thông vận động nâng cao nhận thức trách nhiệm toàn dân đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ Phấn đấu 100% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ hiểu được tác dụng các biện pháp tránh thai Phấn đấu 85% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ tự nguyện áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại
- Giảm tỷ lệ nạo phá thai hàng năm
Các giải pháp
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp:
Từ những nguyên nhân và thực trạng trên cho ta thấy dấu hiệu của việc thoả mãn, buông lỏng quản lý ở một số cấp uỷ Đảng, chính quyền đối với công tác Dân số- KHHGĐ Có nhiều nơi còn phó mặc trách nhiệm cho ngành Dân số, chưa thực sự hiểu và coi trọng vai trò của công tác Dân số –KHHGĐ Chính vì vậy cần phải xác định lại tư tưởng, trách nhiệm của lãnh đạo tổ chức Đảng chính quyền, các cấp, quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết 47/NQ-TW của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số – KHHĐ Huy động mọi nguồn lực, các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính trị cùng nhau tham gia tuyên truyền để người dân hiểu về lợi Ých của quy mô gia đình Ýt con
- Củng cố, kiện toàn lại bộ máy làm công tác Dân số – KHHGĐ ở địa phương: