1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

98 743 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 854,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh Hóa cũng là một vùng nông thôn như bao vùng nông thôn khác củaViệt Nam, nên cũng không nằm ngoài vòng của vấn đề bất bình đẳng giớitrong gia đình.Trong xã hội người phụ nữ luôn là

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhấtcủa phát triển xã hội Sự phát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng,bình đẳng cho mọi người (cả nam và nữ) trong cơ hội và điều kiện cống hiếncũng như hưởng thụ các thành quả của phát triển Điều này hoàn toàn phùhợp với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cuộc cách mạngđược xem là triệt để nhất trong lịch sử nhân loại Trong công cuộc đổi mớitheo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi conngười vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo pháttriển nguồn lực con người là một nhân tố quyết định thành công của côngcuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Chăm lo pháttriển nguồn lực con người hướng vào cả nam và nữ với các tiêu chí: pháttriển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tình cảm, đạo đức

Nông thôn là đơn vị hành chính, vùng cư trú từ rất lâu trong lịch sử.Cùng với tốc độ phát triển kinh tế đất nước thì nông thôn ngày nay cũng cónhững thay đổi khá mạnh mẽ về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần Bên cạnh

đó, nó cũng làm cho nông thôn xuất hiện những vấn đề nổi cộm mang tínhcấp thiết và cần được xem xét để giải quyết Một trong những vấn đề đáng

quan tâm đó là Bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn.

Bất bình đẳng giới là vấn đề xuất hiện rất lâu trong lịch sử loài người

Do đó, cũng đã rất lâu cuộc đấu tranh của phụ nữ đấu tranh giành quyền bìnhđẳng đối với nam giới đã xuất hiện và phát triển Đặc biệt ở nước ta bất bìnhđẳng giới diễn ra mạnh mẽ ở các vùng nông thôn, chủ yếu là với phụ nữ.Thực trạng này đã và đang trở thành bài toán nan giải đặt ra với các nhà lãnhđạo, hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng có thẩm quyền, các chínhquyền địa phương Đồng thời cũng đã để lại những hậu quả nghiêm trọngđối với đời sống kinh tế xã hội nói chung Xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh

Trang 2

Thanh Hóa cũng là một vùng nông thôn như bao vùng nông thôn khác củaViệt Nam, nên cũng không nằm ngoài vòng của vấn đề bất bình đẳng giớitrong gia đình.

Trong xã hội người phụ nữ luôn là đối tượng yếu thế, chịu nhiều thiệtthòi, bất công trong cuộc sống gia đình cũng như trong quan hệ xã hội Họ làngười có nhiều cống hiến, hy sinh cho gia đình, xã hội nhưng công lao đókhông được công nhận, tôn vinh, mà phải chịu sự bất công, bất bình đẳng.Chính sự bất công bằng đó là rào cản làm hạn chế năng lực phát triển củangười phụ nữ nói chung và đặc biệt là người phụ nữ nông thôn nói riêng.Dường như những quy định, lễ giáo phong kiến, nề nếp gia phong của dòngtộc, làng quê đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam Vàngười phụ nữ nông thôn từ khi mới sinh ra đã bị giáo dục theo kiểu áp đặt bấtcông, nên họ luôn cam chịu số phận, coi điều đó là điều tất nhiên phải tuântheo Và cứ như thế, những người phụ nữ nông thôn trở nên nhỏ bé trong giađình và ngoài xã hội; họ bị những quan niệm, thành kiến truyền thống đó đènặng mà không sao thoát ra được, hết thế hệ này đến thế hệ khác chấp nhận

sự bất bình đẳng đó

Xã hội hiện đại - xã hội chủ nghĩa cộng sản là xây dựng một xã hộikhông còn bất công, không còn bất bình đẳng giới Nhưng để thực hiện đượcđiều đó không phải điều đơn giản có thể thực hiện trong một sớm một chiềuđược Nó cần có sự nỗ lực, hợp tác của tất cả các thành viên trong xã hội, các

cơ quan tổ chức có thẩm quyền cùng tham gia giải quyết Đây chính là vấn đềquan tâm của toàn xã hội và là đối tượng nghiên cứu của ngành công tác xãhội Với tư cách là sinh viên ngành công tác xã hội tôi xin nghiên cứu vấn đề:

Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng nhằm làm giảm bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay Để từ đó giúp nâng cao nhận thức và thay đổi thái

độ của mọi người trong xã hội, đặc biệt là những người ở nông thôn để lấy lạicông bằng, khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội

Trang 3

Bài làm của tôi không tránh khỏi những thiếu sót do hạn chế về tài liệutham khảo, kiến thức chuyên môn và thời gian nghiên cứu hạn hẹp rất mongnhận được sự quan tâm, bổ sung và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo đểbài làm của tôi được hoàn thiện hơn

2 Tổng quan nghiên cứu của đề tài

Vấn đề giải phóng phụ nữ được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác

-Lê Nin đề cập rất sớm trong nhiều tác phẩm Ở Việt Nam, vấn đề giải phóngphụ nữ cũng được Đảng cộng sản Việt Nam quan tâm ngay từ khi mới thành

lập (năm 1930) Từ góc độ nghiên cứu lịch sử, trong tác phẩm "Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại" (1975), của giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết, NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội (tái bản lần thứ hai) đã đề cập khá sâu sắc vị thế người phụ nữViệt Nam trong gia đình và ngoài xã hội suốt chiều dài lịch sử, từ khi khaiphá nền văn minh của dân tộc cho đến những năm 60 Song, có lẽ việcnghiên cứu về phụ nữ và gia đình ở Việt Nam chỉ được đặt ra và giải quyếtnhư một bộ môn khoa học mới từ năm 1987 với sự ra đời của Trung tâmNghiên cứu phụ nữ (sau đổi thành Trung tâm Nghiên cứu khoa học về giađình và phụ nữ năm 1993) Cho đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều trung tâmnghiên cứu về phụ nữ và gia đình như:

- Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thuộc Trungtâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia

- Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển

- Trung tâm Nghiên cứu lao động nữ thuộc Bộ Lao động, Thương binh và

Trang 4

Nam đã được đặt ra, xem xét và có hướng giải quyết đúng đắn, trong đó cónhững chủ đề nghiên cứu về phụ nữ, gia đình nông thôn.

Nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành độc lập hoặc tổ chức theoliên ngành mà kết quả đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí Nhiều cuộchội thảo được tổ chức đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thựctiễn trong việc nghiên cứu sự bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn Nhiều

tác giả đã tập trung nghiên cứu và xuất bản nhiều tác phẩm có giá trị như: "Phụ

nữ, giới và phát triển" (1996) của tiến sĩ Trần Thị Vân Anh và tiến sĩ Lê Ngọc Hùng, NXB Phụ nữ, Hà Nội; "Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam" (1998) của giáo sư Lê Thi, NXB Phụ nữ, Hà Nội; là những tác phẩm đặt

cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ và gia đình theo phương pháp tiếp cậngiới - một phương pháp nghiên cứu mới mẻ nhưng rất hiệu quả Nhiều đề tài

nghiên cứu cấp bộ đã được tiến hành và nghiệm thu như: "Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng" (1996 - 1997) và

"Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở một số

xã vùng đồng bằng sông Hồng" (1995 - 1996) là hai đề tài cấp Bộ của Trung

tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ và gia đình Nhiều công trình được đăngtrên các sách và tạp chí đã đề cập một phần thực trạng sự bình đẳng giới tronggia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng Trên cơ sở nghiên cứu thực tế,

nhiều tác phẩm đã đề cập tới việc xây dựng các chính sách như: "Chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn" (1998) của tiến sĩ Lê Thị Vinh Thi, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; "Gia đình Việt Nam ngày nay" (1996) do giáo sư Lê Thi

chủ biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; đã đặt cơ sở cho việc hoạch định cácchính sách phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ, đáp ứng yêu cầu giới Thờigian gần đây, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học về phụ nữ và gia đình cũng đangtiến hành các điều tra cơ bản về gia đình ở đồng bằng sông Hồng, một số côngtrình đã được công bố trên các sách báo và tạp chí của trung tâm

Các công trình nghiên cứu kể trên là những tư liệu tham khảo hết sứcquan trọng để tôi thực hiện đề tài của khóa luận Nhưng nhìn chung, các

Trang 5

nghiên cứu mới đặt vấn đề trên diện rộng, chưa có công trình nào đi sâunghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về bình đẳng giới trong gia đình

ở nông thôn trong công cuộc đổi mới Trước tình hình đó, tôi chọn đề tài này

mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu "Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa" cả về phương diện lý luận và thực tiễn dưới góc độ chuyên

ngành công tác xã hội

Vì vậy đã có nhiều các chương trình, dự án nghiên cứu đề ra các biệnpháp nhằm giải quyết vấn đề này Có một số chương trình, dự án đã mang lạikết quả và được áp dụng rộng rãi trong thực tế Tiêu biểu như:

- Chương trình bất bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ của LiênHiệp Quốc

- Chương trình thúc đẩy bất bình đẳng giới để chống buôn bán phụ nữ vàtrẻ em

- Chiến lược quốc gia về bất bình đẳng giới

- Quy định về các biện pháp bảo đảm về bất bình đẳng giới

- Chương trình hành động quốc gia nhằm thúc đẩy bình đẳng giới vànâng cao năng lực cho phụ nữ

- Luật bình đẳng giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Hội thảo tham vấn dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới

- Huấn luyện bình đẳng giới tại cộng đồng

- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo luật phòng chống bạohành gia đình

- Bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trong thực tế, đã có nhiều người nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đềnày Cụ thể như:

- Vấn đề bình đẳng giới của gia đình nông thôn ven đô thành phố MỹTho – tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa –Nguyễn Thị Uyên

Trang 6

- Vấn đề giới trong gia đình, nghiên cứu tại xã Chuế Lưu, huyện HạHòa, tỉnh Phú Thọ - Lê thế Nam.

- Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồnghiện nay- Nhóm sinh viên trường Đại học Đà Lạt

Những nghiên cứu trên là cơ sở, nền tảng để tôi có thể tham khảo vàphát triển khóa luận của mình hoàn chỉnh hơn

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

* Mục đích

Mục đích khi nghiên cứu vấn đề này là khai thác, tìm hiểu sâu vấn đềbất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện NgaSơn, tỉnh Thanh Hóa Từ đó nhằm nâng cao nhận thức của người dân nóichung, người phụ nữ nông thôn nói riêng về vấn đề bất bình đẳng giới tronggia đình Thông qua đó áp dụng các biện pháp, mô hình của phát triển cộngđồng để giảm thiểu thực trạng bất bình đẳng trong gia đình ở nông thôn, cũngnhư làm thay đổi nhận thức của mọi người dân trong xã hội về vấn đề này

- Trình bày thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại

xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Tìm ra các nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình ởnông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 7

- Đưa ra những hậu quả do bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôngây ra.

- Đề xuất các biện pháp, xây dựng mô hình của phương pháp phát triển cộngđồng để nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của người dân như:

+ Nâng cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở nông thôn

+ Khẳng định vị trí của người phụ nữ trong gia đình

+ Tôn trọng ý kiến của người phụ nữ trong gia đình trong việc ra quyếtđịnh quan trọng như: chuyện học hành của con cái, chuyện cưới xin củacon…

+ Thu hút sự tham gia của người phụ nữ vào các công hoạt động sảnxuất kinh tế của gia đình

+ Nâng cao nhận thức của người nam giới cũng như thái độ, suy nghĩcủa họ về vai trò của người phụ nữ

+ Thu hút sự tham gia của người nam giới vào các công việc đồng áng,chăm sóc con cái, …

- Vai trò của nhân viên công tác xã hội

+ Áp dụng các biện pháp trợ giúp về tham vấn tâm lý cho phụ nữ vànam giới ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

+ Tổ chức các buổi tập huấn, giao lưu, tuyên truyền về vấn đề bất bìnhđẳng giới trong gia đình tại địa phương

+ Kết nối, khai thác các nguồn lực trong gia đình, tại địa phương đểgiúp đỡ giải quyết vấn đề

+ Tham mưu cùng với các cơ quan chức năng liên ngành trong việchoạch định các chính sách và đề ra các biện pháp giải quyết mang lại hiệuquả cao

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 05 năm 2011

- Về không gian: Tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 8

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình nôngthôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Chủ thể nghiên cứu: Phụ nữ trong gia đình ở nông thôn

- Khách thể nghiên cứu: Các gia đình nông thôn tại xã Nga Giáp,huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: quan sát cách tổ chức, sinh hoạt của từng giađình trong địa phương; quan sát không khí của gia đình; quan sát thái độ củacác thành viên trong gia đình…

- Phương pháp phỏng vấn: cá nhân(nam giới, phụ nữ, con cái);giađình; hàng xóm láng giềng; chính quyền địa phương…

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: được thực hiện đối với từng đốitượng, từng gia đình trong địa bàn Có phân tích, xử lý các số liệu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dựa trên các tài liệu liên quan, cácbáo cáo, chương trình, dự án có liên quan đến bất bình đẳng giới

6 Những đóng góp về mặt khoa học của khóa luận

- Từ góc độ triết học, chuyên ngành công tác xã hội, bước đầu khóaluận đã kết hợp chặt chẽ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với phương pháp côngtác xã hội trong xem xét, lý giải vấn đề bình đẳng giới Sự kết hợp này đượccoi là bước phát triển lôgíc của quá trình nhận thức, làm sáng tỏ hơn nhữngvấn đề lý luận về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ

- Từ việc khảo sát thực tiễn quan hệ về giới trong gia đình ở nông thôn xãNga Giáp, khóa luận đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếunhằm nâng cao sự bình đẳng về giới trong gia đình, coi đây như một điềukiện, tiền đề quan trọng nhằm phát huy nguồn nhân lực ở nông thôn hiện nay

Trang 9

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài nhằm khái quát sơ lược bức tranh về sự bất bình đẳng giữa namgiới và phụ nữ trong việc phân công lao động, tiếp cận nguồn lực về y tế,giáo dục và vấn đề quyền lực trong gia đình Cho thấy sự bất bình đẳng vềmức độ đóng góp và thụ hưởng giữa hai giới Đề ra một số biện pháp nhằmgóp phần giảm thiểu bất bình đẳng, nâng cao nhận thức của người phụ nữ về

vị thế, vai trò, quyền lợi và tự khẳng định chính mình trong bối cảnh xã hộihiện nay Giúp nam giới có cách nhìn khác về phụ nữ, đem lại sự công bằngcho người phụ nữ

Việc nghiên cứu đề tài là một cơ hội để em được trải nghiệm thực tế,

áp dụng những kiến thức đã được học, đặc biệt là kiến thức chuyên ngànhcông tác xã hội Qua đó, thu được nhiều kinh nghiệm và bài học bổ ích, cầnthiết cho bản thân

Và em mong rằng những kết luận, nhận định của đề tài sẽ là tài liệutham khảo cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề này sâu hơn và mong được sựđóng góp ý kiến của các thầy cô, các bạn để đề tài của em hoàn thiện hơn

8 Kết cấu của đề tài khóa luận

Ngoài phần lời nói đầu thì khóa luận tốt nghiệp gồm có 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan chung về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia

đình ở nông thôn

- Chương 2: Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại

xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

- Chương 3: Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng vào trợ giúp

giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp,huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN

1.1 Khái niệm chung

1.1.1 Giới

Là một khoa học nghiên cứu sự khác biệt về sinh học và mối quan hệ

xã hội giữa nam và nữ về mặt xã hội Nói về giới là nói về vai trò, tráchnhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ

Phụ nữ có vai trò kép, nhưng trước đây, nói đến phụ nữ người tathường nghĩ đến trách nhiệm của họ trong gia đình Ngày nay người ta đãthừa nhận một hiện thực là phụ nữ tham gia công việc xã hội không chỉ ngàycàng nhiều mà còn rất thông minh sáng tạo, vị trí quan trọng của phụ nữ đangngày càng được khẳng định, song khoảng cách giới vẫn còn là một thách thứcđối với toàn thế giới trong đó có Việt Nam

Trang 11

1.1.5 Định kiến giới

Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vịtrí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

1.1.6 Phân biệt đối xử về giới

Là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vaitrò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnhvực của đời sống xã hội và gia đình

1.1.7 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhànước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữanam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởngthành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam

và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳnggiới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đíchbình đẳng giới đã đạt được

1.1.8 Chỉ số phát triển giới (GDI)

Là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên

cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu ngườicủa nam và nữ

1.1.9 Nông thôn

Là một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình lâu trong lịch

sử, có hệ thống độc lập tương đối ổn định; là một tiểu hệ thống không gian –

xã hội Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị, song mặt khác lạitách biệt với đô thị

1.1.10 Mục tiêu bình đẳng giới

Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hộinhư nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồnnhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố

Trang 12

quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

và gia đình

1.2 Lý thuyết ứng dụng

1.2.1 Lý thuyết tiếp cận giới

Quan điểm giới, xuất phát từ những lý thuyết nữ quyền cho rằng namgiới và nữ giới trải nghiệm thực tế cuộc sống và cảm nhận về đời sống giađình rất khác nhau Từ quan điểm giới, gia đình không phải là một đơn vị hàihòa, hợp tác, dựa trên cơ sở lợi ích chung và giúp đỡ lẫn nhau, gần giốngquan điểm tiếp cận xung đột mà đây là nơi diễn ra sự phân công lao độngtheo giới, quyền lực và cơ hội tiếp cận nguồn lực không ngang nhau và luônbất lợi cho phụ nữ

Trong quá trình phân tích sự biến đổi gia đình, quan điểm giới vàphương pháp luận phân tích giới sẽ được lồng ghép vào các nội dung nghiêncứu Những vấn đề cơ bản sẽ được chú trọng phân tích là: sự phân công laođộng theo giới; sự tiếp cận với nguồn lực, quyền ra quyết định, sự đóng góp

và thụ hưởng của các thành viên trong gia đình

1.2.2 Lý thuyết nữ quyền

Nữ quyền là đề cập đến phong trào phụ nữ thế kỷ XIX, những ngườitìm cách chấm dứt sự phụ thuộc của phụ nữ Quan điểm về nữ quyền baogồm các lý thuyết xã hội khác nhau: nữ quyền tự do, nữ quyền mác xít, nữquyền xã hội chủ nghĩa Tất cả đều nhằm giải thích nguyên nhân của việc phụ

nữ bị áp bức trong xã hội và phong trào nữ quyền là một lực lượng xã hội đểthay đổi quan hệ giới nhằm làm nâng cao địa vị của phụ nữ

1.2.3 Học thuyết nhu cầu của A Maslaw

Theo Abraham Maslaw nhu cầu của con người phù hợp với sự phâncấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất Khi một nhóm các nhu cầuđược thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.Maslaw xây dựng tháp nhu cầu của con người gồm 5 bậc: nhu cầu sinh lý lànhu cầu cơ bản để có thể duy trì sự sống của con người; nhu cầu an toàn là

Trang 13

những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể; nhu cầu xã hội là sự liên kết

và chấp nhận; nhu cầu cần được tôn trọng; nhu cầu về sự phát triển hoànthiện bản thân Vì vậy, khi làm bất cứ vấn đề gì cũng cần xét đến các nhu cầucủa con người

1.2.4 Thuyết về quyền con người

Con người khi sinh ra đã được tự nhiên ban cho những quyền cơ bảnnhư: quyền sống còn, quyền tự do, quyền hạnh phúc… Trong đó, có quyềnthiêng liêng không thể xâm phạm được là quyền được tự do, công bằng vàbình đẳng, quyền này phải được nhà nước, pháp luật công nhận Và quyềncon người đó phải được phát triển cùng với sự phát triển của xã hội

Quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

Đó sẽ là cơ sở để mọi hoạt động của con người hướng tới và chỉ khi nàoquyền của con người được đảm bảo thì xã hội mới phát triển bền vững

1.3 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

về bình đẳng giới

1.3.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bất bình đẳng giới

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phụ nữ là lực lượngđông đảo của cách mạng Trong lớp học ở Quảng Châu, khi nói về vai tròcủa phụ nữ, Người đã nhắc lại quan điểm của Mác: Ai đã biết lịch sử thìbiết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắckhông làm nổi Và Người chỉ rõ Việt Nam Kách mệnh cũng phải có nữgiới mới thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vai trò vàkhả năng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, Người khẳng định:

“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Dưới chế độ phong kiến, thực dân, phụ nữ là

lớp người bị áp bức bóc lột nhiều nhất, chịu nhiều nỗi bất công, đau khổnhất Thông cảm và bênh vực cho quyền lợi của phụ nữ, Người xác địnhgiải phóng phụ nữ, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ là một trong các

mục tiêu của cách mạng: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải

Trang 14

phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng Chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Đây là tư tưởng vừa thể hiện sự kế thừa, vừa

phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê nin về cách mạng giải phóng dântộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng đó thể hiện quan điểm nhân

đạo thực hiện nam nữ bình đẳng Quan điểm “nam, nữ bình quyền” của

Đảng và Bác Hồ được xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiên củaĐảng năm 1930 Trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mỹ xâm lược, ngày 10-01-1967, Ban Bí thư Trung ươngĐảng đã ban hành Nghị quyết số 152-NQ/TƯ về một số vấn đề lãnh đạo

công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại sâu sắc trong một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi “trọng nam, khinh nữ’’, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết khó khăn trở ngại của phụ nữ ’’.(Tài liệu tham khảo 14).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ trong

sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người luôn căn dặn các cấp

uỷ đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo,bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ Trong 80 năm qua,quan điểm đó luôn được thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.Quan điểm của Bác Hồ ngời sáng niềm tin vững chắc vào tinh thần yêunước và khả năng lao động sáng tạo của phụ nữ Người chỉ rõ: Con đườnggiải phóng phụ nữ Việt Nam chỉ có thể là con đường đưa phụ nữ tham giacách mạng đánh đổ áp bức, bóc lột và chỉ ra những điều kiện chủ yếu để giảiphóng phụ nữ Điều kiện đó không chỉ là sự phát triển văn hoá, giáo dục, màcòn phải thu hút, tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động kinh tế - xãhội của đất nước Phụ nữ phải được giải phóng khỏi thân phận là kẻ giúpviệc trong gia đình, trở thành lực lượng lao động của toàn xã hội Người phêphán một số nhận thức chưa đúng về bình đẳng, giải phóng phụ nữ Bình

đẳng không chỉ là “Hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em

Trang 15

quét nhà, nấu cơm, rửa bát mà phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động trong toàn xã hội để phụ nữ tham gia vào các ngành nghề như nam giới” Trong thời kỳ hoạt động bí mật ở nước ngoài, Bác Hồ đã trực tiếp

tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng nước ta, trong đó có nhữngcán bộ nữ ưu tú đầu tiên như chị Nguyễn Thị Minh Khai Sau cách mạngtháng Tám năm 1945, ngày 20-10-1946, Bác Hồ ra Chỉ thị thành lập Hộiliên hiệp Phụ nữ Việt Nam để tập hợp phụ nữ thành một khối thống nhất.Hầu hết các ngày kỷ niệm Quốc tế Phụ nữ 8-3, ngày thành lập Hội liên hiệpPhụ nữ Việt Nam 20-10 hằng năm, các hội nghị, đại hội đại biểu phụ nữtoàn quốc, Người đều đến dự hoặc gửi thư đến động viên, khen thưởng vàchỉ ra nhiệm vụ của phụ nữ.(Tài liệu tham khảo 12)

Muốn có phong trào phụ nữ thì phải có cán bộ nữ Người quan tâmđến việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và nhắc nhở phải đặc biệt chú ý cấtnhắc cán bộ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, nhất là các ngành hoạt độngthích hợp với phụ nữ Cán bộ nữ là mối dây nối liền giữa Đảng với quầnchúng phụ nữ, là những người tiên phong của phong trào phụ nữ

Bác tin tưởng khả năng to lớn của người phụ nữ Người nhận thấy

cán bộ nữ có nhiều ưu điểm: “ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách, mệnh lệnh như một số cán bộ nam” Những ưu điểm đó

xuất phát từ đặc điểm tâm lý, đức tính tốt đẹp của phụ nữ là cẩn thận, chuđáo, tiết kiệm trong chi tiêu, gần gũi với quần chúng Bố trí cán bộ nữ vàođúng những vị trí, chức vụ phù hợp với khả năng, chị em phụ nữ sẽ có điềukiện để phát huy năng lực của mình

Đối với cán bộ nữ, Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt, Người luônbao dung, độ lượng, thông hiểu hoàn cảnh và đặc điểm riêng của phụ nữ.Đến dự hội nghị nào, Người cũng quan tâm đến số lượng, tỷ lệ đại biểu nữ

và ân cần mời chị em lên ngồi hàng ghế đầu, động viên chị em phát biểu ýkiến Có lần đến thăm một lớp học của cán bộ huyện vào tháng 1 năm 1967,Người không hài lòng khi biết chỉ có 16 học viên là nữ trên tổng số 288

Trang 16

đồng chí Bác động viên khuyến khích kịp thời khi cán bộ nữ trưởngthành Trong bài nói chuyện nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập

Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bác nói: “Phó tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ có nước ta có vị tướng quân gái như vậy Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.(Tài liệu

tham khảo19)

Hiểu, thông cảm, động viên và khuyến khích kịp thời để cán bộ nữphát huy ưu điểm, đồng thời Bác cũng chỉ ra những thiếu sót để cán bộ nữkhắc phục Bác nhắc nhở phụ nữ phải vươn lên để bình đẳng với nam giới vềtrình độ, về năng lực quản lý kinh tế và quản lý xã hội Muốn vậy phụ nữphải cố gắng học tập, chủ động quyết tâm khắc phục khó khăn, phải tự tin,

tự lực, tự cường, không nên tự ti, “ngồi chờ Chính phủ giải phóng cho mình” Người chỉ rõ: Công bằng cho phụ nữ là sự phân công một cách hợp

lý công việc đến từng người, tuỳ theo khả năng, hoàn cảnh cá nhân và sứckhoẻ Sự bình đẳng phải được thể hiện trên mọi mặt chính trị, kinh tế, vănhoá, xã hội Bác luôn căn dặn, khi giao công tác cho phụ nữ, các cấp uỷĐảng, các ngành phải căn cứ vào trình độ của từng người và hết sức giúp

đỡ họ Người cho rằng, việc chị em phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnhđạo các cấp, các ngành là một cố gắng vượt bậc, nhiệm vụ của Đảng phảiquan tâm giúp đỡ họ thường xuyên, không phải đề bạt cán bộ nữ vào cơquan lãnh đạo cốt để đạt cơ cấu có nam, có nữ

Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ.Theo Bác, muốn giải phóng phụ nữ một cách triệt để thì phải bằng cáchình thức thích hợp đào tạo và bồi dưỡng họ trở thành những cán bộ giỏi

đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Có thể nói, Bác Hồ là hiện thânmẫu mực về sử dụng đúng cán bộ, nhất là đối với cán bộ phụ nữ Người đãkhởi công xây dựng, phát huy phong trào phụ nữ thực hiện hai nhiệm vụchiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Việcphát huy hơn nữa vị trí vai trò của các tầng lớp phụ nữ xây dựng đội ngũ cán

Trang 17

bộ phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiệnđại hóa đất nước là yêu cầu, đòi hỏi lớn Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định Nâng cao trình độ mọi mặt vàđời sống vật chất, tinh thần tiếp tục thực hiện bình đẳng giới Tạo điềukiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động,người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữtham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo vàquản lý ở các cấp, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em Bổ sung vàhoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế

độ đối với lao động nữ, kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và cáchành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Đây là nhiệm vụcủa các cấp uỷ đảng, trước hết là của người đứng đầu

Ngay trong Lời kêu gọi tại Hội nghị thành lập Đảng họp ngày 03 tháng

02 năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã xác định: “Thực hiện nam nữ bình quyền” là một trong 10 mục tiêu của Đảng khi mới vừa ra đời Và trong suốt

cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn khẳng định vị trí, vai tròcủa phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta; Người luôncăn dặn các cấp uỷ Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác vậnđộng phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ…

Và như lời Bác đã viết, cùng với sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn

hóa, pháp luật của đất nước, sự nghiệp “giải phóng phụ nữ”, “nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ngày càng thu được nhiều thành

tựu Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và hơn 20 năm thựchiện đường lối đổi mới, phụ nữ Việt Nam đã luôn vững vàng, cùng sát cánhvới nam giới nỗ lực thi đua, phấn đấu và đóng góp công sức, trí tuệ để xâydựng và bảo vệ Tổ quốc (Tài liệu tham khảo 19)

1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bất bình đẳng giới

Trong quá trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâmđến vấn đề phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Ngay từ những năm

Trang 18

đầu thành lập Đảng, trong Án nghị quyết Trung ương toàn thể hội nghị củaĐảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930) về công tác phụ nữ vận động

đã nhận định “Phải làm cho quần chúng phụ nữ lao khổ tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng của công nông, đó là điều cốt yếu nhất, nếu phụ

nữ đứng ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của công nông thì sẽ không bao giờ đạt mục đích phụ nữ giải phóng được” (Tài liệu tham khảo 19)

Thấm nhuần quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, vì thếngay từ những buổi đầu thành lập, Đảng đã khẳng định: trong một nước nửathuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam, người phụ nữ chịu nhiều tầng ápbức (áp bức của thực dân, áp bức của phong kiến), lại thêm sự phân biệt đối

xử “trọng nam khinh nữ” Do vậy, con đường giải phóng phụ nữ không thể

tách rời sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1946) quan

điểm bình đẳng nam nữ đã được ghi trong điều 9 “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”, đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về quan

điểm bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử nam - nữ Các văn bản Hiếnpháp tiếp theo (1959, 1980, 1992) đều kế thừa quan điểm bình đẳng nam - nữ

có từ Hiến pháp 1946 Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thựchiện quyền bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam

Khi nước nhà mới giành được độc lập, Việt Nam chưa hề có “phong trào nữ quyền” với các mục tiêu, đường lối như các phong trào nữ quyền

của các nước phương Tây Mặc dù vậy, người phụ nữ Việt Nam đã có đượcquyền công dân ngay sau khi đất nước được độc lập, trong đó có quyền bầu

cử Đây là một minh chứng hùng hồn cho thấy địa vị xã hội của người phụ nữViệt Nam có được sự bình đẳng với nam giới là nhờ thắng lợi của cách mạnggiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp đem lại

Trong thời kỳ đất nước đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ

nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong nghị quyết Đại hộiĐảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban bí

Trang 19

thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ.Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để

phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới Nhờ vậy, “Phụ nữ được tôn trọng và bình đẳng hơn, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càng được cải thiện Bình đẳng giới ở Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ” (nghị

quyết số 11-NQ/T.Ư của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, báo Nhân dân ngày 3-5-2007)

1.4 Các hình thức bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn

1.4.1 Bất bình đẳng giới trong quyền chủ nhà

Phụ nữ là người tiếp cận nguồn lực nhiều hơn nam giới nhưng lại ítquyền kiểm soát nguồn lực đó Việc hưởng thu nhập từ công việc cũng khôngcông bằng vì phụ nữ thường hy sinh những lợi ích vì chồng con.

Việc tiếp cận và quản lý đất đai đối với phụ nữ cũng hết sức khó khăn.Ngay giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai ghi tên cả vợ và chồng cũng chỉchiếm một tỷ lệ rất nhỏ Quyền sử dụng đất do nam giới nắm giữ đã ảnhhưởng rất lớn đến quyền quyết định của họ trong gia đình trên nhiều côngviệc quan trọng Vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn về giới đối với quyền

sử dụng đất Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất cần phải ghi tên cả vợ và chồng đối với đất chung của haingười Điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để đảm bảo bình đẳng giới vìđiều đó có liên quan tới sản xuất, thu nhập, khả năng vay vốn tín dụng, quyền

sở hữu tài sản chung cũng như an ninh cho phụ nữ và trẻ em Tuy nhiên, banăm sau khi bộ luật này được thông, Tổng cục thống kê thông báo rằng mớichỉ có 2,3% số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng

Ở nhiều gia đình, khi vợ chồng sống êm đẹp, thường người chồng đứng tên làchủ sở hữu các tài sản lớn Khi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình,đặc biệt trong khi ly hôn, ly thân hay phân chia tài sản sẽ rất khó khăn.Trong nhiều trường hợp, người chồng dành hết phần về mình vì theo pháp lý

Trang 20

họ đứng tên là người chủ, người vợ ra đi tay không và chịu nhiều thua thiệt.(Tài liệu tham khảo 18).

Mặc dù Luật Đất đai không phân biệt nam nữ, thế nhưng giấy chứngnhận quyền sử dụng đất đai trong gia đình lại phổ biến là ghi tên chồng Mặc

dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ấy không ngăn cấm quyền cùng tiếpcận và kiểm soát đất đai giữa vợ và chồng, thế nhưng trong thực tế, phần lớnngười chồng có quyền quyết định hơn cả đối với sử dụng đất đai Cho nên,trong một điều tra mới đây của Tổ chức Nông Lương thực và Chương trìnhphát triển của Liên Hiệp Quốc nhìn toàn bộ diện tích đất canh tác ở nước ta

phân loại theo giới tính (nam, nữ) của người quản lý canh tác thì: "Trung bình, đất đai canh tác do phụ nữ quản lý chỉ bằng khoảng một nửa đất canh tác do nam giới quản lý".(Tài liệu tham khảo 14).

1.4.2 Bất bình đẳng giới trong phân công lao động của gia đình

Phụ nữ sản xuất nhiều khi vất vả hơn nam giới nhưng không có tiếng nóiquyết định trong gia đình, từ việc định hướng sản xuất kinh doanh đến việc sửdụng kết quả làm ra Không chỉ thế, họ lại phải đảm nhiệm gánh nặng lao độnggia đình Trong khi thời gian sản xuất của phụ nữ cũng như nam giới, thì mỗingày họ vẫn phải làm công việc nội trợ gấp 3 lần nam giới, một thứ lao độngkhông được trả công, không được đánh giá có giá trị như lao động sản xuất

1.4.2.1 Lao động sản xuất

Lao động sản xuất là bao gồm các công việc do nam và nữ giới đảmtrách để lấy tiền hoặc công hoặc bằng hiện vật Qua khảo sát, quan hệ giữanam và nữ trong cộng đồng thoạt nhìn cũng theo kiểu truyền thống, người đànông được trông đợi là trụ cột của gia đình, được coi là ông chủ, người chịutrách nhiệm về kinh tế cho gia đình và cũng có mọi quyền hành Người vợđược kỳ vọng là đảm đang mọi công việc trong gia đình như sinh con đẻ cái,chăm sóc và nuôi dạy chúng, đồng thời lo lắng phục hồi về thể chất cho mọithành viên trong gia đình Nhưng trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đạihóa thì sự phân công lao động có sự thay đổi

Trang 21

Theo kết quả khảo sát cho thấy: Ngoài công việc nội trợ, phụ nữ cũngtham gia lao động kiếm sống như làm việc tại công sở, nhà máy, trên đồngruộng, buôn bán, chăn nuôi, làm mướn… Người phụ nữ thường chọn việcbuôn bán nhỏ vì công việc này có nhiều thời gian chăm sóc con cái, quánxuyến nhà cửa và có thể tạo ra thu nhập thêm cho gia đình Ngoài ra họ cònchăn nuôi heo, gà để tạo thêm thu nhập.(Tài liệu tham khảo 3).

Trong những gia đình làm ruộng, người vợ thường phụ giúp chồng cáccông việc như làm cỏ, bán sản phẩm, người chồng thường làm công việckiếm sống, đóng vai trò trụ cột gia đình như lao động sản xuất trên đồngruộng (cày bừa, bón phân, phun thuốc sâu, thu hoạch ), làm việc tại công sở,nhà máy…

Việc làm nhiều nghề cùng với sự đảm bảo trách nhiệm theo sự phâncông lao động xã hội – việc nội trợ đã mang lại nhiều bất lợi cho phụ nữ Đốivới những người bị buộc phải làm thêm, ngày làm việc của họ sẽ bị kéo dàihơn, đồng thời đối với những người có nghề nghiệp chuyên môn, những tráchnhiệm gia đình có thể là sự cản trở đối với tiến bộ nghề nghiệp

Người vợ vừa làm nội trợ vừa tham gia vào lĩnh vực sản xuất vì nhucầu sản xuất của xã hội, vì sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc đónggóp thu nhập vào hộ gia đình, thì trong lĩnh vực nội trợ cũng cần đến sự chia

sẽ, tuy nhiên tình hình không hoàn toàn như vậy

Kết quả phân tích ấy người vợ vẫn là người làm chính các công việcnội trợ và làm thêm các công việc lao động sản xuất khác trong gia đình như:làm ruộng, chăn nuôi, buôn bán… Đây là một lĩnh vực của đời sống gia đìnhthể hiện sự bất bình đẳng giới Người phụ nữ gắn liền với vai trò người vợ,người mẹ, người nội trợ trong gia đình, người phụ nữ phải chịu gánh nặngkép.(Tài liệu tham khảo 15)

1.4.2.2 Lao động tái sản xuất

Ở Việt Nam phụ nữ thường có vai trò đặc biệt quan trọng trong công

việc nội trợ, vừa là người thực hiện, vừa là người trực tiếp “tay hòm chìa

Trang 22

khóa” Vì vậy sự phân công lao động theo giới đưa tới việc nam là nguồn lo

động, nguồn lao động chính và nữ giới là người quản lý và thực hiện công

việc gia đình, tức là vai trò của “nội tướng”.

Đặc trưng của phân công vai trò theo giới truyền thống trong gia đình làngười chồng giữ vai trò trụ cột về kinh tế, còn người vợ làm nội trợ Trong môhình, cả hai giới đều có quan niệm chung là người phụ nữ gắn liền với vai tròngười vợ, người nội trợ Quan niệm đó cũng cho rằng công việc nội trợ là côngviệc nhẹ, không căng thẳng và điều quan trong là không có giá trị về kinh tế

Phụ nữ Việt Nam trong gia đình được trông đợi là phải sinh con, đẻ cáiquán xuyến việc nhà, cho dù chị ta có tham gia vào lao động tăng thu nhập haykhông Đó là vai trò tái sản xuất, bao gồm trách nhiệm sinh đẻ hoặc nuôi con vàcông việc nhà do phụ nữ đảm nhiệm để duy trì tái sản xuất sức lao động

Vai trò đó không chỉ bao gồm sự sản xuất sinh học mà còn bao gồm cảviệc chăm lo và duy trì lực lượng lao động (con cái và chồng đang làm việc)

và lực lượng lao động sau này (trẻ nhỏ và trẻ đang đi học)

1.4.3 Bất bình đẳng giới trong giáo dục nuôi dạy con cái

Từ ngày xưa ông cha ta đã có câu “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, người đàn ông thì ra ngoài làm, đảm nhận việc kiếm tiền nuôi gia đình,

còn người phụ nữ thì ở nhà chăm sóc, dạy bảo con cái, lo toan công việc nhà.Chính vì thế mà người vợ, người mẹ luôn gần gũi, thường xuyên tiếp xúc vớicon cái, dạy bảo chúng học hành, chăm lo cho chúng Người chồng ít quantâm đến vấn đề học hành của con cái hơn là người vợ

Trong gia đình, người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cáichủ yếu trong gia đình Những đứa con từ khi mới sinh ra đến khi trưởngthành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹhơn từ cha Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẳm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ,cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau Với việc nhận thức thông quaquá trình bé tự quan sát, học hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc biệtcác đức tính của người mẹ, đã hình thành dần dần bản tính của đứa con theo

Trang 23

kiểu "mưa dầm, thấm lâu" Ngoài ra, những đứa trẻ thường là thích bắt chước

người khác thông qua những hành động của những người gần gũi nhất, chủyếu là người mẹ

1.4.4 Bất bình đẳng giới trong ra quyết định quan trọng

Nhiều nghiên cứu cho rằng mô hình về quyền quyết định trong gia đìnhhiện nay đó là người đàn ông vẫn có quyền quyết định nhiều hơn người vợ.Mặc dù trong gia đình người vợ là người phải đảm nhận hầu hết các côngviệc, thậm chí họ còn là người mang lại thu nhập chính cho gia đình, nhưngphần lớn quyền quyết định chính thuộc về người chồng, người vợ chỉ làngười thực thi các quyết định đó Lý giải cho điều này các nghiên cứu chỉ rarằng đây là do ảnh hưởng của định kiến giới vẫn còn tồn tại trong gia đìnhnông thôn, do tư tưởng trọng nam kinh nữ, đề cao vai trò địa vị của nam giớinghiên cứu đã nghiên cứu tại các vùng nông thôn trên cả nước ở các thờiđiểm khác nhau đều chỉ ra rằng trong các công việc đã có sự bàn bạc giữa hai

vợ chồng, nhưng việc ra quyết định chính vẫn là do người chồng và định kiếngiới chính là yếu tố ảnh hưởng

Về quyền quyết định các công việc trọng đại của gia đình trong mấythập kỷ qua đã có rất nhiều tiến bộ trong gia đình Việt Nam Quyết địnhviệc học hành của con cái, hướng nghiệp, cưới xin cho con, đưa người đichữa bệnh, quyết định về các chi tiêu lớn như sửa nhà, xây nhà đã có sựbàn bạc và cùng quyết định, nhiều việc phụ nữ đưa ra cách giải quyết đầysức thuyết phục và khi thực hiện rất có hiệu quả Tuy nhiên, nếu xét tươngquan giữa vợ và chồng thì người có vai trò quyết định cá nhân chiếm tỷ lệcao thuộc về người chồng Song phải thừa nhận rằng khoảng cách giới củalĩnh vực ra quyết định là không lớn lắm, phụ nữ Việt Nam đã có bước cảithiện về địa vị rất nhiều so với trước và so với nhiều nước đang phát triểnhiện nay.(Tài liệu tham khảo 9)

Nhìn chung các công việc lớn trong gia đình, đàn ông nắm quyền quyếtđịnh nhiều hơn, nhưng vẫn bàn bạc với vợ Trong các lĩnh vực mua sắm đồ đạc

Trang 24

đắt tiền, quan hệ gia đình họ hàng và quan hệ chung của hai vợ chồng thì quyềnquyết định nhiều nhất vẫn thuộc về cả hai vợ chồng cùng quyết định, tiếp sau đó

là người chồng Người vợ vẫn là người có tiếng nói quyết định ít nhất

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyền quyết định của hai vợ chồng thìyếu tố đóp góp của người chồng cho kinh tế gia đình hầu như không ảnh hưởngđến quyền quyết định của họ Cho dù đóp góp nhiều hay ít thì quyền quyết địnhcủa người chồng hầu như không thay đổi và nếu có thay đổi thì rất ít

Tuy nhiên yếu tố này lại ảnh hưởng đáng kể đến quyền quyết định củangười vợ Đóng góp của người vợ cho kinh tế gia đình tăng thì quyền quyếtđịnh của người họ tăng, ngược lại đóng góp của người vợ giảm thì quyềnquyết định giảm.(tài liệu tham khảo 13)

1.4.5 Bất bình đẳng giới trong cách cư xử

1.4.5.1 Phụ nữ bị bạo hành gia đình

Thực trạng bạo lực phụ nữ - về cả thể xác và tinh thần - vẫn diễn ramột cách dai dẳng và công khai ở xã hội Việt Nam, đặc biệt là tại các vùngnông thôn, vùng sâu vùng xa nơi trình độ dân trí thấp kém, quyền lợi phụ nữkhông được coi trọng Gánh nặng âu lo đặt quá lên vai phái nữ - khi mà họquá ít sức lực Thói quen cho mình quá nhiều đặc quyền - trong lúc không tựgán cho mình những trách nhiệm tương đương - của đàn ông Nạn bạo lực giađình, đánh đập, uy hiếp tinh thần của người chồng với người vợ vấn diễn rahàng ngày nhưng thiếu sự can thiệp kịp thời của chính quyền và cộng đồng.(Tài liệu tham khảo 10)

Ở Việt Nam, bạo lực gia đình không phải là mới, chế độ phụ hệ, tưtưởng trọng nam, khinh nữ đã kéo theo sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và namgiới Trước đây những người phụ nữ bị hành hạ chủ yếu là sống phụ thuộcvào chồng Khi chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò của phụ nữ cũng thayđổi, song thực tế đã ghi nhận rất nhiều trường hợp phụ nữ kiếm được nhiềutiền hơn lại bị chồng đánh Theo nghiên cứu của Hội liên hiệp phụ nữ ViệtNam thì những trường hợp này chiếm 72% trong số những vụ xung đột gia

Trang 25

đình Việt Nam có đến 66% các vụ ly hôn liên quan đến bạo hành gia đình,5% phụ nữ được hỏi thừa nhận bị chồng đánh đập thường xuyên, 82% hộdân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực Tỷ lệ phụ nữ bịngược đãi trong những gia đình khá giả ở mức cao 76% (Thống kê củaViện Xã hội học, Viện KH-XH VN) - 25/02/2006

1.4.5.2 Phụ nữ bị cấm đoán

Theo quan niệm truyền thống, phụ nữ gắn liền với vai trò chăm sóc giađình, còn nam giới đảm nhận những việc lớn Quan niệm này được thể hiện

thông qua câu ngạn ngữ “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”.

Thói trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào cộng đồng dân cư Tiếng nóicủa người phụ nữ ít có trọng lượng trong việc quyết định không chỉ trongcộng đồng, dòng họ mà còn cả trong gia đình.

Thiên kiến giới tạo cho người phụ nữ có thói quen ít đứng tên sở hữucác tài sản giá trị trong gia đình

Chế độ phụ hệ là chế độ mà người phụ nữ trong gia đình không đượcnắm giữ quyền lực, quyền lãnh đạo Hầu hết mọi quyền lực đều nằm trongtay người chồng, người phụ nữ chỉ là người thực thi quyết định hoặc nếu cóthì cũng chỉ là người được tham gia một phần ý kiến

Nếp sống gia trưởng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các gia đình ở nông thôn

1.5 Các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước để giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn

1.5.1 Chủ trương, chính sách và pháp luật trên thế giới

Văn bản của Liên hợp quốc đã nói rõ: “Bình đẳng về giới là nam nữ được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau

để thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của đất nước”.

Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân

quyền quốc tế.

Trang 26

Ngày 18/12/1979, Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xửvới phụ nữ (CEDAW) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn Ngày03/9/1981, sau khi nước thứ 20 thông qua, Công ước này bắt đầu có hiệu lựcvới tư cách một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ

nữ Theo Uỷ ban CEDAW, tính đến tháng 03/2005 đã có 180 quốc gia trênthế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liênhợp quốc

Có thể nói, sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 nămđấu tranh của Uỷ ban về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW) Uỷ ban đượcthành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ.Hoạt động của Uỷ ban đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở những nơi màphụ nữ chưa được bình quyền như nam giới Kết quả của những nỗ lực vì sựtiến bộ của phụ nữ là sự ra đời một số tuyên bố và điều ước quốc tế, trong đóCEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng củaphụ nữ

Tinh thần của Công ước được xây dựng trên cơ sở các mục tiêu củaLiên hợp quốc nhằm bảo đảm nhân cách, phẩm giá và các quyền cơ bản củacon người cũng như quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Công ướckhông chỉ giải thích rõ ý nghĩa của bình đẳng mà còn chỉ ra phương thứcgiành quyền bình đẳng đó

1.5.2 Chủ trương chính sách và pháp luật ở Việt Nam

* Hiến pháp Việt Nam về vấn đề bất bình đẳng giới

Ở Việt Nam, tinh thần bình đẳng giới nói chung và trong hoạt độnglĩnh vực kinh tế nói riêng đã được thừa nhận một cách nhất quán trong nhiềuvăn bản của Đảng và Nhà nước Điều này có thể nhận thấy ở văn bản luật cơ

bản: Hiến pháp đầu tiên (1946) công bố nguyên tắc: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, đến các Hiến pháp của các thời kỳ lịch sử khác nhau (1959, 1980, 1992) Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và

Trang 27

gia đình" (Điều 63) Bộ luật Lao động (1994) là văn bản pháp luật cao nhất cụ

thể hóa những quy định của Hiến pháp và đánh dấu một bước tiến quan trọng

về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế Bộ luật ghi rõ: "Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo" (Điều 5) Tiếp theo, Nhà nước đã có nhiều

văn bản dưới luật và khác nữa (chủ trương, chỉ thị ) để thực thi trong thực tếcác quyền và sự bình quyền nam nữ trong lĩnh vực kinh tế Điều này đã tạo

cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền bình đẳng giới trong xã hộiViệt Nam

Đặc biệt, để công nhận và thực thi các quy định trong Hiến pháp thìChính phủ Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào Công ướcCedaw

* Luật Bất bình đẳng giới

Căn cứ quy định của Luật Bình đẳng giới 2006 Chính phủ Việt Nam mớiđây đã ban hành chương trình hành động quốc gia đến năm 2020 về công tácphụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Vănkiện này thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc xoá bỏ bất bình đẳng giới vàghi nhận về những đóng góp đáng kể của phụ nữ đối trong công cuộc phát triểnkinh tế - xã hội và giảm nghèo

Triển khai thực hiện luật bình đẳng giới Chính phủ tiến hành chươngtrình hành động có mục tiêu tăng cường sự phối hợp và cộng tác liên ngànhgiữa các bộ, ngành các cấp trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực và tiến bộ củaphụ nữ và đẩy mạnh hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới.Chương trình hành động này đưa ra một loạt các hoạt động do các bộ, ngànhthực hiện ở tất cả các cấp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục ở bậccao hơn cho phụ nữ, trang bị kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp để họ có thểtiếp cận thị trường lao động tốt hơn và đáp ứng được các nhu cầu của thịtrường lao động Chương trình hành động nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng

Trang 28

cao năng lực cho các cán bộ nhà nước về bình đẳng giới và lồng ghép giới,tăng cường trách nhiệm giải trình của các cán bộ nhà nước về bình đẳng giới,xây dựng các mô hình thí điểm về thực hiện bình đẳng giới tại một số địaphương, triển khai các hoạt động giáo dục và truyền thông về Luật phòngchống bạo lực gia đình và thiết lập các chỉ số nhạy cảm giới để đánh giá việcthực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực như giáo dục và đào tạo.

Ông Phạm Ngọc Tiến, Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao Động,

Thương Binh, Xã hội nói “Chương trình hành động này cũng xây dựng nền tảng luật pháp cho Bộ Lao Động, Thương Binh, Xã hội và các Bộ, ban ngành liên quan trong việc cùng nhau xây dựng Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới cho giai đoạn 2011-2020 và Chương trình Mục tiêu Quốc gia cho giai đoạn 2011-2015 nhằm giúp Việt Nam trở thành một trong các quốc gia trong khu vực có nhiều tiến bộ về Bình đẳng giới”.

Với mục tiêu thực hiện tốt hơn Luật và đảm bảo bình đẳng giới, Chínhphủ đã ban hành ba nghị định quan trọng Nghị định số 70 ngày 04 tháng 06năm 2008 cung cấp các chi tiết việc thực thi các điều khoản liên quan của LuậtBình đẳng giới Liên quan tới vấn đề này, nghị định cũng xây dựng các tráchnhiệm của các Bộ, các cơ quan cấp Bộ và các Uỷ ban nhân dân trong việc thựchiện luật cũng như cung cấp các hướng dẫn cụ thể về bình đẳng giới

Mặt khác, Nghị định số 48 ngày 19 tháng 5 năm 2008 quy định cụ thểyêu cầu, nội dung và cách thức cung cấp thông tin, giáo dục và truyền thông vềgiới và bình đẳng giới Bên cạnh đó, Nghị định này còn quy định mọi văn bảnpháp quy của trung ương và địa phương đều phải được lồng ghép giới Nghịđịnh yêu cầu phải có sự tham gia của các Bộ, ban ngành liên quan về bìnhđẳng giới trong quy trình soạn thảo các văn bản pháp quy cũng như việc thamvấn với các chuyên gia và các tổ chức hoạt động về giới Trách nhiệm của các

cơ quan liên quan trong việc đảm bảo lồng ghép giới vào các văn bản phápquy cũng được phản ánh trong Nghị định này Nghị định số 55 ngày 10 tháng

Trang 29

6 năm 2009 quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt

và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới

Mặc dù đã có khuôn khổ pháp lý nhưng quá trình thực hiện Luật Bìnhđẳng giới và Luật phòng chống bạo lực gia đình đã gặp phải một vài tháchthức, đặc biệt liên quan đến công tác xây dựng năng lực của tất cả các cơ quanliên quan về bình đẳng giới và lồng ghép giới Để khắc phục vấn đề này, Chínhphủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc đã khởi động vào tháng 03 năm ngoáiChương trình chung về Bình đẳng giới Sau mười tháng đầu thực hiện, chươngtrình chung đã giúp nâng cao nhận thức về hai luật cho cán bộ các cơ quanChính phủ và tăng cường kiến thức liên quan đến việc thực hiện, giám sát,đánh giá và báo cáo các điều luật này Lồng ghép giới cũng đã được triển khaitrong nhiều lĩnh vực và văn bản pháp quy, chẳng hạn như Điều tra lực lượnglao động và Điều tra nông nghiệp và Nông thôn Thêm vào đó, hoạt động thựcđịa trong khuôn khổ cuộc Điều tra quốc gia về sức khỏe phụ nữ và kinhnghiệm sống hiện đang được thực hiện nhằm thu thập các dữ liệu định tính

* Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Luật này quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạnnhân bạo lực gia đình; nêu lên trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổchức trong việc phòng chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật vềphòng chống bạo lực gia đình

Luật quy định các hành vi bạo lực gia đình bao gồm: hành hạ, ngượcđãi, đánh đập, có hành vi cố ý xâm hại đến sức khỏe, cô lập, xua đuổi, gây áplực về tâm lý, ngăn cản việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong gia đình…đều vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Trên cơ sở đó,

đề ra các chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình như:Nhà nước hàng năm bố trí ngân sách cho công tác phòng chống bạo lực giađình; khuyến khích các cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia tài trợ cho hoạtđộng phòng chống bạo lực gia đình, phát triển các mô hình ngăn ngừa; …

Trang 30

Ngoài ra luật còn quy định những nguyên tắc trong việc giải quyết và cácbiện pháp phòng ngừa, hỗ trợ cho nạn nhân bị bạo lực gia đình.

Như vậy, với các chủ trương, chính sách nêu trên của Nhà nước, phápluật chính là cơ sở, là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc triển khai, thựchiện việc phòng chống các vấn đề trong xã hội Đặc biệt, đối với nhân viêncông tác xã hội thì các văn bản, chính sách pháp luật này chính là công cụ,phương tiện cần thiết tác nghiệp, mà cụ thể là để giải quyết vấn đề bất bìnhđẳng giới trong gia đình ở nông thôn Qua đó, khẳng định Đảng và Nhà nước

ta đã và đang rất quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề xã hội nói chung vàvấn đề bất bình đẳng giới nói riêng hiện nay

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

Ở NÔNG THÔN TẠI XÃ NGA GIÁP, HUYỆN NGA SƠN,

TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

2.1 Tổng quan chung về xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Tổng quan chung về huyện Nga Sơn

Trang 32

Huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thanh Hóa và cách thành phố ThanhHóa khoảng 42 km, phía Bắc và Đông giáp tỉnh Ninh Bình, phía Tây giáphuyện Hà Trung, phía Nam giáp huyện Hậu Lộc Địa hình đồng bằng, thoải

từ dãy núi Tam Điệp từ Bắc xuống Nam, phía Đông giáp biển Có sông Lènchảy qua ở phía Nam của huyện

Huyện có bờ biển dài 20 km và hàng năm Nga Sơn lấn ra biển từ 80đến 100m do phù sa bồi đắp của sông Hồng và sông Đáy

Diện tích tự nhiên huyện là 144,95 km²

* Dân số

Dân số huyện Nga Sơn 142.526 người (số liệu tháng 4 năm 1999)

Vị trí huyện Nga Sơn trên bản đồ tỉnh Thanh Hóa

* Hành chính

Huyện có 1 thị trấn và 26 xã (trong đó có 8 xã vùng biển): Thị trấnNga Sơn (huyện lị) và các xã Ba Đình, Nga Vịnh, Nga Văn, Nga Thiện, NgaTiến, Nga Lĩnh, Nga Nhân, Nga Trung, Nga Bạch, Nga Thanh, Nga Hưng,Nga Mỹ, Nga Yên, Nga Giáp, Nga Hải, Nga Thành, Nga An, Nga Phú, NgaĐiền, Nga Tân, Nga Thuỷ, Nga Liên, Nga Thái, Nga Thạch, Nga Thắng, NgaTrường

Trang 33

Trong các triều Đinh, Lê, Lý, địa giới hành chính được giữ nguyên nhưthời Ðường Ðến thời Trần - Hồ bắt đầu lập huyện Chi Nga thuộc châu Ái.Thời Hậu Lê đổi tên huyện Chi Nga thành huyện Nga Giang thuộc phủ HàTrung Bước sang thời Nguyễn, đổi tên thành huyện Nga Sơn.

Trang 34

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vẫn giữ nguyên là huyện NgaSơn Năm 1977, ghép hai huyện Hà Trung và Nga Sơn, lấy tên là huyệnTrung Sơn Năm 1982, Trung Sơn lại tách ra thành hai huyện và lấy lại tên

cũ là Hà Trung và Nga Sơn

Tên gọi và địa giới hành chính huyện Nga Sơn được giữ nguyên chođến ngày nay với huyện lỵ là thị trấn Nga Sơn

2.1.2 Tổng quan chung về xã Nga Giáp

Nga Giáp là một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá

2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Xã Nga Giáp có diện tích: 6,89 km². Theo Tổng điều tra dân số năm

1999, xã Nga Giáp có dân số 5.857 người.

Xã Nga Giáp nằm ở phía bắc huyện Nga Sơn Địa giới hành chính như sau:

+ Phía Đông giáp các xã Nga An và Nga Thành;

+ Phía Nam giáp các xã Nga Hải, Nga Yên và Nga Trường;

+ Phía Tây giáp xã Nga Thiện;

+ Phía Bắc giáp các xã Nga Thiện và Nga Điền

Năm 1977, huyện Nga Sơn sáp nhập với huyện Hà Trung thành huyệnTrung Sơn, xã Nga Giáp thuộc huyện Trung Sơn Năm 1982 huyện TrungSơn chia tách thành hai huyện như cũ, xã Nga Giáp lại thuộc huyện Nga Sơn

Trang 35

Xã Nga Giáp ngày nay gồm các làng (thôn)

STT Tên thôn/xóm/ấp/khu phố Mã bưu chính

2.1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội

* Tình hình dân số và lao động của xã Nga Giáp

Tính đến ngày 31/12/2008 toàn xã có 5068 nhân khẩu với 1381 hộ.Dân số xã Nga Giáp phân bố không đều ở các thôn tập trung đông nhất ở khuvực trung tâm xã

Những năm qua dưới sự chỉ đạo của cấp Đảng Ủy, chính quyền xã, kếhoạch hóa gia đình được tuyên truyền một cách tích cực nên tỉ lệ sinh giảm,hạn chế sinh dày và sinh con thứ ba Tỉ lệ sinh tự nhiên năm 2007 giảm0,72% so với năm 2005

Mặc dù mức sinh đã giảm nhưng kết quả chưa thật vững chắc, tỉ lệ tăngdân số tự nhiên còn cao, từ đó kéo theo nhiều sức ép về việc làm, đời sống, y tế,văn hóa, giáo dục, trật tự xã hội cũng như vấn đề sử dụng đất, đây là thách thứclớn đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong sự phát triểnchung của xã hội

Về lao động, có thể nói xã Nga Giáp có nguồn lao động khá dồi dào,song chất lượng lao động chưa thật cao, lao động phổ thông chiếm đa số, laođộng qua đào tạo chiếm tỉ trọng nhỏ và thường chỉ được đào tạo ngắn hạn,chưa cơ bản Hiện nay xã Nga Giáp có nhiều nghề được đưa vào nhằm giảiquyết các lao động lúc nông nhàn nên tình trạng đi nơi khác làm ăn chiếm tỉ

Trang 36

lệ thấp, việc chất lượng lao động còn nhiều vấn đề mà địa phương cần phảikhắc phục

Bảng 2.1.1: Tình hình dân số và lao động của xã Nga Giáp (2006 – 2008)

SL (ha)

CC (%)

SL (ha)

CC (%)

SL (ha)

nông nghiệp Người 222 4,47 232 4,62 234 4,63 104,5 100,86 102,67

(Nguồn: Ban thống kê xã Nga Giáp)

* Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Nga Giáp

Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế nói chung, xã Nga Giáp

đã có những bước phát triển nhất định, được thể hiện ở các chỉ tiêu như cơcấu kinh tế của xã trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướngtiến bộ, tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch

vụ tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân là 13,87%, lương thực bìnhquân đầu người tăng, tỉ lệ đói nghèo giảm Mặc dù đã có sự phát triển nhấtđịnh nhưng nhìn chung còn chậm, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội còn thấp hơnmức trung bình của toàn tỉnh

Bảng 2.1.2: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Nga Giáp(2006 – 2008)

Trang 37

(Nguồn:Ban thống kê xã Nga Giáp)

2.2 Thực trạng bất bình đẳng giới hiện nay

2.2.1 Thực trạng bất bình đẳng giới trên thế giới

Cuối thế kỷ XX, các quốc gia đều đạt các thành tựu quan trọng vềphát triển con người Nhưng đem so sánh chỉ số phát triển giữa nam và nữ,chúng ta nhận thấy rằng sự phát triển năng lực của phụ nữ ở tất cả các quốcgia còn thấp hơn nam giới, đặc biệt tại các quốc gia chậm phát triển

Trên thế giới, nhất là những năm gần đây, xã hội đã có nhận thức caohơn về tầm quan trọng của bất bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế Điềunày điển hình ở sự ra đời và hoạt động của ILO (Tổ chức Lao động thế giới),trong sự cố gắng chung của Liên Hợp Quốc ILO được thành lập năm 1919nhằm bảo vệ quyền của người lao động, bảo vệ họ và tích cực cải thiện điềukiện làm việc cho họ ILO chú ý đến quyền có cơ hội lao động như nhau,quyền được trả lương bình đẳng (cho công việc như nhau), quyền tự do laođộng không phân biệt giới tính ILO quan tâm đến lao động nữ, coi bình đẳng

về cơ hội và đối xử giữa nam và nữ là nguyên tắc chỉ đạo chính sách củamình vì sự tiến bộ của phụ nữ Tinh thần này được thể hiện ở các chuẩn mựclao động quốc tế và lao động nữ trong hàng trăm công ước và khuyến nghị

của ILO Trong đó, nổi bật là “Tuyên ngôn về bình đẳng cơ hội và đối xử đối với nữ lao động, Nghị quyết về kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng về cơ hội và đối xử lao động nữ (1975), Nghị quyết về bình đẳng

cơ hội và đối xử giữa nam và nữ trong lao động (1985), Kế hoạch hành động

Trang 38

nhằm đạt được sự bình đẳng về cơ hội và đối xử giữa nam và nữ trong lao động (1987) ”(Tài liệu tham khảo 19).

Liên Hợp Quốc được thành lập năm 1945 và ngay trong Hiến chươngcủa mình, quyền bình đẳng giới được thể chế hóa như một nhân quyền cơbản Đặc biệt Bản Tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu của Liên Hợp Quốc(1948), từ điều 22 đến điều 27, đã công nhận quyền bình đẳng nam nữ trongnhiều mặt của hoạt động kinh tế Sáng kiến của Liên Hợp Quốc về năm quốc

tế phụ nữ (1975), thập kỷ dành cho phụ nữ (1976 - 1985), nhất là phê chuẩnCông ước về việc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ(1979) là một bước tiến mới về bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới

trong lĩnh vực kinh tế nói riêng Công ước quy định "Mọi quốc gia sẽ phải thực hiện biện pháp thích hợp loại bỏ phân biệt đối xử đối với phụ nữ trên lĩnh vực việc làm để đảm bảo trên cơ sở bình đẳng của phụ nữ với nam giới, những quyền như nhau đặc biệt là quyền bình đẳng về thù lao kể cả tiền trợ cấp và đối xử bình đẳng khi làm việc như nhau, cũng như việc đối xử bình đẳng trong đánh giá chất lượng công việc" (Điều 11) Hội nghị thế giới (1985) nhằm đánh giá kết quả của thập kỷ dành cho phụ nữ đã đưa ra "Chiến lược Nairobi” tiến lên phía trước vì sự tiến bộ, một lần nữa biểu hiện ý chí

chung của xã hội cho bình đẳng giới Ở chiến lược này, nhiều mục tiêu cụ thể

về bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế đã được nêu ra.(Tài liệu tham khảo 19)

Báo cáo phát triển thế giới 2006 - “Công bằng và phát triển” - do Ngân

hàng Thế giới xuất bản tháng 9 năm 2005 đã nhấn mạnh đến sự công bằng về

cơ hội và việc tạo ra sân chơi bình đẳng về kinh tế và chính trị cho mọi người

dân Ngân hàng Thế giới có số liệu và đưa ra kết luận rằng: "Chưa có nơi nào trên thế giới phụ nữ được bình đẳng với nam giới về các khía cạnh luật pháp,

xã hội và kinh tế" Những khác biệt về cơ hội trong cuộc sống giữa các quốc tịch,

màu da, giới và nhóm xã hội được coi là sự bất công cơ bản Đề cập đến côngbằng, Báo cáo này cho rằng, các cá nhân cần có cơ hội như nhau để theo đuổicuộc sống như họ đã chọn và phải tránh được những kết cục cùng khổ… Các

Trang 39

thể chế và chính sách tăng cường một sân chơi bình đẳng, trong đó tất cả cácthành viên xã hội đều có cơ hội như nhau để trở thành những tác nhân tích cực

về mặt xã hội, có ảnh hưởng về mặt chính trị và có năng suất cao về mặt kinh tế,

sẽ góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển bền vững

Hiện nay trên thế giới về tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực tronglĩnh vực kinh tế vấn đề giới, hơn nữa bất bình đẳng giới, mang tính phổ biến:

Một là, bất bình đẳng giới nhiều nhất ở nông thôn, trong kinh tế nông nghiệp thì nguồn lực kinh tế hàng đầu là ruộng đất "ở nhiều nước, phụ nữ còn chưa có quyền độc lập trong việc sở hữu đất đai, quản lý tài sản, điều hành kinh doanh ở nhiều nước châu Phi vùng Hạ Sahara, phụ nữ có được quyền

về đất đai chủ yếu thông qua người chồng, chừng nào hôn nhân của họ còn tồn tại, và sẽ mất ngay quyền đó khi ly dị hoặc chồng chết" .

Hai là, nói chung, do học vấn thấp hơn, hạn chế trong đào tạo nghề mà

lao động nữ trong gia đình và xã hội (doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh )tiếp cận các công cụ lao động kém kỹ thuật hơn, các đối tượng lao động kémhiện đại và ít giá trị hơn nam giới

Ba là, vốn là yếu tố quan trọng của hoạt động kinh tế, thế nhưng phần

lớn phụ nữ không được quyền quyết định vốn sản xuất, vay vốn ngân hàng

khó hơn nam giới, thậm chí có những quốc gia “kể cả ở Mỹ” ), chỉ có chồngchứ người vợ không được quyền vay vốn ngân hàng

Bốn là, sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận các nguồn lực hoạt động

kinh tế sẽ còn tồn tại lâu, thậm chí khoảng cách giới còn tăng lên, trong tiến

trình của nền kinh tế mà cơ sở là chế độ sở hữu tư nhân, hơn nữa "luật pháp

và tập quán địa phương thường hạn chế quyền tiếp cận của phụ nữ đối với đất đai" Tổ chức Ngân hàng Thế giới đã khái quát khá đầy đủ bức tranh về hiện tại và tương lai của vấn đề đang bàn trên thế giới như sau: "Phụ nữ vẫn tiếp tục một cách có hệ thống có ít dần khả năng đòi hỏi hàng loạt những loại nguồn lực sản xuất như giáo dục, đất đai, thông tin và tài chính Ở châu

Á, phụ nữ có số năm đi học trung bình chỉ bằng nửa của nam giới và tỷ lệ

Trang 40

nhập học của bé gái ở cấp trung học chỉ bằng hai phần ba tỷ lệ đó ở các bé trai Khi có thể có đất đai, phụ nữ thường đòi phần sở hữu của mình ít hơn nam giới Và ở phần lớn các khu vực đang phát triển, các doanh nghiệp do phụ nữ điều hành thường thiếu vốn, khó tiếp cận đến các nguồn lực như máy móc, phân bón, thông tin và tín dụng hơn các doanh nghiệp do nam giới điều hành".(Tài liệu tham khảo 7).

Năm là, tiếp cận nguồn lực hoạt động kinh tế đã như vậy, thì việc kiểm

soát (tức quản lý, chi phối ) lại càng bất bình đẳng Điều này là hậu quả củaviệc lao động nữ hạn chế về chuyên môn và trong nghề lao động, nhất là lạichiếm tỷ lệ rất ít trong vị thế xã hội có khả năng quản lý, chi phối các yếu tố,các khâu hoạt động kinh tế: chủ gia đình, giám đốc doanh nghiệp, thủ trưởng

cơ quan kinh tế và tổ chức sản xuất kinh doanh

2.2.2 Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, Việt Nam đã có những cố gắng và bước đầu đãđạt được những thành tích tốt trong thúc đẩy bình đẳng giới Việt Nam đãđược thế giới công nhận là nước đi đầu trong khu vực có sự quan tâm, thúcđẩy bình đẳng giới, tuy nhiên vẫn còn nhiều việc phải làm để thực sự đạtđược bình đẳng giới giữa nam và nữ Mặc dù xếp hạng thứ 42 trong số 128quốc gia về thực hiện bình đẳng giới, nhưng Việt Nam lại đứng thứ 103 về cơhội học tập và thứ 91 về sức khỏe và an sinh (World Economic Forum,2008) Điều này nói lên rằng, vấn đề giới nói chung và vấn đề giới trong giađình ở Việt Nam vẫn cần nhiều sự quan tâm cả ở khu vực thành thị và nôngthôn nhưng ở khu vực nông thôn nhận thức về giới còn kém và bất bình đẳng

về giới còn tồn tại nhiều hơn Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng nhogiáo và những định kiến giới, những hủ tục lạc hậu, những tàn dư phongkiến, thể hiện rất rõ đó là tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn rất nặng nềtrong gia đình là tế bào của xã hội và trong suy nghĩ của nhiều người Phụ nữthường thụ động trước các quyết định có liên quan vấn đề dân số: số con,khoảng cách sinh, nuôi dạy con cái; các vấn đề về học tập, về công việc, việc

Ngày đăng: 18/04/2015, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thị Quý. Vấn đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La, Lai Châu.Xã Hội Học Số 1(85), 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La, Lai Châu
3. Lê Tiêu La, Lê Ngọc Hùng. Vấn đề giới trong kinh tế hộ - tìm hiểu phân công lao động nam nữ trong gia đình ngư dân ven biển miền trung . Xã Hội Học số 3(63), 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giới trong kinh tế hộ - tìm hiểu phâncông lao động nam nữ trong gia đình ngư dân ven biển miền trung
4. Giáo sư Lê Thi. "Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam".NXB Phụ nữ, Hà Nội (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Phụ nữ
5. GS. Phạm Tất Dong, Ts. Lê Ngọc Hùng, Phạm Văn Quyết, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Bá Thịnh - Xã Hội Học - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn – NXBQG Hà Nội (2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã Hội Học
Nhà XB: NXBQG Hà Nội (2000
6. Mai Huy Bích, Xã hội học gia đình. Nhà xuất bản khoa học xã hội - Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội -Viện Xã hội học
7. Ngân hàng thế giới, Đưa vấn đề giới vào phát triển, 385 trang, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa vấn đề giới vào phát triển
Nhà XB: Nhà xuấtbản Văn hóa-Thông tin (2001)
8. Nguyễn Khắc Việt, Từ điển Xã Hội Học. Nhà xuất bản Hà Nội (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã Hội Học
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội (1994)
9. Phạm Đình Thái, Vai trò của phụ nữ trong phát triển, Đại học Mở bán công xuất bản (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ trong phát triển
10. PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến trong tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại”, Nhà xuất bản thống kê, (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Gia đình và những vấnđề của gia đình hiện đại”
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
11. Phạm Văn Quyết, Ts Nguyễn Quý Thanh. Phương pháp nghiên cứu xã hội học. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia(2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xãhội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia(2001)
12. Quản Hoàng Linh. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về giải phóng phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới - Theo Báo Giáo dục và Thời đại (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về giải phóng phụnữ và vấn đề bình đẳng giới
13. Tác giả Phạm Thị Huệ - Viện Gia đình và giới với bài “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam”. Qua điều tra ở Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền lực củavợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam”
14. Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh và tiến sĩ Lê Ngọc Hùng. "Phụ nữ, giới và phát triển"; NXB Phụ nữ, Hà Nội (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và pháttriển
Nhà XB: NXB Phụ nữ
15. ThS. Nguyễn Thị Nguyệt, nghiên cứu viên Tạp chí Quản lý Kinh tế. Đề tài “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách
16. Trần Thị Vân Anh. Đóng góp kinh tế của chồng và vợ. Viện gia đình và giới - nghiên cứu gia đình và giới số 5, (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp kinh tế của chồng và vợ
17. TS Chu Bích Thu, PGS TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh, TS Phạm Hùng Việt “Từ điển Tiếng Việt Phổ Thông”, Viện Ngôn ngữ học, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển Tiếng ViệtPhổ Thông”
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
18. Vũ Tuấn Huy. Những vấn đề của gia đình việt nam trong quá trình biến đổi xã hội theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa . Xã Hội Học số 2(94), 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của gia đình việt nam trong quá trình biếnđổi xã hội theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thực trạng bình đẳng giới trong nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.1:  Tình hình dân số và lao động của xã Nga Giáp (2006 – 2008) - luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.1.1 Tình hình dân số và lao động của xã Nga Giáp (2006 – 2008) (Trang 36)
Bảng 2.2.2: Người quyết định đi vay tiền ở bên ngoài Người quyết định đi - luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2.2 Người quyết định đi vay tiền ở bên ngoài Người quyết định đi (Trang 50)
Bảng 2.2.3:  Người quyết định sử dụng số tiền vay ở bên ngoài Người quyết định sử dung - luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2.3 Người quyết định sử dụng số tiền vay ở bên ngoài Người quyết định sử dung (Trang 51)
Bảng 2.2.6: Ai là người tham gia các buổi tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng thủy hải sản - luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2.6 Ai là người tham gia các buổi tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng thủy hải sản (Trang 53)
Bảng 2.2.5: Ai là người tham gia các buổi tập huấn về kỷ thuật trồng trọt Ai là người tham gia các buổi - luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2.5 Ai là người tham gia các buổi tập huấn về kỷ thuật trồng trọt Ai là người tham gia các buổi (Trang 53)
Bảng 2.2.7: Ai là người đại diện trong nhà đi họp tổ dân phố Ai là người đại diện trong nhà - luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2.7 Ai là người đại diện trong nhà đi họp tổ dân phố Ai là người đại diện trong nhà (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w