1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI - NHẬN ĐỊNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ XU THẾ ĐẦU TƯ 2008-2009

30 384 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng Hoảng Tài Chính Thế Giới - Nhận Định Kinh Tế Việt Nam Năm 2008 Và Xu Thế Đầu Tư 2008-2009
Trường học Vietnam National University, Hanoi
Chuyên ngành Economics
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ trong một thời gian ngắn Phố Wall đã không còn một Ngân hàng đầu tư nào Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế Mỹ đồng thời cũng ảnh h

Trang 1

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI - NHAN ĐỊNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2008

& XU THẾ ĐẦU TƯ 2008 - 2009

Trang 2

A KHỦNG HOÀNG TÀI CHÍNH MỸ

Sự suy yếu của nền kinh tế Mỹ đã

kéo theo cuộc Keg hoảng tài

chính được cho là tôi tệ nhất từ

cuộc khủng hoảng 1929 Chỉ trong

một thời gian ngắn Phố Wall đã

không còn một Ngân hàng đầu tư

nào

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế Mỹ đồng thời cũng ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế các nước khác đặc biệc là các nước Châu

Âu Cuộc khủng hoảng đã khiến phố Wall không còn một Ngân hàng đầu tư nào chỉ hơn một tuần, sức lan tỏa của nó không chỉ

ở Mỹ ma da bat đầu tác động tới hệ thống Ngân hàng Châu Âu

trong đó gần đây nhất là việc Chính phủ các nước Hà Lan, Bỉ và Luxembourg đã phải ra tay cứu Ngân hàng Fortis, Chính phủ

Anh tiếp quản Bradford & Bingley (B&B) Để hiểu rõ hơn cuộc

khủng hoảng này chúng tôi xin sơ lược những nét chính của

cuộc khủng hoảng cũng như những tác động của nó đến nền

kinh tế nước ta

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ

Nauyer nhân chính là các Ngân

hàng cắp tín dụng gi rẻ cho vay

mua BĐS dưới chuẩn và sự

khuyéch dai tin dụng từ việc

chứng khóan hóa các khỏan nợ

BĐS

Thống kê sơ bộ thì năm 2002,

doanh số cho vay dưới chuan

cung cấp cho thị trường khoảng

200 tỷ USD, năm 2003 la 320 ty,

năm 2004 là 550 tỷ, năm 2005 —

200 con số này đạt gần 700 tỷ

USD hàng năm, chiếm khoảng

25% thị phần cho vay thé chấp

mua nhà tại Mỹ Điều đó cho thấy

rằng khoản cho vay dưới chuẩn

đã tăng lên mot cach nhanh

chóng, gần 250% ở giai đoạn từ

năm 2002 đến 2006

Mọi việc bắt đầu hé dần ra vào cuối năm 2006 và đầu năm

2007, khi mà thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và

sụt giảm giá trị, dẫn đến 1 cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ

cấp tại Mỹ Đây được cho là nguyên nhân chủ quan đến từ phố

Wall, xuất phát từ giấy tờ chứng khoán phái sinh

Đầu tiên từ những người có nhu cầu mua nhà nhưng lại không

đủ điều kiện tài chính, tuy nhiên họ lại được tài trợ bởi các khoản

nợ dưới chuẩn, được gọi là khoản vay cầm cố từ tài sản hình

thành từ vốn vay của khách hàng có hạng mức tín dụng thấp (subprime mortgages) Vấn đề không phải chỉ dừng lại ở đó, các khoản nợ này lại là cơ sở để hình thành các sản phẩm chứng khoán phái sinh, phổ biến là chứng khoán có bảo chứng từ khoản vay thế chấp bất động san (mortgage backed securities - MBS) và chứng khoán dùng giấy nợ bảo đảm (collateralized debt obligations - CDO)

Với dòng vốn giá rẻ hình thành do FED tiến hành cắt giảm lãi suất xuống ở những mức thấp kỹ lục nhằm thức đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ Giới đầu tư tại phố Wall đã hình thành nên một hệ thống mua bán giấy tờ phái sinh đầy rủi ro và phức tạp này Từ

sự phát triển nhanh chóng của thị trường cho vay nhà ở, các nhà đầu tư (các ngân hàng, công ty bảo hiểm ) mua lại các khoản thế chấp này (mortgages), sau đó được chứng khoán hóa

thành các MBS, CDO, và chúng được chia thành phần chính và

phần phụ Các chứng khoán này được các tổ chức tín dụng xếp hạng AAA cho phần chính, và từ AA đến BB cho phần phụ

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tự 2008 ~ 2009 Page 2

Trang 3

Những nhà đầu tư nào chấp nhận mạo hiểm với mức rủi ro cao nhưng đồng thời cũng muốn được hưởng lợi cao thì chọn phần

phụ, ngược lại nha đầu tư nào bảo thủ thì mua phần chính Cũng chính sự đa dạng này là động lực để kích thích sự bùng

nổ của hoạt động này Tại thời điểm đầu năm 2007, các chứng khoán này được ước tính có giá trị 3000 - 4000 tỉ USD, và chúng được bán cho giới đầu tư Số liệu cho thấy chúng chủ yếu được mua bởi các ngân hàng và công ty bảo hiểm

Từ chính các yếu tố trên đã đẩy thị trường bất động sản Mỹ lên cao một cách nhanh chóng Đồng thời để đối phó với những dấu

hiệu lạm phát, FED đã tiến hành cho tăng lai suất từ 1,25% năm

2004 lên đến 5% vào mùa hè năm 2006 Điều này càng gây áp

lực lên người mua nhà không đủ khả năng để trả nợ, và làm giảm bớt số lượng người mua nhà mới Quả bong bóng nhà đất tại Mỹ bắt đầu phình to từ giai đoạn năm 2000 kéo dài đến

khoảng giữa năm 2007 Sau đó bắt đầu giảm mạnh vào năm

2007 cho đến nay Giá nhà đất hiện nay đã trở nên sụt giảm nghiêm trọng, chỉ còn 20% (so với 100% tính từ đầu năm 2007) Khủng hoảng thực sự bắt đầu khi người vay mua nhà không thế trả được khoản nợ, họ bị tịch thu tài sản Làn sóng tịch thu nhà lan rộng, chỉ tính đến tháng 5 -2007 lượng tịch thu tăng 90% so

với cùng kỳ năm 2006

Điều này cũng dẫn đến tài sản của các ngân hàng đầu tư - mà phần lớn hình thành từ tài sản đã chứng khoán hóa - bỗng chốc trở nên giảm mạnh Vòng xoáy luẩn quẩn để giảm tỷ lệ nợ khiến các tổ chức tài chính đẩy mạnh bằng cách bán tháo các MBS,

họ lại càng làm giá trị của các MBS này giảm sâu hơn, nó dẫn

đến tỷ lệ nợ càng thêm xấu

Những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ

hàng loạt các vụ phá sản và tiếp

quản của các tên tuổi lớn trong giới

đầu tư đã diễn ra từ đầu năm đến

nay như: ngân hàng đầu tư Bear

Stearn, Lehman Brothers, Merrill

Luynch và các tổ chức kinh doanh

BDS Fannie Mae và Freddie Mac

đồng thời đẩy nhiều tổ chức khác

cũng vào bờ vực nguy

Sau đó đã lan rất nhanh sang châu

Âu Trong hệ thống tài chính toàn

cầu, biên giới quốc gia không có quá

nhiều ý nghĩa

ảnh hưởng lớn nhất là các tổ chức tài chính Tính đến tháng 9

năm 2008, các tổ chức này đã công bố khoản lỗ là 510 tỷ USD

Mức sụt giảm tiềm năng là 2.400 đến 3.200 tỷ USD (tức mất 80% từ tổng giá trị các tài sản 3.000 - 4.000 ty USD từ chứng

khoán phái sinh nói trên)

Tiếp đến là các nạn nhân mua nhà không có khả năng chỉ trả Thống kê trên toàn nước Mỹ thì vào cuối tháng 8 - 2008 có

khoảng 272 nghìn ngôi nhà bị tịch thu, tăng 55% so với cùng kỳ

năm 2007 Tình trạng này đưa đến doanh thu giảm trong lĩnh vực địa 6c, kim ham tăng trưởng ngành xây dưng

Nhận định kinh tế VN_ 8 cơ hội đầu tư 2008 ~ 2009 Page 3

Trang 4

Khủng hoảng ở Phố Wall khiến cả doanh nghiệp trong các lĩnh vực phi tài chính ở Mỹ cũng đieu đứng theo Thống kê của Standard & Poor's cho thấy từ đầu năm nay cho tới ngày 9/9 đã

có 57 công ty lớn của Mỹ lâm vào cảnh vỡ nợ (không tính các vụ phá sản theo quy định của pháp luật Mỹ), với tổng số nợ lên tới 43,5 tỷ USD, so với mức 22 công ty vỡ nợ trong cả năm 2007 Trong số 57 công ty này, có 45 công ty không nằm trong ngành tài chính Trong thời gian tới, số vụ vỡ nợ sẽ còn gia tăng vì có

tới 70% doanh nghiệp phi tài chính ở Mỹ đang có mức xếp hạng

tín nhiệm dưới mức đầu tư

Với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của các nền kinh tế,

mà trong đó đầu tàu là Mỹ với kim ngạch nhập khẩu chiếm tỷ trọng 20% toàn thế giới, và GDP chiếm khoảng 25% cả thế giới

(GDP Mỹ năm 2007 là 13.843 tỳ USD, GDP thế giới là 54.311 tỷ

USD) Sự phá sản của các tập đoàn lớn ở Mỹ dẫn đến việc

giảm tổng lượng tiêu dùng nội địa, kéo theo sự trì trệ thêm cho nền kinh tế Mỹ và các nước liên quan

Tốc độ lan rộng của khủng hoảng Chỉ trong vòng hai ngày 29-

30/9, đã có 4 ngân hàng lớn ở châu Âu được chính phủ can thiệp để thoát khỏi bờ vực của sự sụp đổ

au thang chin, Fortis - ngân hàng lớn nhất tại Bỉ - thông báo lợi nhuận quý 2 giảm tới 49% do thâm hụt tài sản trong lĩnh vực đầu

tư tín dụng Ngày 28/9, chính phủ 3 nước Bỉ, Hà Lan và

Luxembourg bom cho Fortis 11,2 ty USD

Cùng chung số phận với Fortis là ngân hàng Bradford & Bingley, ngân hàng cho vay địa ốc lớn nhất của Anh Lượng nợ xấu nói

chung của ngân hàng này trong 6 tháng đầu năm đã tăng lên mức 74,6 triệu Bảng so với mức 5,3 triệu Bảng cùng kỳ năm

ngoái Trong khi đó, lượng tiền gửi tiết kiệm của khách trong ngàn hang này cũng chỉ nhiều hơn một nửa so với dự nợ cho vay

Ở Đức, ngân hàng cho vay địa ốc lớn thứ hai ở nước này là

Hypo Real Estate Holding AG cũng đã nhận được khoản vay

khẩn cấp từ Chính phủ, sau khi có tin cho hay tập đoàn này có thé phá sản Chính phủ Pháp và Bỉ giải cứu thêm một ngân

hàng lớn của châu lục là Dexia, nâng số lượng ngân hàng lớn

Nhận định kinh tế VN & cơ hội dau tu 2008 — 2009 Page 4

Trang 5

Dow Jones (U.S.A)

S & P 500 (U.S.A) Nasdaq (U.S.A) Kospi (Korean) Nikkei 225 (Japan) FTSE 100 (England) KLSE (Malayxia)

Strait Tes (Sing)

TSEC (Taiwan) JKSE (Indonexia) Hang Seng (HK)

VN-Index (Vietnam)

SSE (Shanghai)

của châu Âu được chính phủ can thiệp trong vòng hai ngày 29

và 30/9 lên tới con số 4

Bảng: Số liệu chỉ số chứng khoán, giá vàng, đầu trên thế giới

13,264.82 1,468.36 2,652.28 1,853.45 14,691.41 6,456.90 1,445.03 3,482.30 8,506.28 2,745.83 27,560.52 927.02 5,261.56

11,543.55 1,282.83 2,367.52 1,474.24 13,072.87 5,636.60 1,100.50 2,739.95 7,046.11

2,165.94 |

21,261.89 |

539.1 |:

2,397.37 803.2 839.66 89.76 111.83

(Nguồn: Tổng hợp từ Yahoo finance, Kitco và ElA)

-1.20% -1.00%

829.93 110.69

chức Tài chính quốc tế là người có lời

từ chính cuộc khủng hoảng này

Nếu nhận định này đúng thì khủng hỏang

tài chính Mỹ không phải là khởi đầu cho

một căn bệnh trầm kha mà là một cao trào của một nền kinh tế Mỹ vừa dứt cơn bạo bệnh và bắt đầu cho tiến trinh phục hồi trong vòng 1 - 2 năm

Nếu nhận định này đúng thì ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế VN có

đổi của thị trường chứng khoán Mỹ vẫn ít hơn các thị trường

khác Giá vàng sau một thời gian tăng cao thì cũng bắt đầu có

giảm dần trong lúc xảy ra khủng hoảng, cũng tương tự đồng

đôla so sau một thời gian dài mất giá so với đồng euro, thì từ tháng 3/2008 đã bắt đầu tăng lại Như vậy, vấn đề này cần chú

ý ở điểm, trong lúc cao trào của cuộc khủng hoảng Mỹ thì các biểu hiện chưa cho tháy ra đồng USD bị mát giá, cùng với đó là

việc không xảy ra tình trạng giá vàng sẽ tăng do được người

dân mua vào để tránh khỏi sự mắt giá của USD

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tự 2008 — 2009 Page 5

Trang 6

Một cách nhìn khác, ai sẽ là người có lời từ chính cuộc khủng hoảng này? Phải chăng chính là chính phủ Mỹ và một số tổ

chức Tài chính quốc tế với việc tiếp quản các tổ chức tài chính hùng mạnh hàng đầu thế giới với giá thấp như Fannie Mae và Freddie Mac, IndyMac Bancorp, và chiếm 80% cổ phần của AIG Đằng sau của đợt nắm giữ này còn là các hợp đồng, giấy

tờ bất động sản mà các tổ chức đang kinh doanh Như vậy, chính phủ Mỹ chấp nhận bỏ tiền ra để mua lại các công ty này

và gánh các khoản nợ đó, bù lại họ lại được nắm quyền và một khối lượng đáng kể tài sản của các công ty này với giá rất thấp

Không như cuộc khủng hõang năm 1929 — 1931 mà người thiệt hại phần lớn là lớp cư dân trung bình của Mỹ Trong cuộc khủng

hỏang này bắt đầu từ năm 2006 đến nay thì phần thiệt hại từ nguồn vốn đầu tư nước ngòai là rất lớn, có thể chiến tới 60% -

70% vốn đầu tư vào Mỹ Từ năm ngoái, khi quả bong bóng cho vay địa ốc tan vỡ, các quỹ tài chính nhà nước ở châu Á cũng

như các nước xuất khẩu dầu và tài nguyên đã tìm cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình Trái phiếu chính phủ Mỹ không còn hấp dẫn, do Fed liên tục cắt giảm lãi suất, lạm phát Mỹ tăng cao, và đồng đô la không ngừng mắt giá Họ bắt đầu mua cổ phần lớn trong các tổ chức tài chính phương Tây như

Blackstone (CIC của Trung Quốc mua) và UBS, Citigroup, Merrill Lynch (GIC và Temasek của Singapore mua) Trước đây, các công ty nhà nước nhự Dubai Ports World, hay CNOOC và

các công ty truyền thông của Trung Quốc đã nỗ lực mua "tài sản cứng" ở Mỹ Điều này cho thấy sự sụp đỗ của các ngân hàng đầu tư gây ra thiệt hại rất lớn cho các nguồn đầu tư từ các quốc gia Châu Á này

Quan sát cũng cho thấy rằng, không những chính phủ Mỹ mà còn còn khá nhiều các tổ chức lớn Tài chính quốc tế khác đã tranh thủ lúc thị trường suy thoái để nhảy vào thâu tóm các tổ chức đang bị suy yếu Đó là:

e Bank of America bỏ ra 4 tỷ USD mua lại ngân hàng cho

vay thế chấp Countrywide Financial

e JP Morgan Chase mua lại ngân hàng đầu tu Bear

Stearns voi gid chi 2 USD/cỗổ phiếu

e Bank of America mua lai ngan hang dau tu Merrill Lynch với giá 50 tỷ USD

e Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu

tóm hoạt động của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông Mitsubishi UF.J Financial đồng ý mua 20% cổ phần

Morgan Stanley

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 ~ 2009 Page 6

Trang 7

e _ Tập đoàn Berkshire Hathaway của Warren Buffett bỏ ra

5 tỷ USD nắm 9% cổ phần Golaman Sachs

e Washington Mutual Inc (WaMu) duge co quan bảo

hiểm tiền gửi liên bang Mỹ FDIC tiếp quản và sau đó

được bán lại cho JP Morgan Chase với gia 1,9 tỷ

USD

Nhiều tập đoàn khác cũng thay đổi thành mô hình đa năng chứ không chỉ là ngân hàng đàu tư nữa như: Goldman Sachs,

Morgan Stanley Đây chính là những gì đã xảy ra đằng sau bề

nổi cuộc khủng hoảng hiện nay tại Mỹ Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng sau cuộc khủng hoảng này, không phải hoàn toàn ai cũng bị thiệt hại, và tiếp sau các sự kiện trên thị trường sẽ dần xuất hiện các siêu tập đoàn đa chức năng cùng với khối lượng tài sản nắm giữ khổng lồ

Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến Việt Nam

Tăng trưởng xuất khâu các tháng quý 3

trong khi giá các nguyên liệu thô

trên thị trường thế giới đang giảm,

kể cả khi không có khủng hoảng ở

My

Dòng vốn FDI vào BĐS và vốn gián

tiếp vào TTCK sẽ giảm không chi vi

nguồn vốn gap khó khăn mà có thể

vì cơ hội đầu tư vào BĐS Mỹ đang

rộng mở nếu phân tích theo nhận

định thứ 2 về khủng hỏang tài chính

Mỹ

Khủng hoảng tài chính Mỹ vẫn còn nhiều khó khăn nhưng nhìn chung cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ không tác động trực tiếp

đến hệ thống tài chính Việt Nam vì chưa có định chế tài chính

nào của Việt Nam đầu tư vào chứng khoán bất động sản cũng

như các cổ phiếu của các tổ chức tài chính Mỹ

Xuất khẩu sụt giảm Hiện nay Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta

(chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu) do đó khi sức cầu của thị trường này giảm sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch xuất khẩu

của nước ta Tổng mức sụt giảm xuất khẩu qua các tháng trong

quý 3 năm nay -18,21%, cao nhất so với mức sụt giảm tương ứng của các năm trước đó, năm 2006 giảm -3,44%, 2007 giảm - 10,52% Mức độ ảnh hưởng này sẽ nhiều hay ít không chỉ phụ thuộc vào sức khỏe của nền kinh tế Mỹ mà còn phụ thuộc vào

kế hoạch ứng phó với những khó khăn của các doanh nghiệp trong nước trong đó có việc tìm kiếm cơ hội ở những thị trường xuất khẩu mới và nhiều tiềm năng

Dòng vốn FDI vào lĩnh vực bất động sản - du Iịch và vốn đầu tư gián tiếp vào TTCK có ảnh hưởng theo hướng giảm

Về các dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam được cho là có thể ảnh hưởng gián tiếp Mỹ hiện là một trong 10 nước đầu tư

lớn nhất vào Việt Nam Về dòng vốn FDI có thể dễ bị tác động

do nguồn vốn vay từ Ngân hàng quốc tế bị hạn chế và nguồn vố

của công ty mẹ gặp khó khăn, đặt biệt là các dự án quy mô lớn

Trong đó những dự án BĐS quy mô lớn với nguồn vốn dài hạn

bị tác động mạnh nhất vì rõ ràng thị trường này sẽ gặp khó khăn

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 ~ 2009 Page 7

Trang 8

khi giới thu nhập cao đang bị thiệt hại về tài chính khó đầu tu vào biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp tại các nước như VN Ngoài ra thị trường BĐS Mỹ đang có giá thấp và hứa hẹn phục hồi trong

1 - 2 năm tới sẽ thu hút đầu tư hơn Ngoài ra nguồn vốn đầu tư vào các dự án thép quy mô lớn cũng sẽ gặp nhiều khó khăn vì giá nguyên liệu này đang giảm mạnh

Về nguồn vốn gián tiếp, TTCK Việt Nam quy mô nhỏ nên không quá bị ảnh hưởng Tuy nhiên sự kỳ vọng dòng vốn đầu tư nước

ngoài đổ vào mạnh là khó xảy ra trong giai đọan hiện nay, bởi vì

triển vọng TTCK Việt Nam chưa thể tăng mạnh trong khi cơ hội đầu tư vào thị trường các nước phát triển khi mà giá chứng khoán đã bị sụt giảm và có khả năng tăng lại khi tình hình tài chính đã vượt qua khó khăn Khả năng sinh lời trong các thị

trường này khá hấp dẫn hơn VN trong giai đọan này

B KINH TẾ VN 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2008

Chi tiêu kinh tế 9 tháng 2008

FDI thực hiện (tỷ usd) 8,1 +37,3

công nghiệp — xây dựng giảm do

chính sách thắt chặt tiền tệ chống

lạm phát của Chính Phủ

Sau một thời gian dài tăng trưởng kinh tế ổn định và mạnh mẽ, bước sang năm 2008 nền kinh tế nước ta bắt đầu bộc lộ những

yếu kém Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm sau cao hơn năm trước,

các báo cáo nhận định lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam, nguồn vốn nước ngoài vẫn tiếp tục ồ ạt đổ vào nước ta, những

sự so sánh Việt Nam là “một Trung Quốc” mới, một con rồng

hay con hổ của Châu Á có lẽ đã khiến chúng ta chủ quan,

không lường trước được những khó khăn của nền kinh tế sau

một giai đoạn tăng trưởng nóng Khôóng thể phủ nhận những thành quả to lớn mà nước ta đã đạt được trong thời gian qua,

nhưng sự lạc quan sớm khiến chúng ta có những chính sách đối

phó chậm hơn so với diễn biến của nền kinh tế, hậu quả là từ

những nhận định lạc quan ban đầu đã chuyển thành những lo ngại về một cuộc khủng hoảng sẽ xảy ra trong năm 2008,

Tuy nhiên có thể nói những giải pháp quyết liệt và đúng hướng của Chính phủ đã dần phát huy tác dụng Chúng ta vấn chưa thể chủ quan với những khó khăn của nền kinh tế tuy nhiên diễn biến trong những tháng gần đây cho chúng ta cơ sở để hy vọng vào tình hình kinh tế sẽ tiếp tục ổn định trong những tháng cuối năm 2008 và triển vọng kinh tế 2009

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 ~ 2009 Page 8

Trang 9

xăng trong quý 1 và 2 Tuy nhiên

trong quý 3 đã hạn chế được giá lương thực thực phẩm và giá dầu trên thế giới giảm Điều này cho thấy CPI và cuối năm sẽ ổn định

PPP PEI LSE LAH

Trong 9 tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 6,52% Nguyên nhân tăng trưởng chậm lại này chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng chậm lại của khu vực sản xuất

công nghiệp - xây dựng cũng như khu vực dịch vụ Sự hy sinh

mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm 2008 sẽ dành cho những mục tiêu cấp bách hơn đó là kiềm chế lạm phát, nhập siêu, giải quyết những khó khăn của hệ thống tài chính, ngân hàng

khu vực sản xuất công nghiệp - xây dựng có mức tăng chậm

nhất so với năm trước, Nguyên nhân là giá nguyên vật liệu, lãi suất ngân hàng vẫn ở mức cao khiến cho các doanh nghiệp gặp

nhiều khó khăn trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh

doanh và đầu tư Bên cạnh đó sức ép cạnh tranh của hàng

nhập khẩu tiếp tục gia tăng sau khi mức thuế nhập khẩu các mặt hàng điện tử, thực phẩm chế biến giảm xuống theo lộ trình gia nhập WTO Ngành dịch vụ là khu vực tăng trưởng cao nhất trong 9 tháng đầu năm 2008 với mức tăng 7,23%, tuy nhiên

vẫn thấp hơn so với mức tăng 8,54% của cùng kỳ năm 2007 Riêng khu vực nông lâm ngư nghiệp mặc dù gặp khó khăn

chung của nền kinh tế tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của ngành này đạt mức tăng trưởng 3,57% cao hơn so với mức tăng 3,02%

Sau những tháng đầu năm tăng mạnh có thể nói CPI là mối lo của cả nền kinh tế, tuy nhiên những giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính Phủ đã khiến tình hình CPI trong quý 3 đã sáng sủa hơn rất nhiều Bên cạnh đó giá cả lương thực thực phẩm trong nước được kiểm soát tốt hơn, dầu và nguyên liệu sản xuất trên thế giới giảm khá mạnh cũng là những nhân tố thuận lợi góp phần kìm hãm đà tăng giá trong quý 3

Hiện nay lương thực, thực phẩm chiếm đến 42,B% trong rổ tính

CPI của nước ta do vậy xu hướng giảm của nhóm mặt hàng

này trong quý 3 là dấu hiệu tích cực Nhưng CPI trong quý 3 vẫn

chịu tác động nhiều bởi các đợt tăng giá xăng dầu của Chính

phủ Đợt tăng giá xăng dầu thêm 31,03% vào ngày 21/07 đã

khiến CPI tháng 8 tăng them 1,56% so với tháng 7, kéo CPI

tháng 8 tăng đến 28,32% so với tháng 8.2007 Tuy nhiên 2 đợt giảm giá xăng dầu sau đó với mức giảm mỗi đợt là 1.000 VNDIIit, cùng với đợt phát động tháng khuyến mãi trong tháng 9

đã khiến CPI tháng 9 đạt mức rất thấp, với mức tăng chỉ có

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 — 2009 Page 9

Trang 10

Chỉ sô Giá tiêu cùng

CAN CAN THUONG

Nhập khẩu tăng mạnh, tuy nhiên

đã từng bước điều chỉnh giảm vào

Quý 3 Nguyên nhân tăng là do giá

xăng dầu và sắt thép tăng mạnh

trong quý 1 và 2 và đã giảm mạnh

Điện tứ, máy tinh va LK _”” 2.65

May nóc, thi bị Tamers 10 50

từ tháng 3 năm 2007, với những chuyển biến tích cực của CPI

cho thấy tình hình lạm phát trong nước da được kiểm soát tốt hơn, tạo cơ sở cho sự ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm 2008

MẠI

Trong 9 tháng đầu năm 2008, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa

ước tính đạt 64,4 tỷ USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ năm trước,

trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 43 tỷ USD, tăng 53,1%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 21,4 tỳ USD, tăng 39,5% Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong 9 tháng

đầu năm vẫn là máy móc, thiết bị, nguyên liệu chủ yếu phực vụ

sản xuất Với nền kinh tố trong đó phần lớn nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu thì việc tăng giá nguyên !iệu thế giới đã có tác động rất lớn tới nền kinh tế trong nước, đặc biệt là những mặt hàng

thiết yếu như xăng dầu, sắt thép và phân bón Giá dầu thế giớ

liên tục đứng ở mức cao đã khiến kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này tăng đến 82,9% (đạt giá trị 9,75 tỷ USD) trong khi đó sản lượng nhập khẩu chỉ tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2007

Nhập khẩu sắt thép đạt 5,7 tỷ USD, tăng 68,1% về giá trị và

27,8% về lượng; nhập khẩu phân bón đạt 1,28 ty USD, tăng 100,9% về giá trị và 4% về lượng

Trong những tháng đầu năm việc kiềm chế giá xăng dau, sat

thép và phan bón đã có tác dụng rất lớn đối với việc kiềm chế lạm phát trong nước Nhưng việc kiềm giữ giá trong một thời gian dài cùng với xu hướng giá thế giới đang tăng mạnh đã khiến cho việc xuất khẩu lậu xăng dầu, phân bón cũng như việc

xuất khẩu theo đường chính ngạch mặt hàng sắt thép cũng tăng

lên Trong khi nhu cầu trong nước lại đang tăng mạnh thì việc xuất khẩu ngược trở lại những mặt hàng này trở thành những nghịch lý của nền kinh tế những tháng đầu năm Với những khó khăn của nền kinh tế cũng như hàng loạt các dự án phải đừng hoặc giản tiến độ thực hiện đã khiến những mặt hàng nhập

khẩu tăng mạnh trong những tháng đầu năm như ôtô và sắt

thép tiếp tục xu hướng giảm xuống khá mạnh Trong đó lượng Oto nguyên chiếc nhập khẩu tiếp tục giảm 26,3% về lượng và 55,3% về giá trị so với tháng 8

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 — 2009 Page 10

Trang 11

Xuất khdu tang mạnh trong quý 2

có nguyên nhân giá dầu thô và

nông sản tăng Tuy nhiên trong

Quý 3 đã có xu thế giảm vì giá các

cả nước trong tháng 9 đạt khoảng 5,3 tỷ USD, tăng 39,4%, đưa kim ngạch 9 tháng đạt gần 48,6 tỷ USD, tăng 39% so với cùng

kỳ năm trước Trong đó mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước lên tới trên 44% và khu vực đầu tư nước ngoài là 28,1% Các mặt hàng như dầu thô, dệt may, giày dép,

thủy sản, gạo vẫn là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Trong đó riêng mặt hàng dầu thô chiếm đến 18,12% tổng kim ngạch xuất khẩu

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 9 tháng đầu năm là rất cao tuy nhiên nếu nhìn vào cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, cũng như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở một số mặt hàng thì đang chứa đựng

những vấn đề đáng lo ngại như hàng hóa có giá trị gia tăng còn thấp, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào các mặt hàng như khoáng sản

(dầu thô, than đá), nông lâm thủy hải sản Trong khi đó các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính chủ yếu vẫn mang tính chất gia công Về thực chất,

cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua.chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu; chủ yếu

dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác

được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành

công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành

chuỗi giá trị gia tăng lớn

Mặc khác sự tăng trưởng khá của những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn chủ yếu lại do một nguyên nhân khách quan là giá thế giới tăng Theo thống kê, phần lớn các mặt hàng

có kim ngạch xuất khẩu lớn đều tăng giá đáng kể: dầu thô tăng

60%, gạo tăng 50%, than đá tăng 55%, cao su tăng 30%

Trong khi đó, những yếu tố cơ bản của tăng trưởng xuất khẩu như lượng hàng hóa sản xuất ra, cơ cấu mặt hàng, mở rộng thị trường thì chưa có những thay đổi đáng kể Bên cạnh những mặt hàng có tăng trưởng kim ngạch đáng kể thì một số mặt hàng (kể cả mặt hàng chủ lực) chững lại và giảm tốc: thủy sản, sản phẩm nhựa, dây và cáp điện, dệt may, than đá, cà phê, sản phẩm gỗ, cao su, hàng thủ công mỹ nghệ

Trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm, Mỹ là thị

trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta với 8,5 tỷ USD, tăng

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tự 2008 ~ 2009 Page 11

Trang 12

17%; tiếp theo là Asean đạt 8,4 tỷ USD, tăng 42%; EU đạt 7,8 tỷ USD, tăng 21% Như vậy Mỹ và EU tiếp tục là những thị trường

xuất khẩu chủ lực của nước ta Với những khó khăn từ kinh tế

Mỹ và EU sẽ khiến nhu cầu ở các thị trường này sụt giảm trong thời gian tới Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 9 đang có dấu hiệu chững lại và đi xuống cho thấy kim ngạch xuất khẩu trong những tháng còn lại sẽ gặp nhiều khó khăn

cán cân thanh tóan và khủng hỏang Bên cạnh lạm phát thì nhập siêu trong những tháng đầu năm là

kiệm sóat hạn chế ướt nh p khẩu vấn đề đáng lo ngại của nền kinh tế Tuy nhiên, những khó khăn

Ôto, vật liệu XD, cũng như đây mạnh nay đã dần có những cải thiện, nhập siêu từ gần 2,8 tỳ

nên quý 3 đã tương đài đạt cân bằng USDhháng ở quí | đã hạ xuống gần 2t USD quý II, đến quý iN can can thanh téan mức nhập siêu bình quân/tháng tiếp tục giảm mạnh với 504 triệu

USD/tháng Như vậy tổng nhập siêu 9 tháng đầu năm là 15,72

tỷ USD, mặc dù tốc độ tăng đã giảm mạnh tuy nhiên nhập siêu

9 tháng năm 2008 đã gần gấp đôi so cùng kỳ năm 2007

60 ' nhập khẩu như hạn chế nhập khẩu ôtô, linh kiện ôtô, vàng

am | Ỉ | | cùng với những chính sách kiểm soát nguồn ngoại tệ dành cho

~ i aa nhập khẩu, tiết giảm tiêu dùng và cắt giảm đầu tư cũng tác động

om | TT 11⁄9 ðn ĐC đến việc giảm nhập khẩu của các doanh nghiệp Bên cạnh đó aœ¿ việc đón đầu xu hướng tăng giá để nhập khẩu chờ thời điểm

tăng giá như trong tháng 4/2008 đã được kiểm soát chặt chế

hơn Ngoài ra một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng 7 đã gia tăng giá trị như dầu thô tăng 52% về kim ngạch, gạo tăng gấp đôi về kim ngạch, các sản phẩm khác như linh kiện máy tính, đồ

gỗ, dệt may đều tăng trên 20% Xu hướng các mặt hàng xuất

khẩu chủ lực giảm giá trong tháng 9 đã ảnh hưởng nhất định đến nhập siêu của nước ta trong tháng 9

FDI, Fil, KIEU HO! VA ODA

FDI đăng ký tăng rất mạnh trong năm FDI vẫn tiếp tục tăng, nhưng giải ngân thấp so với đăng

2008 tạo ra sự lạc quan về kinh tế VN ký

thu hút nhà đầu tư nước ngòai Tuy Trong những tháng đầu năm khi nền kinh tế gặp phải những khó

không cao hơn năm 2007, và nhiều an, uỗn được nhạc n như là điểm s ng cua nên kin

dấu hiện cho thắp việc giải ngân khó tế, sự khẳng định niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với

tăng trong các tháng cuối năm nền kinh tế nước ta, sự hấp dẫn của nền kinh tế đối với nhà đầu

tư Trong tháng 9/2008 cả nước tiếp tục có 113 dự án đầu tư

nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 9,9 tỷ USD,

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 ~ 2009 Page 12

Trang 13

tích cực là thu hút ngọai tệ, tăng

trưởng kinh tế Tuy nhiên mặt hạn

chế là sử dụng tài nguyên lớn, ít tạo

việc làm và phát triển công nghiệp

địa phương Qua phân tích cho thấy

các dự án này sẽ khó giảm ngân

nhiều như đã đăng ký

nâng tổng số dự án cấp mới từ đầu năm đến 22/09/2008 của cả nước lên 885 dự án với tổng số vốn đăng ký 56,3 tỷ USD Như vậy nếu tính cả 855,7 triệu USD vốn đăng ký bổ sung của dự án được cấp phép các năm trước thì tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ đầu năm đạt 57,1 tỷ USD, tăng gấp 5 iần so với cùng kỳ năm 2007 Tuy nhiên tổng vốn FDI thực hiện chỉ đạt 8,1

tỷ USD, bằng 14,2% vốn đăng ký và tăng 37,3% so với 9 tháng

bởi vì mệt khi nguồn FDI bị suy giảm sẽ gây ra những khó khăn

cho nguồn ngoại tệ bù đắp cho thâm hụt thương mại Bên cạnh

đó các công ty nước ngoài tạo ra xuất khẩu thì họ cũng tạo ra nhập khẩu, tính chung 9 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu

của các doanh nghiệp FDI (không kể đầu thô) đạt 17,8 tỷ USD,

trong khi đó kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 21,4 tỷ USD

Mặc khác theo báo cáo của Cục Thuế TPHCM trong năm 2008 còn khoảng 60% doanh nghiệp nước ngoài đóng tren địa bàn

thành phố báo cáo lỗ, nhiều dự án FDI đã bị rút giấy phép đầu

tư do chậm trễ trong việc triển khai dự án, từ đó cho chúng ta

cái nhìn thận trọng hơn đối với nguồn vốn này

Cơ cấu FDI trong 9 tháng đầu năm tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp gồm 484 dự án với 32,3 tỷ USD, chiếm 54,68%

số dự án và chiếm 57,48% tống vốn đăng ký; khu vực dịch vụ

361 dự án với 23,7 tỷ USD, chiếm 40,7% số dự án và chiếm

42,15% tổng vốn đăng ký; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 40 dự án, chỉ chiếm 0,37% tổng vốn đăng ký

Với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp

có thể thấy cơ cấu FDI đầu tư cho khu vực nông, lâm nghiệp còn rất thấp (chiếm 0,37%), trong khi đó cơ cấu FDI tập trung vào bất động sản và gần đây là các dự án lớn đầu tư vào ngành thép đang tăng len Nhìn chung với tiềm năng của ngành bất động sản còn lớn như hiện nay trong khi năng lực về vốn của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế thì việc các dự án lớn

đố vào bất động sản là hoàn toàn dễ hiểu tuy nhiên trong thời gian qua các dự án rất lớn đầu tư vào ngành thép bởi những tập

đoàn nước ngoài chưa có kinh nghiệp trong ngành này, thậm

chí cả những tập đoàn tiềm lực tài chính còn bị hoài nghi thì

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tư 2008 — 2009 Page 13

Trang 14

và nhà máy luyện kim Âm Hà 788

của tập đoàn Formosa Tĩnh ,

(Dai Loan)

Đv nnhà nấy lớcđỀU Nghiệm 6

Dy án khu đồ thị mới

Phú Yên của Tập đoàn Phú Yên 43

New City (Brunei)

Khu du lịch Hỗ Trâm

của Tập doin Asian Ba Ria 423

Coast Development Ving Tau

(Canada)

Dự án Nhà máy lọc Ba Ria -

đầu Long Sơn Vũng Tàu 3.77

Dự án khu đô thị đại

hoc Berjaya Leisure

của công ty Berjaya TP.HCM 3,5

Flf giảm trong năm 2008 và

dự kiến khó tăng trong các

đang có giá rẻ và triển vọng

thu lợi lớn sau † — 2 năm

những lo ngại về tính khả thi của các dự án này là hoàn t

cơ sở

Nếu như trước năm 2007, chỉ có 15% tổng vốn đăng ký và động sản thì từ năm 2007 trở lại đây vốn FDI đăng ký vào động sản là khoảng 30%, tăng hai lần so với trước Quy mé

án đầu tư lớn và tỷ trọng đầu tự vào bất động sản đã bất ‹

gây ra những lo ngại đối với nguồn FDI lớn đang đố vào nước

Trên thực tế FDI vào bất động sản gia tăng sẽ dẫn đến như c

nguyên vật liệu được nhập khẩu cũng sẽ tăng lên, lam tar gánh nặng đối với nhập siêu Thêm nữa, các dự án bất độn:

sản hiện nay cũng chỉ tập trung vào phân khúc thị trường cac

cấp, trong khí nhà ở cho người có thu nhập trung bình và thu

nhập thấp vẫn đang còn thiếu Tuy nhiên nếu nhìn ở khía cạnh ngược lại, với nền kinh tế mà nội lực còn yếu như nước ta, cơ sở

hạ tầng còn chưa phát triển thì nguồn FDI vào lĩnh vực bất động sản sẽ có những tác động tích cực đối với nền kính tế, không thể phủ nhận vai trò của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển du lịch trong nước, thu hút đầu tư, tạo ra việc làm cho

người lao động

Như vậy nếu nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh những nguy cơ mà nguồn vốn FDI tạo ra cho nền kinh tế thì rõ rằng những cơ hội to lớn mà nó tạo ra cho nền kinh tế như nguồn vốn

bổ sung cho thăm hụt thương mại, giúp các doanh nghiệp trong

nước tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tiếp cận với thị trường thế giới, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động có vai trò rất quan trọng Vấn đề quan trọng nhất đối với chúng ta

không phải là hạn chế nguồn vốn FDI mà là phân bố đầu tư vào

dau, khi nao dé dam bảo tính cân bằng, bền vững và đúng quy

hoạch

Fll vẫn trong khả năng kiểm soát nhưng có dấu hiệu

giảm Cũng giống như FDI, FlI là nguồn vốn nước ngoài đổ vào nước

ta, tuy nhiên nếu FDI thường được coi là nguồn vốn đầu tư dài hạn thì Fli thường đề cập đến như nguồn vốn đầu tư ngắn hạn

và phải làm thế nào để quản lý tốt nguồn vốn này Sự phát triển

của thị trường tài chính, chứng khoán Việt Nam trong 2 năm gần đây và đặc biệt là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên WTO

có tác động rất lớn trong việc thu hút Fil của nước ta, đưa Việt

Nam trở thành một trong những thị trường hấp dẫn của dòng vén Fil chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Năm 2007, dòng vốn Fll

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tự 2008 ~ 2009 Page 14

Trang 15

Cam hết và giai ngần ODA

Kiều hối vẫn là nguồn thu

ngọai tệ quan trọng do quy

mô nền kinh tế VN còn nhỏ

Tuy nhiên do ảnh hưởng của

khủng hoảng nên lượng kiều

hối sẽ khó tăng, thậm chí có

xu thế giảm

ODA năm 2008 đã có sự tiến

bộ về giải ngân Tuy nhiên do nguồn ODA năm 2008 thấp hơn nhiều so với năm 2007 nên tổng vốn giải ngân năm

2008 thập hơn 2007

đạt từ 6-6,5 tỷ USD, tăng gấp 5 lần so với nắm 2006 Những

tháng đầu năm 2008, với những khó khăn của tình hình kinh tế

cũng như sự sụt giảm liên tục của thị trường chứng khoán, dòng vốn Fll sụt giảm rất mạnh, việc bán ra trái phiếu chính phủ với

giá thấp đã khiến cho những lo ngại về khả năng về sự rút vốn ồ

ạt tuy nhiên với việc kiểm soát chặt chẽ nguồn ngoại tệ cũng

như lượng dự trữ ngoại hối hiện nay khoảng 20,7 tỷ USD đã xóa

bỏ những nghỉ ngại về khả năng thiếu hụt ngoại tệ nếu lượng vốn này rút khỏi nước ta

Kiều hối và ODA ổn định tuy nhiên nguồn kiều hối sẽ khó tăng theo kỳ vọng

Theo số liệu của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài lượng kiều hối năm 2007 đạt mức 5,5 tỷ USD, tăng 1 tỷ USD so với

năm 2006 Vụ quản lý ngoại hối thuộc Ngân hàng Nhà nước cho

biết lượng kiều hối chuyển về nước trong 6 tháng đầu năm đạt gần 3,5 tỷ USD, xu hướng này sẽ tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm và dự kiến lượng kiều hối chuyền về nước nắm

2008 có thể đạt tới 8 tỷ USD Nguyên nhân lượng kiều hối có sự tăng trưởng mạnh là do thời gian qua nước ta đã có nhiều chính sách thông thoáng hơn về quản lý ngoại hối và ưu đãi cho Việt kiều, trong đó có việc khuyến khích Việt kiều về nước đầu tư và cho phép họ mua nhà tại Việt Nam, bên cạnh đó lãi suất huy động USD tại Việt Nam cao hơn nên nhiều Việt kiều đã chọn hình thức gởi tiết kiệm Do lượng kiều hối hàng năm là tương đối

ổn định và dễ dự đoán hơn nên nó có vai trò quan trọng đối với nguồn bổ sung cho thâm hụt thương mại mỗi năm cũng như bổ

sung cho nguồn dự trữ ngoại hối trong nước

Trong những năm gần đây, cam kết và giải ngân ODA của nước

ta không ngừng tăng len Năm 2006, cam kết ODA cho Việt

Nam đạt 3,75 tỷ USD, giải ngân đạt 1,8 tỷ USD Trong khi đó

năm 2007 cam kết ODA tiếp tục tăng len đạt 4,45 tỷ USD và giải ngân đạt 2 tỷ USD Tính đến 23/09/2008, tổng vốn ODA ký kết đạt 1,826 tỷ USD, trong đó vốn vay đạt 1,642 tỷ USD; vốn viện

trợ không hoàn lại đạt 184 triệu USD Giải ngân vốn ODA 9

tháng đầu năm nay (bao gồm cả vốn được ký kết trước 2008)

đạt 1,415 tỷ USD, bằng 74,5% kế hoạch năm, trong đó vốn vay

đạt 1,227 tỷ USD, vốn viện trợ không hoàn lại đạt 188 triệu

USD

Nhận định kinh tế VN & cơ hội đầu tự 2008 ~ 2009 Page 15

Ngày đăng: 04/04/2013, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w