Theo Luật nhân quyền quốc tế, người bị tước tự do là một khái niệm rất rộng bao gồm tù nhân, những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, quản chế, cấm cư trú… Mục đích của các biện pháp như b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ THỊ NHÀN
QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO -
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Tạ Thị Nhàn
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO 11
1.1 Khái niệm quyền của người bị tước tự do 11
1.1.1 Người bị tước tự do 11
1.1.2 Quyền của người bị tước tự do 14
1.2 Ý nghĩa việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do 21
1.2.1 Góp phần bảo đảm quyền con người 21
1.2.2 Là một trong các tiêu chí xác định Nhà nước pháp quyền 22
1.2.3 Góp phần phát triển văn minh của nhân loại 23
1.3 Nội dung quyền của người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế 25
1.3.1 Quyền sống 27
1.3.2 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục 29
1.3.3 Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện 30
1.3.4 Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do 30
1.3.5 Quyền được hưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên 31
1.4 Cơ chế bảo đảm quyền của người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế 32
1.4.1 Cơ chế quốc tế 32
1.4.2 Cơ chế khu vực 38
1.4.3 Cơ chế quốc gia 41
Trang 4Chương 2: VIỆT NAM VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ
TƯỚC TỰ DO 43
2.1 Sự phát triển các quyền của người bị tước tự do trong pháp luật Việt Nam 44
2.1.1 Từ năm 1945 đến năm 1974 44
2.1.2 Từ năm 1975 đến nay 46
2.2 Nội dung các quyền của người bị tước tự do theo pháp luật Việt Nam 49
2.2.1 Quyền của người bị tước tự do theo pháp luật Việt Nam 49
2.2.2 Tước tự do trong lĩnh vực hành chính theo pháp luật Việt Nam so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan 58
2.3 Thực tiễn việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam 62
2.3.1 Hạn chế 68
2.4 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam 73
2.4.1 Một số phương hướng hoàn thiện 73
2.4.2 Hoàn thiện pháp luật 76
2.4.3 Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị tước tự do 83
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- ACHPR: Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc, 1981
(African Charter on Human and Peoples’ Rights);
- ACHR: Công ước châu Mỹ về quyền con người, 1969 (American convention
on Human rights);
- CAT: Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo,
vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984 (Convention against Torture and
Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment);
- CEDAW: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt dối xử với phụ nữ,
1979 (Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination
against Women);
- CRC: Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of
the Child);
- ECHR: Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản, 1950
(The European Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms);
- ECOSOC: Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (The United Nations
Economic and Social Council);
- ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966 (International
Covenant on Civil and Political Rights);
- ICJ: Tòa án công lý quốc tế, (Internatinonal Court of Justice);
- ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, 1966
(International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights;
- NGOs: Các tổ chức phi chính phủ (non-governmental organizations);
- NHRIs: Các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền (National
Institution on the Protection and Promotion of Human Rights);
- UDHR: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, 1948 ((Universal Declaration of
Human Rights);
- UNCHR: Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc (The United Nations
Commission on Human Rights);
- UNHRC: Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc (The United Nations Human
Rights Council);
- UPR: Cơ chế Đánh giá Định kỳ toàn thể (Universal Periodic Review);
- WGAD: Nhóm công tác về giam giữ tùy tiện của Liên hợp quốc (Working
Group on Arbitrary Detetion);
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các quyền tiêu biểu của người bị tước tự do theo các tiêu chuẩn
quốc tế về nhân quyền 25 Bảng 1.2 Điểm khác biệt giữa hai cơ chế quốc tế về bảo đảm quyền của
người bị tước tự do 37 Bảng 2.1 Các nhóm đối tượng bị tước tự do ở Việt Nam hiện nay căn cứ
theo tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế 49 Bảng 2.2 So sánh các quy định về quyền của người bị tước tự do trong pháp
luật Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan 50 Bảng 2.3 Quy mô giam giữ của 11 nhà tạm giữ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 64
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào thời kỳ cổ đại, người ta tin rằng có những người sinh ra để làm nô lệ và thân phận nô lệ là thích hợp và chính đáng cho họ Đối với những người này việc có một người chủ tốt là may mắn và tốt đẹp Đến thời phong kiến tầng lớp nô lệ đã không còn tồn tại trong xã hội Tuy nhiên vẫn còn những tầng lớp, giai cấp khác cho mình quyền áp bức, bóc lột các giai tầng còn lại Trải qua bao năm đấu tranh với bao mất mát, khổ đau, cho đến thời điểm hiện nay, nhân loại toàn thế giới đã công nhận:
“Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu” (trích Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948) Trong thời đại ngày nay, nhân quyền trở thành vấn đề mang tính quốc tế, giá trị quyền con người đã được nhìn nhận ở tất cả các quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ Bất kỳ ai trên thế giới này không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, giới tính…đều được hưởng những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong luật quốc tế về nhân quyền Tuy vậy, cuộc đấu tranh cho nhân quyền vẫn tiếp diễn đầy cam go, quyết liệt Vẫn còn những kẻ lợi dụng nhân quyền để vi phạm nhân quyền Vẫn còn đó tình trạng người bóc lột người, phân biệt chủng tộc, kỳ thị dân tộc, tôn giáo… Hơn nữa vẫn còn nhiều người không biết mình có những quyền gì và làm thế nào để thực hiện các quyền đó, làm thế nào để bảo vệ các quyền đó khi bị vi phạm?
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, với biết bao cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Vì vậy chúng ta hiểu rõ hơn ai hết giá trị của độc lập, tự do, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc Tư tưởng nhân quyền ở Việt Nam đã có từ rất lâu và được thể hiện trước hết qua những ý niệm và hành động khoan dung, nhân đạo Trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi với tinh thần “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” đã thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân quyền của Việt Nam Trong những năm qua Đảng
và Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong phạm
Trang 8vi quốc gia cũng như đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh vì nhân quyền của nhân loại Thể hiện ở việc Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản pháp luật tương đối đầy đủ và khá tương thích với luật pháp quốc tế về nhân quyền Đồng thời cũng đã có một cơ chế bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng
Tuy nhiên cũng như các nước khác trên thế giới, hiện nay Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức về quyền con người, trong đó nổi bật lên vấn đề về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương Nhóm người dễ bị tổn thương là những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người Bởi vậy cần chú ý bảo vệ đặc biệt so với các nhóm khác Những người bị tước tự do là một trong số nhóm người dễ bị tổn thương, họ là tất cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất kỳ hình thức nào, các tự do chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường Theo Luật nhân quyền quốc tế, người
bị tước tự do là một khái niệm rất rộng bao gồm tù nhân, những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, quản chế, cấm cư trú… Mục đích của các biện pháp như bắt, tạm giữ, tạm giam…là để đảm bảo cho các cơ quan tư pháp, hành chính thực hiện được tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật Các biện pháp này cũng nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên những biện pháp này khi
áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người Đặc biệt là trong hoạt động của các cơ quan tư pháp và người có thẩm quyền thực hiện trong các cơ quan nếu không cẩn thận sẽ rất dễ dẫn đến vi phạm nhân quyền Những điều
đó xảy ra là do chưa có quy định cụ thể để hạn chế sự lạm quyền của cán bộ công chức nhà nước, các cơ quan công quyền, và việc quy định như hiện tại có nhiều kẽ
hở dễ bị lách luật; cán bộ công chức nhà nước chưa được đào tạo cơ bản về tôn trọng, bảo vệ quyền con người Bên cạnh đó, cơ chế thực thi quyền của nhóm người bị tước tự do vẫn còn chưa hoàn thiện cũng như cơ chế kiểm soát việc thực thi còn nhiều hạn chế Do đó, để góp một phần bảo đảm hơn nữa về quyền con
Trang 9người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng, tác giả chọn đề tài :
“Quyền của những người bị tước tự do – lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá toàn diện các quy định, văn kiện quốc tế về bảo vệ quyền của người bị tước tự do cũng như việc nội luật hóa và áp dụng chúng vào thực tiễn Việt Nam Tác giả đưa ra một số phương hướng đề hoàn thiện pháp luật về quyền của nhóm người bị tước tự do và giải pháp để thực thi một cách hiệu quả các
quyền ấy trong thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bởi tầm quan trọng của vấn đề, hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến như:
“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” do trung tâm
nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội đã đề cập tới quyền của người bị tước tự do theo luật quốc tế về nhân quyền Cuốn sách đã làm rõ một số nội dung như quyền của nhóm là gì? Tầm quan trọng của việc thừa nhận và bảo đảm các quyền của nhóm Cuốn sách cũng đưa ra định nghĩa nhóm người dễ bị tổn thương; xác định các nhóm xã hội dễ bị tổn thương được quy định trong luật nhân quyền quốc tế, trong đó có nhóm người bị tước tự do Đặc biệt cuốn sách đã phân tích cơ chế quốc tế giám sát thực thi quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương
“Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự”: do trung tâm
nghiên cứu quyền con người – quyền công dân và trung tâm nghiên cứu tội phạm học và tư pháp hình sự trực thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội phát hành
Tố tụng hình sự là hoạt động trực tiếp nhất liên quan đến một bộ phận quan trọng của nhóm người bị tước tự do Đó là những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam hay bị
bỏ tù Tài liệu đã khái quát những tiêu chuẩn pháp lý về quyền con người trong các hoạt động tố tụng hình sự Từ đó nhằm hướng dẫn, cung cấp những công cụ hữu hiệu cho việc bào chữa tại các tòa án hình sự địa phương Đặc biệt, nó được viết ra
để hỗ trợ cho các luật sư hoặc thành viên của nhóm luật sư biện hộ các vụ án hình
sự, nâng cao kiến thức và hiểu biết nhằm áp dụng hiệu quả luật quốc tế tại các tòa
Trang 10án địa phương Từ góc độ đó, cuốn sách đề cập đến những khả năng áp dụng luật quốc tế như là một lập luận riêng biệt, và nếu có thể, như là một ý bổ sung nhằm củng cố sức thuyết phục của các lập luận Quyền bào chữa là một trong số các quyền quan trọng của những người bị tước tự do Bởi lẽ nó đảm bảo cho các vụ án được xét xử công bằng và quyền của người bị tước tự do sẽ được đảm bảo tốt nhất
Vì vậy cuốn sách đã góp một phần quan trọng trong những nỗ lực nhằm đảm bảo tốt hơn quyền của nhóm người bị tước tự do trong lĩnh vực tư pháp hình sự;
“Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” – đề tài
nghiên cứu khoa học, chủ trì Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội; Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam những năm qua đạt được những kết quả khả quan Tuy vậy vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này đã nghiên cứu, tiếp thu những quan điểm và nhất là các tiêu chí về quyền con người trong các văn bản pháp luật quốc tế
mà Việt Nam đã tham gia Trên cơ sở đó nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền con người trong tố tung hình sự Đề tài này đã làm rõ những quan điểm khoa học về quyền con người trong tố tụng hình sự và những tiêu chí quốc tế về nhân quyền; Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của nó đối với việc bảo vệ quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án; Đề tài cũng đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự Khía cạnh mà đề tài này đề cập đến là các quyền con người nói chung trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng hình sự, các quyền con người được
đề cập đến phần lớn là các quyền của những người bị tước tự do trong lĩnh vực tư pháp hình sự Bên cạnh những người bị tước tự do, đề tài này cũng phản ánh đến quyền của những người tham gia tố tụng hình sự mà không bị tước tự do như là các
bị can, bị cáo (trong nhiều trường hợp họ không bị tước tự do)
Đảm bảo quyền con người trong việc thi hành án phạt tù – một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam – bài viết của Hoàng Thị Hương, khoa Luật – Đại học
quốc gia Hà Nội Bài viết đã đưa ra khái niệm “đảm bảo” có nghĩa là “làm cho chắc
Trang 11chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết; sự đảm bảo hoặc giữ gìn được Từ đó tác giả phân tích việc đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù bao gồm các đảm bảo về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và pháp lý Trong đó đảm bảo pháp lý có vai trò quyết định Bài viết phân tích việc đảm bảo quyền con người trong việc thi hành án phạt tù, thực chất là phân tích việc bảo đảm quyền con người của một bộ phận người bị tước tự do, đó chính là các tù nhân
Một số vấn đề về bảo vệ quyền của những người bị tước tự do trong pháp luật và thực tiễn – khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lưu Mỹ Hằng K53B – QHL
2008, khoa Luật – ĐHQG Hà Nội năm 2012 Khóa luận đã giải quyết một cách khoa học về khái niệm, quy định cơ bản về một số vấn đề bảo vệ quyền của người
bị tước tự do theo pháp luật quốc tế và Việt Nam Khóa luận cũng đã phân tích tình hình bảo vệ quyền của người bị tước tự do qua thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra quan điểm và phương hướng nâng cao vai trò của pháp luật trong việc quy định và bảo đảm quyền người bị tước tự do
Ngoài ra còn một số bài viết, cuốn sách của các học giả khác có đề cập đến vấn đề này Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, việc nghiên cứu về quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam trong những năm qua đã được quan tâm và đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên cần có một cái nhìn tổng quát hơn về người bị tước tự do, đặc biệt là dưới góc độ của luật nhân quyền quốc tế Điều đó càng có ý nghĩa hơn khi mà nhân quyền hiện đang là vấn đề mà cả nhân loại hướng tới Luận văn này có thể bổ sung những nghiên cứu về vấn đề người bị tước tự do,
từ đó nâng cao ý thức trước hết là của các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi các quyền của người bị tước tự do Đồng thời nâng cao nhận thức của các chủ thể người bị tước tự do trong việc thụ hưởng các quyền của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
• Nghiên cứu tổng quan về người bị tước tự do và quyền của người bị tước tự do; các biện pháp cũng như hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền thực
Trang 12hiện các biện pháp tước tự do của con người Những biện pháp lý để bảo đảm quyền cho nhóm người này
• Làm rõ tầm quan trọng, tất yếu của việc bảo đảm quyền cho nhóm người bị tước tự do đối với sự phát triển của văn minh nhân loại nói chung cũng như sự phát triển của nhân quyền trên thế giới
• Từ đó kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm của pháp luật cũng như nâng cao nhận thức của cả cộng đồng nói chung, nhất là bộ phận cán bộ công chức trong việc nỗ lực thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo quyền cho nhóm xã hội này
3.2 Nhiệm vụ nghiêm cứu
• Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhóm người bị tước tự
do trong lĩnh vực tư pháp hình sự và nhóm người bị tước tự do trong lĩnh vực hành chính Trong lĩnh vực tư pháp hình sự những người bị tước tự do bao gồm: tù nhân (phạm nhân đang chấp hành án hình phạt tù); người bị tạm giữ, tạm giam; người bị
xử phạt với hình thức quản chế; người bị xử phạt với hình thức cấm cư trú Trong
Trang 13lĩnh vực hành chính, những người bị tước tự do bao gồm: người bị tạm giữ hành chính; người bị đưa vào trường giáo dưỡng; người bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Những người này đều bị giới hạn các quyền tự do so với những công dân bình thường Chẳng hạn như quyền tự do đi lại, tự do cư trú Đối với những người bị xử phạt với hình thức quản chế, thì đây là hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính là hình phạt tù Đối với những người này, ngoài việc bị giới hạn quyền tự do đi lại, tự do cư trú thì còn bị hạn chế một số quyền công dân, tức là bị tước một số quyền tự do khác trong một thời hạn nhất định, như quyền tự do về việc làm, quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước Nguyên nhân tại sao quyền của nhóm người này lại dễ bị tổn thương Những chuẩn mực quốc tế về quyền của nhóm người này trong luật nhân quyền quốc tế là gì? Cơ chế bảo đảm các quyền đó cả trên phạm vi quốc tế, khu vực
và quốc gia? Phân tích về việc bảo vệ nhóm người này ở Việt Nam trong những năm qua như thế nào? Những quyền nào dễ bị vi phạm? Lý do vi phạm? Từ đó đưa
ra những giải pháp thực tế để bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quyền của người bị tước tự do dưới góc độ quy định pháp lý và thực tiễn trên phạm vi quốc tế và tình hình cụ thể ở Việt Nam Trong phạm vi luận văn này, các tiêu chuẩn, quốc tế về nhân quyền được coi là mặt lý luận, là tiêu chí và chuẩn mực mà các quốc gia, vùng lãnh thổ hướng tới Đó được coi như những giá trị thiêng liêng, phổ quát mà phải mất bao xương máu nhân loại toàn thế giới mới giành được Đó còn là mơ ước, khát vọng về một thế giới bình đẳng, về những nhân quyền thiêng liêng tạo hoá đã ban cho mà không ai có thể bị tước đoạt Với ý nghĩa trên, khía cạnh thực tế mà luận văn đề cập chính là việc đưa các chuẩn mực đó vào thực tế như thế nào? Việc tham gia, ký kết, gia nhập và nội luật hoá là một phần của ý nghĩa đó Bên cạnh đó các nhà nước cụ thể là Việt Nam
đã làm gì để đảm bảo cho các quyền của người bị tước tự do được thực hiện trên thực tế? Với cách tiếp cận trên, tác giả đi vào nghiên cứu cụ thể như sau:
Về mặt lý luận: Khảo sát những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật
Trang 14quốc gia quy định về quyền của người bị tước tự do Các quy định pháp lý trước hết xuất phát từ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng cũng như các cơ chế để bảo đảm các quyền đó Đối chiếu, so sánh với các quy định của pháp luật quốc gia với các chuẩn mực quốc tế Việc hình thành các chuẩn mực quốc tế có sự đóng góp của pháp luật quốc gia Các quy định quốc tế có thể kể đến như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền - UDHR; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị 1996 - ICCPR; Công ước về quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa 1996 - ICESCR; Những nguyên tắc cơ bản về đối xử với tù nhân 1990; Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào 1988;… Các quy định pháp luật quốc gia phải kể đến như Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001); Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật tố tụng hình sự 2003; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật thi hành án hình sự 2010 …và các văn bản pháp lý liên quan
Khía cạnh thực tiễn mà luận văn đề cập chính là việc Việt Nam tham gia những công ước quốc tế nào về lĩnh vực này và đã nội luật hóa các chuẩn mực trong các văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như thế nào? Từ đó đánh giá tính đúng đắn, mức độ phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn pháp lý về nhân quyền Đánh giá việc bảo đảm quyền cho nhóm người bị tước tự do trên thực tế Vấn đề thực hiện các nghĩa vụ nộp các báo cáo định kỳ theo quy định của các công ước mà Việt Nam tham gia? Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo đảm quyền của người bị tước tự do được thực hiện như thế nào?…Từ đó, phân tích tổng quan và rút ra những yếu tố tác động tới việc thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của người bị tước tự do
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật nói chung, khái niệm và bảo đảm nhân quyền nói riêng Các nguyên tắc nền tảng của Luật nhân quyền quốc tế
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
Trang 15cụ thể như: phương pháp phân tích, khái quát hóa; phương pháp tổng hợp; thống kê,
so sánh; phương pháp quy nạp; phương pháp diễn giải…
6 Kết quả và ý nghĩa nghiên cứu
Luận văn đã đạt được một số kết quả:
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về người bị tước tự do dưới góc độ là những người dễ bị tổn thương trong mối liên hệ giữa luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia của Việt Nam Đặc biệt là với cách tiếp cận dựa trên quyền, luận văn khẳng định các quyền của người bị tước tự do là tự nhiên, bẩm sinh và nhà nước chỉ
có thể ghi nhận, bảo đảm chứ không có quyền ban phát các quyền đó Các quyền của người bị tước tự do được bảo đảm không chỉ bằng việc các quyên đó được ghi
nhận trong pháp luật Mà quan trọng còn ở cơ chế bảo đảm các quyền đó
- Đánh giá tầm quan trọng, ý nghĩa của việc bảo đảm các quyền của người bị
tước tự do Những người bị tước tự do được hưởng các quyền cơ bản trên cương vị bình đẳng như bất kỳ chủ thể nào Bên cạnh đó họ được hưởng những quyền đặc thù khác Và việc được hưởng các quyền đó là tất yếu Đảm bảo cho các quyền đó được thực thi cũng chính là bảo đảm quyền con người và là thước đo trình độ văn minh của nhân loại
- Góp phần thay đổi cái nhìn của xã hội nói chung, trong đó có bộ phận cán
bộ công quyền trong vấn đề tước tự do hành chính; Các biện pháp xử lý hành chính của Việt Nam dưới góc độ của luật nhân quyền quốc tế thực chất là các biện pháp tước tự do của con người Do đó cần phải hết sức thận trọng và phải đảm bảo các quyền cho người bị tước tự do một cách đầy đủ nhất
- Luận văn cũng đã nêu bật được một số thành tựu trong việc bảo đảm các quyền cho người bị tước tự do ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc đảm bảo các điều kiện ăn, mặc, ở; quyền không bị tra tấn; không bị bắt, giam một cách tùy tiện; về quyền được đối xử nhân đạo; quyền được xét xử công bằng…
- Phân tích một số hạn chế, đặc biệt là về mặt pháp luật trong việc bảo đảm các quyền của người bị tước tự do Từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả đảm bảo các quyền cho người bị tước tự do ở Việt Nam
Trang 16Ý nghĩa của luận văn:
Một mặt luận văn góp phần thay đổi thái độ, hành vi trong việc đối xử với những người bị tước tự do, đặc biệt là của một bộ phận cán bộ công chức thực thi pháp luật Khẳng định rõ ràng rằng, những quyền mà người bị tước tự do được hưởng là chính đáng và nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm cho các quyền đó được thực thi Các quyền đó không phải do nhà nước ban cho họ mà xuất phát từ chính nhân phẩm và giá trị của họ
Mặt khác giúp người bị tước tự do nâng cao kiến thức và hiểu biết về các quyền của họ và các công cụ pháp lý để bảo đảm các quyền đó Từ đó có thể giúp
họ sử dụng có hiệu quả các công cụ đó để hưởng thụ và bảo vệ các quyền của mình
khi bị vi phạm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được chia làm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và tiêu chuẩn quốc tế về quyền của người
bị tước tự do
Chương 2: Việt Nam với việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO
1.1 Khái niệm quyền của người bị tước tự do
1.1.1 Người bị tước tự do
Tự do là một trong những vấn đề quan trọng của con người và đã được nghiên cứu, luận giải từ lâu, dưới nhiều góc độ triết học, chính trị, pháp lý, xã hội học… Thời kỳ khai sáng, rất nhiều học giả đã bàn luận về tự do Thomas Hobbes cho rằng:
“Tự do được hiểu là, theo định nghĩa chính xác của từ này, sự vắng mặt của những trở ngại bên ngoài; những trở ngại đó thường tước đi một phần sức mạnh của con người để làm điều ta muốn làm, nhưng không thể ngăn cản ta sử dụng sức mạnh còn lại của mình theo sự sai khiến của lý trí và sự suy xét của chính bản thân mình” [20, tr.127-128]
Montesquieu thì khẳng định: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà
luật pháp cho phép” [20, tr 161]
Qua hai khái niệm của hai học giả nói trên có thể thấy, khái niệm của Montesquieu mang tính pháp lý cao và tiếp cận gần với khái niệm tự do trong xã hội hiện đại ngày nay đồng thời cũng gần với tư tưởng về nhà nước pháp quyền Còn khái niệm của Thomas Hobbes đã chỉ ra hai thành tố quan trọng của tự do, đó
do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp ) Tự do thụ động là tự do của cá nhân khỏi bị các chủ thể khác xâm phạm đến (như tự do thân thể ) Trong một số trường
Trang 18hợp, tự do bị hạn chế Ví dụ như quyền tự do đi lại có thể bị hạn chế trong hoàn cảnh dịch bệnh hay khủng bố… Tuy nhiên việc hạn chế quyền tự do trong những trường hợp này phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt và tuyệt đối không được mang tính chất phân biệt, đối xử về chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ hoặc nguồn gốc xã hội
Tự do là một thuộc tính tự nhiên của con người Đã là con người thì phải có
tự do Đó là quyền mà tạo hóa ban cho và không ai có thể chối cãi được, xuất phát
từ chính nhân phẩm của mỗi con người Sống trong xã hội tất cả các quyền tự do của con người phải được bảo đảm, trong đó quan trọng nhất là bảo đảm bằng pháp luật Các văn kiện quốc tế về nhân quyền đề cập đến cả hai khái niệm: các "quyền"
và "tự do" cơ bản của con người Tuy nhiên trong thực tế hầu như không có sự phân biệt và khác biệt trong việc vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quyền và tự do cơ bản của con người, bởi lẽ các tự do cơ bản thường được diễn đạt như là các quyền (ví dụ "tự do ngôn luận" cũng thường được gọi là "quyền tự do ngôn luận") Con người có rất nhiều quyền tự do Như quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình;
Tước tự do nghĩa là bất kỳ hình thức giam giữ hoặc cầm tù nào, hay đưa một người vào nơi giam giữ chung hoặc riêng, mà người đó không được tự ý rời bỏ nơi giam giữ, trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp, hành chính hoặc cơ quan công
quyền khác [16, tr.709-710] Khái niệm “tước tự do” theo luật nhân quyền quốc tế
được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm không chỉ việc bỏ tù hay tạm giam, mà còn
là những việc hạn chế một phần hay toàn bộ tự do của một người, dưới nhiều hình thức và tên gọi khác, cụ thể như: bắt, tạm giữ; quản chế; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào các trung tâm cải tạo, giáo dục… Tức là bên cạnh các trường hợp giam giữ theo thủ tục hình sự thì tước tự do còn bao gồm cả giam giữ theo thủ tục hành chính Nhiều quốc gia trên thế giới có luật về bắt, giam giữ hành chính, song chủ yếu đề cập đến các tình huống: giam giữ những người nhập cư lậu để chờ giải quyết thủ tục liên quan, ví dụ như ở Australia có các trung tâm tạm giữ ngoài khơi
Trang 19cho người nhập cư và tị nạn đến Australia bằng đường biển; hay là giam giữ những nghi can khủng bố (Luật yêu nước của Hoa Kỳ sau ngày 11/9/2001…); hoặc giam giữ trong những tình huống liên quan đến an ninh quốc gia (biểu tình, tình trạng khẩn cấp của quốc gia…) Chỉ có số ít nước quy định về bắt, giam giữ hành chính với những đối tượng như trẻ em có hành vi trái pháp luật, người mại dâm, người nghiện ma túy, người có hành động nguy hại cho chính quyền…
Cơ sở của việc tước tự do là khi một người có hành vi xâm hại tự do của người khác và xâm hại đến lợi ích cộng đồng Hoặc người đó có nguy cơ ảnh hưởng đến cộng đồng, ví dụ trong tình trạng dịch bệnh… Việc tước tự do phải được điều chỉnh bằng nhiều quy phạm pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực hành chính và tư pháp hình sự Các biện pháp tước tự do là cần thiết trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên cần hết sức thận trọng, bởi lẽ những biện pháp này khi áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người Nhân loại văn minh toàn thế giới đã thừa nhận rằng tự do là một yếu tố nền tảng của nhân phẩm Việc tước đoạt tự do trong nhiều trường hợp làm tổn hại nghiêm trọng đến nhân phẩm Khi một người bị bắt, tạm giữ, tạm giam hay bị cầm tù đều có một tình trạng chung đó là bị hạn chế tự do thân thể, tự do đi lại, cư trú trong một khoảng thời gian nhất định Vì thế, quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị ảnh hưởng, xâm phạm Từ đó dẫn đến yêu cầu cần thiết phải bảo đảm quyền cho nhóm người này Tước tự do phải theo thủ tục được pháp luật quy định và phù hợp với luật nhân quyền quốc tế Tước tự do hợp pháp và chính đáng thông thường phải qua trình tự
tư pháp và bởi tòa án, song trong một số trường hợp hạn chế, cơ quan hành pháp cũng có thể quyết định và thực hiện tước tự do một người, ví dụ: với những người tâm thần, trong hoàn cảnh khẩn cấp của quốc gia…
Theo luật nhân quyền quốc tế, người bị tước tự do là một khái niệm rất rộng, bao gồm tù nhân, những người bị tạm giữ, tạm giam,, quản chế, cải tạo… tức là tất
cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất cứ hình thức nào, các tự do chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường
Con người có rất nhiều tự do, ví dụ như tự do đi lại, tự do cư trú, tự do học
Trang 20tập, tự do tôn giáo, tự do việc làm… Khái niệm "người bị tước tự do" dùng để chỉ những người bị giới hạn một số quyền nhất định vì các lý do an ninh hay trật tự xã hội, chứ không phải tước bỏ toàn bộ các tự do của con người Tù nhân bị tước quyền tự do đi lại, tự do cư trú, nhưng họ vẫn được hưởng các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo Một người bị tạm giam, tạm giữ vẫn có quyền theo hay không theo tôn giáo nào Các quyền đó phải được pháp luật tôn trọng và bảo đảm bằng việc quy định người có hành vi xâm hại tới các quyền đó thì bị xử lý về mặt hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ
Tóm lại người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế được hiểu là tất cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất kỳ hình thức nào, các tự do
chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường
1.1.2 Quyền của người bị tước tự do
Hiện chưa có một văn kiện nào đưa ra khái niệm quyền của người bị tước tự
do Tuy nhiên như đã phân tích, nhóm người bị tước tự do là một trong những chủ thể quan trọng của luật nhân quyền quốc tế Họ được hưởng những quyền lợi chính đáng, phù hợp với địa vị của họ Quyền của người bị tước tự do có các đặc điểm:
Thứ nhất: quyền của người bị tước tự do là quyền của người thuộc các nhóm người dễ bị tổn thương
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, trong đó định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo
vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.” [17, tr.22]
Như vậy, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn
có và khách quan của con người được thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia
và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Các quyền con người có thể gây cản trở lẫn nhau, chúng bị giới hạn bởi các quyền và tự do của người khác hay bởi các yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ [21, tr.656]
Bên cạnh các cá nhân, chủ thể của quyền con người còn là các nhóm xã hội
Trang 21nhất định, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thương, ví dụ như phụ nữ, trẻ em, những người bị tước tự do Quyền cá nhân được hiểu là "các quyền thuộc về mỗi cá nhân, bất kể họ có hay không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào, và việc hưởng thụ các quyền này là tùy thuộc ý chí của mỗi cá nhân" [15, tr.14] Chẳng hạn như quyền sống, quyền tự do đi lại, tự do cư trú… Còn quyền của nhóm được hiểu
là “những quyền đặc thù, chung của một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định, mà
để được hưởng thụ các quyền này cần phải là thành viên của nhóm, và đôi khi cần phải thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm” [15, tr.14] Ví dụ như quyền
tự do lập hội, tự do hội họp…
Việc thừa nhận và bảo đảm các quyền của nhóm là hết sức cần thiết và quan trọng Việc coi nhẹ, phủ nhận các quyền của bất cứ nhóm nào đều có thể dẫn đến mất ổn định trong xã hội Bởi lẽ ở mỗi quốc gia, khu vực do các nguyên nhân xã hội, lịch sử luôn tồn tại những nhóm người có trình độ phát triển, vị thế và năng lực khác nhau Việc quy định quyền của nhóm không phải là phủ nhận tính phổ quát của quyền con người Đồng thời cũng không đi ngược lại với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về quyền con người là nguyên tắc tất cả các quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người Bởi lẽ bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ, điều này thực chất lại là bất bình đẳng Bình đẳng ở đây phải được hiểu là bình đẳng về tư cách chủ thể và cơ hội thụ hưởng các quyền con người Điều đó có nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại đều có cơ hội được hưởng các quyền như nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh, năng lực sẵn có như nhau
Nhóm người dễ bị tổn thương chiếm phần lớn trong nội dung về quyền của nhóm và cấu thành một bộ phận quan trọng của luật quốc tế về quyền con người Hiện chưa có một định nghĩa chính thức về nhóm người dễ bị tổn thương, tuy cụm
từ này được sử dụng thường xuyên trong các tài liệu, đặc biệt là các nghiên cứu về luật nhân quyền quốc tế Từ những tài liệu đó có thể hiểu khái niệm nhóm người dễ
bị tổn thương chỉ những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền
Trang 22con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác Luật nhân quyền quốc tế xác định những nhóm người dễ bị tổn thương, gồm: Phụ nữ; Trẻ em; Người khuyết tật (thể chất, tâm thần); Người thiểu số/bản địa; Người nước ngoài/người không quốc tịch; Người tị nạn/tìm kiếm quy chế tị nạn; Người lao động di trú; Người bị tước tự do; Tù binh chiến tranh, dân thường trong vùng chiến sự hoặc vùng bị lực lượng quân sự nước ngoài chiếm đóng; Người già; Người sống chung với HIV Danh sách trên cho thấy, người bị tước tự do thuộc nhóm người dễ bị tổn thương và cần phải được quan tâm, bảo vệ
Lý do người bị tước tự do thuộc nhóm người dễ bị tổn thương là vì:
Do địa vị pháp lý là người bị giới hạn một số quyền so với các công dân bình thường Vì vậy họ bị giảm đi cơ hội hưởng thụ các quyền như những người bình thường khác Chẳng hạn như quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hành nghề… Khi một người bị tước tự do thì quyền trên sẽ bị hạn chế
Bên cạnh đó là lý do xã hội Do nhận thức và quan niệm chưa được đầy đủ của một số người trong xã hội, cho nên những người bị tước tự do bị khinh miệt, bị
xa lánh và kỳ thị Cũng vì đó mà các quyền chính đáng của họ bị xâm phạm Việc bị giới hạn quyền tư do là đã bị tước đi một số quyền quan trọng của con người, đó là quyền tự do đi lại, tự do cư trú… Nhưng cũng chính từ địa vị đó càng khiến cho những người bị tước tự do dễ bị tổn thương hơn Đó là nguy cơ cao bị tra tấn, bị đánh đập, bị bức cung… Điều đó xuất phát từ chính một bộ phận những người thi hành công vụ, những người cầm quyền Một số người dân cũng có cái nhìn không mấy thiện cảm với những người bị tước tự do Bị kỳ thị là nguyên nhân khiến họ bị tổn thương về mặt tinh thần
Thứ hai: Đó là những quyền cơ bản và đặc thù của con người cho dù họ có
bị tước hoặc hạn chế một số quyền tự do
Quyền là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành Và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi
để giành lại Quyền của người bị tước tự do là một bộ phận cấu thành của quyền con người Quyền con người xuất phát từ chính phẩm giá của mỗi con người, không phân
Trang 23biệt giới tính, dân tộc, màu da, ngôn ngữ hay bất kỳ địa vị nào Người bị tước tự do cũng có những phẩm chất và giá trị con người Không phải vì bị tước tự do mà các giá trị con người của họ bị mất hết và không còn là con người Vì vậy họ cũng phải
có các quyền con người cơ bản – những quyền mà tạo hóa ban cho và không ai có thể tước đoạt Nhân phẩm là những phẩm chất, giá trị chỉ con người mới có và tạo nên tư cách, vị thế, sự khác biệt của con người trong thế giới động vật Phẩm giá là như nhau
và tồn tại bên trong đời sống của mỗi người Trong bản thân khái niệm phẩm giá có chứa tư tưởng về giá trị của mỗi con người, về tính độc nhất vô nhị và bản sắc của mỗi cá nhân mà đươc mọi người, mọi thiết chế và toàn xã hội tôn trọng Điểm bắt đầu của khái niệm về quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như được ghi nhận trong UDHR và hai công ước ICCPR, ICESCR Ngay trong lời nói đầu của UDHR đã đề cập đến “phẩm giá vốn có” [21, tr.44] của con người và khẳng định mọi người đều tự do và bình đẳng về
“phẩm giá và các quyền” (trong Điều 1) [21, tr.59] Còn trong hai công ước ICCPR, ICESCR đều khẳng định quyền con người “bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con người” (lời nói đầu) [16, tr.77; tr.55] Việc ghi nhận và bảo vệ các quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng, do đó là nhằm đáp ứng những đòi hỏi tất yếu về bảo vệ phẩm giá con người
Người bị tước tự do cũng được hưởng các quyền con người cơ bản trên cương vị bình đẳng như bất cứ cá nhân nào khác Bên cạnh đó, họ còn được hưởng những quyền đặc thù, mà bản chất là những ưu tiên hoặc cơ chế bảo vệ đặc biệt dành cho nhóm người này dựa trên những đặc điểm, tính chất và hoàn cảnh của họ
Đó là các quyền như quyền không bị tra tấn, quyền được đối xử nhân đạo, các quyền thuộc nhóm quyền xét xử công bằng, quyền của nhóm người chưa thành niên… Việc quy định những ưu tiên này không phải bởi vì các quyền được ưu tiên thự hiện có giá trị cao hơn, mà bởi vì các quyền đó trong thực tế có nguy có bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn các quyền khác
Như vậy là nói đến quyền của người bị tước tự do bên cạnh các quyền cơ bản của con người còn bao gồm các quyền đặc thù của nhóm
Trang 24Thứ ba: các quyền của người bị tước tự do được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Hiện có hai trường phái (học thuyết) về nguồn gốc của nhân quyền:
Thuyết quyền tự nhiên cho rằng, quyền con người, bao gồm cả quyền của người bị tước tự do là những gì bẩm sinh, vốn có thuộc về con người mà ai cũng được hưởng, đơn giản bởi họ là thành viên của đại gia đình nhân loại Tuyên ngôn độc lập của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776 đã khẳng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể chối cãi được Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng (xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến sau này) Vì thế, không chỉ trong quá khứ,
mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định Học thuyết này có điểm tích cực
là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển
tự nhiên Nhưng nhược điểm là ở chỗ đã che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển Bên cạnh học thuyết về quyền tự nhiên, một trường phái khác cho rằng quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng mang tính pháp lý Có nghĩa là các quyền con người phải được quy định trong pháp luật Như vậy, quyền con người vẫn là những đặc quyền tự nhiên, vốn có ngay từ khi sinh ra Nhưng khi chưa được Nhà nước, pháp luật ghi nhận thì các quyền tự nhiên chưa trở thành quyền
Việc phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào đều không phù hợp Bởi vì, trong UDHR và một số văn kiện khác thì nhân quyền được khẳng định rõ ràng là các quyền tự nhiên Cụ thể trong đoạn 1, lời nói đầu UDHR nêu rằng: “thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại” [21, tr.44] Ngược lại về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện quyền con người là các quyền pháp lý Hai học thuyết quyền tự nhiên và quyền pháp lý bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau Mâu thuẫn, đối lập chỉ do cách hiểu và vận dụng không đúng đắn Bởi vì thuyết về quyền tự nhiên muốn nói đến nguồn gốc, bản chất, không nói đến cách
Trang 25thức ghi nhận, thực hiện quyền và không phủ nhận việc các quyền tự nhiên cần phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật Còn thuyết về quyền pháp lý nhấn mạnh cách thức ghi nhận, thực hiện quyền chứ không phủ nhận nguồn gốc của quyền là tự nhiên, vốn có Quyền pháp lý là tập hợp chọn lọc và đã được cụ thể hóa của các quyền tự nhiên Tập hợp này có thể chưa bao gồm hết các quyền tự nhiên, nhưng không tuyên bố phủ nhận những gì chưa được pháp điển hóa Như vậy có nghĩa là quyền con người vẫn là những gì bẩm sinh, vốn có mà pháp luật chỉ có thể thừa nhận và bảo đảm
Một lập luận khác chứng minh cho nhận định trên, đó là khi xét đến bản chất của con người dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mac-Lênin: Triết học Mac-Lênin đã chỉ
ra rằng con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội; trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội; con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Như vậy là ở con người vừa có tính tự nhiên (sinh vật) vừa có tính xã hội Do đó, quyền con người một mặt mang tính tự nhiên, là những gì bẩm sinh, vốn có của mỗi con người Mặt khác, quyền con người cũng mang tính lịch sử và xã hội Có nghĩa là quyền con người là kết quả và phụ thuộc vào sự vận động của các quan hệ xã hội trong lịch sử Thực tế cho thấy, trong mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó
Pháp luật là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc thực hiện, bảo vệ quyền của người bị tước tự do Những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được đảm bảo đầy đủ nếu không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Thông qua pháp luật, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội, chứ không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức Vai trò của pháp luật đối với việc thúc đẩy các quyền của người bị tước tự do thể hiện rõ ở hai khía cạnh là thừa nhận và bảo đảm các quyền cho nhóm người trên Trước hết, pháp luật
là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội của các quyền tự nhiên Ngay cả khi được thừa nhận, các quyền tự nhiên của người bị tước tự do cũng
Trang 26không được mặc định áp dụng ở nhiều xã hội Mà chỉ khi được pháp luật thừa nhận
và bảo vệ thì những quyền của người bị tước tự do mới mang đầy đủ giá trị hiện thực Pháp luật có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ đạo đức về tôn trọng và thực hiện các quyền tự nhiên thành các nghĩa vụ pháp lý Khía cạnh thứ hai thể hiện vai trò của pháp luật, đó là phương tiện bảo đảm các giá trị thực tế của các quyền của người bị tước tự do Khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền của người bị tước tự do mới mang tính cưỡng chế, bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội Lúc này, pháp luật là công cụ giúp nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền của người bị tước tự do của các chủ thể khác nhau trong xã hội Hơn nữa, đó cũng là công cụ để các cá nhân bảo vệ các quyền của mình thông qua việc vận dụng các quy phạm pháp lý Sự bảo vệ đối với nhóm người bị tước tự
do không chỉ được quy định trong luật pháp quốc tế mà trong pháp luật của tất cả các quốc gia, tuy với những mức độ khác nhau, cách thức khác nhau
Thứ tư: những quyền của người bị tước tự do được bảo đảm bằng cơ chế không chỉ trong phạm vi quốc tế mà ở cả phạm vi khu vực và phạm vi quốc gia
Các quyền của người bị tước tự do được quy định trong luật pháp quốc tế và quốc gia Để các quyền đó đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực thì cần thiết phải
có cơ chế bảo đảm Nói cách khác, qui định pháp luật là xuất phát điểm bảo đảm quyền con người nhưng hiệu quả của qui định sẽ bị hạn chế nếu không có cơ chế đầy đủ để thực thi vì kinh nghiệm thực tiễn chứng minh quan trọng là thực thi pháp luật Cơ chế có nghĩa là "cách thức sắp xếp, tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó một quá trình thực hiện" [15, tr.328] Cơ chế bao gồm bộ máy các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, trình tự, thủ tục để thực hiện việc bảo vệ quyền Cơ chế bảo đảm quyền của người bị tước tự do hiện nay có ba cấp độ, đó là
cơ chế quốc tế; cơ chế khu vực; cơ chế quốc gia Cơ chế quốc tế có phạm vi rộng lớn, toàn cầu và có vai trò nhất định trong việc bảo đảm quyền của người bị tước tự
do Nhưng ở một mức độ nhất định, một số cơ chế khu vực (như cơ chế khu vực châu Âu) lại tỏ ra chặt chẽ, hiệu quả hơn so với cơ chế quốc tế của Liên hợp quốc Bởi vì, các quốc gia trong khu vực thường có nhiều điểm chung về kinh tế, văn hóa,
Trang 27truyền thống cho nên dễ đạt được đồng thuận hơn khi thiết lập, sửa đổi, bổ sung và thực hiện Hơn nữa các cơ chế khu vực có thể dễ dàng tiếp cận với công chúng hơn
so với cơ chế toàn cầu của Liên hợp quốc, bởi vì phạm vi địa lý hẹp hơn Cơ chế quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người bị tước tự do
Tóm lại quyền của người bị tước tự do là quyền con người được thừa nhận trong pháp luật và được bảo đảm bằng cơ chế ở cả phạm vi quốc tế, khu vực và quốc gia cho dù trong hoàn cảnh bị giới hạn các tự do chính trị, dân sự
1.2 Ý nghĩa việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do
Các quyền của người bị tước tự do được ghi nhận và bảo đảm thực thi có ý nghĩa quan trọng như sau:
1.2.1 Góp phần bảo đảm quyền con người
Người bị tước tự do là thành viên của gia đình nhân loại Vì vậy bảo đảm quyền cho họ cũng chính là bảo đảm quyền con người nói chung Việc thừa nhận các quyền của người bị tước tự do và cơ chế bảo đảm thực thi các quyền đó sẽ là công cụ pháp lý trừng trị những chủ thể có hành vi xâm hại quyền của người bị tước
tự do cho dù người đó là ai
Quyền con người không được sử dụng để vi phạm quyền của người khác - Điều 30 của UDHR [21, tr.656] Do vậy, tất cả các xung đột phải được giải quyết
mà vẫn phải tôn trọng quyền con người kể cả vào những lúc khẩn cấp và trong trường hợp cần áp đặt một vài hạn chế Người bị tước tự do cũng có nhân phẩm và
họ cần phải được tôn trọng với phẩm giá vốn có Không thể vì họ là người bị tước
tự do mà nhân phẩm của họ bị giảm sút hay mất đi Ngược lại, họ cần được bảo vệ hơn bởi vị thế dễ bị tổn thương của mình Vì vậy, việc hiểu đúng, hiểu đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về các biện pháp tước tự do sẽ nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; qua đó cũng góp
phần quan trọng và cần thiết để bảo đảm quyền con người nói chung
Luật nhân quyền quốc tế đã thừa nhận quyền của người bị tước tự do bằng một hệ thống các quy định trong các văn kiện pháp lý Bên cạnh đó các cơ chế bảo
Trang 28đảm quyền của người bị tước tự do cũng được thiết lập Điều đó sẽ góp phần làm hạn chế các hành vi xâm hại đến quyền của người bị tước tự do Do đó, việc quy định quyền và cơ chế thực thi quyền cho người bị tước tự do có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền cho họ, chống lại các hành vi xâm hại tới quyền của họ
do các chủ thể khác thực hiện
1.2.2 Là một trong các tiêu chí xác định Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu nhà nước pháp quyền theo cách đơn giản, đó là một nhà nước quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật và nhà nước hoạt động tuân theo pháp luật Pháp luật đó được các chủ thể thực hiện một cách tự giác chứ không ép buộc Bởi lẽ đó là pháp luật vì quyền con người, phục vụ con người, là pháp luật của dân chủ, bình đẳng và văn minh Đó là nhà nước bảo đảm quyền con người tốt nhất trong lịch sử loài người
Trong một nền dân chủ hiện đại, không thể thiếu vắng vai trò của việc đề cao pháp luật, xem pháp luật là nguyên tắc tối thượng; đồng thời, có những cơ chế để kiềm chế xu hướng tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà nước của bất cứ nhánh quyền lực nào cũng như của từng cá nhân - công chức và quan chức nhà nước - là những người đại diện cho nhân dân Hơn thế nữa pháp luật đó phải được xây dựng theo một quy trình dân chủ, minh bạch và công khai Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội
Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ
Trang 29thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc và chủ thể của các hành vi này Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội
Bản chất của nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng giá trị nhân quyền
và bảo đảm cho các giá trị đó được thực thi trong thực tế Khi quyền của những người bị tước tự do được bảo vệ tức là đã góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền và đó cũng là một tiêu chí để xác định nhà nước đó có phải là Nhà nước pháp quyền hay không?
1.2.3 Góp phần phát triển văn minh của nhân loại
Quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân loại, của các dân tộc bị áp bức trên thế giới nhằm xác lập quyền bình đẳng, tự do trong các quan hệ giữa người và người, cũng như giữa các dân tộc; và đó cũng là thành quả đấu tranh của loài người nhằm hướng tới làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình Ở thời kỳ nô lệ, có tầng lớp nô lệ - những kẻ không được coi là người, không được hưởng các quyền con người tối thiểu Họ có thể bị bắt, giam cầm bất cứ lúc nào, vì bất cứ lý do gì Và khi đó, họ bị đối xử tàn tệ, bị tra tấn, đánh đập, bị kết tội không cần lý do Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã
là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người Tuy vậy các quyền con người trong đó có quyền của người bị tước tự do vẫn bị xâm phạm không thương tiếc Việc tra khảo (tra tấn) được coi như là một nghiệp vụ điều tra dưới các triều đại phong kiến Trong xã hội này bị tước tự do đồng nghĩa với bị tước bỏ mọi quyền con người khác Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của loài
Trang 30người, nội dung các quyền con người tiếp tục phát triển Cuộc cách mạng nhân quyền quốc tế hiện đại bắt đầu bằng sự ra đời của Hiến chương Liên Hợp quốc
1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền UDHR - hai văn kiện quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền Ngay tại UDHR, rất nhiều quyền của người bị tước tự
do đã được khẳng định Đó là tại các Điều 5 (về quyền không bị tra tấn, đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm); Điều 7 (về quyền bình đẳng trước pháp luật); Điều 9 (về quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện); Điều
10 (về quyền được xét xử công bằng); Điều 11 (về quyền được suy đoán vô tội)… Sau đó, quyền con người được pháp điển hoá trong một loạt Công ước quốc tế về nhân quyền Đặc biệt trong ICCPR nhiều quyền quan trọng của người bị tước tự do
đã được ghi nhận Đó là quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm (Điều 7); quyền không bị bắt hoặc giam giữ tùy tiện (Điều 9), quyền được đối xử nhân đạo (Điều 10); quyền được xét
xử công bằng… Hệ thống các quyền trên của người bị tước tự do sau đó được cụ thể hóa tại hoàng loạt các văn kiện quốc tế như: Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984 - CAT
(Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or
Punishment), Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị
cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988, Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ
người chưa thành niên bị tước tự do, 1990…
Sự phát triển của các quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự
do nói riêng phản ánh sự phát triển của xã hội ngày càng văn minh hơn Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người, coi cá nhân con người là trọng tâm của sự quan tâm Nó dựa trên một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm cống hiến cho sự linh thiêng của cuộc sống và tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ Quyền con người cũng bảo đảm sự bình đẳng, chẳng hạn như bảo vệ quyền bình đẳng chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các quyền con người Người bị tước tự do cũng có quyền sống, quyền hưởng
Trang 31thụ các giá trị văn hóa… như những công dân bình thường Quyền con người của những người khác cần được tôn trọng chứ không chỉ khoan dung Những người bị tước tự do được hưởng các quyền con người chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của đại gia đình nhân loại Việc họ được hưởng các quyền là chính đáng chứ không phải
xã hội, nhà nước hay bất kỳ chủ thể nào đang ban phát cho họ các quyền đó
Tóm lại là quyền của người bị tước tự do nói riêng, quyền con người nói chung là sự phát triển tất yếu của xã hội văn minh Trong một cuộc khảo sát do
CNN (Cable News Network) – một trong các cơ quan truyền thông nổi tiếng nhất
thế giới - tiến hành, quyền con người được xem là một trong mười phát minh làm thay đổi thế giới (cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tương đối, vắcxin, thuyết tiến hóa, mạng thông tin toàn cầu, xà phòng, số không và lực hấp dẫn [15,
tr.38] Quyền của người bị tước tự do là một bộ phận của quyền con người, việc bảo
đảm quyền của người bị tước tự do chính là đã bảo đảm quyền con người – một trong các phát minh làm thay đổi thế giới
1.3 Nội dung quyền của người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế
Người bị tước tự do bị giới hạn một số tự do Tuy nhiên họ vẫn được hưởng những quyền cơ bản của con người Ngoài ra họ còn được hưởng các quyền đặc thù Các quyền của người bị tước tự do có thể chia thành các nhóm quyền: Nhóm quyền
an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm; Nhóm quyền xét xử công bằng; Nhóm quyền hưởng thủ tục tố tụng riêng cho người chưa thành niên Các quyền cụ thể của người
bị tước tự do có thể được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1 Các quyền tiêu biểu của người bị tước tự do theo các tiêu chuẩn quốc tế
2 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục
Điều 5 UDHR; Điều 7 ICCPR; Công ước CAT
3 Quyền được bảo vệ để khỏi bị
4 Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của người bị tước tự do
Điều 10 ICCPR
Trang 325 Quyền được thông tin, liên lạc với bên ngoài
Những quy tắc chuẩn tối thiểu
về đối xử với tù nhân, 1955
6 Quyền khiếu nại, tố cáo việc giam giữ trái phép
Điều 9(4) ICCPR
7 Quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành được nghĩa vụ theo hợp đồng
Điều 2 UDHR; Điều 26 ICCPR; Điều 2 ICESCR
2 Quyền được thông tin về lý do bắt giữ và những quyền khi bị bắt giữ
Điều 3 UDDHR; Điều 9(2) ICCPR
3 Quyền im lặng và không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình
Điều 14(2, g) ICCPR
4 Quyền được xét xử công khai Điều 10 UDHR; Điều 14
ICCPR
5 Quyền bào chữa, bao gồm quyền
tự bào chữa và nhờ luật sư bào chữa
Điều 11(2) UDHR; Điều 15 ICCPR
chung số 32 của Ủy ban nhân quyền
10 Quyền được bồi thường khi bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp
Điều 14(4) ICCPR; Điều 40 CRC; Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do, 1990
Trang 33Đó là các quyền tiêu biểu nhưng không phải là toàn bộ các quyền của người
bị tước tự do Ngoài những quyền kể trên người bị tước tự do được hưởng một số quyền cơ bản như bất kỳ thành viên nào của đại gia đình nhân loại, chẳng hạn như quyền được hưởng những thành quả của khoa học (Điều 15 ICESCR); quyền được sống trong hòa bình (trong Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc đối với hòa bình 1984); quyền được sống trong một môi trường an toàn và trong lành (trong Tuyên
bố về môi trường con người 1972)… Hoặc các quyền khác khi người bị tước tự do tham gia tố tụng như quyền có phiên dịch miễn phí (điểm f khoản 2 Điều 14 ICCPR), quyền có mặt trong khi xét xử (điểm d khoản 2 Điều 14 ICCPR), quyền thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn nhân chứng (điểm e khoản 2 Điều 14 ICCPR)… Hơn nữa cũng cần lưu ý, người bị tước tự do khi tham gia tố tụng thì các quyền mà
họ được hưởng cũng là quyền của người tham gia tố tụng nói chung (gồm cả những người không bị tước tự do), chẳng hạn như quyền kháng cáo, quyền bồi thường khi
bị kết án oan… Trong phạm vi luận văn này tác giả đi vào phân tích một số quyền
cụ thể của người bị tước tự do như sau:
1.3.1 Quyền sống
Nguồn: Điều 3 UDHR; Điều 6 ICCPR…
Điều 3 UDHR quy định rằng, mỗi cá nhân đều có quyền sống, quyền tự do
và an ninh cá nhân Quyền sống liên quan chặt chẽ đến hình phạt tử hình và một số quyền đặc thù khác của người bị tước tự do Đó là quyền không bị tra tấn hay bị trừng phạt và đối xử một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục và quyền không bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện Điều 6 ICCPR quy định nghĩa vụ của các quốc gia thực hiện những biện pháp thích hợp để bảo vệ mọi người khỏi nguy
cơ bị tước đoạt tính mạng một cách tùy tiện bởi mọi chủ thể Tức là người bị tước tự
do dù là tù nhân, người bị tạm giam, tạm giữ, quản chế, cấm cư trú, cải tạo… thì họ vẫn cần được đảm bảo quyền sống, đảm bảo sự tồn tại Chính vì vậy, ICCPR đã yêu cầu rằng án tử hình nên bị xóa bỏ khi có thể Nghị định thư tùy chọn thứ hai của ICCPR, với mục đích bãi bỏ án tử hình, các quốc gia thành viên phải từ bỏ việc tử hình (đoạn 1, Điều 1) và bằng mọi biện pháp có thể, bao gồm cả pháp lý, để bãi bỏ
Trang 34hình phạt tử hình (đoạn 2 Điều 1) Đoạn 5 khoản 2 Điều 6 của ICCPR quy định các
cá nhân mà tại thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi không thể bị xử tử hình, và những bản án tử hình không được áp dụng đối với phụ nữ mang thai Việc thi hành một bản án tử hình không tương đương với sự tra tấn, đối xử hay trừng phạt vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm
Về khía cạnh thứ hai của quyền sống là bảo đảm các điều kiện tồn tại của con người đối với người bị tước tự do, luật nhân quyền quốc tế quy định:
- Về việc ăn ở: Nếu chỗ ngủ là phòng cá nhân, thì mỗi tù nhân sẽ được sử dụng riêng phòng đó Nếu vì lý do đặc biệt nào đó, ví dụ như số lượng tăng đột biến tạm thời, cơ quan quản lý trại có thể có ngoại lệ trong quy định này, nhưng việc hai
tù nhân phải sống trong một phòng là điều cần tránh Cần phải có kiểm tra đêm để đảm bảo đảm tình hình an ninh trong trại giam Mọi chỗ nghỉ cho tù nhân, đặc biệt
là chỗ ngủ, cần phải đảm bảo yêu cầu sức khỏe, cần có sự quan tâm đến điểu kiện môi trường, không khí, không gian sàn tối thiểu, hệ thống sưởi và thông khí
- Quần áo, vệ sinh cá nhân: Các tù nhân được cung cấp nước và đồ dung vệ sinh cần thiết để giữ gìn sức khỏe và sự sạch sẽ Những quần áo mà tù nhân mặc không được thể hiện sự hạ nhục hay lăng mạ Tất cả quần áo phải được giữ sạch sẽ
và trong điều kiện tốt
- Chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể thao: Mọi tù nhân phải được cung cấp đồ
ăn với giá trị dinh dưỡng phù hợp cho sức khỏe vào thời gian nhất định, đảm bảo chất lượng, được chuẩn bị cẩn thận và phục vụ chu đáo Nước uống phải luôn có sẵn để tù nhân có thể sử dụng ngay khi cần Mọi tù nhân không được lao động bên ngoài phải có ít nhất một giờ tập thể dục thích hợp ở ngoài trời hàng ngày nếu thời
tiết cho phép, tùy vào từng độ tuổi khác nhau mà có hoạt động thể lực cho phù hợp
- Chăm sóc sức khỏe: Mọi trại giam phải có ít nhất một cán bộ y tế có đủ
trình độ, có một số kiến thức về tâm sinh lý cung cấp dịch vụ Các dịch vụ y tế cần được tổ chức trong mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan quản lý y tế chung của cộng đồng hay quốc gia Dịch vụ y tế phải bao gồm chuyên môn tâm thần để chuẩn đoán,
và trong một số trường hợp thích đáng, điều trị những trạng thái thần kinh không
Trang 35bình thường Các tù nhân bị ốm và cần điều trị đặc biệt phải được chuyển sang
những nhà tù chuyên biệt hoặc chuyển tới các bệnh viện dân sự
1.3.2 Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo hoặc hạ nhục
Nguồn: Điều 5 UDHR; Điều 7 ICCPR; Công ước chống tra tấn CAT… Điều 1 Công ước chống tra tấn CAT đưa ra định nghĩa “tra tấn” như sau:
“Tra tấn có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ
đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất
kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức.” [16, tr.148]
Tra tấn thường xảy ra trong khi các nạn nhân bị biệt giam, tức là họ không thể liên lạc với những người bên ngoài để những người này có thể giúp đỡ hay biết được điều gì đang xảy ra với họ Chính phủ cần bảo đảm rằng biệt giam không trở thành cơ hội để tra tấn Điều quan trọng là tất cả tù nhân được đưa ra cơ quan tư pháp ngay sau khi bị giam cầm và những người thân, luật sư và các bác sĩ đều được tiếp xúc nhanh chóng và đều đặn với họ Ở một số nước, tra tấn xảy ra tại các trung tâm bí mật, sau khi các nạn nhân bị “biến mất” Chính phủ phải bảo đảm rằng tù nhân được giam ở những nơi công khai, và được thông tin chính xác về nơi giam giữ cho người thân và luật sư của họ
Hành động tra tấn gây ra những sự đau đớn của con người cả về thể xác lẫn tinh thần Theo các văn kiện quốc tế hiện tại những hành vi tra tấn được thực hiện bởi những thủ phạm phi công chức, (ví dụ việc một nhóm phiến quân bắt cóc con tin và tra tấn họ hay việc một người chồng đánh đập vợ mình) sẽ không thuộc nội hàm của hành động tra tấn Nhằm góp phần làm rõ hơn quyền không bị tra tấn hoặc
Trang 36đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, luật quốc tế đề cập đến các tiêu chí xác định thế nào là giam giữ nhân đạo gồm:
- Không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục;
- Nơi giam giữ được xác định; việc giam giữ phải được ghi chép vào hồ sơ;
- Được chăm sóc sức khỏe một cách thích đáng; kỷ luật phải thích đáng, không bị còng, trói, giam trong thời gian dài
Chống tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được coi là một quy phạm tập quán quốc tế về nhân quyền Bởi vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nghĩa vụ tuân thủ, bất kể có phải là thành viên của ICCPR, CAT hay bất cứ điều ước quốc tế nào khác có liên quan hay không Vào năm 1997, Liên hiệp quốc đã tuyên bố ngày 26/6 là Ngày Quốc tế hỗ trợ các nạn nhân của tra tấn
1.3.3 Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện
Nguồn: Điều 9 UDHR; Điều 9 ICCPR…
Theo Ủy ban giám sát ICCPR, điều trên được áp dụng cho tất cả những người bị tước tự do, kể cả trưởng hợp do phạm tội hay do bị tâm thần, lang thang, nghiện ma túy, hay để nhằm các mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư… [19, tr.258] Cũng theo Ủy ban nhân quyền, việc tạm giam trước khi xét xử chỉ nên coi
là ngoại lệ và càng ngắn càng tốt; thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 3 Điều 9 ICCPR tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia, tuy nhiên không
nên vượt quá vài ngày [19, tr.259]
Như vậy, việc bắt, giam giữ được coi là tùy tiện khi không dựa trên những lý
do và phù hợp với những thủ tục luật định, luật đó phải phù hợp với luật nhân quyền quốc tế Nó không chỉ bao gồm bắt, giam, giữ trái pháp luật mà còn gồm cả việc bắt, giam, giữ không thích đáng, không công bằng và bất thường Trong những trường hợp như vậy các nạn nhân có quyền được yêu cầu bồi thường
1.3.4 Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do
Theo đó thì việc đối xử với tù nhân trong hệ thống trại giam nhằm mục đích chính yếu là cải tạo và đưa họ trở lại xã hội, chứ không phải nhằm mục đích trừng phạt hay hành hạ họ Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền này được quy
Trang 37định cụ thể trong Điều 10 ICCPR, theo đó: “Những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người” Khoản
2 Điều này quy định:
“Trừ những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ tách biệt với những người đã bị kết án và phải được đối xử theo chế độ riêng, phù hợp với quy chế dành cho những người bị tạm giam Những bị can chưa thành niên phải được giam giữ tách riêng khỏi người lớn và phải được đưa ra xét xử càng sớm càng tốt” [16, tr.82]
Ủy ban giám sát ICCPR cho rằng việc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do là một nguyên tắc cơ bản về nhân quyền trong
tố tụng hình sự mà các quốc gia thành viên phải áp dụng như một yêu cầu tối thiểu, không phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có của quốc gia và không mang tính phân biệt
đối xử dưới bất kỳ hình thức nào [19, tr.291]
1.3.5 Quyền được hưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên
Nhóm quyền này bao gồm nhiều quyền cụ thể nhằm đảm bảo người chưa thành niên được hưởng tố tung riêng, có xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy
sự phục hồi nhân cách của họ Hiện nay theo luật nhân quyền quốc tế hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên đồng nhất với nhau Cụ thể tại Điều 1 Công ước
quốc tế về quyền trẻ em CRC (Convention on the Rights of the Child) năm 1989
quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [16, tr.64] Còn tại Điều 11 của
“Các quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do năm 1990” khẳng định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” [16, tr.708]
Người chưa thành niên có nhiều hạn chế về thể chất, tâm sinh lý, bởi vậy cộng đồng quốc tế đã dành nhiều quan tâm bảo vệ người chưa thành niên về mặt pháp lý Theo đó, người chưa thành niên làm trái pháp luật phải được hưởng những đảm bảo tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những người đã thành niên Việc áp dụng các biện pháp tước tự do cũng như thi hành tố tụng với những người chưa thành niên làm trái pháp luật cần tính đến độ tuổi của các em và khuyến khích các
em hoàn lương Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước
Trang 38tự do tại Điều 2 khẳng định: “…Việc tước tự do của người chưa thành niên chỉ được sử dụng như là biện pháp cuối cùng và trong một thời gian cần thiết tối thiểu,
và chỉ nên giới hạn đối với những trường hợp ngoại lệ…” [16, tr.705] Khoản 4 Điều 14 ICCPR quy định thủ tục áp dụng đối với người chưa thành niên phải xem xét đến độ tuổi và khuyến khích sự phục hồi của trẻ [16, tr.84] Công ước quyền trẻ
em CRC 1989 tại mục b khoản 2 Điều 40 cũng khẳng định các quyền của trẻ em được các đảm bảo khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự [16, tr.179] Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh)
1985 đã dành nhiều ưu đãi đặc biệt cho người chưa thành niên Ngoài ra Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do 1990, bên cạnh việc quy định rất nhiều bảo đảm đối với người chưa thành niên, cũng nhấn mạnh quyền có luật sư bào chữa và được yêu cầu trợ giúp pháp lý không phải trả tiền trong giai đoạn chờ xét xử của họ [16, tr.710]
1.4 Cơ chế bảo đảm quyền của người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế
1.4.1 Cơ chế quốc tế
Dựa trên vị thế pháp lý và chức năng, nhiệm vụ, các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc được chia làm hai dạng là cơ chế dựa trên Hiến chương và cơ chế
dựa trên Công ước Cụ thể:
1.4.1.1 Cơ chế dựa trên Hiến chương
Là khái niệm chỉ cơ cấu tổ chức và thủ tục hoạt động của các cơ quan chính của Liên hợp quốc trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng
a Hệ thống cơ quan:
Dựa trên Hiến chương, Liên hợp quốc thành lập 6 cơ quan chính, trong đó, hiện nay hội đồng quản thác đã chấm dứt hoạt động, các cơ quan còn lại đều tham gia vào việc bảo vệ nhân quyền trên thế giới: Đại hội đồng là cơ quan thiết lập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người; Xây dựng bộ máy cơ quan nhân quyền của Liên hợp quốc; Quyết định việc xử lý các vi phạm quyền con người Hội đồng bảo
an (HĐBA) là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có quyền áp dụng các biện pháp
Trang 39cưỡng chế; Hội đồng kinh tế và xã hội - ECOSOC (The United Nations Economic
and Social Council)có vai trò điều hành cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh
tế và xã hội Tòa án công lý Quốc tế - ICJ (Internatinonal Court of Justice) có chức
năng xem xét, xử lý các tranh chấp về quyền con người Ban thư ký liên hợp quốc,
có chức năng cung cấp dịch vụ hành chính cho tất cả các cơ quan trong đó có các cơ quan nhân quyền và điều phối các chương trình hoạt động về quyền con người trong
cả hệ thống Liên hợp quốc Để phục vụ cho hoạt động của mình, các cơ quan chính thành lập thêm các cơ quan giúp việc, có nhiệm vụ chung là hỗ trợ các cơ quan này trong các hoạt động về quyền con người Trong đó nổi bật là hội đồng nhân quyền –
UNHRC (The United Nations Human Rights Council), có chức năng thực hiện đánh giá định kỳ toàn thể về nhân quyền (cơ chế UPR - Universal Periodic
Review); tiến hành các thủ tục điều tra đặc biệt; thúc đẩy tôn trọng, bảo vệ thực thi
quyền con người ở các quốc gia UNHRC đã thiết lập một nhóm chuyên môn hỗ trợ trong hoạt động về quyền của nhóm người bị tước tự do Đó là nhóm công tác về
giam giữ tùy tiện (Working Group on Arbitrary Detention) - WGAD
Nhóm công tác về giam giữ tùy tiện WGAD là cơ quan chuyên môn được thành lập năm 1991 bởi Nghị quyết 1991/42 của Uỷ ban quyền con người Liên hợp quốc -
UNCHR (The United Nations Commission on Human Rights) trước đây, nay WGAD
trực thuộc UNHRC Nhiệm vụ chính của nhóm (đã được mở rộng thêm thời hạn ba năm theo Nghị quyết 15/18 ngày 30/9/2010) là điều tra các trường hợp tước quyền tự
do một cách tùy tiện hoặc không thích hợp với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan được quy định trong UDHR hoặc trong các văn kiện pháp luật quốc tế được quốc gia liên quan chấp nhận Hàng năm nhóm đệ trình một báo cáo đến Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc UNHRC trình bày về các hoạt động, kết quả, kết luận và khuyến nghị Ngoài ra, WGAD còn phối hợp với các cơ chế khác của UNHRC, với các cơ quan có thẩm quyền của Liên Hợp Quốc và với các cơ quan điều ước quốc tế, sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để tránh trùng lặp với những cơ chế khác, đặc biệt liên quan đến việc xử lý các khiếu kiện mà nhóm nhận được và khảo sát thực địa Thành viên của
WGAD bao gồm năm chuyên gia độc lập (xem phụ lục 1)
Từ khi thành lập cho đến năm 2011 WGAD đã thực hiện 37 (ba mươi bảy)
Trang 40chuyến thăm đến các đất nước khác nhau để thực hiện việc điều tra các trường hợp
tước quyền tự do một cách tùy tiện hoặc không thích hợp với các tiêu chuẩn quốc tế
(phụ lục 2) Các chuyến đi thăm tạo cơ hội cho nhóm làm việc, thông qua đối thoại
trực tiếp với Chính phủ có liên quan và đại diện của xã hội dân sự, để hiểu rõ hơn
về tình hình phổ biến ở nước này, cũng như những lý do cơ bản cho các trường hợp tước tự do tùy tiện hoặc biện pháp tốt nhất ngăn chặn giam giữ tùy tiện xảy ra Chuyến thăm này diễn ra trên cơ sở một lời mời của Chính phủ có liên quan Sau khi kết thúc chuyến thăm, nhóm công tác gửi báo cáo của chuyến thăm cho Hội đồng Nhân quyền, trình bày kết luận và kiến nghị
Tháng 7/2012, UNHRC giao Nhóm công tác nhiệm vụ soạn thảo các nguyên tắc và hướng dẫn nhằm hỗ trợ các nước thành viên trong việc thực hiện nghĩa vụ của họ để tránh việc tước quyền tự do một cách tùy tiện Một báo cáo bao gồm các nguyên tắc và hướng dẫn cơ bản sẽ được trình lên UNHRC vào năm 2015 Năm
2012, Nhóm đã thông qua 69 ý kiến liên quan đến 198 người ở 37 nước Nhóm cũng chuyển 104 lời kêu gọi khẩn cấp đến 44 Chính phủ liên quan đến 606 cá nhân, trong đó có 56 phụ nữ Các chính phủ và các nguồn báo cáo rằng 21 người đã được phóng thích Trong trường hợp khác, các nhóm công tác đã được đảm bảo rằng những người bị bắt có liên quan sẽ được đảm bảo xét xử công bằng [39]
b Thủ tục hoạt động chính bảo vệ và thúc đẩy quyền của người bị tước tự do của các cơ quan Liên hợp quốc dựa trên hiến chương:
- Cơ chế Đánh giá định kỳ toàn thể (UPR): Đây là thủ tục sẽ đánh giá định
kỳ việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của tất các quốc gia thành viên Liên hợp quốc dựa trên báo cáo từ các nguồn khác nhau UNHRC thành lập một Nhóm công tác (working group) tiến hành ba kỳ họp mỗi năm, đánh giá 16 quốc gia Tiến trình UPR bao gồm các bước: chuẩn bị thông tin làm cơ sở cho việc xem xét, xem xét đánh giá, kết luận đánh giá, thực hiện các khuyến nghị
- Giải quyết khiếu nại vi phạm quyền con người: Vấn đề tiếp nhận và xử
lý những khiếu nại về vi phạm con người được quy định tại Điều 87 Hiến chương, Nghị quyết của ECOSOC, đặc biệt trong các nghị quyết 728F, 227X, 474A, 607, 1235, 1503…