1.2.2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô Xuất khẩu sản phẩm thô là một trong các chiến lược khuyến khích xuất khẩu, thực hiện chủ yếu ở các nước phát triển, các nước này tiến hành xuất kh
Trang 2Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2013
Có điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nhưng giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn thấp
so với các nước khác Giá cả cà phê biến động thất thường khiến ngành cà phê thường xuyên rơivào thế bị động, đặc biệt trong những năm gần đây, tuy kim ngạch xuất khẩu đạt được một sốthành tựu nhất định nhưng lại không ổn định
Để giúp mọi người nắm rõ hơn vấn đề về sự phát triển của ngành xuất khẩu cà phê Việt Nam,nhóm 6 đã quyết định chọn đề tài thảo luận:
“Thực trạng xuất khẩu cà phê ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 9/2013 và những phương hướng giải pháp phát triển ngành xuất khẩu cà phê của Việt Nam”.
Trong đề tài thảo luận này, nhóm 6 đi sâu tìm hiểu những vấn đề sau:
- Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2005- 9/2013
- Những tồn tại trong ngành xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn trên
- Những phương hướng giải quyết cho ngành xuất khẩu cà phê của Việt Nam phù hợp nhất vớiđiều kiện nền kinh tế, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay
Trang 31.2 Một số khái niệm và mô hình có liên quan
1.2.1 Thương mại quốc tế và vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế thị trường
Thương mại quốc tế (TMQT) là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hànghóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích chocác bên
Adam Smith là người đầu tiên giải thích hoạt động thương mại giữa các quốc gia thông qua líthuyết lợi thế tuyệt đối (LTTĐ) Theo đó, một quốc gia được cho là có LTTĐ so với quốc giakhác trong việc sản xuất một hàng hóa nào đó nếu như với cùng một đơn vị nguồn lực, quốc gia(QG) đó có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa hơn, nghĩa là có năng suất lao động cao hơn (chi phísản xuất thấp hơn) Giả sử có hai QG mà mỗi QG có một LTTĐ so với QG kia trong việc sảnxuất một hàng hóa thì cả 2 QG sẽ đều có lợi hơn nếu đi vào chuyên môn hóa sản xuất và xuấtkhẩu hàng hóa mà nó có LTTĐ và nhập khẩu hàng hóa mà nó không có LTTĐ Lý thuyết LTTĐchỉ ra rằng TMQT xuất hiện là do sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các QG Nhưng trongthực tế, sự trao đổi hàng hóa giữa các nước không phải chỉ do sự chênh lệch về chi phí sản xuất,các QG có cùng trình độ sản xuất và có chi phí sản xuất ra các hàng hóa như nhau nhưng vẫntrao đổi hàng hóa được với nhau Lý thuyết LTTĐ chưa thể giải thích một cách đầy đủ cơ sở củacác quan hệ TMQT giữa các nước
Các nhà kinh tế học hiện đại ngày nay cho rằng, quan hệ TMQT của các nước đều dựa trên lợithế so sánh (LTSS) Lý thuyết về LTSS lần đầu tiên được các nhà kinh tế Cổ điển đưa ra và đượctiếp tục bổ sung bởi các nhà kinh tế Tân cổ điển và các nhà kinh tế hiện đại Theo đó, một QG sẽ
có LTSS so với một QG khác trong sản xuất một hàng hóa khi nó sản xuất hàng hóa đó với chiphí tương đối là thấp hơn QG kia Các QG sẽ đều có lợi hơn khi đi vào chuyên môn hóa sản xuất
và xuất khẩu mặt hàng mà họ có LTSS và nhập khẩu những mặt hàng mà họ không có LTSS.TMQT có những vai trò lớn trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Thứ nhất, sự tăngtrưởng kinh tế được thể hiện ở việc mở rộng khả năng tiêu dùng của 1 nước, khả năng tiêu dùngvượt quá khả năng sản xuất trong nước hay nói cách khác là đạt điểm tiêu dung nằm ngoàiđường giới hạn khả năng sản xuất Thứ hai, TMQT thúc đẩy sự phân chia thu nhập công bằnghơn từ việc sở hữu các yếu tố sản xuất và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đó Thương
Trang 4mại thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích các khu vực kinh tế phát huy lợi thế sosánh của mình
Ví dụ: Khi không có thương mại, đường giới hạn khả năng sản xuất và cũng là tiêu dùngcủa Mỹ và Anh như sau Mỹ sản xuất tại điểm A, Anh sản xuất tại điểm A’ (Qc: vải, Qw:lúa mì)
Sau khi có thương mại, Mỹ chuyển đến tiêu dùng tại điểm E và Anh tiêu dùng tại E’ nằmngoài đường giới hạn sản xuất - tiêu dùng lúc đầu
1.2.2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô
Xuất khẩu sản phẩm thô là một trong các chiến lược khuyến khích xuất khẩu, thực hiện chủ yếu
ở các nước phát triển, các nước này tiến hành xuất khẩu sản phẩm của những ngành nông nghiệp
và công nghiệp khai thác sang các nước công nghiệp phát triển Ví dụ: gạo, cà phê, than đá, hạtđiều, v.v…Với đặc thù của các nước đang phát triển là trình độ kỹ thuật lạc hậu để phát triển các
Trang 5ngành công nghiệp chế biến, thiếu vốn và thừa lao động, rất phù hợp với chiến lược xuất khẩusản phẩm thô, như Việt Nam, …
Hoạt động xuất khẩu sản phẩm thô đã đem lại những lợi ích không hề nhỏ cho nền kinh tế Đầutiên phải kể đến đó là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho các nước đang phát triển, 60-70% thu nhậpngoại tệ của các nước đang phát triển là từ xuất khẩu nguyên liệu thô Bên cạnh đó, xuất khẩusản phẩm thô góp phần phát triển kinh tế theo chiều rộng: để có được các sản phẩm thô đòi hỏiphải thu hút các yếu tố nguồn lực cần thiết như vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, lao động
có tay nghề, tăng quy mô khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên trong nước…tức là tăng các yếu
tố đầu vào, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô gópphần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua sự mở rộng các mối liên hệ xuôi,mối liên hệ ngược và mối liên hệ gián tiếp Ngoài ra, xuất khẩu sản phẩm thô tạo ra nguồn tíchlũy ban đầu để tiến hành công nghiệp hóa Doanh thu từ xuất khẩu sản phẩm thô là một nguồnvốn ngoại tệ hết sức quan trọng đối với các nước đang phát triển, để nhập khẩu công nghệ, kỹthuật, nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp trong nước Mặt khác, chiến lược khuyếnkhích xuất khẩu sản phẩm thô là động lực mạnh mẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triểnkinh tế trong nước
Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm thô vẫn không thể coi là một chiến lược dài hạn cho các nướcđang phát triển vì chiến lược này có rất nhiều hạn chế và trở ngại
Thứ nhất là trở ngại từ phía cung cầu không ổn định Thời tiết, khí hậu thất thường, sự biến đổikhí hậu toàn cầu, tốc độ gia tăng dân số cao, xu hướng tăng dự trữ quốc gia về lương thực làmnhu cầu trong nước tăng lên ở các nước đang phát triển cùng với sự phát triển của khoa học kỹthuật đã làm xuất hiện các sản phẩm tổng hợp thay thế các loại nguyên liệu có nguồn gốc tựnhiên
Điều này cũng dẫn đến trở ngại do thu nhập biến động Thực tế chỉ ra rằng thu nhập của cácđang phát triển biến động nhiều nhất khi nước đó quá tập trung vào xuất khẩu một hay một vàimặt hàng vào một số thị trường nhất định Cầu đối với các sản phẩm thô là rất ít co giãn, tươngđối ổn định trong khi cung lại khá co giãn Những đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập
từ xuất khẩu của các nước đang phát triển
Trang 6Tiếp đó là trở ngại do điều kiện trao đổi bất lợi Các nước xuất khẩu sản phẩm thô phải đối mặtvới sự bảo hộ sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng ở các nước phát triển dưới dạng thuếquan, quota và các hàng rào phi thuế quan khác…nhằm bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nước
để đối phó với sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ từ các nước đang phát triển Bêncạnh đó, các nước đang phát triển hiện nay xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm thô, trong khi lạiphải nhập khẩu hàng công nghệ từ các nước phát triển mà giá cả các sản phẩm thô có xu hướnggiảm liên tục so với giá hàng công nghiệp, điều đó có nghĩa là các nước này luôn phải gánh chịunhững thiệt thòi trong quan hệ thương mại
Để so sánh giá cả tương quan giữa giá cả hàng xuất khẩu và nhập khẩu, người ta dùng “Hệ sốtrao đổi hàng hóa” (In), một hệ số phản ánh sức mua hàng nhập khẩu khi xuất khẩu một đơn vịhàng hóa
Px: chỉ số giá bình quân hàng xuất khẩu; Pm: chỉ số giá bình quân hàng nhập khẩu
Tuy nhiên, hệ số In không cho ta biết nhiều sự thay đổi của thu nhập khi mà các nước đang phát triển tham gia vào trao đổi quốc tế, nó chỉ cho thấy sự thay đổi trong giá cả, sức mua vì khigiá giảm ít mà sản lượng lại tăng nhiều thì thu nhập lại có thể tăng
Một hệ số khác sẽ cho ta thấy sự thay đổi về thu nhập của các nước xuất khẩu sản phẩm thô,
“hệ số trao đổi thu nhập” (Ii), cũng là một hệ số tính sức mua hàng xuất khẩu nhưng được tínhbằng cách so sánh chỉ số thu nhập xuất khẩu với chỉ số giá nhập khẩu
Hệ số trao đổi thu nhập
Ii= Px
Pm Qx= In.QxQx: khối lượng hàng xuất khẩu
Hệ số trao đổi hàng hóa:
In= Px
Trang 7Để khắc phục những trở ngại trên, ngành xuất khẩu sản phẩm thô có những giải pháp như giải pháp kí kết các hiệp định hàng hóa, kí kết các hiệp định hàng hóa không chỉ giữa các nướcxuất khẩu với nhau mà còn giữa các nước xuất khẩu với các nước nhập khẩu, nhằm đảm bảo mộtlượng cung ổn định trên thị trường quốc tế và tạo điều kiện tăng thu nhập cho các nước xuất khẩu Ví dụ: Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ(OPEC), Hay giải pháp “kho đệm dự trữ quốc tế” là việc thành lập một quỹ chung dựa trên sựthỏa thuận của hai bên xuất khẩu và nhập khẩu, để mua hàng hóa dự trữ hoặc bán hàng dự trữ rathị trường nhằm ổn định lượng cung các sản phẩm thô trên thị trường.
2 Vị trí của ngành xuất khẩu cà phê Việt Nam trong nền kinh tế
2.1 Lợi thế so sánh trong sản xuất, xuất khẩu cà phê ở Việt Nam
Điều kiện khí hậu, địa lý và đất đai của Việt Nam rất thích hợp cho việc phát triển cây cà phê.Miền khí hậu phía nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta, phía bắc
có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với cà phê Arabica Đất đỏ bazan phân bổ khắplãnh thổ trong đó tập trung ở hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, với diện tích hàng triệu ha.Những thuận lợi về tự nhiên này giúp Việt Nam có năng suất sản xuất cà phê khá cao và tạo ra càphê có hương vị thơm ngon
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có lợi thế về nhân công Việt Nam với đội ngũ lao động khá dồi dàotrong khi quá trình sản xuất cà phê xuất khẩu đòi hỏi lực lượng lao động khá lớn Đặc biệt ởViệt Nam thì việc ứng dụng máy móc vào việc, sản xuất chế biến cà phê chưa nhiều vì thế lợi thế
về nhân công có thể giúp nước ta giảm rất nhiều chi phí cho sản xuất cà phê xuất khẩu từ đó cóthể hạ giá thành giúp cho Việt Nam có thể cạnh tranh được về giá so với các nước trên thế giới Ngoài ra, chiến lược của nhà nước khuyến khích phát triển và xuất khẩu cà phê cũng đóng vai tròquan trọng Trong những năm 2003- 2010 nhà nước đã xây dựng hoàn thiện các chiến lược mặthàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong đó cà phê được xem xét là mặt hàng chủlực số một Nghị quyết 09/2000/ NQ/ CP của chính phủ xác định quy hoạch và định hướng pháttriển cây cà phê nước ta đến năm 2010 Vì thế từ năm 2003, sản xuất cà phê nhất thiết theo quyhoạch, kế hoạch của nhà nước cả về diện tích, giống, sản lượng, chất lượng
Trang 8Do những điều kiện nói trên, chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn so với cácnước trồng cà phê xuất khẩu khác, tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho mặt hàng cà phê của ViệtNam trên thị trường thế giới Chi phí bình quân của Việt Nam là 650- 700 USD/ tấn cà phê nhân.Nếu tính cả chi phí chế biến thì giá thành cho một tấn cà phê xuất khẩu là 750- 800 USD Trongkhi đó chi phí sản xuất của Ấn Độ là 1412 triệu USD/ tấn cà phê chè, 926.9 USD/ tấn đối với càphê vối
2.2 Vai trò của xuất khẩu cà phê trong nền kinh tế
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở nước ta Hàng năm ngành cà phê đãđóng góp một kim ngạch khá lớn cho ngân sách nhà nước Kim ngạch thu được từ hoạt độngxuất khẩu cà phê những năm gần đây đều trên 2 tỷ USD, tạo nguồn vốn cho công cuộc côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam năm 2011
(nguồn: Tổng cục Hải quan)
Bên cạnh đó, xuất khẩu cà phê góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuấtphát triển Sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ giúp phát triển các ngành công nghiệp chế biến, côngnghiệp chế tạo máy móc, các ngành dịch vụ Điều này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tếnước ta theo hướng xuất khẩu Xuất khẩu cà phê cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổimới và hoàn thiện công nghệ sản xuất kinh doanh thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường đểthâm nhập trường thế giới
Xuất khẩu cũng có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sốngnhân dân, làm giảm gánh nặng về thất nghiệp cho đất nước
Trang 9Ngoài ra, xuất khẩu cà phê là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại củanước ta Hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu cà phê vào 53 quốc gia trên thế giới, tạo điều kiệnquan trọng để Việt Nam có được các quan hệ hợp tác đa phương và song phương
3 Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2005 – 9/ 2013
L ư ng xu t kh u (Tri u t n)ngu n: T ng c c h i quan và B NN&PT NT ất khẩu (Triệu tấn)nguồn: Tổng cục hải quan và Bộ NN&PT NT ẩu (Triệu tấn)nguồn: Tổng cục hải quan và Bộ NN&PT NT ệu tấn)nguồn: Tổng cục hải quan và Bộ NN&PT NT ất khẩu (Triệu tấn)nguồn: Tổng cục hải quan và Bộ NN&PT NT ồn: Tổng cục hải quan và Bộ NN&PT NT ổng cục hải quan và Bộ NN&PT NT ục hải quan và Bộ NN&PT NT ải quan và Bộ NN&PT NT ộ NN&PT NT
Lượng xuất khẩu (Triệu tấn)
2.11
2.75 3.67
2.2
Giá trị xuất khẩu (tỉ USD)
Giá trị xuất khẩu (tỉ USD)
Trang 10Nhìn chung, kể từ năm 2005 đến hết tháng 9/2013, xuất khẩu cà phê tăng mạnh cả về lượng
và giá trị
Trước hết, thời kì 2005-2008 có thể coi là một giai đoạn thành công của ngành xuất khẩu cà phê
Việt Nam, tuy lượng xuất khẩu tăng không đều nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng mạnh và ổn định
Từ năm 2005 đến năm 2006, sản lượng xuất khẩu cà phê không có chênh lệch nhiều, tuy nhiêngiá trị xuất khẩu lại tăng lên đáng kể Trong năm 2005, bình quân giá cà phê xuất khẩu khá thấp(bình quân tháng 10 chỉ đạt 813.32 USD/tấn, tháng 11 đạt 832.89 USD/tấn, tháng 12 đạt 909.06USD/tấn) Năm 2005 Việt Nam cũng đã ban hành Tiêu chuẩn cà phê xuất khẩu TCVN4193:2005, áp dụng phân loại theo cách tính lỗi để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Càphê Thế giới Mặc dù vậy, do đây là tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện, nên tất yếu dẫn đến tìnhtrạng chất lượng cà phê chưa đồng đều Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tăng 186,32 tấn tươngứng với 2.31% về khối lượng xuất khẩu và 53.21% về giá trị Nguyên nhân là trong năm 2006,giá cà phê xuất khẩu liên tục tăng cao từ 1169 USD/tấn trong những tháng đầu năm và đạt mứcbình quân 1183.7 USD/tấn trong cả năm Chất lượng cà phê đã được cả thiện, cà phê Arabica tuychưa nhiều nhưng đã thể hiện ưu thế và chất lượng so với cà phê robusta
Năm 2007 là năm thành công đối với ngành cà phê của nước ta với lượng cà phê xuất khẩu tăng252,410 tấn tương ứng với 30.69% về khối lượng xuất khẩu và 0.667 tỉ USD tương ứng 68.34%
về giá trị so với năm 2006 Có sự tăng lên này là vì chính sách sử dụng đất của chính phủ làmtăng diện tích sản xuất cà phê và người nông dân nhận thấy được nguồn lợi lớn từ cây cà phê.Năm 2008, xuất khẩu cà phê giảm 18.6% về lượng, nhưng lại tăng 7.2% về trị giá do nhữngthuận lợi về giá cà phê thế giới Giá cà phê thế giới tăng từ 1,463 USD/tấn trong năm 2007 lên1,937USD/tấn Đặc biệt, giá cà phê thế giới (tại sàn London) lên cao đến mức lý tưởng (trên
2800 USD/tấn) Với vị thế là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới (sau Bra-xin), kimngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã đạt mức kỷ lục với 2.1 tỷ USD, gấp 23.3 lần so vớinăm 1990; đánh dấu 3 vụ liên tiếp thắng lợi lớn với kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD Thịtrường nhập khẩu cà phê nhân sống của Việt Nam được mở rộng sang 75 quốc gia và vùng lãnhthổ; trong đó, các nước mua nhiều cà phê Việt Nam là Đức, Hoa Kỳ, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ,Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Anh Tuy nhiên, Việt Nam ít xuất khẩu mặt hàng cà phê chế biến (cà
Trang 11phê hòa tan, cà phê rang xay, cà phê 3 trong 1) mà chủ yếu vẫn tiêu thụ nội địa Cà phê chế biếnđược đưa sang thị trường Canada, Đức, Hoa Kỳ, Australia, Hàn Quốc.
Giai đoạn 2009-2010, lượng xuất khẩu cà phê có sự gia tăng tương đối, nhưng giá trị xuất khẩulại giảm mạnh
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2009 Việt Nam đã xuất khẩu tổng cộng khoảng1,163 triệu tấn cà phê (chủ yếu là cà phê robusta) sang 97 quốc gia, đạt kim ngạch 1.705 tỉ Đô-la
Mỹ, tăng 2.6% về lượng nhưng lại giảm tới 21.3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó,xuất khẩu cà phê tới 10 thị trường lớn nhất (trừ Bỉ và Hà Lan) đều có mức sụt giảm kim ngạchkhá mạnh (từ 5-45%) so với cùng kỳ năm 2008
Nguyên nhân chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế thế giới khiến giá cà phê robusta trên thị trường thế giới liên tục xuống thấp, tình trạng này kéo dài hết năm 2009 tới những tháng đầu năm 2010.
Giá cà phê trong 3 tháng đầu năm 2009 giá đã sụt giảm mạnh, chỉ còn dao động trên dưới 1500USD/tấn Tại Tây Nguyên, giá cà phê nhân xô cũng tuột dốc, từ 34.000 – 35.000 đồng/kg xuốngcòn 25.000 đồng, thậm chí có thời điểm xuống 22.000 đồng/kg Mức giá này khiến nông dânthua lỗ vì phải đối mặt với giá vật tư đầu vào tăng cao Mặc dù trong năm 2009, Chính phủ đãđưa ra nhiều chính sách mới nhằm thúc đẩy việc tái cơ cấu lại cây cà phê, nhưng phần lớn ngườinông dân vẫn còn đầu tư và mở rộng diện tích sản xuất cây trồng hiện có
Đầu năm 2010, bất chấp những dự báo khá lạc quan về kinh tế toàn cầu cũng như tình hình tiêuthụ và dự trữ cà phê thế giới, viễn cảnh về một năm khởi sắc trở lại của cà phê Việt Nam dườngnhư vẫn không mấy sáng sủa Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy quí 1-2010, cả nướcmới xuất khẩu được khoảng 345,000 tấn cà phê với kim ngạch khoảng 483 triệu USD, giảm tới22.3% về lượng và giảm 27.8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, phần giảm do
số lượng giảm là 147 triệu đô la và phần giảm do giá giảm là 39 triệu đô la Đơn giá xuất khẩubình quân cũng giảm 7.4%, xuống chỉ còn 1398 USD/tấn, đưa cà phê trở thành mặt hàng duynhất trong các nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm sovới cùng kỳ năm 2009 Sở dĩ giá cà phê robusta trong quí 1-2010 giảm mạnh không phải do nhucầu giảm mà do đây là thời điểm thu hoạch chính vụ của cà phê robusta Nguồn cung ra thị
trường quá lớn trong một thời gian ngắn đã tạo cơ hội cho các nhà đầu cơ ép giá xuống Bên
Trang 12cạnh yếu tố cung - cầu, vấn đề tỷ giá cũng sẽ gây ảnh hưởng lớn tới thị trường cà phê thế giới.Cuối tháng 3-2010, cuộc khủng hoảng nợ công tại các nước thuộc khu vực đồng euro đã khiếnđồng đô la Mỹ tăng giá mạnh so với euro Hậu quả là các nhà đầu cơ đã ồ ạt bán tháo, đẩy giá càphê xuống mức thấp nhất trong nhiều năm tính đến thời điểm đó
Cùng với giá cả thì chất lượng cà phê thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến việc xuất khẩu gặp khó.Thời tiết bất thường, mưa nhiều trong năm qua đã khiến việc phơi và bảo quản không đảm bảo,dẫn đến chất lượng cà phê bị giảm sút, nên các công ty xuất khẩu tốn nhiều thời gian xử lý trướckhi xuất
Có thể thấy trong giai đoạn này ngành cà phê trong nước phải đối mặt với những biến động quá
lớn, diễn biến phức tạp, khó lường, hoạt động xuất khẩu cà phê luôn bị các nhà đầu cơ quốc tếthao túng Mà theo đánh giá của các chuyên gia là do họ biết các doanh nghiệp Việt Nam cònnhiều lô hàng “bán trừ lùi” chưa chốt giá (do chờ giá sẽ lên), nên họ đã cố tình ép giá xuống.Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cà phê theo phương thức trừ lùi bị thua lỗ rất nặng, vì có nhữngdoanh nghiệp ký hợp đồng trừ lùi lên đến 90-100 USD/tấn, thậm chí 120 USD/tấn lúc đầu vụ
Trước tình hình đó, ngày 13/4/2010, Chính phủ ra Quyết định 481/QĐ-TTg ngày 13/4/2010 về
việc mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê cho nông dân nhằm chặn đà giảm giá và giúp nông dân
không bán tháo hàng khi niên vụ thu hoạch 2010 kết thúc
Đại diện các doanh nghiệp cà phê đều khẳng định việc thực hiện hỗ trợ thu mua tạm trữ càphêniên vụ 2009-2010 theo quyết định 48/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thực sự mang lạihiệu quả, chính sách thu mua tạm trữ cà phê đã giúp cho nông dân và doanh nghiệp đều có lợi.Theo báo cáo của Cục Chế biến thương mại Nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn), việc thu mua tạm trữ cà phê theo quyết định của Chính phủ đã có tácđộng tích cực đối với thị trường và người nông dân
Việc thu mua tạm trữ càphê đã giúp nông dân tiêu thụ được cà phê với giá cao, ổn định sản xuất,đồng thời tạo áp lực trên thị trường để nâng giá càphê robusta, tăng kim ngạch xuất khẩu cho càphê Việt Nam cũng như giúp ngành cà phê Việt Nam phát huy được thế mạnh của mình và pháttriển bền vững.Tính đến cuối tháng 7-2010, các công ty sản xuất, kinh doanh cà phê đã thu mua