Thực tế giáo dục cho thấy rằng, trình độ đào tạo và năng lực của đội ngògiáo viên Tiểu học ở nước ta còn nhiều hạn chế; mặc dù tỉ lệ giáo viên giỏihiện nay tăng lên đáng kể so với những
Trang 1xã hội đang hướng tới, trong đó vai trò của thế hệ trẻ không chỉ là lực lượngtiên phong với bản lĩnh, năng lực, tri thức khoa học tiên tiến hiện, đại mà điềuquan trọng hơn là họ còn phải có khả năng độc lập, sáng tạo trong mọi lĩnhvực của cuộc sống Đứng trước những yêu cầu cấp bách đó nền giáo dục đangphải chịu những sức Ðp hết sức nặng nề, đặc biệt là đối với hệ thống giáo dụcphổ thông Nhiệm vụ cao cả là không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy,nhanh chóng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xãhội và ngành giáo dục.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và các giải pháp trọng tâm chocho hệ thống giáo dục phổ thông nói riêng hiện nay, các nhà giáo dục đangcùng toàn xã hội không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp,phương tiện dạy học
Mét trong những cấp học được quan tâm, chú trọng đầu tiên là cấp Tiểuhọc và việc nâng cao chất lượng đội ngò giáo viên tiểu học là yếu tố quyếtđịnh đóng vai trò “nền tảng”
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 đặt
ra mục đích cần có những thay đổi triệt để trong giáo dục Mục đích này có ýnghĩa nh mét tầm nhìn chiến lược được áp dụng cho cả hệ thống giáo dục từTrung ương đến địa phương
Trang 2Nhiệm vụ đổi mới giáo dục liên tục được đề ra trong các Nghị quyết củaĐảng và Quốc hội:
- Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học
- Nghị quyết số 40/2000/QH X về đổi mới chương trình giáo dục phổthông đã khẳng định: Mục tiêu là xây dựng nội dung, chương trình, phươngpháp giảng dạy, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáodục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH đất nước; phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cậntrình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thếgiới
- Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) đề ra nhiệm vụ:Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phươngpháp dạy học
- Điều 14- Luật giáo dục đã nêu rõ “nhà giáo giữ vai trò quyết định trongviệc đảm bảo chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học trong đó có cấp tiểuhọc” [20]
Trên cơ sở đó đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã đưa ranhững định hướng sau cho cấp tiểu học
+ Chương trình hành động 2.5: Thực hiện cải cách chương trình giảngdạy mới (2002- 2007)
+ Chương trình hành động 2.9: cải tiến liên tục chương trình tiểu học(2008 - 2015)
Tạo điều kiện tiếp cận giáo dục tiểu học có chất lượng, phù hợp với điềukiện kinh tế cho tất cả trẻ em; tập trung vào các kỹ năng cơ bản nh: đọc, viết,tính toán, nói, nghe
Vì vậy, việc cần thiết và cấp bách là tiếp tục xây dựng đội ngò giáo viênTiểu học có đủ trình độ và những năng lực nhất định để đáp ứng yêu cầu ngày
Trang 3càng cao của giáo dục, trong đó việc rèn luyện các kỹ năng dạy học là cơ bảnnhất.
- Về mặt thực tiễn
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng: Kỹ năng dạy họccủa người giáo viên là yếu tố quyết định cho sự thành công của công tác giảngdạy Song việc xác định chính xác, đầy đủ, cụ thể các kỹ năng này đòi hỏinhững nhà giáo dục, nhà nghiên cứu giáo dục phải có trình độ chuyên môn vàphải có thời gian, có tâm huyết và đặc biệt để sử dụng thành thạo, linh hoạt,sáng tạo và có hiệu quả các kỹ năng này lại là một việc khó hơn Hiện naytrước bối cảnh nền giáo dục của chúng ta đang có những chuyển biến mạnh
mẽ về quan điểm, đường lối và cách thức thực hiện, cụ thể là đổi mới chươngtrình sách giáo khoa cho các cấp học, từ năm học 2002 – 2003 thì việc ngườigiáo viên tiếp cận, lĩnh hội những thay đổi đú cũn nhiều khó khăn và sẽ khôngtránh khỏi những bất cập
Một mặt do tính chất mới mẻ, hiện đại, đa dạng của chương trình mới;mặt khác do công tác tập huấn, chuẩn bị chưa đồng bộ, chưa khoa học, trongthời gian ngắn nên giáo viên chưa tiếp thu lĩnh hội hết tinh thần, nội dung củachương trình dẫn đến việc chưa đáp ứng yêu cầu
Thực tế giáo dục cho thấy rằng, trình độ đào tạo và năng lực của đội ngògiáo viên Tiểu học ở nước ta còn nhiều hạn chế; mặc dù tỉ lệ giáo viên giỏihiện nay tăng lên đáng kể so với những năm trước đây song chất lượng chưacao và chưa đồng đều, phương pháp dạy học của giáo viên còn lạc hậu, việcđổi mới phương pháp chưa đi vào chiều sâu, đội ngò giáo viên già hoá.Nguyên nhân của thực trạng này là do trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưacao, chưa đồng đều, chưa đi sâu rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cụthể trờn lớp
Trang 4Trước thực tế đó, để cú thờm cơ sở khoa học cho việc đánh giá kết quảchương trình đổi mới nội dung sách giáo khoa của cấp Tiểu học, đặc biệt làđánh giá các kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học tụi đó chọn đề
tài nghiên cứu “Thực trạng kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học
Yên Dũng – Bắc Giang theo yêu cầu của chương trình mới”.
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3 1 Khách thể nghiên cứu
Năng lực tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên Tiểu học
3 2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học Yên Dũng –Bắc Giang theo yêu cầu của chương trình mới
4 Giả thuyết khoa học
Trong năng lực dạy học của người giáo viên Tiểu học thì kỹ năng dạytrờn lớp là một thành tố quan trọng nhất, kỹ năng này phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố, trong đó có việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên Hiệnnay, giáo viên Tiểu học chưa vận dụng đầy đủ, thành thạo, linh hoạt, sáng tạocác kỹ năng trong quá trình dạy trờn lớp, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầucủa chương trình giáo dục Tiểu học mới Nếu khảo sát thực trạng kỹ năng dạyhọc trờn lớp của giáo viên sẽ giúp chúng ta có cái nhìn bao quát, chính xáchơn, từ đó đề xuất, áp dụng những biện pháp rèn luyện có hiệu quả nhất chogiáo viên Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 55.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về kỹ năng dạy học nói chung và
kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học nói riêng
5.2 Khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng việc sử dụng các kỹ năng củagiáo viên Tiểu học ở một số trường Tiểu học thuộc địa bàn Yên Dũng – BắcGiang và lý giải một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
5 3 Đề xuất một số biện pháp để góp phần nâng cao chất lượng đội ngògiáo viên Tiểu học và nêu một số ý kiến về việc sử dụng kỹ năng dạy trờn lớpcho cấp học này
6 Phạm vi nghiên cứu
Kỹ năng dạy trờn lớp của giáo viên là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của công tác giảng dạy và giáo dục Việc hình thành, rèn luyệncác kỹ năng này đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc mục tiêu, nội dungchương trình, phương pháp của cấp học; phải có sự say mê, nhiệt tình, lòngyêu nghề, mến trẻ…
Trong đề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 126 giáo viên Tiểu họccủa 9 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang
Song do điều kiện và thời gian hạn hẹp đề tài chỉ tiến hành điều tra thựctrạng kỹ năng dạy trờn lớp của giáo viên Tiểu học theo yêu cầu của chươngtrình mới
7 Phương pháp nghiên cứu
7 1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan, sắp xếp lại thành hệ thống vàphân loại hệ thống các tài liệu đó
7 2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7 2 1 Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát trực tiếp quá trình tổchức dạy học trờn lớp của giáo viên
7 2 2 Phương pháp điều tra
Trang 6- Thông qua phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với giáo viên, cán bộ quản
lý, phụ trách chuyên môn
- Phỏng vấn, trò chuyện với học sinh
- Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi
7 2 3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Thông qua hồ sơ, giáo án giảng dạy, kế hoạch giảng dạy, biên bản dựgiê, thu hoạch cá nhân
- Thông qua sản phẩm của học sinh
7 2 4 Phương pháp chuyên gia
Qua trao đổi trực tiếp, hội thảo khoa học để hỏi ý kiến các chuyên gia
7 2 5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 2 6 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu và tổng kết
8 Cấu trúc của luận văn.
Luận văn dài 90 trang; ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mụctài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung chủ yếu thể hiện trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2 Thực trạng kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học
Yên Dũng- Bắc Giang theo yêu cầu của chương trình mới
Chương 3 Các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo
viên Tiểu học Yên Dũng- Bắc Giang
Trang 7CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1 1 1 Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Khi nghiên cứu về nhân cách người giáo viên, các nhà giáo dục và hoạtđộng xã hội bao giê cũng đề cập đến hai mặt của cấu trúc nhân cách tổng thể,
đó là phẩm chất và năng lực của người thầy giáo
A I Ghecxen đã chỉ ra rằng: không chỉ tri thức mà cả nhân cách của giáoviên sẽ ảnh hưởng đến trẻ em
K D Usinxki còng cho rằng: trong dạy học và giáo dục, tất cả phải dựatrờn nhân cách của người thầy, thầy giáo dùng nhân cách của chính mình đểtác động đến học sinh Nhân cách đó bao gồm: phẩm chất chính trị, sự giácngộ lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ, lòng yêu nghề mến trẻ, trình độ học vấn, là sựthành thạo nghề nghiệp, là lối sống, cách xử sự và kỹ năng giao tiếp của ngườithầy…
Với ý nghĩa đú ụng khẳng định “chỉ có nhân cách mới có thể tác độngđến sự phát triển nhõn cỏch”
Theo A V Petrovxki: việc đạt trình độ cao trong giảng dạy và giáo dụcphụ thuộc vào phẩm chất nhân cách người giáo viên, chính những phẩm chấtnhân cách đó tạo ra các năng lực sư phạm Dựa trờn những nghiên cứu về hoạtđộng dạy học của giáo viên ụng đó phân chia năng lực sư phạm thành cỏcnhúm:
- Nhúm các năng lực dạy học
- Nhúm các năng lực thiết kế
- Nhúm các năng lực tri giác
Trang 8+ Kỹ năng, kỹ xảo động viên
+ Kỹ năng, kỹ xảo phát triển
+ Kỹ năng, kỹ xảo định hướng [19, Tr 221- 223]
N V Cudơmina cũng nghiên cứu về những biểu hiện của năng lực sưphạm bằng cách quan sát các hoạt động của người giáo viên và bà đã đi đếnkết luận: các năng lực dạy học và các năng lực khác của con người đều cóliên quan đến nhau và năng lực được hình thành từ các kỹ năng trong hoạtđộng sống, nếu người giáo viên biết vận dụng các kỹ năng khác nhau nàytrong hoạt động sư phạm thì sẽ mang lại kết quả tốt Nh vậy, bà khẳng định kỹnăng dạy học và kỹ năng sống gắn liền với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ,thống nhất do đó để có năng lực dạy học tốt phải có năng lực sống tốt
Ph N Gụnụbụlin cho rằng: những năng lực sư phạm điển hình của ngườigiáo viên trong giảng dạy và giáo dục là:
Trang 9- Năng lực hiểu học sinh
- Năng lực truyền đạt tài liệu học tập
- Năng lực thu hót học sinh
- Năng lực định hướng
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực tổ chức
- Năng lực ứng xử sư phạm
- Năng lực thuyết phục người khác
- Năng lực thấy trước kết quả hoạt động và những khó khăn có thể xảy ra
- Năng lực trí tuệ [8, tr 7]
Các năng lực này không được sắp xếp theo thứ tự quan trọng khác nhau
mà tác giả cho rằng nó có được sử dụng hiệu quả hay không và sử dụng hiệuquả nhất cho hoạt động nào phụ thuộc vào người giáo viên, vì vậy người giáoviên không thể thiếu bất kỳ một năng lực nào
Khi nói đến cấu trúc các năng lực sư phạm, Gụnụbụlin viết “năng lực gắnliền với các kỹ năng của người giáo viên và năng lực sư phạm phát triển tronghoạt động ở nhà trường”
Ông cho rằng một số năng lực điển hình giúp người giáo viên thành công
đó là: cảm giác nhạy bén về thời gian, óc quan sát, óc tưởng tượng sư phạm,khả năng ngôn ngữ, tâm trạng của giáo viên, sự đồng cảm với học sinh, tìnhyêu thương đối với trẻ Ông cũng khẳng định việc rèn luyện năng lực củangười giáo viên không chỉ bó hẹp trong bốn bức tường của nhà trường
Điểm chung của các nghiên cứu nước ngoài là họ đều thừa nhận vai tròcủa năng lực sư phạm, năng lực dạy học đối với hoạt động giảng dạy và giáodục còng nh đối với sự hình thành, phát triển nhân cách của học sinh Cácnăng lực này được tạo thành bởi các kỹ năng khác nhau và được rèn luyệntrong quá trình thực hiện hoạt động sư phạm
Trang 10Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ đi vào nghiên cứu các kỹ năng với tưcách là những thao tác kỹ thuật giúp cho giáo viên thực hiện hoạt động dạyhọc nói chung đạt hiệu quả mà chưa đi sâu nghiên cứu các khái niệm, nănglực cụ thể của người giáo viên tiểu học ở các điều kiện kinh tế, chính trị, xãhội khác nhau
Hơn thế nữa, việc vận dụng các kỹ năng dạy học khác nhau trờn lớp,trong từng bài, từng tiết học cụ thể đũi hỏi nhiều phẩm chất và năng lực hơn ởngười giáo viên, đặc biệt là giáo viên Tiểu học
1 1 2 Một số nghiên cứu trong nước.
Khi nghiên cứu về năng lực nói chung và năng lực sư phạm nói riêng, rấtnhiều nhà Tâm lý học- Giáo dục học và những người quan tâm nghiên cứuđến con người, đến thế hệ trẻ, đến “nguyờn khớ quốc gia” đó cú chung métquan điểm “năng lực, khả năng của con người là một trong hai thành tố quantrọng của nhõn cỏch” cũng như “năng lực của người giáo viên sẽ quyết định
sự thành công của công tác sư phạm.” [8, tr 6- 19]
* Phạm Minh Hạc cho rằng: sự thành công trong việc dạy học và giáodục học sinh đòi hỏi người giáo viên phải có thế giới quan tiên tiến, nhữngphẩm chất đạo đức cao quý, trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệpcao, trình độ văn hoá chung và xu hướng sư phạm
Ông phân biệt năng lực sư phạm và kỹ năng sư phạm Năng lực là thuộctính, là đặc điểm của nhân cách; kỹ năng là những hành động riêng lẻ đượcđánh giá về mặt thao tác của hành động sư phạm Ông viết “tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo là chất liệu để tạo thành năng lực tương ứng, không có tri thức, kỹnăng, kỹ xảo thì không có năng lực, tuy chúng không đồng nhất với nhau.Năng lực chính là tổ hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân tiếp nhận hoặc sử dụngkiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vào một hoạt động nào đú” [11, tr 35]
Khi nghiên cứu cấu trúc năng lực sư phạm, ông chia thành 3 nhóm:
Trang 11- Nhóm năng lực thuộc về nhân cách (gắn với thái độ đối với học sinh)gồm: lòng yêu trẻ; năng lực kiềm chế, tự chủ, điều khiển, điều chỉnh tâm lý,tâm trạng của mình.
- Nhóm năng lực dạy học (gắn với việc truyền đạt thông tin cho học sinh)gồm: năng lực giải thích, năng lực khoa học, năng lực ngôn ngữ
- Nhóm năng lực tổ chức giao tiếp (gắn với giao tiếp, giáo dục học sinh)gồm: năng lực tổ chức hoạt động giao tiếp, óc quan sát sư phạm, khéo léo ứng
xử sư phạm, óc tưởng tượng, năng lực phân phối chú ý
Ngoài những năng lực chung thì người giáo viên cũn cú những năng lựcchuyên biệt và ở bậc học tiểu học người giáo viên phải có cả 2 loại năng lựcnày và ở mức cao thì mới đáp ứng yêu cầu là dạy tất cả các môn học
* Theo tác giả Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn: năng lực của ngườithầy giáo bao gồm các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt
- Năng lực chung của người giáo viên hay còn gọi là năng lực trí tuệ lànăng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau, nó đảm bảo cho cá nhânnhanh chóng nắm vững tri thức trong nhiều lĩnh vực (thông minh, tháo vát,thính tai, tinh mắt…)
- Năng lực chuyên biệt bao gồm:
+ Năng lực dạy học: hiểu đặc điểm tâm sinh lý học sinh, nắm vững mônkhoa học mà mình sẽ dạy, tổ chức hoạt động cho học sinh, xử lý tình huống… + Năng lực giáo dục: cụ thể hoá mục tiêu, hình thành nhu cầu cho họcsinh, năng lực giao tiếp sư phạm và cảm hoá học sinh, năng lực huy động cáclực lượng giáo dục khác nhau…
+ Năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm [12, tr 110- 119]
* Theo nhóm tác giả Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng thì năng lực
sư phạm được chia thành 6 nhóm:
Trang 12+ Nhóm năng lực chẩn đoán: là những năng lực phát hiện và nhận biếtđầy đủ, chính xác, kịp thời sự phát triển của mỗi học sinh và những đặc điểmcủa sự phát triển đó; những nhu cầu cần được giáo dục với từng em.
+ Nhóm năng lực đáp ứng: bao gồm các năng lực đưa ra nội dung, biệnpháp giáo dục đáp ứng đúng đắn, kịp thời nhu cầu của người học tạo hứngthó, động lực thúc đẩy sự phát triển của học sinh
+ Nhóm năng lực đánh giá: là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhậnthức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của học sinh, từ đó chuẩn đoán, hình thànhnăng lực tự đánh giá ở học sinh
+ Nhóm năng lực thiết lập mối quan hệ tốt với người khác, nhất là với học sinh.+ Nhóm năng lực triển khai chương trình dạy học: là những năng lực tiếnhành dạy học, giáo dục căn cứ vào mục đích, nội dung của chương trình phùhợp với đặc điểm của từng đối tượng học sinh
+ Nhóm năng lực đáp ứng trách nhiệm với xã hội, tạo điều kiện thuận lợicho giáo dục trong nhà trường và ngoài xã hội [8, tr 10- 11]
* Nhóm tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng đã chỉ
ra được những đặc điểm lao động của người thầy và cấu trúc nhân cách của họ
“núi đến năng lực là nói đến mặt hiệu quả của tác động vào con người, vào sựviệc như thế nào và đem lại hiệu quả gì? ” Dùa vào chức năng đặc trưng củangười thầy giáo là dạy học và giáo dục, nhóm nghiên cứu này đã phân chianăng lực sư phạm thành 3 nhóm:
- Nhóm năng lực dạy học: gồm năng lực hiểu học sinh, năng lực chế biếntài liệu học tập, tri thức và tầm hiểu biết, năng lực nắm vững kỹ thuật dạy học
và năng lực ngôn ngữ
- Nhóm năng lực giáo dục: năng lực vạch dự án phát triển nhân cách họcsinh, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hoá học sinh, năng lực khéoléo ứng xử sư phạm
Trang 13- Nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm: thể hiện ở chỗ tổ chức
và cổ vũ học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác ở trên líp cũng như ở ngoàitrường, nội khoá cũng như ngoại khoá, cho từng học sinh cũng như cho tậpthể; biết đoàn kết học sinh thành tập thể lành mạnh, thống nhất, có kỷ luật, nềnếp; tổ chức vận động người dân, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội thamgia vào sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu nhất định [13, tr.210- 235]
* Nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn cho rằng: ngườithầy giáo theo yêu cầu của sự nghiệp giáo dục phát triển giáo dục phải có cảphẩm chất và năng lực, năng lực phải tương ứng với phẩm chất và năng lựcgồm: năng lực giao tiếp và năng lực chuyên môn
Theo các tác giả này, sự thống nhất giữa những phẩm chất và năng lựcđược biểu hiện bằng hệ thống kỹ năng sư phạm, đó là những việc làm cụ thể,những hành động sư phạm cần thiết để đánh giá giáo viên và sinh viên sư phạm.Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy vai trò của năng lực dạyhọc đã được thừa nhận với hệ thống cỏc nhúm năng lực khác nhau, được cụthể hoá trong các kỹ năng dạy học, trong hiệu quả giáo dục và hiệu quả dạyhọc Tuy nhiên với những giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau thì những yêucầu mới về nội dung, chương trình đòi hỏi người giáo viên phải có những kỹnăng thích ứng, đó là lý do mà đề tài mang tính cấp thiết và tụi đó chọn đểnghiên cứu
1 2 Đặc điểm lao động của người giáo viên Tiểu học và những yêu cầu về phẩm chất, năng lực.
1 2 1 Đặc điểm lao động của người giáo viên Tiểu học hiện nay.
Còng nh giáo viên ở các cấp học khác trong hệ thống giáo dục phổ thông,hoạt động lao động của người giáo viên Tiểu học mang những đặc điểmchung cơ bản của nghề dạy học Đây là một loại hình lao động trí óc chuyênnghiệp mà đối tượng trực tiếp là con người và là một loại lao động nghiêm
Trang 14túc, đòi hỏi tính khoa học, nghệ thuật và tính sáng tạo cao; loại lao độngkhông được phép có phế phẩm [13, tr.101- 105]
Ngoài những đặc điểm chung nh trên, lao động của người giáo viên Tiểuhọc cũn cú những đặc điểm riêng, đặc trưng cho cấp học và có thể kể đến một
số đặc điểm sau:
- Người giáo viên Tiểu học là người thầy tổng thể- người dạy tất cả các môn học ở cấp học.
Giáo viên Tiểu học là người tổ chức quá trình phát triển của trẻ em, tức là
tổ chức, hướng dẫn cho mỗi học sinh tự hoạt động để lĩnh hội cái cần học vàcách học Việc tổ chức cho học sinh tiến hành hoạt động học tập ở từng tiếthọc phụ thuộc vào loại tiết học và nội dung cụ thể của từng tiết học đó Ở cấpTiểu học, ngoài các môn học bắt buộc, học sinh cũn cú một số môn tự chọnnhư Ngoại ngữ, Tin học Hầu hết trong các trường Tiểu học, tất cả các mônhọc bắt buộc đều do một giáo viên giảng dạy (trừ một số Ýt trường có giáoviên chuyên dạy Hát- Nhạc, Mỹ thuật, Thể dục), vì vậy người giáo viên Tiểuhọc không chỉ phải huy động các năng lực chung như: năng lực tổ chức cáchoạt động sư phạm, năng lực giao tiếp, năng lực học tập… mà còn phải huyđộng các năng lực chuyên biệt như: năng lực Toán, năng lực Tiếng Việt, nănglực Âm nhạc, năng lực Hội hoạ… trong các buổi lờn lớp của mình
- Lao động của người giáo viên Tiểu học là lao động bận rộn.
Ở các cấp học khác, mỗi tuần giáo viên chỉ lo giảng đủ một số tiết theoquy định chung, cũn cỏc công tác khác là của giáo viên chủ nhiệm- ngườiđược giảm đi một số tiết trong tuần để làm công việc quản lý học sinh Ở cấpTiểu học, người giáo viên vừa phải dạy tất cả các bộ môn, vừa phải làm côngtác giáo dục trẻ em với tư cách là một giáo viên chủ nhiệm Vì vậy, họ phảilàm tất cả các công việc, từ việc tìm hiểu học sinh, đọc sách bỏo, cỏc tài liệutham khảo, soạn giảng, làm đồ dùng dạy học, tiến hành giảng dạy và tổ chứccác hoạt động thực hành, vui chơi múa hát, thể dục thể thao, chấm bài, phụ
Trang 15đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh khá giỏi đến việc xử lý các sự việc, tìnhhuống sư phạm, quan hệ với cha mẹ học sinh và chính quyền địa phương…Ngoài ra, để thực hiện phổ cập giáo dục cấp Tiểu học, giáo viên Tiểu học cònphải tham gia công tác xoá mù chữ, chống tái mù chữ, tham gia một số hoạtđộng chuyên môn khác của nhà trường Đa số giáo viên Tiểu học cho biết họphải làm việc ở nhà vào tất cả các buổi tối và vào các ngày nghỉ Với nhữngtrường đã thực hiện việc học hai buổi một ngày, giáo viên càng bận rộn hơn.
Có thể nói hoạt động lao động của người giáo viên Tiểu học bao gồm rấtnhiều hoạt động sư phạm mà hoạt động nào cũng rất đặc trưng và vất vả, khó
có thể phân biệt được hoạt động nào là quan trọng và vất vả hơn
- Lao động của người giáo viên Tiểu học được tổ chức trong thời gian và không gian đặc biệt.
Thời gian lao động của người giáo viên nói chung được chia làm 2 phần:phần chuẩn bị và phần triển khai các hoạt động trờn lớp Riờng khoảng thờigian triển khai các hoạt động sư phạm của người giáo viên Tiểu học cũng cónhững đặc điểm khác biệt so với giáo viên các cấp học khác Ở cấp Tiểu học,mỗi tiết học học sinh phải đạt được 3 yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng vàthái độ Yêu cầu về thái độ có thể được giáo viên thực hiện thông qua việctruyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng; song việc truyền thụ kiến thức vàrèn luyện kỹ năng phải được giáo viên cân đối, tính toán về thời lượng saocho thật hợp lý Chẳng hạn, một giê tập đọc thông thường giáo viên phải dành
3 đến 5 phót để kiểm tra bài cũ, 15 đến 20 phót cảm thụ bài đọc, 15 phót dànhcho việc luyện đọc, nếu thời lượng quá chênh lệch, giê dạy coi như không đạtyêu cầu, đó là chưa kể đến có những tiết Từ ngữ- Ngữ pháp ở cỏc lớp 2, 3giáo viên phải lo cân đối thời gian đảm bảo 20 phót đầu dạy từ ngữ, 15 phótsau dạy ngữ pháp, không được lạm dụng quá thời lượng cũng không được cắtxén thời gian ở bất cứ môn học nào.[8, tr 14- 16]
1 2 2 Một số yêu cầu về phẩm chất và năng lực đối với giáo viên Tiểu học
Trang 16Từ những đặc diểm lao động của người giáo viên nói chung, những đặcđiểm lao động đặc trưng cho người giáo viên Tiểu học nói riêng, một số tácgiả cho rằng, người giáo viên Tiểu học trong giai đoạn hiện nay cần phải đápứng được những yêu cầu cơ bản sau:
- Những yêu cầu về phẩm chất:
+ Phải có lòng yêu nghề: tình yêu này không chỉ là lương tâm đối vớinghề nghiệp, là sự hoàn thành nhiệm vụ được giao, là việc thực hiện đơnthuần một hợp đồng làm việc mà đó phải là một niềm tin, một nhiệt tình nhấtđịnh, tin vào điều mình làm cho dù kết quả của nó chỉ thể hiện trong tươnglai, phải trung thành với lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng đấu tranh vì lý tưởngđó
+ Mặt khác, lòng yêu nghề phải được nhân lên gấp bội vì lòng yêu trẻ, vìtình yêu tuổi thơ, sự âu yếm và cảm tình với lứa tuổi đang phát triển Đó là 2yếu tố tạo nên sự tận tâm, tính kiên nhẫn, lòng độ lượng đồng thời với sựcương quyết cần thiết của bất cứ người giáo viên nào có trách nhiệm
+ Cú óc tò mò khoa học, ham thích quan sát, có nhu cầu mở rộng vốn trithức và nâng cao tầm hiểu biết, có kỹ năng để làm thoả mãn những nhu cầu
đó Có phương pháp tự học, có ý thức phê phán đối với ý kiến của ngườikhác, có quan điểm riêng của bản thân một cách rõ ràng, có nhu cầu luôn đổimới… Những yếu tố đú giỳp cho người giáo viên dễ hoà nhập với học sinh vàthích ứng với sự thay đổi của nền văn minh nhân loại
+ Luôn luôn tươi trẻ về tâm hồn, có lòng vị tha, tốt bụng, có uy tín vớihọc sinh
Ngược lại những biểu hiện sau sẽ không phù hợp với người giáo viên:
Sự xơ cứng về trí tuệ biểu hiện trước hết ở sự lười biếng vàthãi quen làm việc theo đường mòn, không sáng tạo
Những biểu hiện của sự thay đổi quá mạnh mẽ trong thái
độ, hay mất bình tĩnh
Trang 17 Những biểu hiện quá rụt rè, yếu đuối hoặc quá rộng lượnghoặc quá uy quyền, lắm tham vọng, thích thể hiện quyền lực đối với ngườikhác [8, tr 16]
- Những yêu cầu về năng lực:
Cùng với các phẩm chất trên, với chức năng là người tổ chức, hướng dẫnquá trình học tập chủ động, sáng tạo của học sinh và để tiến hành có hiệu quảcác hoạt động sư phạm, người giáo viên Tiểu học cần có những năng lực cầnthiết thuộc cỏc nhúm năng lực sau:
+ Nhóm năng lực đáp ứng trách nhiệm với xã hội [8, tr 17]
Trong công cuộc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói chung,giáo dục Tiểu học nói riêng những yêu cầu cơ bản về phẩm chất và năng lựcnghề nghiệp đối với người giáo viên Tiểu học được thể hiện ở các mức độkhác nhau Cụ thể là về 3 lĩnh vực:
- Về phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị:
+ Yờu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, chấp hành luật pháp nhà nước, quyđịnh của ngành, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học.+ Yêu nghề, tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh
+ Có tinh thần trách nhiệm trong công tác, có ý thức tổ chức kỷ luật, cóđạo đức, lối sống lành mạnh, có tinh thần hợp tác
+ Có tinh thần tự học, phấn đấu, nâng cao trình độ chính trị, chuyên mônnghiệp vụ
- Về kiến thức:
Trang 18+ Có kiến thức khoa học cơ bản để dạy cỏc mụn trong chương trình Tiểuhọc.
+ Có kiến thức cơ bản về tâm lý học sư phạm và trẻ em, giáo dục học vàphương pháp dạy học môn học ở Tiểu học
+ Có hiểu biết về những chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nướcđối với kinh tế, văn hoá, xã hội
+ Có kiến thức phổ thông về những vấn đề xã hội nh: môi trường, dân số,
an ninh quốc phòng, an toàn giao thông, quyền trẻ em, y tế học đường, phòngchống tệ nạn ma tuý
+ Có hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội của địaphương nơi trường đóng
- Về kỹ năng sư phạm:
+ Biết lập kế hoạch bài học
+ Biết tổ chức hoạt động dạy học theo hướng đổi mới phương pháp đảmbảo thực hiện được các mục tiêu của bài học
+ Biết làm công tác chủ nhiệm líp và tổ chức các hoạt động giáo dục nhsinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lờn lớp, hoạt động của đội thiếu niên vàsao nhi đồng
+ Biết giao tiếp, ứng xử với học sinh, cha mẹ học sinh, đồng nghiệp vàcộng đồng
+ Biết lập hồ sơ, lưu giữ hồ sơ và sử dụng hồ sơ vào việc giảng dạy vàgiáo dục học sinh [8, tr 16- 19]
1 3 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
Trang 19- Quan niệm nghiêng về mặt kỹ thuật, thao tác của hành động với đại diện là A G Cụvaliốp
Tác giả này cho rằng “con người nắm vững được cách thức hoạt động,tức có kỹ thuật hành động là có kỹ năng” [19, tr 14]
Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích vàđiều kiện không cần đến kết quả
Còng theo quan niệm này, tác giả Trần Trọng Thuỷ tán thành: con ngườithực hiện hành động theo một cách thức nhất định và sử dụng các thao tác kỹthuật khác nhau nhằm đạt được mục đích thì được đánh giá về mặt kỹ năng.Bản thân khái niệm kỹ năng đã được kỹ thuật hoá thành các thao tác cụthể của hành động và việc thực hiện kỹ năng mang tính chất kỹ thuật, rậpkhuôn máy móc, vì thế việc hình thành và rèn luyện kỹ năng cũng gần giốngnhư việc đặt sẵn một chương trình, chỉ cần thời gian và thao tác lại đúng nhưhướng dẫn
Với quan niệm này chúng ta thấy rằng khái niệm “kỹ năng” mới chỉđược đánh giá ở một khía cạnh (cách thức- kỹ thuật) mà chưa thấy được vaitrò, ý nghĩa và mối quan hệ giữa kỹ năng với các yếu tố khác trong con người
và môi trường sống
- Quan niệm nghiêng về mặt năng lực của con người, đại diện tiêu biểu
là K K Platụnốp và Nguyễn Quang Uẩn.
Theo các tác giả này thì việc thực hiện một công việc nào đó có hiệu quả,với một chất lượng cần thiết trong mọi điều kiện khác nhau thì được đánh giá
về mặt năng lực Do đó kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động và tiếntới thực hiện thành thạo, linh hoạt, sáng tạo những hành động đó
K K Platụnốp cho rằng: “kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ” [19, tr 18]
Trang 20Tác giả Nguyễn Quang Uẩn viết: “cựng với năng lực thì tri thức, kỹnăng, kỹ xảo thích hợp cũng rất cần thiết cho việc thực hiện có kết quả mộthoạt động Có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiệncần thiết để có năng lực trong lĩnh vực này Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nănglực không đồng nhất nhưng chỳng cú mối quan hệ thống nhất biện chứng vớinhau” [34, tr 180]
Cũng nghiêng về mặt năng lực tác giả Hà Văn Chư cho rằng: để có thểtiến hành một hoạt động có hiệu quả thì cần những năng lực nhất định vànhững năng lực này là tổng hợp của hệ thống kiến thức và kỹ năng đa dạngphức tạp Nói nh vậy có nghĩa là coi kỹ năng là một bộ phận cấu thành nănglực [3, tr 17]
Tác giả Đặng Thành Hưng lại quan niệm: kỹ năng chung hay kỹ năng cơbản là viết về những dạng chuyên biệt của năng lực thực hiện hành động.Giữa kỹ năng và năng lực là khác nhau nhưng chỳng cú mối quan hệ tác độngbiện chứng ở những khía cạnh, dạng thức nhất định Vì vậy, rất dễ dẫn tớiviệc xem xét, nhìn nhận nhầm lẫn giữa hai khái niệm này
Còng theo tác giả: một năng lực tương ứng với không chỉ kỹ năng màcòn tương ứng với tri thức và khả năng, kỹ năng là hình thái “kộp” của cácloại năng lực Kỹ năng có bản chất tâm lý, có hình thức vật chất là hành vihoặc hành động nhưng nếu hiểu năng lực thuần tuý theo nghĩa tâm lý học thì chưađủ
+ Năng lực là mức độ được việc có thể có
+ Kỹ năng là thực sự được việc [18, tr 45-52]
Các nhà Giáo dục học thì phân chia kỹ năng thành 2 bậc I và II
- Kỹ năng bậc I là khả năng thực hiện đúng hành động, hành động phùhợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể khi tiến hành hành động Êy cho
dù là hành động trí tuệ hay hành động kỹ thuật thao tác
Trang 21- Kỹ năng bậc II là khả năng thực hiện hành động thành thạo, linh hoạt,sáng tạo vì thế để có kỹ năng bậc II phải có kỹ năng bậc I và kỹ xảo.
Vì vậy người ta cũng thường hay đồng nhất kỹ năng bậc II và kỹ xảo Đểphân biệt rõ điều này chúng ta phải tách rời 2 loại kỹ năng và đặt chúng trongnhững tình huống cụ thể
Những quan niệm về kỹ năng có thể theo phương diện thao tác kỹ thuậthoặc thiên về mặt năng lực thì cuối cùng đều khẳng định kỹ năng là một thành
tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động của mỗi cá nhân, nú giỳp chohoạt động diễn ra có kết quả
Đồng thời các quan niệm này chỉ là sự mở rộng hoặc thu hẹp khái niệm.Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng khái niệm “kỹ năng” theo quan
niệm của tác giả K K Platụnốp “kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ” [19, tr 18].
1 3 2 Kỹ năng dạy học
1 3 2 1 Khái niệm.
Theo một số tác giả trong nước như Nguyễn Như An, Trần Anh Tuấn,Phan Thanh Long… thì kỹ năng dạy học được hiểu là khả năng vận dụng trithức về chuyên môn, những cách thức, quá trình cần thiết để thực hiện có hiệuquả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của hành động giảngdạy, hay nói cách khác là nhằm võ trang tri thức khoa học, phát triển trí tuệ,hình thành thế giới quan, hành vi đạo đức cho học sinh
1 3 2 2 Hệ thống các kỹ năng dạy học.
Khó có thể liệt kê đầy đủ tất cả các kỹ năng dạy học cần có của ngườigiáo viên Nhiều công trình nghiên cứu của Cudơmina, Gụnụbụlin, ĐặngThành Hưng, Nguyễn Như An, Nguyễn Hữu Dũng, Phan Thanh Long,…đócho thấy rằng sẽ có tới hàng trăm kỹ năng, hàng chục nhóm kỹ năng, trong
Trang 22mỗi nhóm lại bao gồm nhiều kỹ năng cụ thể Tựu chung lại có thể đồng ý vớicách phân chia sau:
* Nhóm kỹ năng chẩn đoán:
Nhóm kỹ năng này giúp người giáo viên hiểu đặc điểm tâm sinh lÝ, nhucầu, hứng thó, nguyện vọng, xu hướng phát triển nhân cách của học sinh, pháthiện sớm và có biện pháp thích hợp trong dạy học và giáo dục, đặc biệt làtrong việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu và ngăn chặn sự lệchlạc trong sự phát triển nhân cách học sinh
* Nhóm kỹ năng thiết kế kế hoạch dạy học:
Người giáo viên phải biết lùa chọn, sắp xếp, lên kế hoạch cụ thể về nộidung chương trình, phương pháp kỹ thuật, thời lượng sao cho phù hợp với lứatuổi và đặc điểm cấp học
Việc thiết kế kế hoạch dạy học có thể cho mét giai đoạn, một quá trình(năm học, kỳ học hoặc một môn học, tiết dạy, bài dạy)
Trong kế hoạch dạy học phải chuẩn bị kĩ lưỡng, chi tiết, tỉ mỉ cho việcthiết kế từng bài soạn, hệ thống câu hỏi, giải thích, giao tiếp, đàm thoại…
* Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học:
Đây là kỹ năng biến mục tiêu , nội dung, kế hoạch dự kiến thành các hoạtđộng cụ thể, do đó đòi hỏi người giáo viên cần có kỹ năng vận dụng tri thứcchuyên môn, nghiệp vụ vào giao tiếp, quản lí, tổ chức, điều chỉnh các hoạtđộng theo đúng kế hoạch đã đặt ra Cụ thể giáo viên cần có:
+ Kỹ năng ổn định tổ chức líp
+ Kỹ năng vào bài bằng cách lôi cuốn sự chú ý của học sinh
+ Kỹ năng trình bày nội dung bài giảng trên cơ sở vận dụng phươngpháp, phương tiện hợp lí
+ Kỹ năng củng cố bài giảng, khắc sâu vấn đề, kiến thức trọng tâm
+ Kỹ năng đặt câu hỏi và ra bài tập về nhà
Trang 23+ Kỹ năng đánh giá, kiểm tra học sinh
* Nhóm kỹ năng giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học:
Là sự đánh giá cả một quá trình chứ không đơn thuần là sự đánh giá kếtquả của mỗi người Vì vậy đánh giá còn nhằm đề xuất những ý kiến làm thayđổi thực trạng, giúp học sinh có kỹ năng tự đánh giá Đánh giá phải kháchquan, trung thực, phản ánh đúng thực lực và bằng những phương tiện kỹ thuật
hỗ trợ hiện đại
* Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học:
Nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹ năng phát hiện vấn đề, phát hiệnnhững mâu thuẫn trong lí luận và thực tiễn; biết tìm ra những mâu thuẫn nổicộm, những vấn đề có tính cấp thiết, từ đó xây dựng giả thuyết khoa học, đềcương nghiên cứu, phiếu điều tra thực nghiệm sư phạm, xử lý, đánh giá kếtquả nghiên cứu, phân tích rút kinh nghiệm…
Hình thức lờn lớp là hình thức tổ chức dạy học tập thể theo líp, mỗi lớp
cú một số học sinh nhất định thuộc cùng một lứa tuổi, có trình độ nhận thứctương đương nhau Thời gian học tập được quy định một cách chính xác và ởmột địa điểm riêng biệt; giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chấttập thể ổn định, có thành phần không đổi, đồng thời chú ý đến những đặcđiểm của từng học sinh để sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy họcnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững tài liệu học tập một cáchtrực tiếp cũng như làm phát triển năng lực nhận thức và giáo dục học sinh tại líp Trong định nghĩa này cho thấy ba dấu hiệu đặc trưng của hình thức lípbài là: líp học có thành phần không đổi; giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận
Trang 24thức của cả líp, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh; họcsinh nắm tài liệu ngay tại líp.
Hoạt động học tập sẽ được tiến hành chung cho tất cả học sinh cùng lứatuổi và trình độ, phù hợp với khả năng bao quát của thầy giáo, ở một địa điểmphòng học xác định Vì vậy, tính chất của các mối quan hệ qua lại lẫn nhaugiữa mọi người và đặc trưng của bầu không khí tõm lớ tích cực học tập củatập thể líp sẽ là những nhân tố quan trọng, quy định chất lượng và hiệu quảhọc tập của từng em
Dạy học được tiến hành theo thời khoá biểu Thời gian dạy học đượcphân ra thành tiết học với số lượng tăng dần từ đầu đến cuối cấp Những quyđịnh này dùa vào đặc điểm nhận thức, sức tập trung chó ý của học sinh và yêucầu của vệ sinh học đường
Thầy giáo là người trực tiếp tổ chức và điều khiển hoạt động học tập củahọc sinh còng nh tất cả hoạt động- quan hệ trong líp và có sự chú ý đến đặcđiểm riêng biệt của từng em
* Hỡnh thức lờn lớp cú những ưu điểm sau:
- Tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo hàng loạt học sinh, đáp ứngđược yêu cầu của phổ cập giáo dục còng nh của đào tạo líp công nhân kĩ thuật
và cán bộ khoa học kĩ thuật với quy mô lớn
- Đảm bảo cho học sinh có thể lĩnh hội được tri thức và rèn luyện kĩ năng,
kĩ xảo một cách có kế hoạch, có hệ thống, phù hợp với những yêu cầu củatõm lớ học, giáo dục học và vệ sinh học đường
- Đảm bảo được sự thống nhất trong phạm vi toàn quốc về các mặt kếhoạch và nội dung dạy học Tạo ra được điều kiện thuận lợi cho việc bồidưỡng tinh thần tập thể còng nh những phẩm chất đạo đức khác cho học sinh
* Hình thức lờn lớp cũng có những nhược điểm sau:
- Học sinh không có đủ thời gian để nắm vững toàn bộ tri thức, kĩ năng
và kĩ xảo
Trang 25- Giáo viên không có điều kiện để chú ý đầy đủ đến đặc điểm nhận thứcriêng biệt của từng học sinh.
- Khó có điều kiện để thoả mãn nhu cầu nhận thức rộng rãi và sâu sắc vềnhững tri thức vượt ra ngoài phạm vi nội dung chương trình của học sinh
Do vậy cần nhận thức được rằng lờn lớp tuy là hình thức dạy học cơ bảnnhưng vẫn cần có sự hỗ trợ của các hình thức dạy học khác
1 3 3 2 Việc chuẩn bị lờn lớp.
Tiến hành công tác dạy học cần theo những yêu cầu nhất định, vừa đảmbảo tính khoa học, nghệ thuật vừa đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo Để làmđược điều này cần chuẩn bị chu đáo khi lờn lớp và nó không chỉ cần chonhững giáo viên trẻ, mới vào nghề mà cả đối với những giáo viên lâu năm, cókinh nghiệm
Việc chuẩn bị lờn lớp là sự chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từnghọc kì và từng môn học, tiết học cụ thể
Trước hết cần tìm hiểu học sinh lớp mỡnh giảng dạy về kết quả học giáo dục, thái độ, phong trào học tập, tu dưỡng của líp, đặc điểm tõm lớ chungcủa líp và những học sinh cá biệt, phong cách sư phạm của những giáo viên
tập-đã và đang dạy lớp đú Trờn cơ sở đó đề ra những yêu cầu hợp lý đối với học sinh Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung tài liệu dạy học, thu thập, lùa chọntài liệu cho từng tiết học, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạyhọc thích hợp
Tìm hiểu những phương tiện dạy học hiện có, xây dựng kế hoạch, tạonên những phương tiện mới, tài liệu, sách báo mới góp phần đổi mới phươngpháp dạy học
Việc chuẩn bị trực tiếp lờn lớp cũn bao gồm các nội dung cụ thể hơn: Phân tích nội dung các bài trong sách giáo khoa về mặt khái niệm, lụgic,Tõm lớ- Giáo dục và lí luận dạy học Người giáo viên phải phân tích được cấutrúc tri thức, xem xét khái niệm cơ bản, những dấu hiệu đặc trưng và những
Trang 26dấu hiệu thứ yếu, mức độ phức tạp của những khái niệm đó; định rõ tri thứcphải nắm, tri thức nào có tính chất thông báo.
Xác định tri thức mới và mối liên hệ với những tri thức đã học, trên cơ
sở những mối liên hệ đó mà tổ chức cho học sinh tự lực hình thành hoặc giúp
đỡ hình thành bằng con đường tái hiện hoặc sáng tạo, xác định khái niệm nàocần đào sâu, mở rộng…
Phân tích về mặt lụgic nhằm xác định trình tự của việc trình bày nhữngkhái niệm đó
Phân tích về mặt tõm lớ nhằm xem xét nội dung dạy học, khái niệm vàcác tình huống dạy học có thể tác động đến mặt xúc cảm của học sinh tới đâu,biện pháp để giải quyết những tình huống đó trong thực tế
Phân tích về mặt giáo dục nhằm xác định những khái niệm, quan điểmnào có tác dụng hình thành thế giới quan khoa học, quan điểm chính trị- tưtưởng, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh Xác định những tài liệu học tập có liên
hệ với thực tiễn cuộc sống
Phân tích về mặt lí luận dạy học nhằm xác định mục đích, yêu cầu trọngtâm của tiết học, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, tổchức phối hợp hoạt động giữa giáo viên và học sinh Chính xác hoá khốilượng tài liệu bắt buộc phải nắm, bổ sung tài liệu cần thiết, xác định trình tựvấn đề cần trình bày Xác định hệ thống các bài luyện tập vận dụng tri thức tạilíp và ở nhà, hướng dẫn học sinh giải quyết Chính xác hoá những biện phápliên hệ nội dung tài liệu học tập với cuộc sống, với tri thức các khoa học khác,với biện pháp kiểm tra, đánh giá học sinh…
Về việc soạn giáo án, giáo viên cần dựa trờn kế hoạch dạy học theochương, mục, nội dung sách giáo khoa, trình độ tri thức học sinh và nhữngđiều kiện tiến hành bài giảng cụ thể mà xây dựng kế hoạch cho từng tiết học
cụ thể Đồng thời khắc phục những lỗ hổng tri thức của học sinh nếu có, dựkiến suy nghĩ và trạng thái tõm lớ của học sinh để đưa ra những phương pháp
Trang 27và cách xử lí kịp thời nhằm điều khiển hoạt động nhận thức cho học sinh Chó
ý và phát huy cao độ sự sáng tạo, tích cực, độc lập của cả líp và mỗi cá nhânnhằm hình thành cho học sinh năng lực, phẩm chất để họ có thể học tập liêntục, suốt đời Nội dung và hình thức trình bày giáo án rất đa dạng, theo chóngtôi cần có một mẫu giáo án quy định thống nhất cho giáo viên Tiểu học (PHỤ LỤC 6)
1 3 3 3 Qỳa trình lên líp.
Lờn líp là hoạt động cụ thể của giáo viên nhằm thực hiện toàn bộ giáo án
đã vạch ra, đây là lúc người giáo viên và người học sinh tiếp xúc trực tiếp vớinhau Chính trong thời gian đó người giáo viên mới thể hiện đầy đủ tính khoahọc và tính nghệ thuật trong công tác giảng dạy và giáo dục của mình, thểhiện tầm hiểu biết, hứng thó, niềm tin, tính cách và thế giới quan của mình.Việc mở đầu của tiết học có ảnh hưởng rất lớn đến cả tiết học, quyết địnhđến trạng thái xúc cảm của thầy và trò
Bắt đầu bằng một tình huống có vấn đề sẽ gây hứng thó và chú ý của họcsinh, tiếp đó tổ chức để chúng tự tiếp thu hoặc học hợp tác theo nhóm để giảiquyết vấn đề Tiết học cũng có thể mở đầu bằng công tác độc lập chung cho
cả líp nhằm giải quyết một vấn đề dựa trờn những tri thức đã học và việc giảiquyết những vấn đề đó có liên quan đến tri thức sắp học
Tiến trình của tiết học không chỉ phụ thuộc vào việc mở đầu tiết học mà
cả vào việc thông báo đề bài, mục đích, yêu cầu của tiết học, tạo cho học sinh
có nhu cầu, hứng thó tiếp nhận tri thức mới mà tiết học sẽ cung cấp
Trong tiến trình tiết học giáo viên cần tập trung chó ý thực hiện nhữngnội dung phù hợp với từng giai đoạn đã vạch ra, sử dụng những biện pháp lôicuốn học sinh tham gia tích cực giải quyết vấn đề, giúp đỡ học sinh yếu theokịp nhịp điệu chung của cả líp, đồng thời đề ra những bài làm cho học sinhgiỏi, duy trì không khí làm việc nhiệt tình, hứng thó, hào hứng, cho cả líp.Ngoài ra người giáo viên phải bao quát líp, nhạy cảm, linh hoạt và xử lí tìnhhuống sư phạm xảy ra trong giê dạy, cần phân phối, sử dụng thời gian hợp lí
Trang 28Tư thế, tác phong của giáo viên phải đúng mực, ăn mặc gọn gàng, giản dị,ngôn ngữ trong sáng, truyền cảm, nhịp điệu nói phù hợp với từng hoàn cảnh
cụ thể, biết cách thay đổi giọng nói, ngữ âm, ngữ điệu
Kết thúc tiết học phải đạt được mục đích đã đặt ra Điều đó thể hiện ởchỗ học sinh luôn tập trung chó ý và hứng thó với tiết học Tiết học kết thúckhông đồng nghĩa với việc người giáo viên hoàn thành công việc Để khôngngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của mình, ngườithầy giáo còn cần phân tích được tiết học đã dạy một cách tổng hợp, khoa học, logic
1 3 4 Kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học.
Căn cứ vào việc phân tích, xem xét các khía cạnh khác nhau của kỹ năngcũng như phân chia các kỹ năng trong dạy học chúng ta thấy rằng, những kỹnăng cần thiết của một người giáo viên trong hoạt động sư phạm và dạy họcthì đồng thời có ở giáo viên Tiểu học Tuy nhiên do đặc điểm lao động củangười giáo viên Tiểu học là bận rộn, là “người thầy tổng thể” và lao độngđược tổ chức trong thời gian và không gian đặc biệt nên người giáo viên Tiểuhọc cần tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy; thực hiện dạy học dùa vàocác hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; góp phầnhình thành phương pháp và nhu cầu tự học; hướng dẫn học sinh tự phát hiện
và giải quyết các tình huống có vấn đề để chiếm lĩnh nội dung mới Giáo viêncần khuyến khích học sinh trao đổi ý kiến, tỡm cỏc phương án khác nhau đểgiải quyết các vấn đề của bài học, coi sách giáo khoa là phương tiện để họcsinh hoạt động học tập Đồng thời hướng dẫn học sinh sử dụng các thiết bị,phuơng tiện học tập góp phần giúp học sinh gắn lý thuyết với thực hành, tăngthời lượng luyện tập thực hành cỏc mụn từ 50% lên 70% tổng thời lượng dạyhọc Cụ thể người giáo viên Tiểu học cần có những kỹ năng sau:
- Kỹ năng chẩn đoán
- Kỹ năng lập kế hoạch
Trang 29- Kỹ năng tổ chức triển khai chương trình dạy học theo hướng đổi mớinội dung và phương pháp.
- Kỹ năng làm công tác chủ nhiệm, tổ chức các hoạt động giáo dục nhsinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giê, hoạt động Đoàn và Đội (kỹ năng tổchức hoạt động giáo dục)
- Kỹ năng giao tiếp với các lực lượng giáo dục; ứng xử với cha mẹ họcsinh, đồng nghiệp, cộng đồng
- Kỹ năng quản lý hồ sơ giấy tờ
- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá
1 4 Qỳa trỡnh tổ chức rèn luyện kỹ năng dạy học trờn lớp cho giáo viên Tiểu học.
1 4 1 Xây dựng nội dung rèn luyện.
Căn cứ vào lý luận dạy học, vào thực tiễn hoạt động dạy học hiện nay vàhoạt động dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học Yên Dũng- Bắc Giangchúng tôi tiến hành xây dựng nội dung rèn luyện cụ thể với thời gian, khônggian, cách thức, biện pháp tương ứng
Trước hết phải xác định cỏc nhúm kỹ năng dạy học trờn lớp căn cứ vàodạng tổ chức của hình thức líp- bài, các loại bài học khác nhau Trên cơ sởtham khảo quan điểm một số tác giả trong và ngoài nước chúng tôi xác địnhcần rèn luyện cho người giáo viên Tiểu học một số kỹ năng cơ bản sau:
- Nhóm kỹ năng chuẩn bị xây dựng kế hoạch dạy học
- Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học
- Nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học
Trong quá trình nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đưa ra
hệ thống 25 kỹ năng dạy học cơ bản để rèn luyện cho giáo viên Những kỹnăng này đã được phân chia theo cỏc nhúm khác nhau và được tiến hành trờnlớp, trong bài học, tiết học cụ thể Để xây dựng nội dung rèn luyện khoa học
Trang 30hơn chúng tôi còn phân chia hệ thống các kỹ năng dạy học này thành 2 loại
kỹ năng cơ bản và kỹ năng chuyờn sõu
Nhóm những kỹ năng cơ bản trong dạy học trờn lớp bao gồm các kỹnăng: nghe, nói, đọc, viết, giao tiếp Các kỹ năng này cần thiết cho bất cứ hoạtđộng nào, đặc biệt là đối với người giáo viên Tiểu học khi thực hiện hoạtđộng dạy học trờn lớp Cỏc kỹ năng cơ bản này là điều kiện để hình thành vàthực hiện các kỹ năng chuyờn sõu của người giáo viên như kỹ năng soạn giáo
án, chuẩn bị lờn lớp, kỹ năng thể hiện nội dung, phương pháp dạy học phùhợp, kỹ năng phân loại học sinh, dự kiến thời gian…
Quá trình rèn luyện các kỹ năng dạy học trờn lớp mặc dù được thực hiệnmột cách thường xuyên, liên tục trong quá trình dạy học nhưng cũng cần căn
cứ vào đặc điểm hoạt động dạy, thời gian, địa điểm và trình độ của người giáoviên để có thể tiến hành quá trình rèn luyện phù hợp và có hiệu quả nhất.Trước hết giáo viên phải được kiểm tra các kỹ năng cơ bản đã học ởtrường sư phạm, sau đó đánh giá mức độ thành thạo hay chưa; việc vận dụngcác kỹ năng cơ bản và kỹ năng chuyờn sõu trong dạy học như thế nào; mức
độ thành thạo của các kỹ năng chuyờn sõu đến đâu?
Thực tế cho thấy rằng mặc dù đã được rèn luyện trong các trường sưphạm nhưng khi tiến hành các hoạt động dạy trờn lớp với rất nhiều tác độngchủ quan và khách quan thì việc vận dụng các kỹ năng này chỉ ở mức tươngđối thành thạo Do đó trong mỗi tiết học, mỗi môn học người giáo viên phảithường xuyên chuẩn bị cho mình những kỹ năng dạy học cụ thể, chi tiết,mang tính khoa học, tính thống nhất, dự kiến được các tình huống sẽ xảy ra.Điều này phụ thuộc vào việc giáo viên nắm nội dung, chương trình môn học
và hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh đến đâu
Trong quá trình tổ chức dạy học trờn lớp người giáo viên cần xác địnhnội dung kiến thức trọng tâm, cơ bản; sử dụng phương pháp phù hợp; phânphối thời gian hợp lý; lôi cuốn học sinh vào bài giảng; xử lý các tình huống sư
Trang 31phạm xảy ra… Các kỹ năng này phải được thực hiện một cách linh hoạt trongtiết dạy bởi sẽ không có sự phân định rạch ròi trong các bước của tiến trìnhlờn lớp Ví dụ: ổn định tổ chức líp cần phân phối thời gian hợp lý (1 phót);kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố tri thức cũng cần phân phối thời gianhợp lý.
Nh vậy với quá trình chuẩn bị hay tổ chức thực hiện hay kiểm tra đánhgiá đều cần có sự thành thạo, linh hoạt, sáng tạo các kỹ năng khác nhau Điềunày đòi hỏi người giáo viên phải chủ động rèn luyện và rèn luyện thườngxuyên trong các bước của quá trình dạy học, trong từng tiết học cụ thể, tronghoạt động dạy học trờn lớp cũng như trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lờnlớp…
1 4 2 Tiến hành rèn luyện các kỹ năng dạy học trờn lớp cho giáo viên Tiểu học.
Thực tế cho thấy tất cả các giáo viên Tiểu học đó cú một số kỹ năng cơbản và kỹ năng chuyờn sõu trong quá trình dạy học; mức độ thành thạo trongkhi vận dụng các kỹ năng này có thể khác nhau ở mỗi giáo viên Căn cứ vàokết quả nghiên cứu thực trạng mà chúng tôi đã trình bày ở chương 2 cho thấycần có một số biện pháp cụ thể để rèn luyện các kỹ năng dạy học trờn lớp chogiáo viên Tiểu học và cần thực hiện thường xuyên hơn các biện pháp nàynhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học
Quá trình rèn luyện cần được tiến hành theo các bước sau:
- Xây dựng nội dung rèn luyện
- Nêu lên cách thức, phương pháp, phương tiện rèn luyện trong nhữngđiều kiện cụ thể Trong bước này chủ yếu tiến hành rèn luyện bằng chính hoạtđộng dạy của người giáo viên trờn lớp, trong trường; bằng những hoạt độngsinh hoạt thường xuyên trong tổ chuyên môn để đánh giá, đóng góp ý kiếncho từng giáo viên; bằng những hội thi giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở, cấphuyện, cấp tỉnh; bằng những phong trào viết sáng kiến đổi mới phương pháp,
Trang 32làm đồ dùng dạy học phù hợp với điều kiện của nhà trường và của địaphương.
- Soạn và giảng mẫu một số tiết dạy, bài dạy, thực hiện đầy đủ các bướcvới những kỹ năng cơ bản và chuyờn sõu để giáo viên có thể quan sát, học tậpsau đó yêu cầu giáo viên làm thử, luyện tập thường xuyên có sự điều chỉnh,giúp đỡ Đồng thời tiến hành dự giảng các tiết của giáo viên trờn lớp và đónggóp ý kiến, rút kinh nghiệm cho từng kỹ năng, từng bước trong quá trình dạy
1 4 3 Triển khai đánh giá quá trình rèn luyện các kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học.
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học, thực hiện việc đổi mớiđồng bộ chương trình Tiểu học cần tổ chức rèn luyện các kỹ năng dạy họccho người giáo viên, đặc biệt là các kỹ năng dạy học trờn lớp Đồng thời trongquá trình rèn luyện cần có sự giám sát, theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh và đánhgiá một cách trung thực, khách quan và khoa học
- Việc tổ chức kiểm tra phải diễn ra đồng bộ thường xuyên: quá trình dạyhọc là một quá trình thống nhất toàn vẹn, các thành tố trong quá trình nàykhông tách rời Đặc biệt trong hoạt động của người giáo viên, ngôn ngữ, kiếnthức, phương pháp có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì vậy để tiến hànhhoạt động dạy trờn lớp người giáo viên phải cú cỏc kỹ năng cơ bản (nghe, nói,đọc, viết, giao tiếp) và các kỹ năng chuyờn sõu (soạn bài, giảng bài, phânphối thời gian, lôi cuốn học sinh, tự làm đồ dùng dạy học…) Qỳa trỡnh kiểmtra phải diễn ra thường xuyên, bất cứ lúc nào trong quá trình dạy, có thể ởbước chuẩn bị kế hoạch dạy hoặc bước ổn định tổ chức líp hoặc bước kiểm trabài cũ, dạy bài mới hoặc củng cố bài
- Việc tổ chức kiểm tra định kì: căn cứ vào kế hoạch năm học, kì họcchúng tôi đưa ra kế hoạch kiểm tra định kì, mỗi kì 2 lần đối với giáo viên khithực hiện các kỹ năng dạy học trờn lớp; không kể những hoạt động thườngxuyên của tổ chuyên môn mỗi tháng một lần dự giảng và rút kinh nghiệm;
Trang 33những hội thi cấp cơ sở, cấp huyện, cấp tỉnh; những phong trào thi đua nhândịp các ngày lễ; những hội thảo đổi mới phương pháp dạy học…
- Tổ chức tự kiểm tra, tự đánh giá: chủ yếu thông qua quá trình dạy trờnlớp, dự giảng các tiết học, môn học ở các khối líp khác nhau giáo viên tự rót
ra cho mình những kinh nghiệm giảng dạy và rèn luyện những kỹ năng màbản thân cảm thấy chưa thực sự thành thạo Thực tế việc tự kiểm tra đánh giá,rút kinh nghiệm là hoạt động có hiệu quả cao và có ý nghĩa trong công táckiểm tra
- Phối hợp chặt chẽ giữa phòng đào tạo, các tổ chuyên môn và các tổchức khác trong nhà trường để thực hiện công tác kiểm tra một cách đồng bộ
và thống nhất
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kỹ năng là một vấn đề phức tạp trong Tâm lý học và Giáo dục học Đã
có rất nhiều tranh cãi xoay quanh vấn đề này Các nhà khoa học đã đưa ra rấtnhiều quan điểm khác nhau về việc đồng nhất hay không đồng nhất kỹ năng-năng lực, kỹ năng- kỹ xảo còng nh mối quan hệ giữa chúng Từ khái niệm về
kỹ năng của K K Platụnốp tức là xem kỹ năng không chỉ là mặt kỹ thuật củahành động mà còn là một biểu hiện cụ thể của năng lực con người Trong quátrình nghiên cứu lí luận chúng tôi đã phân tích mối quan hệ giữa kỹ năng- kỹnăng dạy học trờn lớp và kỹ năng dạy học của giáo viên Tiểu học
- Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào
đó hay các hành động trên cơ sở kinh nghiệm cũ
- Kỹ năng dạy học là khả năng vận dụng tri thức chuyên môn nghiệp vụ,những cách thức, quy trình cần thiết để thực hiện có hiệu quả một số thao táchay một loạt các thao tác phức tạp của hành động giảng dạy nhằm võ trang trithức khoa học, phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, hành viđạo đức cho học sinh
Trang 34- Kỹ năng dạy học trờn lớp là việc thực hiện hình thức lờn lớp do đó cần
có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung chương trình, tài liệu học tập, lùachọn phương pháp, phương tiện phù hợp
- Quá trình tổ chức rèn luyện các kỹ năng dạy học trờn lớp cho giáo viênTiểu học là quá trình xây dựng nội dung rèn luyện, tiến hành rèn luyện vàđánh giá quá trình rèn luyện đó
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG DẠY HỌC TRấN LÍP CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC YấN DŨNG- BẮC GIANG THEO
YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỚI
2 1 Vài nét về giáo dục Tiểu học Yên Dũng.
Là một huyện nghèo của tỉnh Bắc Giang, địa bàn chủ yếu là núi với tổngdiện tích 26 nghìn ha và hơn 19 vạn dân, trình độ văn hoá không đồng đều,mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp, có khoảng 80% dân cư sốngbằng nghề nông nghiệp Với vị trí là một huyện giáp ranh 3 tỉnh: Hải Dương,Bắc Ninh, Quảng Ninh nhưng lại bị ngăn bởi trước mặt là sông Cầu, sau lưng
là một dãy núi Nham Miền chạy dài Vì vậy kinh tế Yên Dũng hầu như phụthuộc vào việc tự cung, tự cấp
Những khó khăn về kinh tế xã hội không làm cho giáo dục đào tạo YênDũng trì trệ Trong những năm gần đây chất lượng giáo dục toàn diện của
huyện luôn không ngừng được nâng cao Với mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” của đất nước, cùng với “đất khó sinh người
tài” truyền thống hiếu học của vùng đất chiêm trũng đã được phát huy mạnhmẽ
Giáo dục Tiểu học thực hiện theo chương trình mới được thống nhấttrong cả nước bắt đầu từ năm học 2002- 2003 cho đến nay đã đồng bộ đượcđổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp, đặc biệt là chương trình sáchgiáo khoa, trang thiết bị đồ dùng dạy học Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ,chi phối, quyết định đến chất lượng dạy và học Trên cơ sở tiếp cận, cập nhật,nắm bắt tinh thần và nội dung của chương trình, cán bộ quản lý cũng nhưtừng giáo viên trong các trường Tiểu học Yên Dũng đã rất quan tâm, đầu tưbồi dưỡng năng lực sư phạm, kỹ năng dạy học, đặc biệt là công tác tập huấncho giáo viên biết sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học
Tuy nhiên do một số lý do khách quan trong quá trình triển khai thựchiện như chương trình mới, công tác tập huấn chưa đồng bộ, chưa khoa học
Trang 36và thực hiện trong một thời gian ngắn; cùng một số lý do chủ quan như tuổitác, trình độ chuyên môn, hoàn cảnh của một số giỏo viờn… đó ảnh hưởngđến quá trình thực hiện chương trình này Ngoài ra còn những khó khăn vềđịa bàn, cơ sở vật chất, học sinh, các lực lượng giáo dục khác cũng làm chothực trạng giáo dục Tiểu học Yên Dũng cần được quan tâm, đầu tư hơn nữa Trong số rất nhiều khó khăn thì sự bất cập về phía giáo viên là yếu tố tácđộng mạnh nhất đến chất lượng giáo dục dẫn đến việc chưa đáp ứng được yêucầu của chương trình mới
(Nguồn do Phòng giáo dục cung cấp)
Huyện đã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học, xoá mù chữ năm
1995 và đã được công nhận hoàn thành phổ cập trung học cơ sở
Những năm gần đây đời sống nhân dân dần được cải thiện, nhờ đó dân tríđược tăng lên, các bậc phụ huynh đã quan tâm hơn đến việc học tập của con
Trang 37em mình, nhu cầu học tập ngày càng cao, bên cạnh đó cơ sở vật chất vẫn cònthiếu thốn Để khắc phục những khó khăn này các cấp, ngành, đoàn thể, mọilực lượng trong xã hội đã bắt tay vào xã hội hoá giáo dục Yên Dũng.
2 1 2 Thực trạng về chất lượng học sinh Tiểu học.
Thực hiện hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục đào tạo
về chương trình Tiểu học mới, Phòng giáo dục Yên Dũng đã tham gia chươngtrình thử nghiệm 2000 (CTTH mới)
2 1 2 1 Chương trình thử nghiệm gồm:
- Thử nghiệm sách giáo khoa mới biên soạn theo chương trình tiểu học
- Thử nghiệm đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng dạy họcdựa trờn cỏc hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Thử nghiệm đổi mới cách tập huấn giáo viên, cách soạn bài của giáoviên và đổi mới cách kiểm tra kết quả học tập của học sinh
2 1 2 2 Thời gian thử nghiệm
- Năm học 1998- 1999: Thử nghiệm Tiếng Việt, Đạo Đức líp 1 (vòng 1)
Trang 38- Năm học 2002- 2003: Chương trình Tiểu học mới đã được hoàn thiện vàđược triển khai trên phạm vi toàn quốc bắt đầu từ líp 1 Do được thử nghiệm
từ năm 1998 – 1999 nên việc triển khai chỉ đạo thực hiện dạy học theochương trình mới ( nội dung, phương pháp, sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học)đối với giáo viên Tiểu học huyện Yên Dũng tương đối thuận lợi
Để nâng cao chất lượng dạy học theo chương trình tiểu học mới PhòngGiáo dục Yên Dũng đã mở cỏc lớp tập huấn tập trung, bồi dưỡng tại cơ sởtheo chương trình riêng của từng khối líp Giảng viên là những giáo viên cốtcán và các giáo viên của trường Cao đẳng Sư phạm Ngô Gia Tự đã được tậphuấn theo chương trình của Bộ
Phòng Giáo dục chỉ đạo các nhà trường vận động, hỗ trợ học sinh mua
đủ sách giáo khoa đồng thời tạo điều kiện giúp đỡ những học sinh khó khăn
để có thể mượn được sách Hơn thế nữa ở các nhà trường cũn cú phũng bảoquản sử dụng đồ dùng dạy học đã được cấp phát; đầu tư trang thiết bị, thêmtài liệu, sách tham khảo cho các khối líp
Từ năm học 2002 – 2003 việc kiểm tra đánh giá học sinh cũng có nhữngthay đổi phù hợp với chương trình tiểu học mới Đối với cỏc lớp học 1, 2, 3chỉ đánh giá định lượng ( cho điểm) ở 2 môn Toán, Tiếng Việt và từ điểm 0-10; cũn cỏc mụn khỏc đánh giá định tính (nhận xét) Các môn học đánh giábằng định tính được đánh giá ở 2 mức là hoàn thành (A) tức là đạt đượcnhững yêu cầu cơ bản về kiến thức kỹ năng môn học; hoàn thành nhưng cóbiểu hiện năng khiếu (A+) và chưa hoàn thành (B)
Để đánh giá học sinh ở mức độ nào, giáo viên chủ nhiệm phải dùa vàonhững nội dung cụ thể ghi trong sổ điểm
Về hạnh kiểm được đánh giá theo 2 mức độ thực hiện đầy đủ và thựchiện chưa đầy đủ
+ Học sinh thực hiện đầy đủ 4 nhiệm vụ của học sinh tiểu học thì đượcghi là thực hiện đầy đủ (Đ)
Trang 39+ Học sinh thực hiện chưa đầy đủ 4 nhiệm vụ của học sinh tiểu học thìđược gọi là thực hiện chưa đầy đủ (CĐ).
Cùng với các hoạt động chuyên môn Phòng giáo dục đã kết hợp với Hộikhuyến học, Hội đồng giáo dục cỏc xó, Hội cha mẹ học sinh… chỉ đạo tốt cáchoạt động ngoài giờ lờn lớp Cải tiến các hình thức sinh hoạt tập thể, giáo dụctruyền thống hiếu học qua đó rèn luyện cho học sinh ý thức kỷ luật, lòng nhân
ỏi, tớnh tự chủ, tự tin, lối tư duy khoa học, chủ động trong cuộc sống
Để đánh giá chất lượng học sinh chúng tôi đã tham khảo kết quả chấtlượng học sinh líp 1 năm học 2005- 2006 thông qua bảng số liệu:
Bảng 2 2: Chất lượng học sinh líp 1 năm 2005- 2006
Thành thạo%
Chưa thành thạo%
(Nguồn do phòng giáo dục cung cấp)
Thông qua bảng số liệu chúng tôi thấy rằng: sau 4 năm thực hiện chươngtrình tiểu học mới có tới 67 % sè học sinh líp 1 được đánh giá hạnh kiểm tốt,
Trang 4052% số học sinh xếp loại học lực giỏi; toàn huyện có 58% số học sinh sửdụng thành thạo đồ dùng dạy học của bản thân.
Đây là một kết quả khả quan khi thực hiện chương trình Tiểu học mới.Bên cạnh đó vẫn có tới 33% số học sinh chưa đủ các tiêu chí để được đánhgiá là hạnh kiểm tốt; 42% số học sinh toàn huyện chưa sử dụng thành thạo đồdùng dạy học Thực trạng này đòi hỏi các giáo viên, cán bộ quản lí cần cónhững biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập cho học sinh
2 1 3 Thực trạng đội ngò giáo viên.
2 1 3 1 Thực trạng số lượng và trình độ của giáo viên.
Trong những năm gần đây đội ngò giáo viên Tiểu học Yên Dũng tươngđối ổn định và tỷ lệ giáo viên có trình độ từ Cao đẳng trở lên đạt 80,71%.Năm học 2005- 2006 số lượng giáo viên trẻ có thời gian công tác dưới 5 nămđạt 24,73%
Đây là những giáo viên được đào tạo tại các trường Đại học, Cao đẳngchính quy nên họ có phương pháp dạy học tiên tiến, có kiến thức chuyên môn
cơ bản, có hiểu biết, có khả năng nhận thức cũng như tiếp thu cái mới, tiếpthu khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại nhanh nhạy
Bên cạnh đó với sức trẻ, lòng nhiệt tình công tác, lòng yêu nghề, mến trẻ,
sự say mê khoa học, những giáo viên này thực sự có tâm huyết với nghề.Song đa số họ còn thiếu kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm tiếp xúc với họcsinh và giải quyết các tình huống sư phạm
Còng theo thống kê năm học 2005- 2006 cho thấy có 75,27% số giáoviên đã từng công tác từ 5 trở lên khẳng định họ là những người có nhiều kinhnghiệm trong giảng dạy và giáo dục, đa số những giáo viên này đã tương đốiyên tâm với nghề, vì vậy họ là những người góp phần quan trọng vào việc giữvững và nâng cao chất lượng dạy học