Tình trạng sử dụng các loại ma tuý tổng hợp trongthanh niên đang ở mức báo động, chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáodục phòng chống tệ nạn xã hội là hết sức cấp bách.Để thực hiện t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại mới, thời đại của sự bùng nổ côngnghệ thông tin và khoa học kỹ thuật, thời đại của nền kinh tế tri thức, của xuhướng toàn cầu hoá, hội nhập hoỏ đó tạo ra nhiều cơ hội và cũng đặt ra chocon người không ít những áp lực, thách thức
Cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ củacông nghệ thông tin bên cạnh những mặt tích cực cũn cú những mặt tiêucực, không lành mạnh đã ảnh hưởng xấu đến nền văn hoá Việt Nam đặcbiệt là có tác động tiêu cực đối với thế hệ trẻ Tầng lớp học sinh, sinh viênthường thích những cái mới lạ, hấp dẫn, dễ bị lôi kéo và cám dỗ trước nhữngtác động của TNXH nh rượu chè, cờ bạc, cá cược bóng đá, hót hít Chính vìvậy mà tệ nạn xã hội đã ảnh hưởng xấu đến công tác giáo dục của nhàtrường, của gia đình ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng, của xã hội Tệnạn xã hội không chỉ gây thiệt hại về kinh tế phá huỷ nhân cách, băng hoạiđạo đức, làm tan vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, gây mất trật tự xã hội, ảnhhưởng to lớn đến cộng đồng và làm suy thoái đến kinh tế đất nước Mộttrong những lý do dẫn đến tình trạng tiêu cực nói chung và tệ nạn xã hộitrong học đường nói riêng là do nhận thức, thái độ và hành vi sai lầm của thế
hệ trẻ Nhận thức, thái độ là những hiện tượng tõm lớ trong con người Nếunhận thức sai sẽ dẫn đến thái độ và hành vi sai Mọi tác động của con ngườiđến thế giới, mọi biểu hiện qua thái độ của con người trước những hiệntượng của đời sống xã hội nói chung và tệ nạn xã hội nói riêng trước hếtphải đi từ nhận thức Nhưng thực tế hiện nay: Theo báo cáo của hai ngànhcông an và giáo dục đào tạo, năm 2004 cả nước còn 979 học sinh, sinh viên
và giáo viên nghiện ma tuý, trong đó học sinh là 503 em, sinh viên là 177
em, giáo viên là 229 Cuối năm 2004 số học sinh sử dụng ma tuý đã lên tới
600 em Theo báo cáo của bộ lao động thương binh và xã hội tính đến cuối
Trang 2độ tuổi thanh thiếu niên Tình trạng sử dụng các loại ma tuý tổng hợp trongthanh niên đang ở mức báo động, chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáodục phòng chống tệ nạn xã hội là hết sức cấp bách.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ “Nõng cao dân trí, đào tạo năng lực, bồidưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước” thì một trong những vấn đề cơ bản là cần phải loại bỏ dần các tệnạn xã hội trong học đường
Thực tế cho thấy, TNXH đã xâm nhập vào nhà trường nói chung và đặcbiệt là các trường thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Trong đú có trường Caođẳng sư phạm Lào Cai nói riêng Vì vậy để hạn chế và ngăn chặn tệ nạn xã hộinhư cờ bạc, lô đề, nghiện hút trong nhà trường cần có những nghiên cứu thực tế
từ đú có biện pháp tác động hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, thái độ cho họcsinh, sinh viên để các em nói không với tệ nạn xã hội Bởi lẽ nhận thức và thái
độ là những mặt quan trọng trong đời sống tõm lớ con người, nếu nhận thứcđúng con người sẽ có thái độ, hành vi đúng và ngược lại Vì thế chúng tôi mạnh
dạn chọn đề tài là “Nhận thức và thái độ của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Lào cai trước những tệ nạn xã hội trong học đường”
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và thái độ của sinh viên trước TNXH trong học đường
3.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 200 sinh viên năm thứ nhất, thứ hai và sinh viên
Trang 3Ngoài ra chúng tôi còn điều tra trên 30 giảng viên, giáo viên chủnhiệm, các cán bộ phòng, ban của trường.
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu nhận thức và thái độ của sinh viên trường CĐSPLào Cai trước những tệ nạn xã hội trong học đường
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay tệ nạn xã hội đã xâm nhập vào các trường học do nhiềunguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là do các em chưa nhậnthức được đầy đủ các hậu quả của tệ nạn và chưa có thái độ đúng mựctrước các tệ nạn đó Vì vậy nếu có những tác động sư phạm nhằm nâng caonhận thức cho sinh viên về TNXH sẽ giỳp cỏc em có thái độ đúng và biếtcách phòng chống nó
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: như nhận
thức, thái độ, tệ nạn xã hội, tệ nạn xã hội trong học đường
6.2 Nghiên cứu thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên về TNXH trong
học đường
6.3 Tổ chức thực nghiệm (thử nghiệm tác động) nhằm góp phần nâng cao
nhận thức, thái độ cho sinh viên về TNXH Từ đú giỳp cỏc em có hành độngđúng trước các tệ nạn xã hội trong học đường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài để xâydựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài Mục đích của phương phươngpháp này là nhằm khảo sát nhận thức và thái độ của sinh viên trước những
Trang 47.2.2 Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với một số cán bộ quản lý, các giảng viên, Bí thư đoàntrường để tìm hiểu nhận thức và ý kiến đánh giá của họ về TNXH trong họcđường
Trao đổi với sinh viên để tìm hiểu nhận thức, thái độ của các em vềTNXH cũng như nguyên nhân dẫn đến TNXH trong học đường
7.2.3 Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát các hoạt động trong trường và ngoàitrường nhằm thu thập các tài liệu cụ thể, sinh động, khách quan về nhận thức,thái độ của sinh viên hỗ trợ cho các phương pháp khác
Ghi chép tài liệu quan sát một cách cụ thể, chân thực để đối chiếu vớikết quả điều tra nhằm tăng thêm tính khách quan của vấn đề nghiên cứu
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm tác động nhằm góp phần nâng caonhận thức về TNXH cho sinh viên từ đú giỳp các em có nhận thức đỳng, thái
độ đúng trước các hiện tượng này
7.2.5 Phương pháp nghiên cứu điển hình
Chúng tôi xây dựng hai chân dung điển hình nhằm tìm hiểu nguyênnhân dẫn đến TNXH của sinh viên từ đú có cơ sở cho việc khẳng định thựctrạng và làm sáng tỏ thờm cỏc phương phỏp khỏc
7.3 Phương pháp toán thống kê
Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả khảo sát, rút racác nhận xét, kết luận về đối tượng nghiên cứu
Cấu trúc luận văn gồm:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Nội dung, tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Trong các thời kỳ xã hội khác nhau, việc xử lý các hành vi tiêu cực tronghọc đường là vấn đề bức xúc, khó khăn của mỗi quốc gia Để giỳp cỏc họcsinh, sinh viên có cái nhìn trân trọng và đúng đắn hơn về việc học tập, sinh hoạttrong trường Cao đẳng sư phạm, từ đó góp phần nâng cao chất lượng các giáoviên tương lai, giỏi về năng lực và có phẩm chất đạo đức tốt Đõy là vấn đề rấtcần thiết, vì thế mỗi quốc gia luụn cú những phương hướng, biện pháp khácnhau để giảm bớt vấn đề tiêu cực, tệ nạn xã hội trong học đường
Năm 1979 G.G Bochi canava người Mỹ : ông đã nghiên cứu nhữngđặc điểm tâm lý của sự điều chỉnh xã hội đối với hành vi
Theo E.C.Toman (1886 – 1959) “Thuyết hành vi nhận thức” ông giảthiết rằng hành vi nhận thức gồm 5 biến độc lập cơ bản: Các kích thích củamôi trường, cỏc tác động tâm lý, di truyền, sự dạy học từ trước và tuổi tác
Alberl Bandura nghiên cứu quy mô lớn về đặc điểm của những mô hình
có ảnh hưởng lớn đến hành vi của chúng ta: “Nếu học sinh chứng kiến hành
vi mong muốn hoặc được tán thưởng, hoặc bị bỏ qua không trừng phạt, hành
vi không mong muốn của học sinh thể là hậu quả của điều đó Điều này có ýnghĩa và tác dụng rất lớn: Hành vi ổn định và tính tích cực của giáo viên tạo
ra bầu không khí lành mạnh trong lớp [17,157]
Tóm lại, một số công trình ở nước ngoài cũng đã chú ý đến việc nghiêncứu những hiện tượng tiêu cực và tác dụng của việc nghiên cứu đó Song cáccông trình nghiên cứu các tệ nạn xã hội ở trường Cao đẳng sư phạm cũn ớt
Trang 6Các công trình nghiên cứu trong nước
Về vấn đề nhận thức và thái độ của sinh viên cũng được nhiều tác giảquan tâm nghiên cứu
Tác giả Hoàng Thị Thư nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ củasinh viên Đại học sư phạm Hà nội về về bạo lực phụ nữ trong gia đình Tácgiả nhận xét: Nhận thức và thái độ của sinh viên ảnh hưởng yếu tố môi trường
“xuất phát từ những đặc điểm lao động của nghề thầy giáo, đòi hỏi người sinhviên sư phạm ngay trong những năm tháng học ở nhà trường Đại học phảikhông ngừng phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thiện nhân cách người thầy giáotương lai”
Tác giả Nguyễn Thị Thái Hà nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái
độ đối với giá trị nghề dạy học của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng sưphạm Hoà Bình
Tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh Dao nghiên cứu thực trạng nhận thức vàthái độ của sinh viên Cao đẳng sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh về tệ nghiệnhút trong trường học
Tác giả Tiêu Thị Minh Hường nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái
độ đối với ma tuý của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
Về tệ nạn xã hội có khá nhiều các công trình nghiên cứu, tiêu biểu là:
Đề tài: “Thực trạng và giải pháp phòng ngừa các tệ nạn xã hội trong sinh viên hiện nay” – Do PGS TS Trần Quốc Thành làm chủ nhiệm đề tài (2000) Luận án tiến sĩ luật học “Tăng cường đấu tranh phòng chống TNXH bằng pháp luật trong giai đoạn hiện nay”- Phan Đỡnh Khánh (2001) Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh “Hiểm hoạ ma tuý và cuộc chiến mới”,
GS.TS Nguyễn Xuõn Yờm, TS Trần Văn Luyện Nhà xuất bản Công an Nhândân (2002) “Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại” - GS.TSNguyễn Xuõn Yờm, TS Phan Văn Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên Nhà xuất
Trang 7Tóm lại, có nhiều công trình nghiên cứu về nhận thức, thái độ của sinhviên cũng như nhiều công trình nghiên cứu về một số TNXH và phòng chốngchúng Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về nhậnthức và thái độ của sinh viên trước các TNXH trong học đường, đặc biệt ở cáctỉnh miền núi; cụ thể ở trường CĐSP Lào Cai.
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Hoạt động nhận thức
1.2.1.1 Khái niệm về hoạt động nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tõm lớ con người:Nhận thức - tình cảm - hành động Trong quá trình sống và hoạt động conngười tiếp nhận, phản ánh và phản ứng lại các kích thích từ thế giới kháchquan tác động đến con người và phản ánh những biến đổi trong bản thân conngười Vì vậy nếu không có hoạt động nhận thức thì sẽ không thực hiện đượccác chức năng trên
Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tõm lớ con người.Nhờ nhận thức con người mới có xúc cảm, tình cảm và hành động Nhận thức
là tiền đề cho các hoạt động khác Đặc trưng nhất của hoạt động nhận thức làphản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều hoạt độngkhác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ) và mang lại những sảnphẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm )
1.2.1.2 Các giai đoạn của hoạt động nhận thức
+ Nhận thức cảm tính
+ Nhận thức lớ tớnh
Nhận thức cảm tính bao gồm quá trình cảm giác và tri giác Đây là
giai đoạn đầu tiên, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của conngười Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh nhữngthuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào
Trang 8trong việc thiết lập mối quan hệ của cơ thể với môi trường, định hướng vàđiều chỉnh hoạt động của con người trong môi trường Vì vậy, Lê Nin đã nói: “cảm giác là viên gạch xây dựng nên lâu đài nhận thức” Tuy nhiên nhậnthức cảm tính chỉ có thể phản ánh được những thuộc tính bề ngoài của sự vậthiện tượng một cách riêng lẻ, trong cuộc sống con người phải đi tìm nhữngcái bên trong của sự vật hiện tượng Điều này nhõn thức cảm tính không thểphản ánh được Vì thế xuất hiện một giai đoạn nhận thức ở mức độ cao hơn
đó là nhận thức lý tính
Nhận thức lớ tớnh: Nhận thức lớ tớnh là giai đoạn nhận thức cao hơn
nhận thức cảm tính Đặc điểm nổi bật nhất của nhận thức lớ tớnh là phản ánhthuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ quan hệ có tính qui luật của
sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan, giúp con người làm chủ tựnhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình Nhận thức lớ tớnh bao gồmquá trình tư duy và quá trình tưởng tượng
- Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ, quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượngtrong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [21, 92]
- Tưởng tượng là quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng cótrong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên
cơ sở biểu tượng đã có [21,104]
Như vậy, nhận thức cảm tính chỉ cung cấp cho con người vốn hiểu biết
về những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng còn nhận thức lý tínhcung cấp cho con người vốn hiểu biết về các thuộc tính bản chất, bên trong,những mối liên hệ, quan hệ có tính qui luật của sự vật hiện tượng giúp conngười không chỉ phản ánh những cái đang tác động mà cả những cỏi khụngtrực tiếp tác động, chính vì vậy giúp con người không chỉ phản ánh hiện thựckhách quan mà cải tạo hiện thực khách quan Từ đó chủ thể có thể biến đổi,
Trang 9cải tạo được các sự vật hiện tượng vì đã nắm được các thuộc tính bản chấtcũng như quy luật của chúng.
Trong lịch sử triết học xưa và nay có hai khuynh hướng sai lầm về quátrình nhận thức xuất phát từ thái độ chủ quan - thuyết duy cảm đề cao cảmgiác, thuyết duy lí (khách quan) đề cao tư duy trừu tượng
Giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lớ tớnh cú mối quan hệ vớinhau Nhận thức cảm tính là cơ sở, là mức độ nhận thức ban đầu, cung cấpnguyên vật liệu cho nhận thức lớ tớnh Ngược lại quá trình nhận thức lớ tớnhlại chi phối nhận thức cảm tính làm cho nhận thức cảm tính nhạy bén hơn,chính xác hơn
Lờnin đã khái quát: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng trở về thực tiễn Đó là con đường nhận thức biện chứng,
nhận thức hiện thực khách quan (Bỳt kí triết học – NXB Sự thật – Hà nội
1963, trang 189)
Nhận thức trải qua hai giai đoạn: trực quan sinh động và tư duy trừutượng Hai giai đoạn này thống nhất và gắn bó với nhau nhưng lại khác nhau
sự khác nhau này trên mấy mặt:
1 Về vị trí: Trực quan sinh động (cảm giác, tri giác) là giai đoạn đầu,giai đoạn thấp của quá trình nhận thức, tư duy trừu tượng (Tư duy, tưởngtượng)là giai đoạn tiếp theo, giai đoạn cao của quá trình nhận thức
2 Về tính chất: Trực quan sinh động là nhận thức có tính trực tiếp, cụthể dựa vào các giác quan; tư duy trừu tượng là nhận thức cú tớn chất giántiếp, là quá trình chế biến những thong tin do giác quan mang lại trong đầu óccon người
3 Về trình độ: Trực quan sinh động là nhận thức ở trình độ thấp, hờihợt, cho ta sự hiểu biết về những hiện tượng, những mối liên hệ bề ngoài của
sự vật, của quá trình, sự hiểu biết kinh nghiệm cụ thể Tư duy trừu tượng là
Trang 10nhận thức ở trình độ cao, sâu sắc, cho ta sự hiểu biết về bản chất, những mốiliên hệ bên trong, mối liên hệ có tính qui luật của sự vật hiện tượng, của quátrình, sự hiểu biết lý luận, trừu tượng.
4 Về hình thức: Trực quan sinh động sử dụng những hình thức tư duynhư cảm giác, tri giác Tư duy trừu tượng sử dụng những hình thức tư duynhư phán đoán, suy lý
1.2.1.3 Vai trò của hoạt động nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người:Nhận thức - Tình cảm - Hành động và cũng là một trong năm phạm trù cơ bảncủa triết học Nhờ có nhận thức đỳng giúp con người nảy sinh tình cảm, hứngthú từ đó hành động đúng Quá trình nhận thức bao giờ cũng là quá trình cómục đớch, có phương tiện, có biện pháp để thực hiện Nhận thức giúp conngười hiểu biết sâu sắc những sự vật hiện tượng và vận dụng sự hiểu biết đóvào thực tiễn
1.2.1.4 Đặc điểm nhận thức của tuổi thanh niờn, sinh viên nói chung và thanh niên – sinh viên trường CĐSP Lào Cai nói riêng
Trong tâm lý học lứa tuổi ,tuổi thanh niên được coi là giai đoạn pháttriển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổithanh niên thường được chia làm hai thời kỳ;
- Giai đoạn đầu tuổi thanh niên ( Từ 14, 15 đến 17, 18 tuổi)
- Giai đoạn hai của tuổi thanh niên (Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi)
Khách thể nghiên cứu của đề tài nghiên cứu đang ở giai đoạn hai củatuổi thanh niên Lứa tuổi này có những đặc điểm về nhận thức như sau:
Đặc điểm cơ bản về mặt thể chất là cơ thể của các em đã trải qua thời
kỳ phát triển nhiều biến động, căng thẳng, mất cân đối và bước vào thời kỳphát triển bình thường, cân đối, hài hoà, đạt đến mức phát triển của ngườitrưởng thành
Đặc biệt, hoạt động của tuổi thanh niên trong nhà trường phức tạp hơn
Trang 11học phổ thông Những nội dung học tập này không chỉ trang bị tri thức khoahọc hoàn chỉnh, sâu sắc mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan, nhânsinh quan cho các em Nhiệm vụ học tập nặng nề, căng thẳng hơn, phươngpháp giảng dạy, hình thức giảng dạy của giáo viên khác ở trường phổ thôngtrung học, do vậy đòi hỏi các em phải tích cực vận dụng tri thức và sáng tạonhiều hơn Ngoài ra, các hoạt động ngoại khoá ở nhà trường cũng rất rộng,mang tính xã hội, chính trị nhiều hơn, có tác dụng rất lớn đến sự phát triểnnhân cách của các em Hoạt động giao tiếp xã hội của các em được mở rộng,mang tính xã hội cao Xã hội giao cho các em trọng trách lớn, quyền côngdân, quyền tham gia mọi hoạt động một cách bình đẳng như mọi người, các
em có khả năng và uy tín tham gia nhiều công tác xã hội và được xã hội thừanhận và đánh giá cao
Do những đặc điểm về thể chất, ảnh hưởng của hoạt động và hoạt độnghọc tập mà hoạt động tâm lý nói chung và nhận thức của sinh viên nói riêng
có những thay đổi quan trọng
Ở tuổi thanh niên, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quátrình nhận thức Tri giác có mục đích đạt tới đỉnh cao Quan sát trở nên có hệthống và toàn diện Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tínhiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ
Ghi nhớ lụgic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các
em biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánhđối chiếu )
Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độclập, sáng tạo, có căn cứ và nhất quán hơn, đồng thời tính phê phán của tư duycũng phát triển Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện cácthao tác tư duy phức tạp, nắm được các mối liên hệ nhân quả trong tự nhiên
và xã hội Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan
Trang 12Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tõm lớcủa tuổi thanh niên Sự phát triển ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sựphát triển nhân cách Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên
là sự nhận thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, dođịa vị mới mẻ của họ Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các emkhông chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vịtrí của mình trong xã hội, trong tương lai Tuy nhiên nhận thức về người khácbao giờ cũng ít khó khăn hơn là nhận thức bản thân Tự đánh giá khách quankhông phải là dễ dàng do vậy thanh niên thường có xu hướng cường điệutrong tự đánh giá
Một số đặc điểm tõm lớ của sinh viên trường CĐSP Lào Cai
Ngoài những đặc điểm nhận thức của lứa tuổi thanh niên – sinh viênnói chung, thanh niên – sinh viên trường CĐSP Lào cai nói riêng có một sốđặc điểm nhận thức như sau:
- Đại đa số sinh viên là người dân tộc nên nhận thức của các em cónhững hạn chế thể hiện chậm tiếp thu tri thức trong giờ học đặc biệt là cỏcmụn trừu tượng như kinh tế chính trị, toán
- Đối với các TNXH nhiều khi các em chưa nhận thức rõ tác hại của nó
và rất dễ bị ảnh hưởng
Tóm lại, hoạt động nhận thức của thanh niên phát triển ở mức độ cao
và có ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành tự ý thức và thế giới quancủa các em
1.2.2 Thái độ
Trong khi phản ánh thế giới khách quan, con người không chỉ nhậnthức thế giới đó mà còn tỏ thái độ của mình, thể hiện những rung cảm củamình đối với nó
1.2.2.1 Thái độ là gì?
Trang 13Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thái độ Từ việc nghiên cứuđịnh nghĩa thái độ của nhiều tác giả khác nhau người nghiên cứu xin đượctrình bày một số quan niệm về thái độ và chọn lấy một quan niệm thíchhợp nhất đối với vấn đề nghiên cứu và lấy đó làm công cụ nghiên cứu trong
đề tài của mình
* Tâm lí học xã hội quan niệm “thỏi độ” là sự sẵn sàng ổn định của cánhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độvốn có xu hướng rõ rệt hình thành qui luật nhất quán phương thức xử thế củamỗi cá nhân
* Theo từ điển học sinh: Thái độ là vẻ, là cách biểu hiện bên ngoài củatình cảm, ý nghĩ của một người đối với công việc hay đối với người khác
* Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: Thái độ là mặt biểu hiện bề ngoàicủa ý nghĩ của tình cảm đối với ai thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động
Như vậy, thái độ thể hiện tình cảm, ý nghĩ của con người đối với ngườikhác thông qua biểu hiện của nét mặt, tình cảm và hành động
* Theo từ điển tiếng Việt khoa học: Thái độ là tổng thể nói chungnhững biểu hiện ra bên ngoài (Bằng nét mặt, lời nói, hành động) của ý nghĩ,tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó
* PGS TS Võ Thị Minh Chí quan niệm: Thái độ là phản ứng, ứng xửmang tính chủ thể với hiện thực khách quan, được hình thành trên cơ sở cácmối quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia vào đó thông qua hoạt động và giao
tiếp của mình [8,281]
Như vậy có thể nói: thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài (Bằng nét mặt, lời nói, hành động) của những ý nghĩ, tình cảm của chủ thể đối với hiện thực khách quan, được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia vào đó, thông qua hoạt động và giao tiếp của mình.
1.2.2.2 Đặc điểm của thái độ
Trang 14Khái niệm thái độ mang tính phức tạp được hiểu dưới nhiều góc độkhác nhau, có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ các quá trình hoạt động tâm lýkhác của con người Thái độ có thể được biểu hiện ra bên ngoài nhưng cũng
có thể không biểu hiện ra bên ngoài Đầu tiờn nó là xúc cảm đối với đối tượngđối tượng mới gặp hoặc là tình cảm đối với đối tượng quen thuộc Tuy vậycòn bao gồm cả ý định và hành động Hành động ở đõy là một hành động đối
xử với một đối tượng nhất định muốn có một hành động gì đó về phía chủ thể,
về phía đối tượng, đó là mặt bên trong, mặt chủ quan của thái độ hay còn gọi
là thái độ bên trong Không phải lúc nào cũng được phản ánh một cách trọnvẹn nguyên si mà thái độ bên trong này có thể giấu kín nếu người ta cảm thấycần che giấu Khi đó chủ thể sẽ kìm chế hoặc đố nén và không biểu lộ thái độcủa mình
Mặt bên ngoài của thái độ là khi con người muốn biểu lộ thái độ đó như
là một sự cần thiết hoặc khi chủ thể không ý thức được cần phải giấu diếmthái độ mà cứ để lộ ra bên ngoài một cách tự nhiên, thoải mái
Thái độ của con người có thể được biểu hiện một cách rõ ràng nhưngcũng có thể được che dấu, biểu hiện một cách không chân thực
Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng rõ rệt đối vớicon người Thái độ bao giờ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể nhấtđịnh nào đó Thế nhưng thái độ lại thể hiện tính chủ thể rõ nét ở chỗ cùng mộtđối tượng, mỗi chủ thể lại cú thái độ khác nhau, thậm chí ngay khi con người
cú thái độ tương đối giống nhau thì cách thể hiện và mức độ lại khác nhau
Thái độ của con người bao giờ cũng chịu sự chi phối của các yếu tố xã hộinhất định như yếu tố tâm lý xã hội, yếu tố dư luận xã hội, phong tục tập quán.Khi tỏ thái độ của mình con người thường xem xét những yếu tố xã hội xungquanh xem có phù hợp hay không phù hợp Mặt khác thái độ chính là một phầntrong biểu hiện tình cảm Thái độ có thể nói là giai đoạn nảy sinh trước động cơ,song nó lại là giai đoạn định hướng để động cơ đi đến hành động
Trang 15Thái độ thường được chia theo hai hướng khác nhau như thái độ tíchcực và thái độ tiêu cực, thái độ đúng đắn hay thái độ sai lệch Khi đề cập đếnthái độ ta thường đề cập đến các thuật ngữ: thích hay không thích, tán thànhhay không tán thành, e ngại hay tự tin Tất cả đều được hiểu là thái độ củamột chủ thể đối với một hiện tượng nhất định, đó là một sự vật hiện tượnghoặc một vấn đề nào đó hoặc một con người nào đó.
Thái độ có mối liên quan chặt chẽ với nhận thức Thái độ chịu sự chiphối của nhận thức nhưng thái độ cũng cú tác động trở lại đối với nhận thức.Người cú thái độ tích cực đối với một vấn đề cụ thể thì nhu cầu, hứng thú nhậnthức của chủ thể phải được nâng lên Đõy là sự tác động xuôi chiều vì nhiềukhi con người nhận thức đúng đắn nhưng cú thái độ tiêu cực và ngược lại
1.2.2.3.Cấu trúc thái độ
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về thái độ, songphần lớn các nhà tâm lý học đều nhất trí với quan điểm cấu trúc 3 thành phầncủa thái độ do M Smith – nhà tâm lý học Mỹ đưa ra năm 1942 Theo M.Smith, thái độ được cấu thành từ thành phần nhận thức, thành phần xúc cảmtình cảm và thành phần hành động của cá nhân với đối tượng Trong đó:
- Thành phần nhận thức: thể hiện quan điểm, sự hiểu biết của cá nhânvới đối tượng
- Thành phần xúc cảm - tình cảm: thể hiện sự rung động, hứng thú của
cá nhân đối với đối tượng của thái độ
- Thành phần thứ ba là ý định hành động và hành động: là sự thể hiệnthái độ của cá nhân đối với đối tượng thông qua xu hướng hành động và hànhđộng thực tế
Trong đời sống tâm lý của con người, nhận thức được coi là một trong
ba mặt cơ bản (nhận thức, thái độ và hành động) Quá trình nhận thức về đốitượng là quá trình con người tìm tòi, khám phá những thuộc tính bề ngoài và
cả những thuộc tính bản chất, những quy luật của đối tượng Khi một sự vật,
Trang 16hiện tượng tác động đến cá nhân, để có thái độ nhất định đối với sự vật hiệntượng đú thỡ trước hết, cá nhân phải có sự hiểu biết về đối tượng đó (cho dùhiểu biết đú đỳng hay sai) Trong cấu trúc của thái độ, nhận thức là “điềukiện cần” cho việc hình thành thái độ Xúc cảm - tình cảm là thành phầnquan trọng, là động lực có thể kích thích hoặc kìm hãm tính tích cực hoạtđộng của chủ thể Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối với đốitượng Giữa hành vi và thái độ luụn cú sự quy định lẫn nhau, thái độ muốnbiểu hiện ra bên ngoài phải thông qua hành vi và hành vi là sự thể hiện củathái độ ra bên ngoài, hành vi là một thành phần cấu thành lên thái độ Mặc dùgiữa hành vi và thái độ đôi khi cũng có những mâu thuẫn, nhưng nhìn chung,hành vi vẫn là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ.
Ba thành phần nêu trên trong cấu trúc của thái độ có quan hệ chặt chẽvới nhau, sự thống nhất giữa chúng tạo nên một thái độ xác định của chủ thể.Đứng trước một đối tượng nào đó, để có thái độ với đối tượng đó, con ngườiphải tuân theo quy luật sau: trước hết, con người phải nhận thức (có hiểu biết)
về đối tượng; nhận thức đó sẽ là cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúccảm, tình cảm với đối tượng (yêu – ghột, thớch – khụng thớch…); cuối cùng,với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng mà con người sẽ có nhữnghành động, hành vi cụ thể với đối tượng Ta cũng cần hiểu, mặc dù đều cómặt trong cấu trúc chung của thái độ, nhưng tỉ lệ các thành phần nêu trên có
sự khác nhau trong các loại thái độ Tuỳ theo tình huống mà một thành phầnnào đó chiếm vị trí chủ đạo, chi phối thái độ của cá nhân Ba thành phần nêutrên có quan hệ chặt chẽ với nhau Cho nên có thể nói rằng: từ tính thống nhấtcủa ý nghĩ, tình cảm và hành động, chúng ta có thể thấy được một thái độ xácđịnh Chính vì thế, cấu trúc thái độ 3 thành phần này sẽ được chúng tôi xem là
cơ sở trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
12.2.4 Chức năng của thái độ
Trang 17Con người có khả năng ứng xử linh hoạt, phù hợp với các tác động đa dạngcủa môi trường chính là nhờ vào cái khuôn mẫu hành vi thái độ đã được hìnhthành Theo các nhà tâm lý học, sở dĩ thái độ có khả năng như vậy là vì thái độ cúcỏc chức năng cơ bản được trình bày trong “Foundations of Psychology (2005) dotác giả Nguyễn Kiên Trường dịch, Nxb Lao động HN” (Theo Katz-1960):
- Chức năng hiểu biết: thái độ làm cho kinh nghiệm có ý nghĩa Chúng
ta có khả năng ứng xử trong các tình huống khác nhau theo một cách thứcnhất định, tiết kiệm thời gian và sức lực phần lớn là nhờ vào các kinh nghiệm,các khuôn mẫu mà chúng ta có Bởi kinh nghiệm, khuôn mẫu thái độ một khi
đã được hình thành, nó sẽ giúp chúng ta nhanh chóng tìm ra cách ứng xử phùhợp với đối tượng cụ thể
- Chức năng điều chỉnh (hay hiệu dụng): có một số thái độ nào đó giúpchúng ta sẽ được xã hội chấp nhận hơn, do đó, giúp chúng ta tương tác xã hội.Thái độ đảm bảo sự tham gia của cá nhân vào cuộc sống của xã hội, quy địnhphương pháp hoạt động và mối quan hệ của cá nhân với người khác và do đó,quyết định tính chất và mức độ tham gia của họ vào sự phát triển quan hệ xãhội Khi thái độ của cá nhân đối với đối tượng đã được hình thành, nó sẽ quyđịnh hành vi của cá nhân với đối tượng đó theo một hướng nhất định
- Chức năng diễn đạt giá trị (biểu hiện): giúp chúng ta diễn đạt những gỡmỡnh trải qua như các khía cạnh tích cực hơn trong “cỏi tụi bờn trong” củachính mình Chính chức năng này của thái độ sẽ là phương tiện giúp con ngườithoát khỏi các căng thẳng nội tâm, biểu hiện cảm xúc và thể hiện giá trị nhâncách của bản thân Hệ thống thái độ của mỗi người hợp lại tạo thành bộ mặttâm lý, thành nhân cách riêng của mình Vì vậy, thông qua thái độ của cá nhânđối với đối tượng, ta cũng có thể biết được giá trị nhân cách của cá nhân đó
- Chức năng bảo vệ cái tôi (tự vệ): giúp chúng ta phòng thủ bảo vệđộng cơ và suy nghĩ tiềm thức Chính trong những tình huống xung đột (giữa
Trang 18các suy nghĩ, niềm tin, giữa thái độ và hành vi…), chúng ta thường tìm cách
tự bào chữa, thậm chí tìm một người khác chịu trách nhiệm thay mình hoặchợp lý hóa hành vi của mình Quá trình này dẫn đến sự thay đổi thái độ tươngứng, giúp con người giảm bớt được sự “bất đồng” nội tâm
Cách lập luận của Katz như trên cho chúng ta thấy rằng: một số thái độcủa chúng ta rất giống cái tôi bên trong
Theo Smith, Bruner & White (1956) thái độ có ba chức năng:
Thứ nhất là đánh giá đối tượng: thái độ giúp chúng ta đánh giá nhữngđặc điểm khác nhau của môi trường sao cho biết cách hành động với chúng.Thái độ giúp kinh nghiệm trước đây định hướng phản ứng của chúng ta saocho chúng ta không phải trải qua quá trình tập quen nên phản ứng ra sao vàomỗi thời điểm Vì chúng ta phát triển một thái độ tích cực đối với vấn đề đãtìm thấy lợi ích trong quá khứ hay một thái độ tiêu cực đối với vấn đề chúng
ta nhận thấy là có hại, ngay lập tức chúng ta hiểu liệu cú nờn tiếp cận vấn đềhay trỏnh nó
Chức năng thứ 2 là điều chỉnh xã hội: có một số thái độ này khác một
số thái độ khỏc giỳp chúng ta đồng nhất hay xác nhập với cỏc nhúm xã hội cụthể Cú cựng thái độ như các thành viên khác của một nhóm xã hội cụ thể làcách nhấn mạnh bạn giống họ nhiều đến mức nào, vì thế cũng xác định vị trícủa chính bạn trong xã hội hay nói cách khác là có thái độ cụ thể giúp cho quátrình đồng nhất hoá xã hội
Chức năng thứ 3 là ngoại hiện hoá: chức năng này liên quan đến cỏchchỳng dùng làm động cơ thúc đẩy bên trong, tiềm thức phù hợp với những gìđang diễn ra quanh mình Smith, Bruner và White cho rằng thái độ giúpchúng ta biểu lộ sự lo sợ hay lo âu bên trong Chẳng hạn, nếu chúng ta đang
có sự lo sợ bên trong quá dính líu với một người thì biểu hiện sự lo sợ ấy bằngthái độ yếu thể đối với mối quan hệ thân mật nói chung Nói cách khác, chúng
Trang 19ta xem đối tượng bên ngoài như thể chúng ta liên quan với vấn đề bên trong,mặc dù các tác giả nhấn mạnh rằng đây là quá trình tiềm thức chứ không phảiquá trình ý thức Các ông cũng cho rằng thái độ thường khó thay đổi vì mộtthái độ đã định bất kỳ phục vụ một chức năng bất kỳ trong đó những chứcnăng này hay thậm chí sự phối hợp 2, 3 chức năng Nội dung là chúng ta cốtìm hiểu thế giới tốt hơn vì thế sẽ thay đổi khi kinh nghiệm gia tăng, nhưngmột số thái độ phản đối sự thay đổi vì chúng ta phục vụ chức năng cá nhânđối với chúng ta.
1.2.2.5 Các loại thái độ
Các nhà tâm lý học khi nghiên cứu thái độ đã đứng ở nhiều góc độ khácnhau để tiến hành phân loại thái độ Ta có thể kể đến một số cách phân loạinhư sau:
V.N Miasixex đã căn cứ vào tính chất của thái độ và chia thái độ thànhcác loại: thái độ tích cực, thái độ tiêu cực, thái độ trung tớnh…
Dựa trên tính chi phối của thái độ, B.Ph Lomov đã chia thái độ thành 2loại: thái độ chủ đạo hay thứ yếu Các thái độ chủ đạo (hay chi phối) là cácthái độ có liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá nhân, chiphối toàn bộ hệ thống thái độ
Chúng có thể biểu hiện thông qua các phản ứng hoặc đánh giá thíchhay không thích, đồng tình hay phản đối (theo Lê Thị Linh Trang (2002) ),thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của SV Học viện ngân hàngphân viện thành phố HCM, Luận văn thạc sĩ TLH, Viện KHGD HN)
Từ những phân loại thái độ như trên, chúng tôi quan niệm rằng: thái độđược phân chia thành 2 loại: thái độ tích cực và thái độ tiêu cực
1.2.2.6 Các mức độ của thái độ
Theo H Benesch - nhà tâm lý học người Đức, thái độ gồm có các mức
độ sau:
Trang 20-Về mức độ: nhiều hay ít, thường xuyên hay không thường xuyên, caohay thấp.
-Về cường độ: thái độ thể hiện ở sự tích cực, nhiệt tình, chủ động.Theo B.PH.Lomov - nhà tâm lý học người Nga thì:
- Xét về cường độ: thái độ gồm các mức độ mạnh hay yếu Trong quátrình phát triển thái độ có sự thay đổi về cường độ, nó có thể ở thời kỳ giatăng (rất mạnh mẽ) hoặc thời kỳ suy yếu Khi thái độ ở cường độ bão hoà, cóthể dẫn dến sự thay đổi về tính chất thái độ
- Xét về phạm vi (độ rộng): thái độ thể hiện ở tập hợp các đối tượnghay khía cạnh của hoạt động mà cá nhân tỏ thái độ đó là sự phong phú hayhạn hẹp của thái độ
- Xét về mức độ tích cực: đó là mức độ ảnh hưởng của thái độ đối vớitính tích cực của cá nhân
- Về mức độ ý thức: thái độ của cá nhân là thái độ có ý thức, cá nhânnhận thức được thái độ của mình
Theo định nghĩa trên, đề tài này được thực hiện nhằm đo lường thái độcủa sinh viên đối với các tệ nạn xã hội trong học đường
Mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ
Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng thái độmang tính chủ thể đậm nét hơn so với nhận thức Trong khi nhận thức phảnánh những thuộc tính và mối quan hệ của bản thân thế giới thì thái độ thể hiệnmối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người.Con người thường có thái độ tích cực khi có những đối tượng nào đó làm thoảmãn nhu cầu, hoặc ngược lại, con người có thái độ tiêu cực khi có những đốitượng gây trở ngại cho sự thoả mãn nhu cầu
Nhận thức và thái độ hình thành hai tõm lớ cơ bản tạo nên cấu trúc của
ý thức, do vậy nhận thức và thái độ có mối quan hệ rất gắn bó với nhau
Trang 21Thái độ là những rung cảm, những ý nghĩ dẫn đến những hành động,hành vi tương ứng với những đối tượng được nhận thức Trước khi con người
tỏ thái độ đối với một một đối tượng nào đó con người phải có nhận thức nhấtđịnh về đối tượng đó Vì vậy con người muốn có thái độ đúng trước hết phải
Nhận thức và thái độ có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau, ảnhhưởng lẫn nhau tạo nên ý thức trọn vẹn ở mỗi người Tuy nhiên, mỗi thành tốtrên tương đối độc lập với nhau Vì thế trong ý thức của từng người khi xảy ramâu thuẫn giữa nhận thức và thái độ gây nên sự không nhất quán trong ýthức Chẳng hạn, về nhận thức ta hiểu đúng ý nghĩa và sâu sắc về đối tượngnhưng về thái độ thì ta lại không có thái độ đúng đắn Hoặc ngược lại, đôi khimột cá nhân có thái độ đúng đối với một đối tượng nào đó nhưng lại bị hạnchế về mặt nhận thức
Nhận thức và thái độ có vai trò quan trọng trong quá trình tự ý thức vàhình thành tự ý thức Trên cơ sở nhận thức bản thân, con người có những thái
độ trân trọng đối với những giá trị nhân cách và đồng thời có thái độ tự phêphán, tự xoá bỏ những nhược điểm về nhân cách của mỡnh Chớnh lúc nàyquá trình tự nhận thức phát triển thành tự ý thức
Tóm lại, nói đến ý thức là nói đến nhận thức và thái độ của con người
Vì vậy, sự rối loạn nghiêm trọng của bất kì một quá trình nhận thức nào hoặcrối loạn về mặt tình cảm, thái độ tất yếu sẽ dẫn đến sự sự rối loạn ý thức
1.2.3 Tệ nạn xã hội
Trang 22nề thậm chí gây mất ổn định về an ninh chính trị, an toàn xã hội.
Tệ nạn xã hội theo quan điểm của các nhà kinh điển macxit là các vấn đềcủa xã hội có giai cấp Dựa vào thế giới quan, tập quán, truyền thống lịch sử vănhoá mà người ta nhìn nhận tệ nạn xã hội và có cách giải quyết khác nhau
Theo từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì “Tệ nạn xã hội
là hiện tượng tiêu cực có tính phổ biến, biểu hiện bằng những hành vi lệch
Trang 23chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đờisống cộng đồng”.
Theo báo cáo tổng hợp của đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về “Thực trạng
và các giải pháp phòng ngừa các tệ nạn xã hội trong sinh viờn” do PGS TSTrần Quốc Thành làm chủ nhiệm thì “Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội baogồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến (từ đó vi phạmnhững nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hoá, đạo đức xã hội, trái vớithuần phong mỹ tục, các giá trị xã hội cho đến các vi phạm những qui tắc đãđược thể chế hoá bằng pháp luật) gây ảnh hưởng xấu về đạo đức, truyềnthống văn hoá và những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - vănhoá - xã hội của nhõn dõn” [2,11]
Những cách hiểu và định nghĩa khác nhau đó về tệ nạn xã hội đã chothấy sự phức tạp và đa dạng của vấn đề và chính vì thế mà có những quanđiểm nhận thức khác nhau trong thực tiễn đấu tranh phòng ngừa các tệ nạn xãhội Tuy cũn cú khái niệm khác nhau nhưng xét dưới nhiều góc độ đã nêu lênđược những vấn đề cơ bản, chung nhất của tệ nạn xã hội phản ánh được bảnchất của nó
Theo chúng tôi : Tệ nạn xã hội là một hiện tượng bao gồm những hành
vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến thể hiện qua các vi phạm có tính nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hoá, đạo đức, trái với thuần phong mỹ tục và những qui tắc được thể chế hoá bằng pháp luật gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho đời sống kinh tế, văn hoá và đạo đức xã hội
Từ những khái niệm trên, ta thấy những hành vi thuộc tệ nạn xã hội cónhững dấu hiệu cơ bản sau đây:
Một là, hành vi sai lệch theo hướng tiêu cực so với chuẩn mực xã hội
đang được xã hội tôn trọng và tuân theo (luật pháp, đạo đức, lối sống, phong
Trang 24Hai là, hành vi sai lệch có tính phổ biến, không phải là một vài hiện
tượng đơn lẻ, cá biệt mà chúng có xu hướng phát triển lây lan trong một nhóm
xã hội hoặc nhiều nhóm xã hội khác nhau
Ba là, tệ nạn xã hội thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh
hưởng đến mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, tư tưởng, tình cảm, tinhthần của xã hội, của con người Đôi khi nó tác động mạnh mẽ đến cả hệ thốngquyền lực của một xã hội
Đặc điểm của tệ nạn xã hội ở Việt Nam.
- Số vụ TNXH và đối tượng TNXH được phát hiện hàng năm có xuhướng tăng và hậu quả gây ra cho xã hội ngày càng trầm trọng đặc biệt là mạidâm và nghiện ma tuý TNXH ở Việt Nam gắn liền với những mặt trái củanền kinh tế thị trường và “mở cửa” đất nước Theo thống kê của Bộ công an,nếu tính theo đầu dõn thỡ tỉ lên TNXH ở Việt Nam đối với tệ nạn mại dâm và
ma tuý 0,31%, tức là cứ 1000 dõn thỡ cú khoảng 3 đối tượng TNXH thuộc hailoại trên [23, 81] Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều TNXH như nghiện hút cờbạc, tham nhũng…
- Nếu như trước đõy TNXH có tính chất tự phát có quy mô nhỏ, mức
độ ít nghiêm trọng thì ngày nay TNXH đã phát triển có tính phổ biến và mangtính tội phạm có tổ chức cao
- TNXH ở Việt Nam luôn gắn liền và là “sõn sau” của tội phạm và cáchành vi vi phạm pháp luật khác
Như vậy có thể nói, tệ nạn xã hội là vấn đề xã hội phức tạp, có ở nhiềuquốc gia trên thế giới Tệ nạn xã hội không chỉ phát sinh, tồn tại và phát triểntrong thời kì kinh tế suy yếu mà cả trong giai đoạn kinh tế - xã hội phát triển
Ở mỗi quốc gia khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, tệ nạn xãhội cũng tồn tại và phát triển ở mức độ khác nhau Có những loại đã tồn tạihàng thế kỉ, không thể loại trừ chúng trong một thời gian ngắn hay bằng một
Trang 25kinh tế - xã hội, đạo đức, lối sống, huỷ hại nhân cách, sức khoẻ của conngười Để ổn định và phát triển xã hội chúng ta cần phải quyết tâm đấutranh, ngăn chặn TNXH.
1.1.3.2 Các loại tệ nạn xã hội trong trường học
Tệ nạn xã hội trong trường học được hiểu là những hành vi vi phạmpháp luật, sai phạm so với các chuẩn mực xã hội (chuẩn mực này được quiđịnh bởi hiến pháp, pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước:bởi truyền thống văn hoá dân tộc, đạo đức ) xảy ra trong trường học Nhữnghành vi này không chỉ xuất hiện ở một số ít học sinh, sinh viên, vi phạm mộtlần mà lặp đi, lặp lại nhiều lần gây tác hại trong nhà trường Tệ nạn xã hộitrong trường học gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến kết quảhọc tập, rèn luyện của học sinh, dẫn đến thiệt hại to lớn trong nhà trường, chobản thân các em, phá vỡ truyền thống tốt đẹp của nhà trường, làm mất trật tựtrị an, an toàn trong nhà trường
Các loại tệ nạn xã hội trong trường học
* Tệ nạn ma tuý
Ma tuý là một vấn đề nhức nhối của xã hội Ma tuý không chỉ huỷhoại sức khoẻ con người mà còn khiến cho nhiều gia đình rơi vào cảnhkhánh kiệt, bần cùng Ma tuý không chỉ là nguyên nhân của các mối bấthoà trong gia đình mà còn là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật
tự, an toàn xã hội Nguy hiểm hơn hiện nay tệ nạn ma tuý đã xâm nhập vàotrường học Một số ít học sinh, sinh viên nghiện hút ma tuý làm ảnh hưởngxấu đến môi trường giáo dục
Ma tuý là gì?
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về ma tuý Ma tuý theo gốc Hán Việt có nghĩa là “làm mê mẩn”
Trang 26-Theo từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học viện ngôn ngữ học, nhàxuất bản Đà nẵng 2005 thì ma tuý là tên gọi chung có tác dụng gây trạng thái
Chất hướng thần là các chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây
ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối vớingười sử dụng
Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,sản xuất ma tuý được qui định do chính phủ ban hành
Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quiđịnh trong danh mục do Bộ Y tế do chính phủ ban hành
Người sử dụng ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gâynghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào chất này
Hiện nay từ “ma tuý” được dùng để chỉ chất gây nghiện nói chung.Hiểu một cách đơn giản nhất: ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặctổng hợp khi đưa vào cơ thể dưới bất kỳ hình thức nào (uống, hỳt, hớt, tiờm,chích ) sẽ làm thay đổi chức năng sinh lý và tâm lý con người Nếu lạmdụng con người sẽ bị lệ thuộc vào nó Khi đó gây tổn thương và nguy hại chongười sử dụng, cho gia đình và cộng đồng
Ma tuý bao gồm: thuốc phiện, bồ sa, cần sa, hờrụin, cụcain và cácchất kích thích thần kinh
Phân loại ma tuý: Có nhiều cách phân loại ma tuý tuỳ theo những tiêu
chuẩn nhất định Nhưng nhìn chung ma tuý được phân thành hai loại: Ma tuý
Trang 27có nguồn gốc tự nhiên và ma tuý có nguồn gốc nhân tạo căn cứ vào nguyênliệu sản xuất ra nó
Ma tuý có nguồn gốc tự nhiên:
Là những chất thu được bằng cách hái tự nhiên hoặc nuôi trồng, các sảnphẩm tách, chiết, tinh chế từ các chất tự nhiên đó Ma tuý tự nhiờn bao gồm:thuốc phiện, cần sa, bồ đà
Ma tuý tổng hợp: Amphetamin, methamphetamin
Tệ nạn ma tuý bao gồm các hành vi:
- Trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cõy khỏc cú chứa chất ma tuý
- Sản xuất trái phép chất may tuý
- Tàng chữ trái phép chất ma tuý
- Vận chuyển trái phép chất ma tuý
- Mua bán trái phép chất ma tuý
- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
- Sử dụng trái phép chất ma tuý
Tác hại của ma tuý: Tuyên bố chính trị Băng Cốc “vỡ một ASEAN
không ma tuý vào năm 2015”
“Ma tuý huỷ hoại cuộc sống và cộng đồng, xúi mòn sự phát triển củanhân loại và là nguồn gốc phát sinh tội phạm Ma tuý tác động đến mọi mặttrong xã hội ở tất cả các quốc gia, đặc biệt, lạm dụng ma tuý ảnh hưởng tới sự
tự do và phát triển của thanh niên – nguồn tài sản quý giá nhất của thế giới
Ma tuý là mối đe doạ nghiêm trọng đến sức khoẻ và hạnh phúc của nhân loại,ảnh hưởng đến nền độc lập của các quốc gia, chế độ dân chủ và sự ổn địnhcủa các dân tộc, cơ cấu xã hội và nhân phẩm, hi vọng của hàng triệu conngười và gia đình của họ” [23, 565]
Ma tuý gây ra tác hại rất nhiều mặt cho cá nhân cũng như cho xã hội, là
Trang 28- Ảnh hưởng đến bản thân: Ma tuý làm, làm mất khả năng lao động,học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Dùng ma tuý quá liều
có thể dẫn đến cái chết Tiờm chớch ma tuý dùng chung bơm kim tiêmkhông tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rút B, C đặc biệt là HIV.Không chỉ có thế, người nghiện ma tuý còn dẫn đến thoỏi hoỏ nhân cách,rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật, mâu thuẫn vàbất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình, dễ bị mất lòng tin với mọingười, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học ảnh hưởngđến tương lai, tiền đồ
- Ảnh hưởng đến gia đình: Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và giađình Để có tiền sử dụng ma tuý người nghiện ma tuý có thể tiêu tốn hết tiềncủa, tài sản đồ đạc của gia đình hoặc trộm cắp, hành nghề mại dâm hoặc thậmchí giết người, cướp của Hoặc gây tổn thất về tình cảm gia đình
- Ảnh hưởng đến xã hội: Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệnạn xã hội như lừa đảo, trộm cắp Ngoài ra còn ảnh hưởng đến đạo đức,thuần phong mỹ tục của dân tộc; làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xãhội Tăng chi phí ngân sách xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục,giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại
Việc sử dụng ma tuý trong học sinh, sinh viên nói chung và sinh viêntrường CĐSP Lào Cai nói riêng để lại những hậu quả nghiêm trọng như: Kếtquả học tập giảm sút, mất niềm tin nơi bạn bè, thầy cô giáo Thậm chí nhiều
em phải bỏ dở hoặc gián đoạn việc học hành, làm xấu đi hình ảnh người giáoviên trong tương lai và ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục
Như vậy, ma tuý thực sự là một tệ nạn xã hội bởi nó đó cuốn hút ngàymột tăng số người, trong đó đa phần là giới trẻ vào con đường nghiện ngập
Ma tuý vắt cạn kiệt nhân lực tài chính, huỷ diệt những tiềm năng quớ bỏukhỏc mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế xã hội, đem lại
Trang 29ấm no hạnh phúc cho mọi người Ma tuý đang làm suy thoái nhân cách, phẩmgiá, tàn phá cuộc sống bình yên của gia đình, gây xói mòn đạo lí, kinh tế, xóhội nghiờm trọng hơn ma tuý còn là con đường ngắn nhất dẫn đến lây nhiễmHIV/AIDS và ma tuý cũng là bạn đồng hành với tình trạng gia tăng tội phạm
Thuật ngữ “mại dõm” xuất phát từ chữ la tinh là prostituere, có nghĩa
là “bày ra để bỏn” - chỉ việc phụ nữ bán thân một cách tuỳ tiện, khôngthích thú Mại dâm là một hiện tượng xã hội biểu hiện những sai lệch chuẩnmực đạo đức Vì vậy, nhà nghiên cứu xã hội học người Pháp nổi tiếng E.Durkheim cho rằng tệ nạn mại dâm cũng như tệ tự sát là dấu hiệu của một
xã hội loạn kỷ cương [23,84]
Từ điển tiếng Việt năm 1977 của NXB Khoa học xã hội định nghĩa:
“Mại dâm là nói những người con gái trong xã hội cũ phải bán thân mìnhcho khách làng chơi” Theo Bách khoa toàn thư về nhà nước và pháp luậtcủa Liờn Xụ xuất bản năm 1925 thì: “Mại dâm là việc bán thân thể củamình để làm cho đối tượng thoả món tỡnh dục” Năm 1996, Thái Lan đãban hành luật phòng chống mại dâm trong đó cũng định nghĩa: “Mại dâm
là chấp nhận giao cấu, chấp nhận hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào khác
để thoả mãn dục vọng của người khác một cách bừa bãi nhằm thu tiền hoặccác lợi ích khác, bất kể người chấp nhận hoặc thực hiện hành vi đó thuộcgiới tính nào” Theo công ước quốc tế về việc loại trừ các hình thức bóc lộttình dục được thông qua tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 12 năm 1992 thì “Mạidâm là những hành vi nhằm trao đổi tình dục có tính chất mua bán, đổi chác
Trang 30Theo từ điển bách khoa công an nhân dân thì “Mại dâm là làm thoảmãn nhu cầu tình dục của người khác để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khỏc”.
Và như vậy có thể quan niệm về mại dâm như sau:
- Mại dâm là những hành vi nhằm trao đổi quan hệ tình dục có tính chấtmua bán trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân
Như vậy mại dâm là hành vi có những dấu hiệu sau:
- Có sự thoả thuận giữa hai bên nam và nữ về đáp ứng nhu cầu tình dụcthông qua việc giao hợp hoặc các hình thức làm tình khác
- Việc thoả mãn tình dục được thông qua quá trình mua và bán dâm.Nghĩa là người được thoả mãn nhu cầu tình dục phải trả cho người phục vụcho mình một giá trị vật chất bằng tiền hay bằng hiện vật
Cuối cùng hành vi thoả mãn tình dục này xảy ra ngoài phạm vi tình yêuchân chính
Tệ nạn mại dâm bao gồm các hành vi mua dâm, bán dâm, môi giới mạidâm và tổ chức mại dâm
Các đối tượng tham gia tệ nạn mại dâm gồm: người bán dâm, ngườimua dâm, người chứa mại dâm và người môi giới
Như vậy khái niệm mại dâm phải bao gồm các hành vi nhằm trao đổitình dục trên cơ sở mua bán Nếu hiểu mại dâm chỉ là bán dâm thì sẽ không đầy
đủ không công bằng Chống tệ nạn mại dâm đòi hỏi phải chống tất cả hành vimua dâm, bán dâm, tổ chức và môi giới mại dâm Nếu trước đây gái mại dâmhoạt động tự phát mang tính chất cá nhân là chớnh thỡ hiện nay mại dâm làhoạt động tội phạm có tổ chức cao, núp dưới nhiều hình thức đa dạng, tinh vi.Hoạt động mại dâm hiện nay gắn liền với các dịch vụ Karaoke “ụm”, bia “ụm”,khách sạn, mát sa, tắm hơi… Theo phương thức “tỡnh dục kèm dịch vụ”
Mại dâm là một tệ nạn xã hội
Tệ nạn mại dâm phát sinh, phát triển và tồn tại khỏ lõu ở Việt Nam
Trang 31Thời Pháp thuộc nó xuất hiện dưới hình thức gái nhảy, cô đầu Theothống kê của chính quyền Phỏp thỡ năm 1954 riêng Hà Nội đó cú hơn 11.000gái mại dâm chuyên nghiệp và hơn 45 nhà chứa, 55 nhà hát cô đầu Hoà bìnhlập lại, trên miền bắc do chủ chương cải tạo của Đảng và nhà nước, tệ nạnmại dâm đã giảm hẳn.
Ở miền Nam, dưới chính quyền Sài Gòn thời kì những năm 70 của thế
kỉ XX và đến trước khi giải phóng 1975 tệ nạn mại dâm phát triển mạnh Saugiải phóng năm 1975 thực hiện chính sách cải tạo của Đảng, Nhà nước tệ nạnmại dâm đã giảm hẳn và cơ bản được giải quyết vào năm 1980
Thời kỳ đổi mới nền kinh tế thị trường với nhiều yếu tố kinh tế, xã hộitác động đến tệ mại dâm lại phát triển Năm 1990 cả nước có khoảng 40.000gái mại dâm và 1000 chủ chứa Đến nay, theo thống kê chính thức của Cụcphòng chống tệ nạn xã hội - Bộ lao động - thương binh Xã hội các nước cókhoảng 36.000 gái mại dâm Tụ điểm mại dõm thường ở các thành phố, thị
xã, trung tâm công, thương nghiệp, dịch vụ du lịch nhưng gần đõy lan ra cảcác vùng ven đô thị, vùng sõu, vựng xa
Đối tượng tham gia tệ nạn mại dâm
- Người Bán dâm: Thuộc các thành phần xã hội hết sức phức tạp, họphần lớn là thất nghiệp, số khác do hoàn cảnh gia đình đổ vỡ hoặc ăn chơi sađoạ Tuy nhiên ở một số thành phố, thị xã, trung tâm văn hoá, trường đại học
đã xuất hiện cả sinh viên, nghệ sĩ, diễn viên, người mẫu làm gái mại dâm
- Người mua dâm: Thông thường là đàn ông và thường gọi là kháchlàng chơi
- Người chứa mại dâm: thường gọi là chủ chứa, Tú bà, chủ lầu xanh
- Người môi giới: Kẻ đứng giữa để giao dịch, dẫn mối, bảo kê, vệ sĩ gần đây có cả đường dây dẫn dắt gái mại dâm, gái gọi “cao cấp”
Quan niệm mại dâm ở một số nước trên thế giới
Trang 32Mại dâm là một hiện tượng tồn tại từ rất lâu và không có biên giới.Quan niệm khác nhau về mại dâm tuỳ thuộc vào tôn giáo, đạo đức, các điềukiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán ở mỗi nước ở mỗi nước Có nướcnghiêm cấm nhưng có nước lại hợp pháp hoá và đặt ra những biện pháp hànhchính để kiểm soát nạn mại dâm như Hà Lan, Băng Kốc (Thái Lan)
Tác hại của tệ nạn mại dâm
Thực tế cho thấy tệ nạn mại dâm cũng là một trong những nguyên nhânlàm băng hoại đạo đức xã hội, nhân cách của con người Việc kinh doanhkiếm lời trên thân thể phụ nữ là một hành vi phi đạo đức, trái với truyền thốngđạo đức của dân tộc Không chỉ có thế, tệ nạn mại dâm còn góp phần làm giatăng tội phạm, phá vỡ hạnh phúc gia đình, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng,làm vẩn đục nếp sống lành mạnh trong xã hội vốn có truyền thống thuầnphong mỹ tục Vì vậy Nhà nước đã đề ra những chủ chương, biện pháp phòngngừa tệ nạn này từ nhiều năm nay
Mại dâm và HIV/AIDS : HIV/AIDS là căn bệnh thế kỷ vô phương cứuchữa, nó được coi là con quái vật giết người, là bản án tử hình đối với ngườinhiễm bệnh HIV/AIDS đã có mặt ở khắp 64 tỉnh thành trong cả nước với đốitượng nhiễm chủ yếu là người nghiện chích ma tuý và gái mại dâm (trong đó
số người mắc bệnh qua đường tình dục ngày càng gia tăng) Số người nhiễmHIV và mắc bệnh AIDS tăng lên thì nguy cơ bựng phỏt trờn cơ sở lây lanAIDS cũng tăng theo
Chúng ta đều biết rằng vi rút HIV chủ yếu lây truyền qua quan hệtình dục không an toàn bởi vi rút HIV có nhiều trong tinh dịch, dịch âmđạo, máu của người đã nhiễm HIV sẽ lây sang người lành do có quan hệtình dục cùng giới hay khác giới Chính vì vậy người hành nghề mại dâm
có nguy cơ mắc HIV cao
Trang 33Mại dâm và các bệnh lây truyền qua đường tình dục: Mại dâm đượcxác định là tác nhân chính gây ra các bệnh lây truyền qua đường tình dục Đó
là các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục như: giang mai, bệnh lậu trùng roi,nấm Hiện nay số người bị nhiễm bệnh qua đường tình dục ngày càng giatăng, phần lớn những người này là gái mại dâm hoặc những người có quan hệvới gái mại dâm Điều đó có nghĩa là số người hành nghề mại dâm và sốngười vi phạm tệ nạn mại dâm trong đó có học sinh, sinh viên có chiều hướnggia tăng Vì vậy việc phòng chống tệ nạn nói chung cũng như tệ nạn mại dâmnói riêng là hết sức cấp bách
Mại dâm hợp pháp hay không hợp pháp?
Theo quan điểm của nhiều nhà luật học, xã hội học thế giới mại dâm làvấn đề đã và chắc chắn không thể giải quyết được tận gốc Về mặt đạo đức,mại dâm là sấu, đối với gái mại dâm cũng như với khách hàng của họ
Nói chung chính phủ các nước thường quyết định chọn một trong haihướng giải quyết vấn đề mại dâm sau đây:
- Hướng thứ nhất: Là cấm mại dâm và danh sách những hành vi bịcoi là bất hợp pháp sẽ được quyết định tuỳ theo khả năng của việc thihành pháp luật
Thuộc về nhúm cỏc nước theo hướng này cú cỏc nước theo đạo Hồitruyền thống, các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam Tuy nhiênnếu việc cấm đoán mại dâm này không thể thực hiện được thì hậu quả của nó
là hướng tội phạm mại dâm đi vào bí mật và khiến cho những tổ chức bí mậtcàng dễ kiểm soát và lợi dụng nó để cưỡng bức và tống tiền Việc cấm đoán
và ngăn chặn những hành vị tội phạm là một nhiệm vụ rất quan trọng tronglĩnh vực đạo đức chung, nhưng việc ngăn chặn những tội phạm có tổ chứckhông đòi hỏi phải cấm nghề mại dâm Ngược lại, sự cấm đoán tạo điều kiện
Trang 34dẫn đến những phạm tội thông qua lợi dụng tình dục Hơn nữa, thậm chí ởcác nước phát triển, cảnh sát không phải là không thể mua chuộc.
- Hướng giải quyết thứ hai: Đối với mại dâm là kiểm soát bằng cáchhạn chế hay cấp môn bài cho gái mại dâm hoặc các nhà chứa Điều đó khôngnhất thiết là có nghĩa là khuyến khích mại dâm hay tổ chức nó thành mộtngành kinh doanh của nhà nước Việc bảo vệ sức khoẻ chung, đặc biệt là việc
đề phòng bệnh lây qua quan hệ tình dục bằng sự kiểm tra thường xuyên vàviệc loại trừ các phần tự phạm tội luôn luôn là mục tiêu của một hệ thốngnhững biện pháp hạn chế Có khả năng chắc chắn để đạt được những mụcđích này nếu mại dâm tư nhân có thể ngăn chặn được tuy nhiên điều đó rấtkhó Thế nhưng việc cấp môn bài cho gái mại dâm và các nhà chứa tạo ra ấntượng là xã hội chấp nhận được kinh doanh tình dục Tuy nhiên, theo quanđiểm của các nhà luật học và xã hội học nước ngoài, luật pháp không địnhkiến với vấn đề đạo đức, và trong một xã hội đa nguyên chính phủ không chỉ
bị quy trách nhiệm về nền tảng đạo đức vì việc cho phép mại dâm chừng nàocũn cú quan điểm rằng mại dâm là làm mất phẩm cách của phụ nữ và xúcphạm đế sự thiêng liêng của bản chất tình dục thiêng liêng của con ngườinhưng không tạo nên những giá trị chung của xã hội thì người phụ nữ có thể
tự do kiếm tiền bằng chính thân xác của mình nếu họ thực sự muốn thế Một
số nước đã lựa chọn cách thứ hai này để giải quyết vần đề mại dâm ở nướcmình Hà Lan, Đức…
Ở Việt Nam mại dâm bị coi là bất hợp pháp và vi phạm đạo đức, truyềnthống dân tộc vì thế nó bị lên án mạnh mẽ
Hiện nay một số sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng nóichung và CĐSP Lào Cai nói riêng do lối sống buông thả, ăn chơi, thiếu hiểubiết … đã mắc vào tệ nạn mại dâm như trở thành “gỏi gọi” hoặc làm “gỏibao” Việc mắc vào tệ nạn này đã dẫn đến hậu quả như: ảnh hưởng đến sức
Trang 35khoẻ, kết quả học tập giảm sút, làm xấu đi hình ảnh người giáo sinh sư phạm,ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục của nhà trường.
* Tệ nạn cờ bạc, số đề, trò chơi điện tử ăn tiền, trộm cắp, cá độ bóng đá.
Cờ bạc là một hiện tượng xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài ngườinói chung và ở Việt Nam nói riêng
Tệ nạn cờ bạc, số đề, trò chơi điện tử ăn tiền, trộm cắp cũng là bạnđồng hành của tệ nạn ma tuý và mại dâm
- Cờ bạc: Theo Từ Điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội1994: Cờ bạc là trò chơi ăn thua bằng tiền
Theo Từ Điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học - Viện ngôn ngữ học,Nhà xuất bản Đà Nẵng 2005: Cờ bạc là trò chơi ăn thua bằng tiền ( nói kháiquát là cờ bạc, nạn cờ bạc, nạn cờ bạc gian lận)
Hành vi đánh bạc là bất kì hình thức nào được thua bằng tiền mặt hoặcdùng hiện vật để gán nợ, hiện vật có thể là tài sản, hàng hoá như vàng, bạc,nhà cửa, lợn, gà, đồng hồ, điện thoại di động
Cờ bạc bao gồm các hành vi: tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc, gá bạcbằng các hình thức như: số đề, tam cúc, tổ tôm, tú lơ khơ, xóc đĩa…Trong xã hộiphong kiến Việt Nam vấn đề cơ bạc đã được đề cập đến trong các bộ luật lớnnhư Quốc triều Hình luật triều Lê, Luật Gia Long triều Nguyễn ở một góc độ giữgìn an ninh, trật tự xã hội phong kiến Đặc biệt vấn đề tệ nạn cờ bạc đã được đềcập đến nhiều trong hương ước của các làng xóm, ở cỏc vựng nông thôn ViệtNam tuy nhiên dưới chế độ cũ các tệ nạn cờ bạc như đánh chắn tổ tôm, xóc đĩa
đỏ đen… đã xảy ra phổ biến không chỉ ở cỏc vựng nông thôn mà cả ở khu vựcthành thị các sòng bạc dạng casino đã được cấp giấy phép hoạt động công khai
để thu lợi nhuận cho chính quyền
Trang 36Hiện nay người ta còn đánh bạc bằng máy, bàn bi-a, cá cược ăn tiền Nạn cờ bạc có từ lâu đời, trên thế giới có nhiều nước tổ chức các sòng bạchợp pháp hoỏ cú thu thuế như: Hồng Kụng, Hoa kì, Hàn Quốc, Thái Lan
Vấn đề cờ bạc trên thế giới có nhiều cách quản lý khác nhau:
Thứ nhất, phần lớn các nước trên thế giới tổ chức quản lý các hoạt
động giải trí nói chung, cờ bạc nói riêng bằng pháp luật Nhiều nước tư bảnchủ nghĩa cho phép tổ chức các dịch vụ đánh bạc để thu hút khách du lịch,phục vụ tiêu khiển và thu lợi nhuận kinh tế Đã xuất hiện nhiều sòng bạccasino nổi tiếng ở Hồng Kụng, Ma Cao, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Phỏp.v.v Tuynhiờn cỏc khu cờ bạc này chính quyền các thành phố thường tổ chức riêngcách xa trường học, khu dân cư
Nhóm nước thứ hai cấm cờ bạc dưới mọi hình thức chủ yếu là các nước
xã hội chủ nghĩa, trong đú có Việt Nam Trong pháp luật hình sự, hành chínhcủa các nước này các hành vi đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc đều là bấthợp pháp và bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc hành chính Tuy pháp luậtphòng chống cờ bạc ở Việt Nam cũng đang được điều chỉnh theo hướng nàynhưng từ đầu những năm 1990, thủ tướng chính phủ đã cho phép một công ty
Ma Cao liên doanh với công ty du lịch Hải Phũng thí điểm xây dựng mộtcasino nhỏ ở thị trấn Đồ Sơn dành riêng cho người nước ngoài hoặc Việt kiềuđến đánh bạc
Bên cạnh việc đánh bạc bằng nhiều hình thức tại xới, ổ bạc, một hìnhthức cờ bạc đã trở nên phổ biến, lây lan nhanh trên diện rộng đó là tệ nạn chơi
lô, đề, lợi dụng kết quả sổ xố kiến thiết
- Số đề: Số đề chính là một kiểu đánh bạc mới (theo Từ điển TiếngViệt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1994) Lối chơi đề là dựa vào việcđoán trước con số nào đó rồi dựa vào hai chữ số cuối của giải nhất, căn cứkết quả giải lụ tụ để đánh đề hoặc đỏnh lô Đối với loại hình cờ bạc này,
Trang 37các cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó kiểm soát vì hoạt động của chủ đề kínđáo, năng động, đa dạng.
- Kẻ chơi đề đam mê đến mức căn cứ vào cả giấc mơ của mình vàcủa người khác; thậm chí tin cả vào những bài “thơ đề” được tán phát trongkhu dân cư để tính toán, chọn số ghi đề Các chủ đề còn thường xuyên câukhách bằng việc tăng thêm giải thưởng hoặc khuyến mại thêm % tiền côngcho người ghi đề Số đề đã trở thành một tệ nạn xã hội gây tác hại to lớn vềkinh tế - xã hội dẫn đến tan cửa, nát nhà cho biết bao gia đình
Tệ nạn số đề không chỉ ở thành phố mà cả ở nông thôn, từ miền quê xaxôi cho đến nơi đô thành xa hoa, tráng lệ Hậu quả để lại rất nhiều gia đìnhlâm vào cảnh cửa nát nhà tan, kẻ vào vòng lao lý, kẻ bỏ nhà ra đi Một giađình tại thị trấn Cờ Đỏ - TP Cần Thơ có tới 4 người cùng phải vào tù trongcùng một thời điểm vì tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi đề Một trườnghợp khác ở thị xã Hà Tiên chỉ vì cần 10.000 đ để đi đánh đề mà chồng giết vợphải vào tù 5 năm để lại ba con - nhỏ nhất mới 1 tuổi phải về nương tựa bên
ngoại (Theo báo lao động số 201, ngày 8/9/2009)
Một thực trạng đáng báo động hiện nay là tệ nạn số đề còn xâm nhập vào
cả cơ quan nhà nước làm cho một số cán bộ, công chức đam mê rút tiền côngquỹ để chơi số đề dẫn tới phạm pháp như ở thị xã Trà Vinh một số cán bộ côngchức nhà nước đã lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của nhiều
người lên đến 4,7 tỉ đồng (Theo báo lao động số 201, ngày 8/9/2009)
- Trò chơi điện tử ăn tiền: Những năm gần đây cùng với sự phát triểncủa công nghệ thông tin trong cơn lốc trò chơi điện tử (game, chỏt) đó có mặtkhắp thành phố, làng quê đặc biệt là quanh các trường học, hàng loạt quán tròchơi điện tử mọc lên nhiều như nấm với bảng hiệu quảng cáo đầy hấp dẫnnhư: Internet tốc độ cao, sử dụng công nghệ ADSL, trò chơi mới: Đế chế,MU Chớnh từ những quán trò chơi điện tử, Internet này đã dẫn đến nhiều
Trang 38chuyện buồn như học sinh, sinh viên bỏ học hoặc lơ là việc học chơi điện tửthâu đêm suốt sáng.
Điều đáng lo ngại là học sinh, sinh viên không chỉ chơi điện tử ăn tiền
mà cũn buụn chuyện ảo, say mê những phim ảnh có nội dung không lànhmạnh hoặc bị ảnh hưởng bởi những trò chơi bạo lực dẫn đến những hành vibạo lực trong cuộc sống
Cú nhóm học sinh, sinh viên đã biến trò chơi điện tử thành canh bạc đểsát phạt nhau thâu đêm suốt sáng Trò chơi điện tử, Internet - kho tài nguyênphong phú của nhân loại đã bị biến tướng và trở thành một tệ nạn trong họcsinh, sinh viên khiến nhiều người phải lao đao mất ngủ, trở thành những kẻ hưhỏng, những con nợ và phải bỏ học hoặc bị kỉ luật
- Trộm cắp, là lấy của người khác của cải vật chất một cách lén lút khivắng người Đây là một tệ nạn có từ xưa do nhiều nguyên nhân như một số
kẻ lười biếng nhưng lại muốn nhanh chóng giàu có “Một đêm ăn trộm bằng
ba năm làm” hoặc do nợ nần, túng quẫn, ăn chơi sa đoạ
- Cá độ bóng đá là một biến tướng của tệ cờ bạc, nó gắn liền với một
số hoạt động văn hoá thể thao và một số hoạt động khác Ban đầu cá độ chỉ
là hình thức “làm tăng phần hấp dẫn” cho những cổ động viờn bóng đá vàcỏc mụn thể thao có tính đối kháng cao khi họ theo dõi một trận đấu, mộtgiải lớn… Lâu dần nó trở thành một hình thức cờ bạc hết sức nguy hiểmvới những địa điểm cá độ người làm “trọng tài”, người cá độ, các đối tượngđòi nợ thuờ… Giá trị mỗi lần cá độ có lên tới bạc tỉ, nghiêm trọng gây ảnhhưởng không nhỏ đến trật tự trị an xã hội Cá độ cũng để lại những hậuquả, nhiều người ban đầu thì vui chơi sau thì nghiện cá độ, bán nhà, cầm đồ
vỡ cá độ, có người tự sát hoặc gây dối trật tự, gây thương tích cho ngườikhác về cá độ [23,366]
Tiếp theo, cờ bạc công khai dưới các hình thức đỏ đen, tổ tôm, đánh
Trang 39xí nghiệp, trường học, trờn cỏc tuyến giao thông Loại cờ bạc này đã pháttriển và phổ biến khá lâu dài trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam nayvẫn còn tồn tại và phát triển.
Tác hại của tệ nạn cờ bạc, số đề, trò chơi điện tử ăn tiền, trộm cắp
- Tác hại của tệ nạn cờ bạc
Tệ nạn cờ bạc ở bất kỳ thời kỳ nào cũng luôn được coi là mặt tiêucực của tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống tưtưởng, đạo đức, sức khoẻ, kinh tế Cờ bạc là môi trường thuận lợi nuôidưỡng các hành vi phạm tội các vi phạm pháp luật khác hoặc các hiệntượng lộn xộn trong xã hội Đội quân cờ bạc là đội quân bổ sung cho cácloại tội phạm, trong nhiều trường hợp còn làm tha hoá cả đội ngũ cán bộtrung cao cấp của nhà nước, của các cơ quan bảo vệ pháp luật mà vụ ánNăm Cam là một điển hình [23,366]
Tệ nạn cờ bạc nhất là số đề đã gây ra những hậu quả xã hội hết sứcnghiêm trọng Nguyên một giám đốc ngân hàng ở Yờn Bái đã tự sát vỡdựng tiền công quỹ đánh đề Kế toán trưởng kho bạc một huyện thuộc tỉnhCao Bằng và nhiều cán bộ nhà nước khác đã bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, trách nhiệm hành chính về tội lấy tiền công quỹ đánh đề nhiều người đãphải tự tử vì không trả được nợ [23,367]
Cờ bạc cũng đã len lỏi vào lĩnh vực thể thao Tệ nạn cá độ bóng đá
đã và đang thâm nhập mạnh vào nền bóng đá nước nhà vốn đang trênđường phát triển Để chơi cờ bạc, số đề người chơi phải suy nghĩ, tính toán
và phải lo âu chờ đợi kết quả, phải mất ăn, mất ngủ dẫn đến tâm trạng không
ổn định ảnh hưởng tới cả gia đình
Chơi cờ bạc số đề luôn phải tính toán, lo âu, mất ngủ, nếu bị thua càngcay cú làm cả gia đình lo âu, kinh tế phá sản, gia đình dễ tan nát hạnh phúc
Trang 40Để có tiền chơi cờ bạc số đề, trò chơi điện tử nhiều người phải cắm
xe, cầm đồ, vay mượn, lừa đảo, ăn cắp, phạm pháp
Học sinh, sinh viên sao nhãng việc học tập, ảnh hưởng đến kết quả họctập, rèn luyện của bản thân, mất lòng tin nơi bạn bè, thầy cô giáo
Tệ chơi số đề đã len lỏi vào các ngóc ngách cuộc sống Đã có nhiềutrường hợp vỡ nợ sa vào vòng lao lý, thậm chí gây trọng án vì hậu quả để lạicủa tệ ham mê số đề Thế nhưng hàng nửa thế kỉ qua số đề vẫn nghiễm nhiêntồn tại và phát triển Đáng lo hơn là người dân vẫn xem đó là trò chơi may rủihơn là cờ bạc đẩy đến đời sống bần cùng, vi phạm pháp luật
1.2.4 Tác hại của tệ nạn xã hội
Từ những nội dung đã trình bày ở phần trên cho thấy mỗi tệ nạn xã hội
có những tác hại khác nhau đối với chính bản thân, gia đình của người mắc tệnạn và ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội, cộng đồng, tuy nhiên các tệ nạn xãhội gây ra một số tác hại như:
Vì thế hầu hết những người nghiện ma tuý, cờ bạc và gia đình họ đềurơi vào cảnh nghèo túng
Tệ nạn xã hội làm cho nhà nước phải bỏ ra một số tiền đáng kể vào cáchoạt động như tuyên truyền, giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội, chi vàotrung tâm cai nghiện, trung tâm phục hồi nhân phẩm, chi hỗ trợ cho đồng bàotrồng cây thuốc phiện bằng những cây trồng khác cũng như việc chữa trịbệnh, cai nghiện, giáo dục lao động để giỳp cỏc đối tượng mắc tệ nạn xã hộitái hoà nhập cộng đồng