Việc tìm ra các biện pháp để khắc phục những khó khăn tâm lý tronghoạt động học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số, đồng thời giúp nhữngsinh viên này tự tìm ra cho bản thân cách thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-*** -
LÊ XUÂN TRƯỜNG
NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SƠN LA
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số:60.31.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TÂM LÝ
Người hướng dẫn khoa học
PGS TRẦN TRỌNG THUỶ
HÀ NỘI - 2007
Trang 2để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Các nhà trường CĐSP là một khâu mắt xích không thể thiếu trong nhiệm vụ đú, nó cú một vai trò vô cùng quantrọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy trường CĐSPphải thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo những sinh viên sư phạm, trang bịcho họ những tri thức khoa học, nghiệp vụ sư phạm để họ trở thành nhữngngười giáo viên có đủ khả năng dạy học và giáo dục.
-Mục tiêu của Đảng và nhà nước ta hiện nay là đưa đất nước phát triển đilên về mọi mặt, bên cạnh đó rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các tỉnhmiền núi so với các tỉnh đồng bằng Nhiệm vụ đú đó được thực hiện thông quanhiều chính sách đầu tư, đặc biệt trong đó có giáo dục, thể hiện như: xây dựng
cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị cho các trường học, đào tạo đội ngũ giáoviên có trình độ đáp ứng các yêu cầu của sự đổi mới câu hỏi đặt ra là làm thếnào để nâng cao chất lượng dạy - học của của giáo viên - học sinh luôn là vấn
đề được quan tâm
Trong quá trình học tập tại trường CĐSP, sinh viên phải trải qua rấtnhiều khó khăn, nhất là đối với sinh viên năm thứ nhất và đặc biệt là sinh viên
Trang 3các dân tộc thiểu số miền núi Những sinh viên này phải tiếp cận với nội dungtri thức mới với số lượng và nội dung lớn hơn, phức tạp hơn so với phổ thông.Cách thức học tập cũng như phương pháp dạy của thầy cũng rất khác so vớiphổ thông Phần lớn những sinh này đều xuất thân từ những gia đình có kinh
tế khó khăn, trình độ học vấn của bố mẹ thấp, họ học tập ở môi trường phổthông với điều kiện không thuận lợi vậy nên trình độ đầu vào của những sinhviên này tương đối thấp, tiếng phổ thông chưa được thạo, chưa có sự bạo dạntrong giao lưu học hỏi Những yếu tố trờn đó gõy không ít những khó khăntâm lý cho sinh viên trong quá trình học tập Đứng trước những khó khăn tâm
lý đó nếu không có những cách thức khắc phục khó khăn thì sẽ dễ làm chosinh viên chán nản, bỏ bê Từ đó tạo cho họ sự trì trệ, buông xuôi, phó mặc vàkhông có động lực để phấn đấu
Việc tìm ra các biện pháp để khắc phục những khó khăn tâm lý tronghoạt động học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số, đồng thời giúp nhữngsinh viên này tự tìm ra cho bản thân cách thức học tập hợp lý, ý thức đầy đủ
về khó khăn tâm lý sẽ gặp phải trong hoạt động học tập là việc làm rất cầnthiết nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập của họ
Hiện nay đó cú một số đề tài nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạtđộng học tập của sinh viên CĐSP song thật đáng tiếc chưa có đề tài nào thực
sự nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên các dân tộcthiểu số
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa trọn và nghiên cứu đề tài
"Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên các dân tộcthiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La"
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Phát hiện những khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên các dântộc thiểu số năm thứ nhất, nguyên nhân của những khó khăn đó, từ đó đưa racác biện pháp, cách thức tác động nhằm hạn chế những khó khăn
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu: Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học
tập của sinh viên các dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La
3 2 Khách thể nghiên cứu: Sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất
trường CĐSP Sơn La (thăm dò khoảng trên 150 sinh viên dõn tộc thiểu sốnăm thứ nhất)
4 Giả thuyết khoa học
Sinh viên các dân tộc thiểu số thường gặp những khó khăn tâm lý tronghọc tập đặc biệt là năm thứ nhất, cụ thể như: Khó khăn tõm lý trong nhậnthức, thái độ, hành vi; trong phương pháp học, điều kiện học tập, môi trườngsống và môi trường học tập; khả năng hiện có của của các em Những khókhăn đó có ảnh hưởng nhất định đến kết quả học tập của họ Nếu rốn luyệncho các em thói quen tự tin, bạo dạn trong học học tập cũng như trong giaotiếp và các kỹ năng cần thiết trong học tõp thì sẽ nâng cao được chất lượng kếtquả học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
5 1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài
nghiên cứu (học tập, khó khăn tâm lý trong học tập, ảnh hưởng của khó khăntâm lý đến kết quả học tập
Trang 55.2 Phát hiện thực trạng những khó khăn tâm lý trong học tập của sinh
viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP và nguyên nhân nảy sinhnhững khó khăn tâm lý đó
5.3 Xõy dựng chõn dung điển hình về khăn tõm lý trong học tập của
sinh viên dõn tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La
5.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn tõm lý
đó
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng những khó khăn tâm lý trong hoạtđộng học tập của sinh viên các dân tộc thiểu số năm thứ nhất, thử nghiệm mộtvài biện pháp tác động nhằm hạn chế những khó khăn tâm lý đó
7 Địa bàn nghiên cứu
Trường CĐSP Sơn La và một số gia đình có con em là sinh viên cácdân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La ở các huyện lõn cận
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp trò chuyện phỏng vấn
8.2.2 Phương pháp quan sát
8.2.3 Phương pháp điều tra viết
8.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
8.2.5 Phương pháp nghiên cứu điển hình
8.3 Phương pháp thống kê toán học
Trang 6Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Khó khăn tõm lý trong học tập là một vấn đề cũn ít được quan tõmnghiên cứu trong lịch sử tõm lý học trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Sau đõy chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm nghiên cứu về khó khăntõm lý trong học tập của một số tác giả của nước ngoài và Việt Nam
1.1.1 Ở nước ngoài
Trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX bà Bianka Zazzo, giáo sư đại họcEPHE Pari cùng các cộng sự là 12 chuyên gia cấp cao về tõm lý, y khoa vàgiáo dục đã nghiên cứu trẻ em từ lớp mẫu giáo đến cuối lớp 1 đã chỉ ra:
“khó khăn tõm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thớch ứngvới HĐHT của trẻ là sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để ,gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo trẻ mẫu giáo lấy hoạt động vui chơilàm hoạt động chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự dotuỳ hứng cá nhõn nặng hơn là tính chỉ đạo của giáo viên, người lớn tuổi.Bước sang lớp 1, học tập là hoạt động chủ đạo, học sinh phải chấp hànhnghiêm chỉnh mọi quy định theo sự chỉ đạo chặt chẽ của giáo viên, theonguyên tắc lớp học Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ họctốt, cũn không vượt được thì sẽ dẫn đến tình trạng chán học, kết quả khôngcao” Theo [42;19]
- Cũng với đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 1, tác giả A.VPetrovxki đã chia khó khăn tõm lớ của trẻ em khi đi học lớp 1 làm ba loại
+ Những khó khăn có liờn quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới
Trang 7+ Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và
bạn bè
+ khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được
chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên trẻ có tõm trạng vui thớch,sẵn sàng đi học, và sau giảm dần khát vọng và chán học [33;52]
Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến những nguyên nhõn dẫn đến khókhăn, ảnh hưởng của những khó khăn nêu trên đến đời sống của trẻ và đề xuấtmột số biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ Như vậy, tác giả đã đi sõunghiên cứu những khó khăn tõm lý đối với hoạt động học tập nhưng đó mớichỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ở học sinh lớp 1
Theo nhà tõm lí học Mauricé Deberse, trong công trình khó khăn tõm lícủa trẻ đã chỉ ra rằng: Đứng trước ngưỡng cửa của lớp 1, trẻ em gặp rất nhiềukhó khăn tõm lí Điều này đã ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động họctập, làm cho trẻ sợ học, không muốn tới trường và kết quả học tập không cao
Ballard và Clauchy (1985) đã chỉ ra những khó khăn tõm lí trong quátrình học tập của từng SV chõu Á khi học tại các trường đại học của Úc Haitác giả đã khẳng định : SV đến từ các nên văn hoá khác nhau thường đặt ra cácmục đích khác nhau trong cách nghĩ và cách học của họ Hầu hết SV nghĩ vàhọc theo cách mà họ đã được đào tạo ở trường phổ thông và đại học vì vậy họ
có thể đã thành công ở ngôi trường và đất nước của họ nhưng lại gặp thất bại
ở đất nước khác, môi trường học tập khác Bằng kinh nghiệm và kiến thứckhoa học của mình các tác giả và một số sinh viên, học viên cao học, nghiêncứu sinh người Nhật, Singapo, Indonexia tháo gỡ một số khó khăn tõm lítrong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường ĐH của 2 ông Các tác giảkết luận: Sinh viên cần phải có một sự chuyển biến lớn giữa các nền văn hoá,kiến thức khác nhau để thích ứng với môi trường học tập mới
Trang 8P.N Sullivan trong bài báo của mình đã tỡm thấy: “ảnh hưởng của vănhoá xã hội đến những kiểu tương tác trong lớp học” tác giả đã chỉ ra rằng:
“những sinh viờn Việt Nam đã quen với kiểu học tương tác mà trong đó việcnói “đan xen và đồng thời” là chuẩn mực khi sang học các lớp học ở Mỹ lại
“im lặng” là do khó khăn tõm lí Ở Việt Nam, khi giáo viên đặt cõu hỏi, mộtsinh viên đứng lên trả lời, cũn những SV khác nói lên những suy nghĩ củamình một cách “đan xen và đồng thời” với SV đó Vì vậy, SV này có thể liênhợp các cõu trả lời đúng Cũn ở Mỹ, khi giáo viên đặt cõu hỏi, SV thường tựtrả lời, không trông chờ bất cứ một sự giúp đỡ nào từ bạn bè, do vậy khi học ở
Mỹ, SV Việt Nam có thể cảm thấy nhút nhát hoặc im lặng bởi không khí màtrong đó có một người nói tại một thời điểm là cưỡng bức, SV Việt Namthường coi những thành viên khác trong lớp là một phần cơ thể của mình,thiếu họ, SV ấy cảm thấy mất tự tin
1.1.2 Ở Việt Nam:
Từ trước đến nay, vấn đề khó khăn tâm lí được các nhà tõm lí học, giáodục học nghiờn cứu chưa nhiều, một số tác giả tiêu biểu như Trần TrọngThuỷ, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thị Nhất, Phạm Thị Đức đã có một số bàiviết đề cập đến vấn đề này
- Nguyễn Khắc Viện trong tác phẩm “Nỗi khổ của con em chúng ta” đãnêu ra những khó khăn tõm lí mà học sinh lớp 1 gặp phải đó là:
+ Trẻ phải giữ kỉ luật lớp học , phải ngồi yên cả buổi, cả tiết học, chịu
áp lực, gò bó
+ Trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổi mẫu giáo
+ Trẻ ít được vỗ về, õu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểm tra,đánh giá của bố mẹ
- Trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất đãchỉ ra nhiều khó khăn tõm lí mà trẻ lớp 1 phải vượt qua Tác giả cho rằng:
Trang 9“Trong quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạnnày sang giai đoạn khác, trẻ em đòi hỏi phải thay đổi phương thức hoạt độngmột cách triệt để” Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tõm lí cụthể mà trẻ lớp 1 phải vượt qua:
+ Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tuỳhứng ở mẫu giáo để khép mình vào kỉ luật nghiêm khắc của lớp học phổthông
+ Trẻ gặp những khó khăn trong quan hệ với thầy cô
+ Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào lớp 1 vì sự hõn hoan chờ đón những điềuhấp dẫn, được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ [34]
- Trong bài viết “Chuẩn bị tõm lí cho trẻ vào lớp 1” tác giả Phạm ThịĐức cũng nêu ra một số khó khăn tõm lí của trẻ em khi đi học:
+ Trẻ chưa quen với chế độ học tập
+ Chưa có thói quen nắm các dữ kiện cõu hỏi của bài tập, yêu cầu của
cô giáo trước khi bắt tay vào hành động
+ Nhút nhát, mất bình tĩnh trước hoàn cảnh mới
+ Chưa có động cơ học tập đúng đắn
Năm 1995, trong bài “Những khó khăn tõm lí” trong quá trình giải toáncủa học sinh tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Hải đã đề cập đến các nguyên nhõnkhác nhau và hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học
- Tác giả Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết “Những khó khăn của họcsinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” đã phõn tíchnhững khó khăn của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển ViệtNam và chỉ ra những khó khăn mà học sinh gặp phải là:
+ Hoàn cảnh giao tiếp của học sinh miền núi bị hạn chế
+ Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và yếu
+ Năng lực cảm thụ một cõu, một đoạn thơ yếu
Trang 10Theo tác giả nguyên nhõn đến tình trạng này là do tầm văn hoá, vốnsống, vốn hiểu biết của SV cũn hạn chế [37;22] Do vậy để nõng cao cảm thụvăn học ở SV thì trước hết phải nõng cao tầm văn hoá của SV lên, cần mởrộng tầm hiểu biết cuộc sống, xã hội cho SV Những hoạt động ngoại khoá,tham quan du lịch, cõu lạc bộ văn học … là những hoạt động rất bổ ích đối vớiSV.
- Trong bài viết “Một số trở ngại tõm lí của trẻ khi vào học lớp 1” tácgiả Vũ Ngọc Hà đã chỉ ra một số trở ngại tõm lí mà trẻ thường gặp khi vàohọc lớp 1 đó là:
+ Khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới
+ Khó khăn trong các mối quan hệ
+ Khó khăn khi phải đến trường [9]
- Tác giả Nguyễn Xuõn Thức với các bài viết “Khó khăn tõm lí của trẻ
em đi học lớp 1”; “Thực trạng khó khăn tõm lí và biểu hiện của chúng ở họcsinh lớp 1 tiểu học” và “Các nguyên nhõn khó khăn tõm lí của học sinh khi đihọc lớp 1” đã cho rằng: Trẻ em mẫu giáo lớn khi bước vào học lớp 1 gặpnhững khó khăn tõm lí mà chính những khó khăn này làm cản trở sự thích ứngvới hoạt động học tập của các em, dẫn đến trẻ sợ học và kết quả học tập khôngcao, trong đó tác giả đồng ý với quan điểm của A.V Petropxki cho rằng: khókhăn tâm lí của trẻ khi đi học lớp 1 gồm 3 loại:
+ Thứ nhất: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ họctập mới mẻ
+ Thứ hai: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy
cô và bạn bè, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè
+ Thứ ba: Trẻ mất dần khát vọng học tập ban đầu và chán học [44;32]
- Những năm gần đõy có một số luận văn thạc sỹ đã quan tõm nghiêncứu về khó khăn tõm lí trong hoạt động học tập của sinh viờn như:
Trang 11+ Năm 2001 Nguyễn Thị Nhõn Ái với đề tài: “Tỡm hiểu những khókhăn tõm lí trong quá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 THPT”.
+ Năm 2002 Nguyễn Thị Thu Huyền với đề tài “Thực trạng khó khăntõm lí trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kĩ thuật của sinh viêntrường CĐSP kĩ thuật Vinh”
+Năm 2004 Nguyễn Văn Diệp với đề tài “Những khó khăn tõm lí trongquá trình học tập của sinh viờn năm thứ nhất trường CĐSP Điện Biên
+ Năm 2005 Đỗ Văn Bình với đề tài “Nghiên cứu khó khăn tõm lí tronghoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất CĐSP Quảng Trị”
Nhìn chung vấn đề khó khăn tõm lí đã được các nhà tõm lí, giáo dụctrong và ngoài nước đề cập đến song cũn rất ít hoặc chưa làm rừ được bảnchất của khó khăn tõm lí, đặc biệt là khó khăn tõm lí trong học tập với sinhviên dõn tộc thiểu số thì chưa có tác giả nào quan tõm nghiên cứu, Xuất phát
từ những lí do trên chúng tôi đã đi vào nghiên cứu và chọn đề tài này làm luậnvăn tốt nghiệp của mình
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONGHỌC TẬP CỦA SV NÓI CHUNG VÀ SV DTTS NĂM THỨ NHẤT NÓIRIÊNG
1.2.1 Khó khăn tõm lớ
1.2.1.1 Khó khăn nói chung
Trong từ điển Anh - Việt [18;tr278] từ “difficulty” được dùng để chỉ sựkhó khăn, sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục
Người ta hay dùng từ “shock” để chỉ sự khó khăn, sự sỗc, sự choángváng trước một môi trường mới
Theo từ điển Pháp - Việt thì từ “difficulté” chỉ sự khó khăn, sự việc gõytrở ngại [8; tr335]
Trang 12Theo từ điển tiếng Việt thông dụng [49;tr357] khó khăn có nghĩa là cónhiều trở ngại làm mất nhiều công sức
Theo “từ điển láy tiếng Việt” [14; tr20] Khó khăn nghĩa là có nhiều trởngại, làm mất nhiều công sức
Qua định nghĩa về khó khăn của các từ điển trên ta có thể hiểu khó khăn
là những trở ngại, rào cản, sự khắc nghiệt mà muốn vượt qua đòi hỏi phải có
sự nỗ lực
1.2.1.2 Khó khăn tâm lý
Qua nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu chúng tôi đưa ra định nghĩa về
khó khăn tõm lý như sau: Khó khăn tõm lớ là toàn bộ những yếu tố tâm lí của cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động, mà những yếu tố này tác động tiêu cực, thường làm cản trở, ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết quả của hoạt động đó.
Trong thực tiễn cuộc sống, bất kì một hoạt động nào của con ngườicũng đều gặp phải những khó khăn, kể cả những hoạt động đã được coi là đãtrở thành kĩ năng, kĩ xảo Những khó khăn gặp phải nếu con người ta khôngbiết cách khắc phục thì sẽ không vượt qua được hoặc nếu vượt qua thì hiệuquả công việc sẽ là rất thấp Đặc biệt là khi làm quen với hoạt động mới, môitrường mới
Những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn tõm lí làm xuất hiệnnhững hiện tượng tiêu cực, gõy sốc, choáng, mệt mỏi, nhìn chung là làm mấtphương hướng và những điều đó làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệuquả công việc, đặc biệt là đối với lứa tuổi mới lớn cũn làm ảnh hưởng tiêu cựcđối với sự định hình về mặt nhõn cách
Nhìn chung khó khăn tõm lí do những yếu tố bên ngoài (khách quan) vàyếu tố bên trong (chủ quan) gõy nên
Trang 13Những yếu tố bên ngoài được kể đến như là những điều kiện, phươngtiện hoạt động, môi trường gia đình, môi trường xã hội vv… những yếu tốnày ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình học tập của con người
Những yếu tố bên trong, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thõnnội tại mỗi cá nhõn khi tham gia vào hoạt động: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹnăng, kĩ xảo, hứng thú động cơ, những yếu tố này ảnh hưởng đến tiến trình vàkết quả hoạt động
Xét theo phương diện, nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thểphõn làm 2 loại: yếu tố sinh học và yếu tố tõm lý
1.2.2 Hoạt động học tập của SVSP
1.2.2.1 Khái niệm hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một dạng hoạt động trí tuệ, là một trong nhữnghình thức lao động chính của con người Nó quyết định trực tiếp đến sự pháttriển, hoàn thiện nhõn cách con người cũng như sự tiến bộ, phát triển của lịch
sử nhõn loại
Cuộc sống con người là một chuỗi những hoạt động đan xen, kế tiếpnhau, hoạt động học tập là một dạng hoạt động chớnh nhằm tiếp thu, lĩnh hộinhững thành tựu tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử mà loài người đã tích luỹđược trong suốt chiều dài lịch sử
Trong quá trình học tập, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, tri thức của nhõnloại, cá nhõn có thể tiến hành bằng nhiều cách học khác nhau Thông thườnghọc có 2 dạng: học ngẫu nhiên và học có mục đích
Học ngẫu nhiên: Đõy là kiểu học được thực hiện một cách không chủđịnh, nghĩa là người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm hình thành kĩ năng, kĩxảo thông qua việc thực hiện các hoạt động khác nhau trong đời sống hàngngày Kết quả của hoạt động này là những tri thức thu được rời rạc, không hệthống chỉ là những tri thức ngẫu nhiên tiền khoa học, mục đích của việc học sẽ
Trang 14không trùng với mục đích của hoạt động Người học chỉ lĩnh hội những gìliên quan trực tiếp tới nhu cầu, hứng thú, các nhiệm vụ trước mắt, cũn nhữngcái khác thì bỏ qua Với cách học này chỉ mang lại cho con người những kiếnthức tiền khoa học , có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc, không hệ thống chứ chưathực sự là những tri thức khoa học.
Trong thực tiễn, để tồn tại và phát triển cũng như để cải biến thế giớihiện thực, con người không thể chỉ dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm màđòi hỏi phải có hệ thức khoa học thực sự có hệ thống, phải hình thành nhữngnăng lực thực tiễn mà cách học ngẫu nhiên dựa trên cơ sở hoạt động sốnghàng ngày không thể đáp ứng được Do vậy con người phải tiến hành hoạtđộng học tập dưới hình thức khác có hiệu quả hơn đó là học có mục đích
Học có mục đích: Đõy là một dạng hoạt động đặc thù của con người.Người học chỉ có thể thực hiện được khi họ đã đạt được ở một trình độ nhấtđịnh như có khả năng điều chỉnh được những hành động của mình bằng mụcđích đã được ý thức, khả năng này chỉ bắt đầu được hình thành vào lúc trẻkhoảng 5 – 6 tuổi cách học này giúp chủ thể lĩnh hội tri thức một cách có hệthống, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Hoạt động học diễn ra theo
kế hoạch, chương trình đã được vạch ra từ trước phù hợp với tõm sinh lí lứatuổi
Như vậy chỉ có thực hiện hoạt động học theo đúng nghĩa là hoạt động
có ý thức , có mục đích, có kế hoạch của con người thì mới có thể hình thành
ở người học những tri thức khoa học, hình thành hành vi tích cực, hình thànhcấu trúc tương ứng của hoạt động tõm lí và sự phát triển toàn diện nhõn cách
Khi bàn về hoạt động học tập có rất nhiều quan niệm khác nhau tuỳtheo góc độ nghiên cứu của các tác giả
Theo L B Enconhin: Hoạt động học tập là việc lĩnh hội tri thức, là việcxác định bởi cấu trúc và mức độ phát triển của hoạt động học tập[4; tr88]
Trang 15A.N Leonchiev, P Ia Ganperin và N Ph Taludia coi học tập xuất phát
từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức bênngoài và bên trong của hoạt động đó [27;89]
I B Intensơn cho rằng: Hoạt động học tập là dạng hoạt động đặc biệtcủa con người có mục đích nắm vững những tri thức, kĩ năng kĩ xảo và cácphương thức nhất định của hành vi Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thựctiễn
A.V Petrovxki cho rằng: hoạt động học tập là vấn đề phẩm chất tư duy
và kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụgiảng dạy
Cũn N.V Cudơmina khi bàn về hoạt động học tập của sinh viên cũng đãcoi hoạt động học tập là loại nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiệndưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình này việc nắm vữngnội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạtđộng nghề nghiệp tương lai
Như vậy các tác giả trên chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong việcquan niệm về hoạt động học tập, tuy nhiên họ đều xem xét hoạt động học tậphoặc có liên quan đến nhận thức hoặc liên quan chỉ với tư duy hay nghềnghiệp Mỗi quan niệm thường nhấn mạnh một khớa cạnh nào đó, nhưng cáctác giả cũng có điểm chung về hoạt động học tập là có mục đích tự giác, có ýthức về động cơ và trong đó diễn ra quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình
Trang 16học, và hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ vànăng lực con người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra [46; tr148]
Theo tác giả Bựi Văn Huệ, “Hoạt động học tập là hoạt động có ý thứcnhằm thay đổi bản thõn chủ thể hoạt động Trong hoạt động này, các phươngthức chung của việc thực hiện những hành động nhận thức và thực tiễn trởthành mục đích trung tõm của hoạt động [19 - 22]
Tác giả cũng cho rằng hoạt động học thực chất là hoạt động nhận thứcđược tổ chức một cách chuyên biệt để chiếm lĩnh những khái niệm khoa học.Nhà bác học nhận thức thế giới và phát hiện ra cái mới cho nhõn loại Họcsinh bằng hoạt động lĩnh hội những cái mà các nhà bác học đã khám phá radưới sự tổ chức của giáo viên Nhờ vậy học sinh cũng lặp lại đúng quy luậtnhư quá trình phát minh của các nhà bác học Học sinh phát hiện ra cái mớicho chính bản thõn mình, từ đó mà họ hoàn thiện nhõn cách cho bản thõn
Cùng quan điểm với Bựi Văn Huệ khi bàn về hoạt động học tập, tác giả
Lê Văn Hồng đã đưa ra khái niệm rất khoa học và được nhiều người thừanhận Theo ông: “hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, đựơcđiều khiển bời mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,những phương thức hành vi và các dạng hoạt động nhất định” [17;tr 106]
Như vậy từ những quan điểm của các tác giả nêu trên cho phép chúng tahiều hoạt động học tập là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm lĩnh hộinhững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của loài người được kết tinh trong nền văn hoá
xã hội, biến nó thành vốn riêng của bản thõn để từ đó vận dụng vào thực tiễnphục vụ cho cuộc sống và hoàn thiện nhõn cách của bản thõn
Hoạt động học tập có các đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất của nó nhưsau: 1/đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tươngứng với nó; 2/hoạt động học tập là hoạt động hướng vào làm thay đổi và pháttriển tõm lí của chính chủ thể học tập; 3/Hoạt động học tập là hoạt động được
Trang 17điều khiển bởi mục đích có ý thức nhằm tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩxảo; 4/Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo mới (cái) mà cũn tiếp thu cả những tri thức của chính bản thõnhoạt động (cách).
1.2.2.2 Hoạt động học tập của sinh viờn sư phạm
* Hoạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học tập trong các trường ĐH, CĐ là hoạt động chủ đạo củangười SV vì qua hoạt động này, các mục đích cơ bản của việc đào tạo ngườichuyên gia được thực hiện Hoạt động này có ảnh hưởng sõu sắc nhất đến sựphát triển các quá trình và các thuộc tính tõm lý của SV, đến sự lĩnh hội trithức khoa học, các thông tin, các kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp quan trọng củahọ
Tác giả Nguyễn Thạc đã định nghĩa “HĐHT ở ĐH là một hoạt độngtõm lý được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích có ý thức làchuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình
độ nghiệp vụ cao” [38;tr90]
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục ở bậc ĐH, CĐ, từ yêu cầu của xã hộinên hoạt động học tập của người SV ngoài những đặc điểm chung của hoạtđộng học tập cũn có những đặc điểm nổi bật sau:
HĐHT mang tính chất nghề nghiệp, tức là vào ĐH,CĐ thì sự phõn hoá
về chuyên môn, chuyên ngành hẹp đã sõu sắc hơn nhiều so với phổ thông.Hoạt động học tập với tính chất chủ yếu là phục vụ cho các lĩnh vực nghềnghiệp trong tương lai nên trong quá trình học tập SV phải hoàn thành nhiệm
vụ chủ yếu là tiếp thu có sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết ,
kĩ năng cơ bản của nghề nghiệp tương lai Tức là họ phải phấn đấu nắm được
cơ sở, những vấn đề then chốt của nghề nghiệp mà họ cần đảm nhận sau khitốt nghiệp ĐH, CĐ với tư cách là một cán bộ khoa học, kĩ sư, chuyên viên, cử
Trang 18nhận, thợ có trình độ cao Do vậy, những tri thức họ lĩnh hội không phải lànhững tri thức phổ thông cơ bản mà là hệ thống các tri thức khoa học cơ bản,
cơ sở, tri thức chuyên nghành, tri thức công cụ và các kĩ năng, kĩ xảo tươngứng với chuyên ngành ấy
Hoạt động học tập của SV mang tớnh chất nghiên cứu, bên cạnh việclĩnh hội cái mới đối với bản thõn (giống như học sinh phổ thông), SV bắt đầutham gia tìm kiếm, phát hiện cái mới (cái chưa hề biết) đối với nhân loại mộtcách vừa sức Vì thế, nghiên cứu khoa học trở thành một bộ phận có mối quan
hệ hữu cơ với hoạt động học tập Qua việc tập dượt nghiên cứu, giúp hìnhthành ở SV những phẩm chất, tác phong, phương pháp nghiên cứu, phươngpháp luận khoa học … của nhà nghiên cứu; góp phần giải quyết một cáchkhoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống, thực tiễn nghềnghiệp đặt ra Từ tớnh chất nghiên cứu của hoạt động học tập đòi hỏi người
SV phải có thêm tính sáng tạo, tính thực tiễn, tính kiên nhẫn …vv Điều này
có nghĩa là, trong quá trình học tập, dưới vai trò chủ đạo của giảng viên, SVkhông được nắm máy móc những chõn lí có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhậnnhững chõn lí đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoahọc, lật ngược vấn đề, đào sâu, mở rộng hoặc tỡm ra cái mới Tính sáng tạocủa SV một mặt xuất phát từ kết quả của sự trưởng thành lứa tuổi, mặt khác
do yêu cầu của bản thõn hoạt động học tập của SV trong thời đại mới Bêncạnh tính sáng tạo, người SV phải biết dự đoán chiều hướng phát triển và ứngdụng chuyên môn vào thực tiễn như thế nào Chú trọng đến việc đi sõu, nắmvững các tri thức chuyên môn, tránh “í luận suông” hoặc “thực tiễn mù quáng”nên hoạt động học tập phải thực hiện theo nguyên lí giáo dục “học phải đi đôivới hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với sản xuất xãhội”
Trang 19Hoạt động học tập của SV là hoạt động lao động trí óc căng thẳng Điềunày do khối lượng tri thức cần tiếp thu ở ĐH, CĐ là tương đối lớn, tính chất
đa dạng cùng với mức độ phức tạp, trừu tượng của nội dung học tập Cường
độ hoạt động trí tuệ của SV phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nội dung, tính chấtphức tạp của các nhiệm vụ, trình độ tri thức, các kĩ năng kĩ xảo, năng lực,động cơ và tõm thế chung của nhõn cách người SV Vì vậy, cần có sự độngviên có mục đích của giáo viên đối với SV trong quá trình giảng dạy và có sựchỉ dẫn cần thiết nhưng không mang tính chất áp đặt một chiều đối với họ
Tính độc lập trí tuệ cao trong học tập Do tính chất của hoạt động họctập ở ĐH, CĐ, do yêu cầu của thực tiễn cuộc sống đã đòi hỏi SV phải có sựđộc lập trí tuệ cao trong học tập Họ phải tự ý thức về việc học tập của bảnthân Đó là sự tự nhận thức được bản thõn là chủ thể của hoạt động học tập, làngười tích cực, chủ động trong việc lĩnh hội, khám phá tri thức Tớnh độc lậptrong hoạt động học tập của SV thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ việcgiải quyết các nhiệm vụ học tập đến việc sưu tầm tài liệu tham khảo, lập kếhoạch học tập phù hợp và thực hiện nó Trong HĐHT ngoài lớp không bắtbuộc, SV có thể đi thư viện đọc các tài liệu liên quan, tự cập nhật thông tinqua đài, báo, tivi, qua mạng internet… tự ý thức về học tập là vấn đề nhõn lừitrong nhõn cách của sinh viên Nó được thể hiện ở sự nhận thức về động cơ,mục đích, phương pháp học tập Điều này sẽ giúp SV học tập tốt hơn và tạođược khả năng thích ứng nhanh với HĐHT ở ĐH, CĐ Sở dĩ SV có khả năngđộc lập cao trong HĐHT là do kết quả phát triển tương đối hoàn thiện của cácchức năng tõm sinh lí ở lứa tuổi này Sự trưởng thành về mặt trí lực, tư duylôgic, thế giới quan và nhõn sinh quan là cơ sở quan trọng của tính độc lập nóichung và trong học tập nói riêng của sinh viên Trên đây là những đặc điểm cơbản trong HĐHT của SV, giúp chúng ta thấy được sự khác biệt với các cấp
Trang 20học, bậc học khác Nhưng đê hiều rừ hơn về hoạt động học tập ở ĐH, CĐ thìkhông thể dừng lại ở đõy mà phải tỡm hiều ở một số khớa cạnh khác.
Tính thực tiễn: SV học tập với tớnh năng động cao, phải biết dự đoánchiều hướng phát triển và ứng dụng chuyên môn vào thực tiễn như thế nào.Trong học tập SV cần chú trọng phương pháp bộ môn, chuyên nghành, cáchthức nghiên cứu khoa học, thực hành, thí nghiệm, phục vụ cho nghề nghiệptương lai Quá trình học tập của SV trên cơ sở nắm vững hệ thống kiến thức lýluận ở tầm cao, phát triển kĩ năng ứng dụng và năng lực sáng tạo trong mộtchuyờn môn hẹp Tớnh thực tiễn trong học tập của SV cũn cho thấy sự đápứng về những đòi hỏi của xã hội với việc đào tạo đội ngũ chuyên gia trong cáclĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội trong thời đại mới Ngày nay ngoạingữ và tin học là những yêu cầu mang tính thời đại đối với SV, với tư cách làphương tiện học tập, “chỡa khoá” để mở ra kho tàng tri thức nhõn loại vànghề nghiệp trong tương lai
Căn cứ vào phương diện thời gian, không gian, HĐHT ở đại học đượcchia thành ba hình thức sau
HĐHT trên lớp được quy định bởi mục đớch, chương trình học tập,được thể chế hoá bằng thời khoá biểu, giáo trình, tài liệu học tập HĐHT đượctiến hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên và bao gồm các giờ nghe giảng,thảo luận, xemine, ôn tập …vv Kết quả của hoạt động này do giảng viờn đánhgiá
HĐHT ngoài lớp bắt buộc thường được tiến hành sau những giờ học ởtrên lớp, là sự hoàn tất một cách lôgic các giờ học trên lớp, ví dụ: Thực hành,thí nghiệm, thực địa, thực tế …vv Hoạt động này có thể có hoặc không có sựkiểm tra, giám sát của giảng viên nhưng kết quả sẽ được họ phõn tích, đánhgiá
Trang 21HĐHT ngoài lớp không bắt buộc của SV có liên quan đến việc nghiêncứu sâu và theo định hướng riêng, ví dụ: Hoạt động tự học, tự nghiên cứu …
vv Hình thức này không có sự kiểm tra, giám sát của giảng viên Nó đòi hỏi
sự nỗ lực ý chí, động cơ, tình cảm, niềm tin và nó mang tính chất sáng tạo,tính độc lập rừ nét
Sự phõn chia thành các hình thức khác nhau của HĐHT ở ĐH, CĐ trênchỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế, có những hoạt động không thểphõn biệt ranh giới, xét ở góc độ này nó ở hình thức này, ở góc độ khác nó lạithuộc hình thức khác
Một vấn đề nữa cần đề cập trong HĐHT của sinh viên là phương pháphọc tập M Klinin khi viết cho các sinh viên mới nhập học tại trường ĐH tổng
hợp Lêningrat đã nhấn mạnh: Nếu các bạn thu nhiều kiến thức đủ loại mà người ta không cung cấp cho bạn phương pháp, không dạy bạn cách tự lực xử
lý các vấn đề thì trường đại học đã không hoàn thành nhiệm vụ của nó Rừ
ràng, cách học ở ĐH của sinh viên sẽ khác với cách học của học sinh phổthông Đõy là một vấn đề cần hết sức quan tâm trong hoạt động học tập của
SV Trong thực tiễn hiện nay, khi mà thời gian học thông thường là một hằng
số (cố định, bất biến trong khoảng từ 3 đến 6 năm), lượng tri thức ở ĐH, CĐ
là cái “vạn biến” (luôn tăng nhanh cả về lượng và chất) Vậy không thể họchết được, giải pháp hữu hiệu nhất là phải trang bị cho người học nhữngphương pháp học tập đúng đắn, giúp cho họ có được những công cụ, phươngtiện để họ có thể làm việc ở bất kỳ môi trường nào Không thể có cách họcnào bao trùm, thay thế hết thảy cho các cách học khác Ở ĐH,CĐ tuỳ từngmôn học có một cách học đặc thù riêng Do đó người giảng viên bên cạnh việctruyền đạt tốt tri thức cũn cần phải hướng dẫn cho sinh viên cách học môn học
đó Mặt khác, ở ĐH, CĐ khối lượng tri thức dành cho SV tương đối lớn,trong khi đó thời gian nghe giảng ở trên lớp lại không nhiều Mõu thuẫn này
Trang 22chỉ có thể giải quyết bằng việc tự học của SV Do vậy, tự học và sử dụng thờigian hợp lí được coi là một cách thức học tập hiệu quả của SV Qua việc tựhọc, sinh viên sẽ mở rộng được kiến thức của mình đồng thời họ dần tạo racho mình một phương pháp làm việc độc lập, có hiệu quả Tuy nhiện việc tựhọc cũng phải đặt trong mối quan hệ với vai trò của người giảng viên (người
tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh)
Túm lại, hoạt động học tập của sinh viên thực sự là một loại lao động trí
óc căng thẳng Học tập của SV diễn ra trong môi trường chuyên nghiệp mangtính chất đặc thù của nghề nghiệp tương lai như của ngành học Nghĩa là họctập của SV đồng thời phải đáp ứng yêu cầu cả về chuyên môn và nghiệp vụ ởtrình độ cao Trong quá trình học tập, SV phải giải quyết các nhiệm vụ học tậpthông qua việc thực hiện hệ thống hành động học tập cũng như sự tự kiểm tra
và đánh giá các kết quả của chúng Nội dung học tập bao gồm việc học thôngtin, học kĩ năng, thái độ, học cách chuyển giao học tập Học tập nhằm các mụcđích cơ bản là thu thập thông tin, xõy dựng phương pháp học tập, ghi nhớ cóchọn lọc tài liệu học tập, phát triển tư duy sáng tạo, trí tuệ của chủ thể và ápdụng thông tin vào thực tế Có thể nói rằng ở trường ĐH, CĐ mục tiêu học tậpcủa sinh viờn là học cách học để làm tiền đề cho việc học tập suốt đời Hiệnnay trong xu thế thời đại, SV học tập thực sự vì cuộc sống, vì nghề nghiệptương lai của bản thõn Do vậy SV luôn phải biết làm chủ quá trình học tập,biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biết kết hợp quá trình nhõnhoá với quá trình xã hội hoá tron học tập của bản thõn nhằm đạt tới việc tựhọc suốt đời
* Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm
Hoạt động học tập của SVSP về cơ bản diễn ra như hoạt động học tậpcủa các SV khác Song do đặc thù của nghề nghiệp nên nó vẫn có một số đặctrưng khác biệt, đó là: SVSP học tập để tích luỹ tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ
Trang 23xảo tương ứng theo chuyên ngành, chuyên môn sõu, đồng thời tích cực rốnluyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm với mục đích khi kết thúc học tập ở cáctrường ĐH, CĐSP họ sẽ là lực lượng tri thức trẻ tham gia vào hoạt động giảngdạy, giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng nguồn nhõn lực cho xã hội Do vậy bên cạnhnhững đặc điểm về hoạt động học tập của sinh viên nói chung, hoạt động họctập của SVSP cũn có một số đặc điểm nổi bật sau:
Việc học tập của SVSP không chỉ đáp ứng nhu cầu chuyên môn, chuyênsõu mà cũn phải đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, nghề nghiệp, hình thành và pháttriển nhõn cách người giáo viờn tương lai Hoạt động học tập của SVSP bêncạnh việc “học chữ” điều quan trọng cần chú ý là học làm thầy Để trở thànhnhững thầy cô giáo tương lai dẫn dắt các thế hệ trẻ trở thành những công dõn
có ích cho đất nước Khi cũn là SV họ phải được đào tạo một cách toàn diệnnhằm hoàn thiện nhõn cách người thầy giáo với tư cách là “công cụ chủ thể”trong hoạt động nghề nghiệp
Nội dung học tập của SVSP bao gồm:
Khoa học cơ bản: Triết học, lịch sử Đảng, kinh tế - chớnh trị học nhằm
trang bị hệ thống kiến thức khoa học về kinh tế - chớnh trị - xã hội làm cơ sởhình thành, củng cố thế giới quan khoa học cho những thầy cô giáo trongtương lai
Khoa học chuyên ngành: Toán học, vật lí, hoá học, văn học … trang bị
những kiến thức chuyên sõu của việc đào tạo chuyên gia và làm cơ sở để SVtham gia nghiên cứu khoa học và tiếp tục học tập suốt đời
Nghiệp vụ sư phạm: Tõm lí học, giáo dục học, phương pháp giảng dạy
bộ môn, giao tiếp sư phạm, thực tế, kiến tập, thực tập sư phạm nhằm trang bị
hệ thống kiến thức khoa học cần thiết làm cơ sở cho công tác dạy học và giáodục sau này, qua đó kết hợp “học đi đôi với hành” nhằm hình thành và pháttriển kĩ năng nghề nghiệp cho SV
Trang 24Ngoại ngữ, tin học: với tư cách là công cụ “chỡa khoá” là phương tiện
học tập phục vụ việc nghiên cứu công tác giảng dạy và xu thế học tập suốtđời
Thể dục: nhằm rốn luyện sức khoẻ Việc học tập quân sự nhằm hình
thành phát triển tri thức, nghĩa vụ công dõn, nõng cao tinh thần kỷ luật
Các môn học tự chọn: Nữ công, nhạc hoạ phát triển năng khiếu trình
độ thẩm mỹ
Hoạt động học tập của SV sư phạm có đối tượng là hệ thống kiến thức,
kĩ năng, kĩ xảo và cách thức chiếm lĩnh chúng thuộc các lĩnh vực khoa họcchuyên ngành, nghiệp vụ sư phạm Đó chớnh là động cơ thời sự của hoạt độnghọc tập chứa đựng khả năng đáp ứng nhu cầu học tập Đối tượng của hoạtđộng là động cơ thật sự của hoạt động Dĩ nhiên nó có thể là vật chất hay tinhthần, là có trong tri giác thực sự hay là chỉ có trong tưởng tượng, trong ý nghĩ.Điều chủ yếu là đằng sau nó bao giờ cũng là nhu cầu, nó bao giờ cũng đápứng một nhu cầu này hay một nhu cầu khác Bản thõn đối tượng của hoạtđộng hiện ra được chủ thể cũng như là đối tượng đáp ứng một nhu cầu nàyhay nhu cầu khác của chủ thể và “chính đối tượng của hoạt động không nhữngsinh ra đối tượng của hình tượng mà cũn sinh ra đối tượng của nhu cầu”
Trong quá trình học tập ở trường SP, SV phải xác định và hoàn thànhcác mục đích cơ bản của việc đào tạo người thầy giáo tương lai Thông quahoạt động học tập, SV trang bị cho mình hệ thống kiến thức khoa học đáp ứngyêu cầu nghề dạy học Đặc biệt trong thời đại ngày nay, những yêu cầu đối vớiviệc học tập của SVSP là rất cao, không chỉ về chuyên ngành mà cũn cả vềnghiệp vụ sư phạm, cách giao tiếp, ứng xử Ngoài những yêu cầu về chuyênmôn, SVSP cũn phải học các phương pháp sư phạm, cách thức tổ chức, thiết
kế, tiến hành các hoạt động sư phạm, sử dụng các phương tiện dạy học hiệnđại, đáp ứng yêu cầu của việc chuyển dịch kép “từ mô hình truyền thống sang
Trang 25mô hình thông tin” đồng thời cố gắng từng bộ phận đi vào mô hình kiến thức.
Vì vậy các trường SP cần phải dạy “cách học mới cho SVSP, tạo cho họ khảnăng tự học”
Trong xu thế phát triển của thời đại, sự tác động mạnh mẽ của tiến trìnhtoàn cầu hoá, nhiều vấn đề mới đã được đặt ra cho các nền giáo dục của cácquốc gia nói chung, đối với hệ thống giáo dục của Việt Nam, đặc biệt là giáodục ĐH nói riêng Chính vì vậy, hoạt động học tập của SVSP không nằmngoài sự tác động đó Theo nhận định của các chuyên gia: trong thế kỷ XXI,với ảnh hưởng sõu sắc của công nghệ thông tin, một mô hình giáo dục ĐHmới sẽ được hình thành và phát triển Trong đó việc học tập trên mạng “khônggian điều khiển” nắm giữ vai trò chính trong quá trình chuyển giao kiến thức
có hiệu quả Vì vậy vai trò của người thầy giáo cũng sẽ thay đổi từ một giáoviên trờn bục giảng trở thành “người thầy trên mạng” Không gian và thờigian giáo dục sẽ không cũn bị bó hẹp như trước đây mà sẽ được mở rộng và
có thể học tập suốt đời nếu chủ thể có nhu cầu, để đáp ứng yêu cầu mới củathời đại, học phải có trình độ chuyên môn cao, có khả năng phõn tích và phêphán, sáng tạo và thực hiện các nghĩa vụ xã hội SVSP trong quá trình học tậpphải học cách dạy học nói chung và dạy bộ môn nói riêng thông qua việc họctập lí luận dạy học kết hợp với việc học tập phương pháp dạy học mỗi bộ môn
cụ thể Học cách chuyển tải tổ chức cho người học lĩnh hội kiến thức mộtcách dễ dàng, mạch lạc, dễ hiểu và hấp dẫn Học cách sử dụng các phươngtiện dạy học hiện đại SVSP không chỉ học cách dạy chữ (dạy học) mà cũnphải biết cách dạy người (giáo dục) nghĩa là học hướng vào việc hình thành vàphát triển năng lực đối với bản thõn Đồng thời để có thể thực hiện tốt dạy học
và giáo dục sau này, mỗi SVSP phải tích cực học tập, rốn luyện khả năng giaotiếp sư phạm, trau dồi vốn ngôn ngữ, khả năng diễn đạt trước học sinh
Trang 26Có thể nói một cách khái quát rằng, ở trường ĐH, CĐ mục tiêu học củaSVSP là học cách học, làm tiền đề cho việc học suốt đời của bản thõn, đồngthời làm chuyờn gia dạy về cách học cho HS sau khi tốt nghiệp trở thành giáoviên Trong xu thế thời đại, SVSP ngày nay phải thực sự làm chủ quá trìnhhọc tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biết kết hợp quátrình cá nhõn hoá với quá trình xã hội hoá trong học tập của bản thõn nhằmđạt tới việc “tự học - học suốt đời” đáp ứng những yêu cầu của nghề dạy họctrong xã hội hiện đại.
1.2.2.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của sinh viên sư phạm
* Khái niệm sinh viên và sinh viên sư phạm
Thuật ngữ SV có nguồn gốc từ tiếng la tinh “students”có nghĩa là ngườilàm việc, học tập nhiệt tình, người tỡm kiếm khai thức tri thức Nó được dùngnghĩa tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếngPháp để chỉ những người theo học ở bậc ĐH và CĐ, những người đang họctập và rốn luyện để lĩnh hội một trình độ chuyên môn cao Theo quy định củatrường ĐH và CĐ thì lứa tuổi SV hiện nay thường là từ 17 đến 23 tuổi nghĩa
là họ trung với giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên
Khái niệm SV được sử dụng rộng rói hiện nay và được các nhà nghiêncứu chấp nhận với nghĩa: SV là đại biểu của một nhúm xã hội đặc biệt, lànhững người đang trong quá trình tích luỹ tri thức nghề nghiệp để trở thànhnhững chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, hoạt động, lao động trong mộtlĩnh vực nhất định có ích cho xã hội
Sinh viên sư phạm là những sinh viên đang học tập, rèn luyện trong cáctrường ĐH, CĐSP Họ được đào tạo theo chương trình chuyên biệt, sinh viờn
có nhiệm vụ học tập, tích luỹ tri thức, trau dồi đạo đức, rốn luyện nghiệp vụ sưphạm, phát triển nhõn cách toàn diện để trở thành những thầy giáo trong tươnglai
Trang 27Túm lại, sinh viên nói chung và sinh viên sư phạm nói riờng, họ lànhững người thuộc đội ngũ tri thức trẻ, là nguồn nhõn lực quan trọng quyếtđịnh sự sự phát triển kinh tế và sự phát triển của xã hội Họ là những ngườinăng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và luôn mong muốn đem hiểu biếtcủa mình tham gia, đóng góp vào các hoạt động, các mối quan hệ xã hội nhằmhoàn thiện nhõn cách của bản thõn và góp phần chung vào sự phát triển của xãhội.
* Đặc điểm lứa tuổi của sinh viên
Với tư cách là đại biểu của nhúm xã hội đặc biệt, đang chuẩn bị chohoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội, sinh viên đang tích cựcchuẩn bị thực hiện vai trò xã hội và khẳng định chuyên môn của mình trongcác lĩnh vực Họ là lực lượng tri thức tiến bộ bổ sung cho nguồn nhõn lực xãhội
Theo các nhà tõm lí học, xã hội học SV là những người thuộc lứa tuổi
từ 18 đến 25, ở lứa tuổi này về cơ bản con người đã đạt đến độ hoàn thiện vềmặt thể chất và ổn định về các nét tớnh cách Chính sự hoàn thiện này chophép sinh viên có thể giải quyết những vấn đề quan trọng mang tớnh chấtquyết định đến sự phát triển nhân cách của họ một cách độc lập Đó là việc lựachọn nghề nghiệp sau khi đã kết thúc học tập ở trường phổ thông Do tuổi SVnằm trong giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên, nên ở họ luôn bộc lộ sự nhiệttình, sôi nổi khát khao lí tưởng, hăng hái hoạt động muốn khẳng định mình và
có sự chín muồi nhất định của tuổi trưởng thành, cùng với một loạt các phẩmchất đặc trưng của người sinh viên được hình thành trong quá trình học tập, tudưỡng ở trường ĐH và CĐ
Tuổi sinh viên là thời gian nở rộ nhất của sự phát triển nói chung và tõm
lí nhõn cách nói riêng Đây là lứa tuổi thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát
Trang 28triển các chức năng tõm lí quan trọng ở con người, đặc biệt là sự phát triểnnăng lực trí tuệ.
Đặc điểm quan trọng nhất của lứa tuổi sinh viên là sự phát triển của tự ýthức, hơn nữa đõy là giai đoạn tự ý thức phát triển rất cao Họ đã ý thức vàbiết đánh giá về hoạt động kết quả tác động của chớnh mình, biết đánh giátoàn diện về bản thõn, về vị trí của mình trong cuộc sống, trong xã hội, đây lànhững dấu hiệu giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện và phát triểnnhõn cách
Thành phần quan trọng bậc nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinhviên là năng lực tự đánh giá, thể hiện thái độ đối với bản thõn, biểu hiện cácphẩm chất và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và tự giáo dục Tự đánh giá
là kết quả đánh giá từ bên ngoài, hình thành nên lòng tự trọng của cá nhõnđảm bảo cho tớnh tích cực của nhõn cách được thể hiện trong đời sống, trongmối quan hệ liên nhõn cách, trong việc hình thành tính tự trọng trong nhâncách, tự đánh giá là thành phần không thể thiếu được, nó phản ánh năng lựchiểu biết và kĩ năng điều khiển chính mình
Tự đánh giá phản ánh mức độ thoả món của nhõn cách về bản thõn, làmức độ thoả món của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc tớnh của cánhõn Vì thế sự tự đánh giá của cá nhõn có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả củahoạt động, đặc biệt là sự tự đánh giá về trí tuệ là một thành phần cơ bản trongcấu trúc tự nhận thức của sinh viên Nó có tác dụng lớn đối với sự phát triểncác phẩm chất trí tuệ trong quá trình học tập ở ĐH, CĐ, đi theo chiều hướngđúng đắn và hiệu quả Nếu SV tự đánh giá đặc điểm trí tuệ ở mức thấp sẽ gõy
ra những khó khăn trong quá trình học tập, ngược lại những đặc điểm trí tuệđược đánh giá một cách đúng đắn và tích cực là cơ sở tốt cho hoạt động họctập ở ĐH, CĐ, ngoài ra lòng tự trọng, sự tự đánh giá về trí nhớ, tốc độ phảnứng … cũng có tác dụng rất lớn đến việc hình thành các phẩm chất quan trọng
Trang 29của người thầy giáo tương lai Kế hoạch trong cuộc đời và định hướng nghềnghiệp của SV là một bước chuyển căn bản trong nhận thức của họ được thểhiện ở việc xác định cho mình một nghề nghiệp nhất định Họ không chỉ dừnglại ở sự mơ ước, hoài bóo mà cũn tỡm cách đạt tới và ấn định con đường thựchiện Mặc dù SV lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải
có hứng thú bền vững mới có thể xác định nghề nghiệp đúng đắn theo khảnăng và sở thích của mình
Bước vào lứa tuổi SV khi mà việc xác định nghề nghiệp đã rừ ràng,người thanh niên chuyển sang giai đoạn mới và bắt đầu với các hình thức hoạtđộng mới Điều chúng tôi quan tâm là người SV sẽ giải quyết nhiệm vụ mớiđặt ra cho mình, nên trong đó việc thích ứng với hoạt động học tập được đặtlên hàng đầu, trong giai đoạn này, người SV phải đối mặt với những khó khănnhất định cả về thể chất và tinh thần Sự thay đổi của môi trường, sự thay đổiphương thức hoạt động … tất cả sẽ đòi hỏi người SV phải giải quyết để có thểhọc tập tốt và hình thành cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai Việc giảiquyết hiệu quả những khó khăn giúp người SV có niềm tin và sự đúng đắn choviệc lựa chọn nghề nghiệp, là cơ sở để tự khẳng định nhõn cách nhõn cách vàcủng cố nghề nghiệp tương lai
Sự phát triển nhân cách của SV: Nhõn cách của SV là nhõn cách củacon người tuổi trẻ, đang trong thời gian chuẩn bị để thực hiện chức năng củangười chuyên gia có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực nào đó của xãhội
Tuổi SV là thời gian thuận lợi nhất của sự phát triển nhõn cách, đõy làlứa tuổi mà các chức năng tâm lý, đặc biệt là sự phát triển các năng lực trí tuệcủa con người diễn ra có hiệu quả nhất Tuy vậy để phát triển nhõn cách toàndiện, điều quan trọng là người SV phải hiểu được tớnh không lặp lại trongtớnh cách của mình Về vấn đề này B.G Ananhiev đã viết : “lứa tuổi SV là
Trang 30thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm, đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạnhình thành và ổn định tính cách Đặc biệt là họ có vai trò xã hội của người lớn.Theo [38; tr61]
Sự trưởng thành về trí tuệ, đạo đức, xã hội được thể hiện ở kĩ năng tổchức học tập theo các khõu trong hoạt động học tập của SV Ngay từ năm thứnhất ở ĐH, CĐ sinh viên đã bộc lộ rừ khả năng phán đoán và thể hiện hành vimột cách độc lập Trong thời kì này sinh viên có sự biến đổi mạnh mẽ về động
cơ, sự thay đổi giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp
Một điều đáng chú ý trong nhõn cách của SV ở giai đoạn này có biểuhiện của nó là sự tự đánh giá cũn nhiều hạn chế như: mõu thuẫn, đôi khi thiếuthực tế, nhiều khi mơ hồ về chuẩn đánh giá, hay bị giao động nó được thểhiện bằng cách so sánh giữa “cái tôi”lí tưởng và cái tôi “thực tế”, đồng thời cáitôi lí tưởng không được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, cũn cái tôithực tế lại xa rời cuộc sống hiện thực và trở nên hóo huyền Chớnh vì vậy SVnăm thứ nhất thường thiếu lòng tin ở bản thõn, làm ảnh hưởng đến các hoạtđộng và điều quan trọng là nó làm ảnh hưởng đến hoạt động học tập của SV
Sự phát triển nhõn cách của SV với tư cách là người chuyên gia tươnglai có trình độ ĐH, CĐ được diễn ra trong suốt quá trình học tập ở ĐH, CĐvới niềm tin về tư tưởng, xu hưởng nghề nghiệp được củng cố, các năng lựccần thiết được phát triển
Các quá trình tõm lí, các trạng thái tõm lí, vốn hiểu biết, kinh nghiệmsống được dần hoàn thiện và được nghề nghiệp hoá
Tình cảm, nghĩa vụ, ý thức, trách nhiệm, tớnh độc lập trong nghềnghiệp được nõng cao và dần ổn định, SV trở nên vững vàng hơn trong lậptrường sống của bản thõn, cách giải quết vấn đề trở nên chính xác, đúng đắnhơn Sự trưởng thành về mặt xã hội, phẩm chất đạo đức, lĩnh hội kinh nghiệm
xã hội và kiến thức nghề nghiệp, đồng thời tớnh độc lập và sự sẵn sàng làm
Trang 31việc khi kết thúc học tập được củng cố Trong sự phát triển nhõn cách của SV,cho dù đã dần đi vào ổn định nhưng nó vẫn là một quá trình luôn có sự nảysinh và giải quyết các mõu thuẫn của sự chuyển hoá cái bên ngoài thành cáibên trong, trong đó bản thân sẽ là người quyết định cho sự phát triển ấy Chỉkhi nào bản thõn người SV nhận thức một cách đúng đắn những nội dung cơbản cho sự phát triển nhõn cách của mình , thì khi ấy họ sẽ nỗ lực khắc phụcnhững khó khăn, thử thách để hoàn thiện mình Tuy vậy công tác giáo dục SVnăm thứ nhất cũng cần giải quyết các nhiệm vụ là cho SV nhanh chóng thíchứng được với sự đa dạng của cuộc sống mới, môi trường học tập và phươngpháp học tập mới.
Túm lại, tuổi SV là giai đoạn phát triển đạt tới độ trưởng thành cả vềsinh lí và tõm lí Đõy là giai đoạn thuận lợi nhất cho các đặc điểm tõm lý của
SV đạt tới đỉnh cao Sự tích cực, sự tự giác của SV sẽ là yếu tố vô cùng quantrọng trong việc hình thành các phẩm chất nhõn cách và nghề nghiệp tươnglai
* Một số đặc diểm của SV năm thứ nhất.
Hầu hết sinh viên năm thứ nhất là những người vừa rời khỏi ghế nhàtrường THPT và bước vào ngưỡng cửa của ĐH, CĐ Thông thường họ có độtuổi từ 17 đến 20 tuổi với sức sống mónh liệt của tuổi trẻ và ước mơ hoài bóotràn đầy Nhõn cách của họ đã và đang phát triển mạnh, họ đã có ý thức vềnhững hành vi của mình
SV năm thứ nhất chưa có được phẩm chất nghề nghiệp chuyên biệtthuộc một nghành nhất định Họ là con em thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội
Do đó các yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi của ảnh hưởng giáo dụccủa gia đỡnh, trường phổ thông, các phong tục tập quán của địa phương vànhững điều kiện sống, sinh hoạt nói chung Vào trường ĐH, CĐ họ đã có một
số phẩm chất tương đối ổn định, phản ánh cho lối sống, phong tục, tập quán
Trang 32của địa phương và tầng lớp gia đình mình trong xã hội Do vậy trong cuộcsống tập thể năm thứ nhất thường có sự va chạm mạnh do tính độc đáo củanhõn cách của tuổi trẻ Trong quá trình làm quen với cuộc sống tập thể đầutiờn ở trường ĐH, CĐ, SV thường có hành vi bắt chước lẫn nhau do hiệntượng tập nhiễm trong một tập thể Ở đõy SV chưa có quan điểm phõn hoá đốivới các vai trò của mình Việc nắm được các đặc điểm nhõn cách SV năm thứnhất có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung, hình thức và phươngpháp tác động đến họ theo hướng hình thành nhõn cách người chuyên giatương lai trong trường ĐH, CĐ Hình thành nhõn cách người chuyên giakhông nằm ngoài quy luật chung là: nhõn cách được bộc lộ, hình thành vàphát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động Trong đó hoạt động họctập đóng vai trò là hoạt động chủ đạo, có ảnh hưởng quyết định đến nhận thứcnghề nghiệp và hoàn thiện nhõn cách của sinh viên.
1.2.3 Những khó khăn tõm lớ trong hoạt động học tập của SV nói chung và SV dân tộc thiểu số nói riêng.
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của HS, SV Nó là một loại hoạtđộng nhận thức, là loại lao động trí óc căng thẳng có cường độ cao Đõy làhoạt động đặc thù của con người giúp con người hình thành, phát triển vàhoàn thiện tâm lí, nhõn cách Do vậy trong quá trình tham gia vào hoạt độnghọc tập chủ thể gặp rất nhiều khó khăn tõm lí, đòi hỏi người học phải huyđộng tối đa những phẩm chất và năng lực tõm lí của bản thõn để khắc phụcđược những trở ngại, khó khăn tõm lớ nhằm tiếp cận được mục tiêu mà bảnthõn đề ra
Thực tế đã chứng minh, người học dù ở lứa tuổi nào khi tham gia vào hoạtđộng học tập đều gặp những trở ngại, KKTL Sở dĩ có những hiện tượng này
là do các yếu tố khách quan và chủ quan gõy ra như ảnh hưởng của đời sống,môi trường, cơ sở vật chất phục vụ cho học tập, năng lực, vốn kinh nghiệm
Trang 33sống bị hạn chế của chủ thể học tập đặc biệt là đối với những đối tượng khivừa chuyển đổi cấp học, phải làm quen với môi trường học tập mới thì nhữngkhó khăn tõm lớ càng nhiều Những KKTL đó nếu không được phát hiện vàtháo gỡ kịp thời thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động học tập của cánhõn Làm cho cá nhõn lo lắng, sợ hói, xấu hổ, tự ti … và cứ thế họ sẽ bịcuốn vào vòng luẩn quẩn của sự bế tắc Điều này không những ảnh hưởng đếnkết quả học tập mà cũn ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của người học.
* Khó khăn tõm lớ trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất
SV năm thứ nhất là những người vừa rời khỏi ghế nhà trường PT, để bướcvào môi trường học tập mới ở ĐH, CĐ Trong hoạt động học tập ban đầu họmang theo cả cách học, thói quen học ở trường PT áp dụng vào hoạt động họctập ở ĐH, CĐ nên họ gặp rất nhiều khó khăn tõm lớ khi tham gia vào hoạtđộng học tập Ở trường PT, học sinh lĩnh hội tri thức đã được biên soạn saocho phù hợp với đặc điểm tõm lí lứa tuổi, nghĩa là chúng đã được SP hoá cao,cũn ở ĐH, CĐ, sinh viên phải tiếp thu những kiến thức cơ bản, hệ thống và cótớnh khoa học cao Do đó, việc chuyển từ học tập ở phổ thông sang ĐH, CĐ
đã gõy ra những biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện thực hiện hoạt động
Khác hẳn với trường phổ thông, tài liệu học tập ở trường ĐH, CĐkhông ngừng được thay đổi, hoàn cảnh trong giảng đường, trong nhà trường,KTX …cũng có sự thay đổi tất cả những thay đổi đó đã gõy cho SV năm thứnhất một loạt những khó khăn tõm lớ làm cản trở đến việc học tập của họ Một
số những khó khăn mà sinh viên năm thứ nhất thường gặp sau:
- Hiểu biết chưa nhiều về nghề sư phạm
- chưa thực sự làm quen với môi trường sinh viên
- Chưa có sự giao lưu hoà đồng với bạn bè
- Cảm thấy khoảng cách quá lớn trong quan hệ giữa giáo viên CĐSP vàsinh viên
Trang 34- Chưa thích ứng với kiểu sinh hoạt, học tập của sinh viên
- cảm thấy có khoảng cách với những bạn là sinh viên dõn tộc kinh
- Chưa thích ứng với phương pháp giảng dạy của giáo viên ở trườngCĐSP
- Quan hệ bạn bè, yêu đương làm ảnh hưởng đến thời gian học tập
- Chưa thực sự tự tin khi đưa ra những chớnh kiến của mình trong học tập
- Cảm thấy không cần phải phấn đấu học tập nhiều mà vẫn được ra trường
đi dạy
Có rất nhiều nguyên nhõn gõy nên khó khăn tõm lớ trong hoạt động họctập của SV năm thứ nhất chúng ta có thể khái quát những nguyên nhõn đónhư sau:
Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Do phương pháp giảng dạy của thầy chưa phù hợp
- Do ít được hướng dẫn về phương pháp học tập
- Do ảnh hưởng của cách dạy cũ ở phổ thông
- Do thiếu sách, giáo trình, tài liệu tham khảo
- Lượng tri thức tiếp thu ở trường ĐH, CĐ quá lớn
- Do tính chất học tập ở trường CĐ mà SV chưa thích ứng được
Nhóm nguyên nhân chủ quan:
- Do bản thân chưa có phương pháp học tập hợp lí
- Do thiếu kinh nghiệm sống, hoạt động một cách độc lập
Trang 35Một trong những khó khăn lớn nhất trong quá trình học tập của SV nămthứ nhất là do họ phải tiếp cận với một số lượng kiến thức lớn, song song với
nó họ phải hình thành được kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp với tính chất chuyênsõu Mục đích, nhiệm vụ học tập đòi hỏi cao nhưng họ lại chưa có kinhnghiệm học tập, họ thường áp dụng những phương pháp học tập đã quen sửdụng ở phổ thông mà những phương pháp này không cũn phù hợp với hoạtđộng học tập ở trường ĐH, CĐ Thực tế cho thấy, SV năm thứ nhất trong quátrình học tập họ thường lấy sự cần cù, chăm chỉ của mình để mong đổi lấy mộtkết quả học tập cao Đôi khi xảy ra với cả những SV học khá, giỏi cũng chưabiết cách lựa chọn, họ thường lấy việc tập trung sức lực chăm chỉ đọc sách,làm bài tập hay nghe giảng trên lớp để thay thế cho phương pháp học tập khoahọc mà lẽ ra họ phải có
Đối với SV năm thứ nhất ở các trường ĐH, CĐ, Ngoài những khó khăntõm lớ chung của SV năm thứ nhất ở các trường ĐH, CĐ, Họ cũn gặp phải rấtnhiều những khó khăn khác mang đặc trưng nghề nghiệp tương lai như: bêncạnh việc lĩnh hội những tri thức chuyên ngành họ còn phải học cách đối nhõn
xử thế, cách giải quyết các tình huống SP… Việc rốn luyện các kĩ năng,nghiệp vụ SP rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của nghềnghiệp sau này của họ Đứng trước những đòi hỏi cao đó thì SV năm thứ nhất
ở các trường ĐH, CĐ sư phạm luôn phải chịu một sức ép rất lớn, đòi hỏi họphải mang hết sức lực và khả năng của mình mới mong hoàn thành đượcnhiệm vụ học tập Thực tế cho thấy, trước những gánh nặng, thử thách nàynhiều SV rất vất vả mới có thể vượt qua, trong đó có không ít SV do khôngbiết cách làm việc, vốn sống, vốn kinh nghiệm hạn chế dẫn đến kết quả họctập ở họ không cao Rừ ràng SV năm thứ nhất phải chịu nhiều căng thẳng,stress do khó khăn tõm lớ trong học tập gõy ra
Trang 36Ở sinh viên dõn tộc thiểu số phần lớn các em chú ý có chủ định pháttriển không cao, khả năng duy trì sự chú ý không bền trong các hoạt động, đặcbiệt là hoạt động học tập chính khoá Những hiện tượng "chú ý giả tạo", "chú
ý hình thức" xuất hiện (bề ngoài các em tỏ ra rất chú ý nhưng trong đầu suynghĩ lung tung không biết học cái gì)
Do khả năng tư duy trừu tượng cũn hạn chế nên trong học tập, các emthường không hay lật đi lật lại vấn đề, phát hiện sai sót hoặc đưa ra những thắcmắc Các em thường có thói quen suy nghĩ một chiều, ngại đi vào những vấn
đề rắc rối, phức tạp, dễ thừa nhận những điều người khác nói Các phẩm chất
tư duy như sự linh hoạt, nhanh nhạy cũn rất hạn chế, khả năng thay đổiphương pháp cũn chậm, nhiều khi máy móc, dập khuôn
Tớnh tích cực giao tiếp của SV dân tộc thiểu số cũn chưa cao trongviệc thiết lập mối quan hệ mới, các em cũn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu tínhchủ động Do đặc điểm nhận thức hạn chế, khả năng ngôn ngữ bị chi phối nên
đã hình thành nờn ở SV dân tộc thiểu số thái độ giao tiếp thờ ơ, lónh đạm(mặc dù bên trong khá tích cực), các em không biết sử dụng phối hợp ngônngữ và cử chỉ, biểu cảm thái độ đúng lúc, đúng chỗ SV dân tộc thiểu số gặpkhó khăn ở hiện tượng song ngữ, đa ngữ Sự giao thoa ngôn ngữ gõy khó khăncho hoạt động nhận thức khi mà công cụ của tư duy bị hạn chế Trong HĐHT,
SV dân tộc thường bị động trong cách học, ngại giao tiếp với bạn bè, với thầy
cô, một phần là do tính tích cực giao tiếp chưa cao của các em chi phối Giữanhu cầu nhận thức với nhu cầu giao tiếp thường không thống nhất Sinh viêndân tộc thường mong muốn được đánh giá tốt, được khen nhưng ngại bộc lộmình, ngại nói, ngại viết Các em thích mở rộng tầm nhìn nhưng lại ngại suynghĩ về những vấn đề trừu tượng, khả năng định hướng trong giao tiếp thiếutrọng tõm, nhiều em mải chơi quên học, thích các hoạt động bề nổi, ít chú
Trang 37trọng vào việc ứng dụng tri thức đã học vào giải quyết các tình huống tronghọc tập.
Tính tự ti là nét tớnh cách thường gặp ở SV dân tộc thiểu số Các emthường mặc cảm mình yếu, kém, lạc hậu không thể học giỏi được Sự tự trọngcủa các em đôi khi thái quá trở thành bảo thủ, hay tự ái, thường có những phảnứng mạnh khi bị xúc phạm, có thể dẫn đến hậu quả khó lường Các em thườngkhó lấy lại lòng tin khi đã mất Trong lối sống, SV dân tộc thiểu số ưa phóngkhoáng, tự do, tự tại, không thích gò bó, nhiều thói quen chưa tốt, tác phong lề
mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp, tính độc lập chưa cao… những yếu tố trên ảnhhưởng không nhỏ đến công tác giáo dục, dạy học khi các em học trong môitrường ĐH, CĐ
Nói túm lại SV năm thứ nhất là những người vừa rời khỏi ghế nhàtrường PT bước vào ngưỡng cửa của các trường ĐH, CĐ với bao bỡ ngỡ, lạlẫm Dường như mọi thứ đối với họ đều khác xa với môi trường sống và họctập ở phổ thông: Nội dung chương trình ngày càng nhiều, phương pháp họctập đòi hỏi phải có tính sáng tạo … Mặt khác SV đến từ nhiều môi trường,hoàn cảnh sống khác nhau, điều này đã gõy ra những KKTL cho SV Nhữngkhó khăn này đối với SV không hoàn toàn giống nhau, có những SV nhanhchóng thích nghi và vượt qua, một số SV khác lại tỏ ra lúng túng, không lựachọn được phương pháp, cách thức học tập hợp lí Từ đó dẫn đến SV rất dễdẫn đến chán nản, bỏ bê nhiệm vụ học tập Vấn đề này thực sự nguy hại đến
sự hoàn thiện nhõn cách của SV
Một thực trạng đáng quan tõm hiện nay ở các trường CĐSP miền núiphớa bắc là chất lượng đào tạo chưa cao, ở các trường CĐSP đó tỉ lệ SV làngười DTTS chiếm tỉ lệ khá cao thường là từ 60% trở lên Có rất nhiềunguyên nhõn dẫn đến thực trạng này, một trong những nguyờn nhõn quantrọng phải kể đến là do giảng viên không hiểu rừ đặc điểm tõm lý của sinh
Trang 38viên dõn tộc nên biện pháp tác động của họ chưa hợp lí Do đó tỡm hiểu đặcđiểm tâm lý của SV dõn tộc thiểu số là một nhiệm vụ quan trọng của nhữngngười làm công tác giáo dục, dạy học ở miền núi Tuy nhiên đõy là một việclàm khó khăn, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu công phu, với cácphương pháp nghiên cứu đặc trưng.
Bên cạnh những đặc điểm hạn chế, sinh viên dân tộc thiểu số cũng cónhững thuận lợi sau:
Bước vào học tập ở trường cao đẳng, SV dân tộc thiểu số đang trong độtuổi phát triển rực rỡ nhất về thể lực, trí tuệ, các phẩm chất nhõn cách của các
em đã được định hình và phát triển tương đối ổn định
Về hoạt động nhận thức, do sống từ nhỏ trong không gian rộng, tiếp xúcnhiều với thiên nhiên nờn mặt nhận thức cảm tính của SV dân tộc thiểu sốphát triển khá tốt Độ nhạy cảm về thính giác, thị giác giúp các em thuận lợihơn trong quá trình tri giác Trong học tập, các em thường trung thực, thẳngthắn, không "dấu dốt", các em rất ham hiểu biết và đặc biệt muốn phấn đấutheo những tấm gương mà các em đã được nghe, thấy trong cuộc sống thựchay là trong lí tưởng Nhờ đó, việc tổ chức các hình thức học tập đa dạng,tham quan, ngoại khoá, tăng cường dạy học trực quan … sẽ giúp phát triển sựhiểu biết, phát huy được tớnh tích cực nhận thức của SV dân tộc thiểu số
Về nhõn cách, tính trung thực, thẳng thắn, mộc mạc, dũng cảm, yêughét rừ ràng có thể coi là đặc điểm nổi bật trong đời sống tình cảm của SVdõn tộc Tình cảm của họ thường thầm kín, ít biểu hiện ra ngoài một cáchmạnh mẽ Thông thường chỉ khi nào xuất hiện những tình huống đặc biệt mớihiểu rừ tình cảm của họ là rất trõn thành
Trong quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội, các em thường coi trọng tínnghĩa, thẳng thắn, thực thà, tớnh tự trọng cao, dễ tin và khi đã tin là tin tuyệtđối khó có gì lay chuyển nổi Trong tình bạn, các em coi đó là thứ tình cảm
Trang 39thiêng liêng được tạo lập bỏi sự tương đồng về hoàn cảnh và sự phù hợp vềtính tình Tình bạn của SV dõn tộc thường rất bền vững và có tác động nhiềumặt đến sự phát triển nhõn cách của các em Nhìn chung SV dân tộc ưachuộng tình cảm, thể hiện là mọi xung đột các em đều muốn giải quyết bằngtình cảm Đõy là đặc điểm cần chú ý trong công tác chủ nhiệm, công tác quản
lý giáo dục ở các trường ĐH, CĐ có SV dân tộc thiểu số theo học
Một nét tính cách khác cũng dễ nhận thấy ở SV dân tộc là sự hồn nhiên,cảm tớnh, hưng phấn cao làm cho các em rất hăng hái, nhiệt tình với các hoạtđộng bề nổi như: thể thao, văn nghệ, yêu lao động nên các em dễ tỡm đượctiếng nói chung và hoà nhập vào tập thể
Về nhu cầu, nhu cầu của SV dân tộc có sự thay đổi khí vào học ở ĐH,
CĐ Do đó việc duy trì được nhu cầu thích học, nhu cầu tự khẳng định mìnhtrong vị trí mới giữ một vai trò rất quan trọng, nó có tác dụng kích thích SVhọc tập Bên cạnh đó, những nhu cầu được khen, chiếm được uy tín trước bạn
bè, nhu cầu được chơi, nhu cầu hoạt động ngoại khoá … đều có tác dụng tíchcực đối với hoạt động học tập
Trang 40CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
2.1 VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Trường CĐSP Sơn La tiền thân là trường trung học sư phạm I tỉnh Sơn
La (thành lập ngày 15/10/1963) được nâng cấp thành trường CĐSP Sơn Latheo Quyết định số 5521/QĐ – BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo ngày 13 tháng 12 năm 2000, đồng thời với việc nâng cấp là việc sáp nhập
3 trường (trường Trung học sư phạm Sơn La; trường cán bộ quản lý tỉnh SơnLa; trường trung cấp mầm non tỉnh Sơn La)
Trường CĐSP Sơn La là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Sơn
La, nằm trong hệ thống giáo dục đại học, cao đẳng thuộc hệ thống giáo dụcquốc dân Nhà trường chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo của Bộgiáo dục & đào tạo Trường Cao đẳng có chức năng đào tạo, bồi dưỡng giáoviên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở cú trình độ cử nhân cao đẳng, cửnhân tin học ngoài sư phạm cho con em các dân tộc trong tỉnh Sơn La và con
em dân tộc các tỉnh phía Bắc nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào; nghiêncứu khoa học giáo dục – đào tạo, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La;biên soạn một số giáo trình địa phương phục vụ cho giảng dạy tại các trươngphổ thông và trường Cao Đẳng Trải qua 7 năm xây dựng và trưởng thành đếnnay trường có 5 khoa, 3 tổ: (khoa tự nhiên, khoa xã hội, khoa quản lý, khoatiểu học - mầm non, khoa thể dục- nhạc- hoạ, tổ chính trị - ngoại ngữ, tổ tâm
lý - giáo dục, tổ thư viện); cỏc phũng chức năng: (phòng tổ chức – hành chính,phòng đào tạo, phòng kế hoạch - tài vụ, phòng quản trị - đời sống) tổng số SV