Nghiên cứu việc xây dựng thương hiệu chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói Nga Sơn không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn có ý nghĩa khoa học sâu sắc, góp phần nghiên cứu mô hình, cách th
Trang 1HỌC VIỆC BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ QUẢNG CÁO
ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHIẾU VÀ CÁC SẢN PHẨM LÀM TỪ CÓI
NGA SƠN TRONG THỜI BUỔI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Người thực hiện: Mai Thị Thúy An Học viên lớp cao học Pr-17
Hà Nội 15 tháng 12 năm 2011
Trang 2A GIỚI THIỆU
1 Lý do chọn đề tài:
Thương hiệu làng nghề không chỉ là thương hiệu quốc gia mà nó còn là thứ mà người dân tại chính làng nghề có thể dựa vào đó để mà làm giàu trên chính quê hương của mình Tuy nhiên, theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Việt Nam có hơn 2.000 làng nghề, nhưng hiện mới chỉ có làng nghề gốm Bát Tràng là đã xây dựng được thương hiệu làng nghề, còn lại các làng nghề khác hầu như vẫn chưa có thương hiệu làng nghề Các làng nghề hiện nay chưa xây dựng được thương hiệu cho mình bởi rất nhiều
lý do Nhưng chủ yếu vẫn là thiếu hiểu hết về ý nghĩa, giá trị của thương hiệu làng nghề, và thiếu sự quan tâm đầu tư xây dựng thương hiệu làng nghề Chính vì thế, muốn thương hiệu làng nghề phát triển thì không chỉ người dân trên chính các làng nghề mà mỗi người dân Việt Nam phải ý thức được giá trị của thương hiệu làng nghề
Từ lâu trong ý nghĩ của người Việt Nam nhắc đến Nga Sơn là nhắc đến quê hương của cói Người Nga Sơn có nghề dệt chiếu cói truyền thống và từ rất lâu trong tiềm thức của người dân nơi đây thì chiếu cói không những giữ vai trò quan trọng mang lại giá trị vật chất mà còn mang những giá trị văn hóa sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nghề Cói Nga Sơn không chỉ nổi tiếng trong dân gian mà trong thị trường tiêu dùng chiếu cói Nga Sơn được người dân ở mọi miền trên khắp đất nước ưa chuộng Trong thời kỳ trước cói Nga Sơn được xuất khẩu sang các thị trường Đông Âu với khối lượng lớn, bây giờ vẫn tiếp tục xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
và Trung Quốc Tuy nhiên do sự cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp hiện đại thay thế và do chưa được đầu tư chú trọng về phát triển thương hiệu nên chiếu và các sản phẩm làm từ cói Nga Sơn đang gặp rất nhiều khó khăn cho đầu ra của sản phẩm Chiếu cói được xếp vào danh mục hàng hóa tiêu dùng thông thường như: nón, mành, rổ rá, vải…còn các sản phẩm khác làm từ cói được xếp vào danh mục đồ thủ công mỹ nghệ như mây tre đan, khảm trai…Đây là những nhóm có thế mạnh xuất khẩu
ở các vùng nông thôn Việt Nam Nếu được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển
thương hiệu cho các sản phẩm thủ công truyền thông thì sẽ mang lại những giá trị to
Trang 3lớn về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Nhất là công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn và phát triển các vùng kinh tế
Nghiên cứu việc xây dựng thương hiệu chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói Nga Sơn không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn có ý nghĩa khoa học sâu sắc, góp phần nghiên cứu mô hình, cách thức và phương pháp xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm của các làng nghề truyền thông ở nước ta Đồng thời có được cái nhìn khái quát tổng thể về việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của các làng nghề truyền thông, đánh giá những mặt tích cực và tiêu cực để đưa ra những giải pháp phù hợp với thời buổi kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
2 Mục tiêu và mục đích của đề tài
Đề tài nhằm nghiên cứu những cơ sở khoa học và giá trị mà xây dựng thương hiệu cho chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói mang lại cho việc gìn giữ và phát triển bền vững làng nghề ở Nga Sơn Đồng thời đề tài nhằm tìm hiểu về thương hiệu và các mô hình xây dựng thương hiệu để từ đó lựa chọn phù hợp nhất với thực trạng, áp dụng cho việc xây dựng thương hiệu làng nghề chiếu cói truyền thống Nga Sơn
3 Phạm vi và ý nghĩa của đề tài
Đề tài tập trung chính vào giải quyết câu hỏi nghiên cứu “Đối với sản phẩm làng
nghề truyền thống như chiếu cói Nga Sơn, mô hình thương hiệu nào là phù hợp và việc
áp dụng ra sao?”
Nghiên cứu và hệ thống một số lý luận cơ bản về thương hiệu và các mô hình thương hiệu điển hình để từ đó có thể lựa chọn được mô hình thương hiệu phù hợp nhất với chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói của làng nghề truyền thống Nga Sơn Tìm hiểu thực trạng của thương hiệu chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói Nga Sơn hiện nay để từ đó phân tích và đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện việc xây dựng mô hình thương hiệu cho chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói Nga Sơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này nhắm mục đích xem xét những mô hình xây dựng thương hiệu nên luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu điển hình để xác định ảnh hưởng của mô hình xây dựng thương hiệu đến việc hình thành thương hiệu cho một sản phẩm Các dữ liệu cần thu thập gồm có dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Dữ liệu thứ cấp được thu
Trang 4thập từ những tài liệu và nghiên cứu có sẵn như: trang web hoặc những bài báo trong lĩnh vực xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống,… Còn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các phương pháp như quan sát, khảo sát, phỏng vấn Trong nghiên cứu này, dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phỏng vấn những
chuyên gia, những người có chức quyền trong việc xây dựng mô hình thương hiệu cho các làng nghề truyền thống
5 Dàn ý
Bài luận văn sẽ được sắp xếp thành 3 phần:
Phần 1 là giới thiệu tổng quan về luận văn Mục tiêu là đem lại một cái nhìn tổng quát về nghiên cứu này, ý nghĩa và thông tin về mô hình xây dựng thương hiệu cho chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói Nga Sơn
Phần 2 là nội dung chính của luận văn, gồm các chương sau:
Chương 1 sẽ trình bày mô hình xây dựng thương hiệu được rút ra từ các nghiên cứu trước liên quan đến xây dựng thương hiệu và ảnh hưởng của nó đến việc gìn giữ phát triển các làng nghề Chương này sẽ bao gồm những nghiên cứu điển hình từ mô hình xây dựng thương hiệu đã có ở các địa phương trong cả nước Chương này cũng sẽ trình bày những tài liệu hỗ trợ cho việc chứng minh các giả thuyết nghiên cứu
Chương 2 sẽ trình bày quá trình nghiên cứu của bài luận văn Chương này sẽ bao gồm những phương pháp để thu thập dữ liệu, phân tích, giải thích đưa ra kết quả
Phần 3 là phần kết luận của luận văn Phần này tổng hợp các kết quả và đề xuất ở các phần trên
B.NỘI DUNG
I Các khái niệm và lý thuyết liên quan
Chương này sẽ cung cấp nhiều các tài liệu của những nghiên cứu trước liên quan đến mô hình xây dựng thương hiệu và giá trị của việc xây dựng, định vị thương hiệu trên thị trường Chương này trình bày chi tiết về khái niệm thương hiệu, nhãn hiệu, phân loại thương hiệu…Để từ đó có được nhận thức đầy đủ về thương hiệu Nghiên cứu thương hiệu và mô hình thương hiệu giúp hiểu được vài trò, ý nghĩa, cách thức xây
Trang 5dựng thương hiệu là một trong những nền tảng đưa ra từng bước cho việc xây dựng thương hiệu cho lĩnh vực sản phẩm khác và giống với xây dựng thương hiệu dòng sản phẩm và cả tập đoàn.Từ đó có được những nhận thức và hiểu biết rõ nét để lựa chọn
mô hình và đưa ra những giải pháp phù hợp để xây dựng thương hiệu chiếu và các sản phẩm khác làm từ cói Nga Sơn
1 Thương hiệu
Từ thương hiệu ( Brand) có nguồn gốc từ chữ Brandr theo tiếng Aixơlen cổ có nghĩa là đóng dấu Xuất phát từ thời xa xưa khi chủ đàn cừu muốn phân biệt đàn cừu của mình với những đàn cừu khác, họ đã dùng từng con dấu bằng sắt nung đỏ lên rồi in lên lừng từng con cừu một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hóa và quyền sở hữu của mình Như thế thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất
Ngày nay thương là buôn bán, hiệu là dấu hiệu nhận biết và phân biệt Như vậy thương hiệu là dấu hiệu đặc trưng của một doanh nghiệp được sử dụng để nhận biết một doanh nghiệp hay một sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định các sản phẩm hay dịch vụ của một hay một nhóm người bán và phân biệt các sản phẩm dịch vụ đó với các đối thủ cạnh tranh
Thương hiệu là khái niệm về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm Thương hiệu
thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức
Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay
một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry…
2 Nhãn hiệu hàng hóa (Trade mark)
Trang 6Bên cạnh thương hiệu của công ty thì nhãn hiệu là dấu hoặc tên gọi của một sản phẩm được đăng ký với luật pháp sử dụng trên thị trường
Nhãn hiệu hàng hóa : Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Một doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc có thể kinh doanh nhiều dịch vụ, như thế một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa
Ví dụ: Công ty Dược và Vật tư y tế Phú Yên (Pymepharco) có các sản phẩm thuốc sau: COLDFLU, GINVITON, EVEROSE,…
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác (Điều 72- Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11)
3 Tên thương mại
Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực
và khu vực kinh doanh (Theo Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 điều 4.21) Khi thành lập một doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải đặt tên và sử dụng tên đó để đăng
ký với cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư) để có thể tiến hành hoạt động
Tên thương mại phải bao gồm các từ ngữ, chữ số phát âm được và một doanh nghiệp chỉ có một tên thương mại (có thể có tên đối nội và đối ngoại)
Ví dụ: Công ty CP thuốc thiên nhiện Việt Nam (Viết tắt: NAPHAVINA.,JSC ) có tên đối ngoại là NATURAL PHARMACY VIET NAM JOINT STOCK COMPANY Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh (Điều 76 - Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11)
Doanh nghiệp có thể đặt tên thương mại đặt tên cho nhãn hiệu hàng hóa
4 Chỉ dẫn địa lý:
Trang 7Là thông tin về nguồn gốc của hàng hoá: từ ngữ; dấu hiệu; biểu tượng; hình ảnh
để chỉ: một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương mà hàng hoá được sản xuất ra
từ đó Chất lượng, uy tín, danh tiếng của hàng hoá là do nguồn gốc địa lý tạo nên (Điều 10- Nghị định 54/2000/NĐ-CP ).Ví dụ "Made in Japan" (điện tử), "Vạn Phúc" (lụa tơ tằm); "Bát Tràng" (gốm, sứ)
Một dạng chỉ dẫn địa lý đặc biệt là "Tên gọi xuất xứ hàng hoá" Nếu chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩm đạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi là "Tên gọi xuất xứ hàng hoá" Ví dụ: "Phú Quốc" (nước mắm)
5 Nhãn hàng hóa:
Chứa các thông tin ghi bên ngoài sản phẩm về tên hàng hóa, tên địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ hàng hóa, thành phần định lượng, thông số kỹ thuật
6 Yếu tố cấu thành thương hiệu
- Phần đọc được
Bao gồm những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác của người nghe như tên công ty, doanh nghiệp (ví dụ như: Gateway, PGrand, 3M ), tên sản phẩm (555, Coca Cola ), câu khẩu hiệu (Slogan) đặc trưng (Tôi yêu Việt Nam), đoạn nhạc, hát và các yếu tố phát âm khác
- Phần không đọc được
Bao gồm những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng (hình bông sen của Vietnam Airlines), màu sắc (màu xanh của Nokia, đỏ của Coca-Cola, hay kiểu dáng thiết kế, bao bì (kiểu chai bia
Henniken) và các yếu tố nhận biết (bằng mắt) khác
7 Bản sắc của thương hiệu
Bản sắc hoặc căn cước của một sản phẩm hoặc một thương hiệu là những giá trị
mà nhà sản xuất/sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tin vào và nhận biết sản phẩm Nhà sở hữu phải tìm cách gắn kết hình ảnh thương hiệu và căn cước của thương hiệu càng gần với nhau càng tốt Những thương hiệu có hiệu quả cao thương biết cách kết nối giữa cá tính của thương hiệu trong quan niệm của đối tượng phục vụ và bản thân chính sản phẩm hoặc dịch vụ nó cung cấp Hơn nữa, thương hiệu cần phải nhằm
Trang 8vào một số nhóm dân cư nhất định Đặc biệt, những thương hiệu có sức sống lâu dài thường là những thương hiệu dễ nhớ, có thể duy trì qua nhiều xu hướng đổi thay, và mang lại một ấn tượng tích cực Bản sắc của thương hiệu là hết sức quan trọng giúp người tiêu dùng nhận ra sản phẩm; nó chính là biểu tượng của sự khác biệt của một thương hiệu so với những sản phẩm cạch tranh khác
Bản sắc của thương hiệu xuất phát điểm vốn là những gì người sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tiềm năng tin vào Thế nhưng qua thời gian, có những bản sắc tự nó phát triển, tích hợp thêm quan niệm của người tiêu dùng, không nhất thiết phải từ quảng cáo Vì vậy luôn cần tìm hiểu về quan niệm của người tiêu dùng đối với một thương hiệu nào đó
Bản sắc thương hiệu cần phải tập trung vào những phẩm chất nguyên gốc
những đặc tính thật có giá trị và những hứa hẹn nó mang lại cũng như cần phải được duy trì bằng những đặc trưng trong quá trình tổ chức và sản xuất
8 Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu
Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu chính là sự quay trở lại của khách hàng với công ty.Những khách hàng trung thành là những vị khách sẽ luôn bên công ty kể cả trong lúc khó khăn.Theo số liệu thống kê thì 80% lợi nhuận của các công
ty đến từ 20% khách hàng trung thành của công ty.Do vậy việc chăm sóc những khách hàng trung thành qua các chiến lược marketing trực tiếp Dịch vụ chăm sóc khách hàng (CRM) luôn được các công ty quan tâm, đặc biệt các công ty trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ
II Nghiên cứu thực tiễn
1 Giới thiệu về làng nghề và mô hình xây dựng thương hiệu của gốm Bát
Tràng.
1.1 Làng nghề
Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng (gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội) Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát nghĩa là chén bát, đồ gốm và chữ Tràng (hay Trường) là chỗ đất dành riêng cho chuyên môn
Trang 9Có nhiều giả thuyết về sự ra đời của làng gốm Bát Tràng, trong đó có một giả thuyết đáng được quan tâm là Làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời hậu Lê, từ
sự liên kết chặt chẽ giữa 5 dòng họ làm gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát như Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm với họ Nguyễn (Nguyễn Ninh Tràng) ở đất Minh Tràng
1.2 Mô hình xây dựng thương hiệu gốm bát tràng
Từ năm 2002, các nghệ nhân Bát Tràng bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng Những thành viên của hiệp hội không chỉ
là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty kinh doanh gốm sứ Thông qua hiệp hội, người Bát Tràng có cơ hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán thời thương mại điện tử và cách nâng cao năng lực cạnh tranh
Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc
Với sự giúp đỡ của nhóm chuyên gia tư vấn nước ngoài đã làm việc với khoảng
400 doanh nghiệp gốm ở Bát Tràng để tìm ra những nét đặc trưng của các sản phẩm và dịch vụ Đó là bàn tay khéo léo, óc sáng tạo của những người thợ lành nghề, những nước men đặc sắc và đặc biệt là mô hình kinh doanh theo kiểu cộng tác liên kết
Sau đó, các chuyên gia tiến hành thiết kế một thương hiệu cho toàn bộ những hộ kinh doanh ở địa phương Đồng thời, lập Trung tâm xúc tiến xuất khẩu gốm sứ Bát Tràng nhằm giới thiệu thương hiệu và các sản phẩm Bát Tràng cũng như cung cấp dịch
vụ có chất lượng tới các khách hàng hiện tại và tiềm năng Một phòng trưng bày sản phẩm quy mô lớn và trang web www.battrang-ceramics.org đã ra đời Các chuyên
Trang 10gia cũng đã tiến hành làm việc với gần 30 đơn vị kinh doanh, đào tạo họ cách sử dụng thương hiệu này
Mang sản phẩm đi tham dự một số triển lãm trưng bày có quy mô quốc tế, đưa các sản phẩm mang thương hiệu Bát Tràng tới những cửa hàng bán lẻ cao cấp
Với từng bước xâydựng thương hiệu cho sản phẩm gốm Bát Tràng truyền thống
đã trở thành sản phẩm đầu tiên và đến nay vẫn giữ vị trí duy nhất tạo dựng được
thương hiệu có vị trí và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
2 Giới thiệu về làng nghề chiếu cói Nga Sơn
Cách trung tâm huyện Nga Sơn khoảng 3 km về phía Đông Nam là một vùng cói bạt ngàn chạy dài nối liền 8 xã Nga Sơn Điểm ưu việt nhất của cói Nga Sơn mà khó có nơi nào bì kịp là sợi cói nhỏ, dài, mềm mại và óng mượt Chiếu được làm từ cây cói, dưới bàn tay khéo léo của người thợ dệt chiếu, xe đay Nga Sơn đã tạo ra một sản phẩm chiếu cói đẹp, phong phú về kiểu dáng, lại gọn, nhẹ, dễ gấp, nằm vừa mát vừa thoáng, giá cả vừa phải nên chiếu Nga Sơn đã có mặt khắp trong Nam ngoài Bắc
Ngày nay “cói Nga Sơn” đã được nhiều quốc gia ưa chuộng với nhiều sản phẩm hấp dẫn khác: chiếu du lịch hai gấp, ba gấp, bốn gấp tiện lợi, giỏ đựng hoa quả, làn, bình hộp có nắp, đệm kiểu dáng thanh thoát, trẻ trung
Nổi tiếng như vậy, nhưng do không lường hết được những khó khăn về thị
trường, nên khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Ðông Âu sụp đổ, những năm đầu của thập niên 90 (thế kỷ XX), chiếu cói Nga Sơn mất dần thị trường, dân vùng trồng cói lao đao Ðứng trước tình hình đó, chính quyền và nhân dân trong huyện đã cùng nhau tìm hướng đi mới để phát triển nghề cói ở đây
Theo đó, chính quyền sở tại đã ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế thúc đẩy nghề dệt cói phát triển, còn nhân dân trong huyện dựa vào những định hướng, nghị quyết đó
để tổ chức sản xuất và tìm kiếm thị trường Bước đầu, toàn huyện Nga Sơn tập trung vào thị trường trong nước và từng bước tiếp cận thị trường Trung Quốc, tiếp đó là Ðài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và thị trường Bắc Âu Giờ đây, Nga Sơn không chỉ có chiếu cói mà còn có hàng chục mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác nhau Trong đó, việc khai thác thị trường Trung Quốc đã mở ra hướng xuất khẩu chiếu cói mới Bởi Trung Quốc là thị trường có những nhu cầu lớn về cói xe (cói sơ chế), hiện đang chiếm trên