Đó là mâuthuẫn giữa những ước mơ, nguyện vọng nghề nghiệp của bản thân với mongmuốn, định hướng của cha mẹ, với nhu cầu nhân lực của xã hội; mâu thuẫn giữaước mơ học Đại học với số lượng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nghề nghiệp là một vấn đề quan trọng trong cuộc đời mỗi con người.Việc có được nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích của cá nhận và nhucầu của xã hội sẽ giúp cho mỗi cá nhân có thể phát triển được tài năng, theo đótạo ra năng suất chất lượng lao động cao Đây cũng là điều kiện quan trọng hàngđầu để đảm bảo cuộc sống cá nhân, cũng như góp phần nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, đảm bảo sự cân đối giữa đặc điểm của cá nhân với yêu cầu củanghề nghiệp và nhu cầu của xã hội đối với các ngành nghề Sự cân đối này sẽgóp phần tạo nên sự ổn định phát triển xã hội
Khoản 1, điều 20 Bộ luật lao động của nước ta đã ghi: “Mọi người cóquyền tự do chọn nghề và học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình” Vìthế mọi thanh niên đều có quyền lựa chọn con đường vào đời, vào nghề mộtcách tự nguyện, tự giác mà xã hội đã giành cho mình Song, ở lứa tuổi thanhniên mà nhất là lứa tuổi 17 – 18 không phải bất cứ ai và bất cứ lúc nào cũng cóthể trả lời được câu hỏi sau khi tốt nghiệp PTH mình sẽ “đi đâu”, làm “nghề gì”.Những quyết định chọn nghề của thanh niên nói chung và của học sinh PTTHnói riêng bị đan xen bởi những mâu thuẫn không dễ gì tháo gỡ được Đó là mâuthuẫn giữa những ước mơ, nguyện vọng nghề nghiệp của bản thân với mongmuốn, định hướng của cha mẹ, với nhu cầu nhân lực của xã hội; mâu thuẫn giữaước mơ học Đại học với số lượng hạn chế mà nhà trường Đại học có thể tiếpnhận Hơn nữa khi bước vào đời, các em học sinh còn chưa có được những thái
độ đúng đắn trước khi lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân mình, các em chưathấy được nghề nào trong xã hội cũng là cao quý, chưa thấy được và còn địnhkiến với những nghề bình thuờng, và chỉ chú ý quan tâm tới những nghề màtheo các em đó là những nghề thời thượng, vinh quang và cao quý Từ đây cóthể dẫn đến rất nhiều sai lầm khi các em chọn nghề Vấn đề đặt ra là: làm thếnào để giúp các em học sinh có được sự lựa chọn nghề một cách đúng đắn vàkhoa học, tức sự lựa chọn đó vừa phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, năng lực
cá nhân vừa phù hợp với nhu cầu nhân lực của nền kinh tế đất nước Chỉ có một
Trang 2hoạt động giúp các em học sinh có được sự lựa chọn nghề một cách đúng đắn,khoa học khi chọn nghề, đảm bảo các yêu cầu nói trên, đó là công tác hướngnghiệp.
Rõ ràng, vấn đề nghề nghiệp đang trở nên tối quan trọng Nó không chỉảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống tương lai của một cá nhân, mà còn ảnh hưởngđến gia đình, đến lợi ích của cộng đồng và của cả đất nước Trong thế kỉ XXInày, nghề nghiệp trong xã hội có những chuyển biến nhiều so với các giai đoạntrước đây Nó trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và đặt các bạn trẻ đứngtrứớc những sự lựa chọn và thách thức để có thể lựa chọn cho mình một nghềnghiệp phù hợp Xã hội mới, thế giới nghề nghiệp mới đòi hỏi mỗi người phải
có trong tay ít nhất một nghề và biết được nhiều nghề, có khả năng di chuyểnnghề nghiệp, có năng lực, tự tạo được việc làm trong bất kì hoàn cảnh sống nào
Vì vậy, các bạn trẻ nhất thiết phải lựa chọn riêng cho mình một nghề nghiệp mộtcách đúng đắn
Để làm được điều này, các bạn trẻ rất cần tới sự hướng dẫn của nhữngngười có kinh nghiệm Sự trợ giúp đó là rất cần thiết để mỗi thanh niên có thể tựlựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp Nói khác đi đó chính là công táchướng nghiệp Chủ thể điều khiển của hoạt động hướng nghiệp cho học sinh cóthể là nhà trường, gia đình, các tổ chức xã hội, trung tâm hướng nghiệp và cácnhóm không chính thức khác của học sinh Xung quanh việc hướng nghiệp chocác em học sinh có rất nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng việc hướngnghiệp cho các em học sinh là vai trò chỉ thuộc về riêng nhà trường thầy cô giáo.Cũng có ý kiến khác lại cho rằng: “Học sinh PTTH ngày càng ít chịu ảnh hưởngcủa gia đình trong định hướng nghề nghiệp của mình Gia đình hiện đại theo xuthế mới là để con em mình tự giải quyết lấy nghề nghiệp trong tương lai”.Những ý kiến đó đều hạ thấp hay không quan tâm đúng mức đến vai trò của giađình, nhất là các bậc cha mẹ với tư cách là chủ thể hướng nghiệp cho con cái
Vì vậy, điều cần thiết hiện nay là phải có những nghiên cứu khoa học cầnlàm sáng tỏ cơ sở lý luận và tìm hiểu thực trạng vấn đề hướng nghiệp cho concái của các bậc cha mẹ Từ đó đưa ra những luận cứ khoa học và những biện
Trang 3pháp hữu hiệu giúp các bậc cha mẹ có thể làm tốt vai trò của mình trong côngtác hướng nghiệp cho con cái, để con cái có được sự lựa chọn đúng đắn trongthế giới nghề nghiệp Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Bướcđầu tìm hiểu thực trạng vấn đề hướng nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹhuyện Văn Giang– tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng vấn đề hướng nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹ huyệnVăn Giang– tỉnh Hưng Yên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Nghiên cứu lý luận: Làm sáng tỏ một số khái niệm có liên quan đế
đề tài:
- Khái niệm nghề nghiệp
- Sự lựa chọn nghề nghiệp
- Khái niệm hướng nghiệp và bản chất tâm lý của hoạt động nghề nghiệp
- Một số đặc điểm tâm lý của các bậc cha ẹm có con học bậc PTTH( nhất là học lớp 12)
4.2 Nghiên cứu thực tiễn:
Nghiên cứu thực trạng vấn đề hướng nghiệp của các bậc cha mẹ huyệnVăn Giang– tỉnh Hưng Yên trên các mặt nhận thức, tình cảm, hành vi cụ thể Từ
đó đề xuất một số khuyến nghị dựa trên cơ sở kết qủa nghiên cứu thực tiễn của
đề tài
Trang 46 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu
có liên quan đến các kái niệm công cụ của đề tài
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi tiến hành điều tra
bằng bản hỏi với các câu hỏi đóng, mở nhằm thu thập thông tin làm cơ sở thực
tế cho đề tài
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Để có thêm thông tin cho đề tài một
cách chân thực và rõ ràng, chúng tôi tiến hành đưa ra một số câu hỏi phỏng vấnsâu một số bậc cha mẹ tại địa phương
6.4 Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng phuơng pháp
này để xử lý những số liệu thu được từ kết quả điều tra
7 Gỉa thuyết nghiên cứu:
Theo nhận định ban đầu, chúng tôi đưa ra một số giả thuyết:
- Đa phần các bậc cha mẹ huyện Văn Giang– tỉnh Hưng Yên đã có nhữngbiểu hiện tích cực đối với việc hướng nghiệp cho con cái
- Một số bậc cha mẹ chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vấn đề địnhhướng nghề nghiệp cho con cái nên chưa có thái độ tích cực hoặc có thái độ sailệch về vấn đề này
Trang 5NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề:
Vấn đề hướng nghiệp là đối tượng nghiên cứu được nhiều nhà tâm lý họctrong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Có thể điểm một số nghiên cứu tiêubiểu từ trước đến nay về vấn đề này
Năm 1849, ở Pháp đã cho ra đời cuốn chỉ dẫn về chọn nghề, trong đó cóphân tích các nghề và những năng lực cần thiết để nắm vững nghề
Năm 1908, Giáo sư của trường Đại học Harvard (Mỹ) là F.Parsons đãthành lập hội đồng hướng nghiệp ở Boston Năm 1910, một hội đồng hướngnghiệp tương tự ở Newyork cũng được thành lập Nhiệm vụ của các hội đồnghướng nghiệp này là nghiên cứu các yêu cầu của nghề đối với con người, tìmhiểu một cách chi tiết về năng lực của học sinh từ đó giúp cho các em học sinhsâu khi tốt nghiệp phổ thông có đựợc sự lựa chọn nghề phù hợp với năng lực vàhứng thú cá nhân
Từ sau Hội nghị quốc tế về hướng nghiệp tổ chức tại Bacelona (Tây BanNha) năm 1921, hướng nghiệp và tư vấn nghề bắt đầu trở thành xu thế chungrộng rãi trên thế giới
Hiện nay, ở các nước tư bản trọng tâm của vấn đề nghiên cứu về công táchướng nghiệp là nhằm mục đích chủ yếu là xác định xu hướng và sự phù hợpnghề của thanh niên đối với nghề này hay đối với nghề khác, và giúp đỡ thanhniên chọn nghề
Trong những năm 1970, nhà tâm lý học lao động người Liên XôE.A.Klimốp đưa ra trắc nghiệm: “Xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tựđánh giá”, với 30 câu hỏi Trong khoảng thời gian này A.E.Côlốmtốc cũng đưa
ra trắc nghiệm đo hứng thú nghề nghiệp với 78 câu hỏi
Ở Việt Nam, từ trước đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến lĩnh vực nghề nghiệp và hướng nghiệp cho các em học sinh Cácnghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau đã đi sâu vào nhiều mảng, nhiều lĩnh
Trang 6vực khác nhau của mối quan tâm hàng đầu này ở lớp trẻ Có thể điểm qua mộtvài công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề này.
Năm 1978, trong cuốn: Một số vấn đề cơ bản về tâm lý học lao động”, cáctác giả đã đề cập đến cơ sở khoa học trong việc tư vấn hướng nghiệp cho họcsinh Đó là việc phải xác định được xu hướng nghề nghiệp thể hiện ở hứng thúnghề nghiệp , khuynh hướng chọn nghề và nguyện vọng vươn lên nắm lấychuyên môn cần học
Năm 1989, Phạm Tất Dong với cuốn Giúp bạn chọn nghề đã đưa ranhững cơ sở khoa học giúp cho các em học sinh lựa chọn cho mình nghề nghiệpphù hợp, đó là trước khi chọn nghề, học sinh phải trả lời đựoc 3 câu hỏi: Tôithích làm nghề gì;Tôi làm đựơc nghề gì; Tôi cần làm nghề gì Từ đó định hướngcho việc chọn nghề nghiệp tương lai cho bản thân một cách phù hợp và đúngđắn
Giai đoạn 1991 đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đếnvấn đề hướng nghiệp cho học sinh Tiêu biểu là:
1 Đề tài KX.0710 nghiên cứu “Ảnh hưởng của nền KTTT đối với việc
hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” do Viện Khoa học giáodục chủ trì đã tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trên một sốđịa phương ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam Về định hướng giá trị của thanh niêntrong lĩnh vực nghề nghiệp và việc làm đề tài đã khẳng định nghề nghiệp và việclàm là mối quan tâm hàng đầu, là giá trị quan trọng của thanh niên hiện nay Kếtquả nghiên cứu cho thấy 73.2% trong số 1542 thanh niên được hỏi cho rằngnghề nghiệp và việc làm là mối quan tâm số 1 của họ, so với 49.2% thanh niênđặt tình yêu và hôn nhân gia đình lên hàng đầu
Nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp và động cơ chọn nghề của thanh niên,
đề tài kết luận thanh niên hiện nay chọn những nghề vừa dễ tìm việc làm vừa cóthu nhập cao Biểu hiện: Thanh niên nông thôn có xu hướng chọn các nghề sảnxuất nông nghiệp nhiều hơn (53.1%) thanh niên thành phố chọn những nghềkinh doanh (36.7%), tài chính (33.7) Đa số thanh niên có động cơ đúng đắn vềlựa chọn nghề nghiệp và tìm việc làm cho mình phù hợp với yêu cầu của xã hội
Trang 7Tuy nhiên, xu hướng chọn nghề của thanh niên còn mang tính tự phát cá nhân,xuất phát từ những nhu cầu, sở thích của cá nhân và nhu cầu trước mắt của thịtrường lao động Sỏ dĩ như vậy là vì vai trò định hướng nghề nghiệp cho thanhniên của xã hội còn mờ nhạt chưa tích cực
Ngoài ra công trình nghiên cứu này còn chỉ ra những mâu thuẫn trongđịnh hướng giá trị về nghề nghiệp và việc làm của thanh niên như mâu thuẫngiữa nguyện vọng muốn có việc làm của thanh niên với khả năng giải quyết của
xã hội., mâu thuẫn giữa hứng thú chọn nghề yêu thích và chọn nghề có thu nhậpcao , mâu thuẫn giữa ý chí lập nghiệp cao và khă năng hạn hẹp về vốn, kinhnghiệm sống
Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu về định hướng giá trị, đề tài này củaKX- 07 đã đưa ra những phân tích và nhận xét khách quan nhất về vấn đề thanhniên và việc làm
2 Trên quan điểm xã hội học, PTS Vũ Đào Quang khi nghiên cứu
“Những vấn đề cấp bách của gia đình nông thôn huyện Nam Ninh” đã tập trungvào việc chỉ ra những giá trị cấp bách và trọng tâm của gia đình nông thôn NamNinh , đặc biệt là giá trị nghề nghiệp
Một số công trình xã hội học khác cũng đi sâu phân tích những khía cạnhkhác nhau có quan hệ đến định hướng nghề nghiệp chẳng hạn như ai là ngườiquyết định lựa chọn nghề nghiệp cho con cái; dự định chọn nghề nghiệp cho conhoặc tác động của những yếu tố đến sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp Đại học ngành Xã hội học của tác giả Nguyễn VănThành mang tên “Định hướng chọn nghề nghiệp cho con cái của các gia đìnhnông thôn Đồng bằng Bắc Bộ trong thời kì đổi mới” đã đưa ra những nhận xétsau:
- Trọng tâm của định hướng nghề nghiệp cho con cái của các gia đìnhnông thôn là vào các ngành nghề có thu nhập cao hoặc có vị trí cao trong xã hội.Các bậc cha mẹ có xu hướng chọn cho con những ngành nghề phi nông nghiệp
- Có sự thay đổi đánh giá về truyền thống “sĩ, nông, công, thương” từ đóhình thành định hướng giá trị mới về nghề nghiệp
Trang 8- Những gia đình hội đủ các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá có sự thay đổi
về nhìn nhận giá trị nghề nghiệp và định hướng chọn nghề cho con rõ rệt hơn sovới các nhóm gia đình khác
3 Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Diệp về định hướng nghề nghiệp
của học sinh PTTH ở Hà Nội” cũng đưa ra những kết luận đáng lưu tâm về vấn
đề hướng nghiệp Trong đó, tác giả xác định: “ Học sinh PTTH ngày càng ítchịu ảnh hưởng của gia đình trong định hướng nghề nghiệp của mình Gia đìnhhiện đại theo xu thế mới là để con em mình tự giải quyết lấy nghề nghiệp trongtương lai”
Nhìn chung 3 nghiên cứu trên cùng với những công trình nghiên cứu khác
mà chúng tôi chưa đưa ra ở đây cho thấy hướng nghiệp cho thanh niên trong đó
có học sinh PTTH, mà nhất là các em học sinh đang học lớp 12 là một vấn đềngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết Tuy nhiên vai trò của gia đình, nhất làcác bậc cha mẹ với tư cách là chủ thể điều khiển hoạt động hướng nghiệp chohọc sinh PTTH (cùng với nhà truờng, các tổ chức xã hội) vẫn chưa được quantâm nghiên cứu một cách đầy đủ và khoa học Vì vậy mà rất cần thiết có nhữngcông trình nghiên cứu khoa học đánh giá đúng vai trò của các bậc cha mẹ trongviệc định hướng nghề nghiệp tuơng lai của con sau này Từ đó nâng cao nhậnthức, tình cảm, hành vi của các bậc cha mẹ đối với vấn đề này, giúp cho việchướng nghiệp cho con cái có hiệu quả, phát huy vai trò của các bậc cha mẹ đốivới việc lựa chọn nghề nghiệp của con cái Chính vì vậy, trong đợt nghiên cứukhoa học này chúng tôi đã chọn vấn đề hướng nghiệp cho con cái của các bậccha mẹ làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Các khái niệm:
2.1 Nghề nghiệp:
Từ xa xưa, ông cha ta đã khẳng định vai trò của nghề nghiệp đối với cuộcđời mỗi con người qua câu tục ngữ: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” (nghĩa làrất thạo 1 nghề, giỏi 1 nghề thì cuộc sống sẽ vẻ vang sung túc) Trên thực tế,trong mỗi con người chúng ta, ai cũng mong muốn cuộc sống của mình đượcđầy đủ, sung túc, song để giỏi 1 nghề, thạo 1 nghề lại không hề đơn giản Muốn
Trang 9giỏi một nghề trước hết phải lựa chọn được 1 nghề phù hợp nhất với hứng thú,năng lực của bản thân và yêu cầu của xã hội Do vậy, để lựa chọn nghề 1 cáchphù hợp mỗi học sinh phải hiểu hết ý nghĩa, tầm quan trọng và bản chất của nó.Vậy nghề nghiệp là gì? Đặc điểm, phân loại của nghề nghiệp ra sao? chúng tacần lần lượt làm rõ những vấn đề này Cụ thể là:
2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp và giá trị của nghề nghiệp
2.1.1.1: Khái niệm nghề nghiệp:
Trong hoạt động sống và lao động, để thoả mãn những nhu cầu vật chất
và tinh thần của mình, mỗi con người cần lựa chọn cho riêng mình một hoặcnhiều loại nghề nghiệp khác nhau tuỳ theo khả năng và điều kiện của bản thân.Nghề nghiệp không chỉ là điều kiện để con người tồn tại và phát triển, mà còn lànơi con người thể hiện ước mơ, lý tưởng và hoài bão của mình Như vậy, chúng
ta có thể hiểu, nghề nghiệp là một hình thức lao động đặc thù của con ngườiđược hình thành, phát triển và tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội
Cùng với sự thay đổi của công cụ sản xuất và sự phân công lao động mànghề nghiệp được thay đổi thường xuyên Trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ,
ở trình độ sản xuất còn thấp kém, con người chỉ biết chế tạo, sử dụng nhữngcông cụ lao động đơn giản, thô sơ, biết lao động để kiếm sống và biết tổ chứcnhau lại thành cộng đồng để cùng tồn tại và phát triển ở thời kì này, xã hội chưaphát triển, khả năng của con người còn hạn chế , nhu cầu của con nguời cũngchưa cao, dẫn đến chưa có sự phân công lao động rõ ràng theo từng chuyên mônnhất định Vì vậy, khái niệm nghề chưa được hiểu một cách rõ ràng và đầy đủ
Khi nền sản xuất xã hội dần dần phát triển, việc sử dụng công cụ bằngkim loại để làm cho năng suất lao động tăng lên, dẫn đến có sự phân công laođộng trong xã hội Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, lao động trí óc tách khỏi laođộng chân tay Từ đây xuất hiện các ngành nghề khác nhau trong xã hội Từmột nghề đơn giản phát triển dần thành nhiều nghề hơn, chuyên sâu và phức tạphơn Trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ, nghề nghiệptrong xã hội có nhiều biến động cả về số lượng và sự đa đạng, có nhiều nghềmới được xuất hiện và cũng có những nghề cũ đã không còn tồn tại Hiện nay,
Trang 10theo thống kê trên thế giới có khoảng “65.000 nghề chuyên môn khác nhau, mỗinghề lại có các ngành nhỏ hơn, thậm chí rất hẹp” Ở Việt Nam, số lượng nghề cótrong xã hội cũng rất đa dạng và phong phú Trong thế giới nghề đó chỉ có một
số nghề được đào tạo một cách chính quy tại các trường nghề, số còn lại là do cánhân được truyền nghề một cách không chính thức từ quá trình lao động hoặc
tự đào tạo, học hỏi Hiện nay trên cả nước có 552 ngành chuyên môn được BộGiáo dục và Đào tạo cho phép các trường nghề được tuyển sinh và đào tạo nghề
Về khái niệm nghề nghiệp, theo từ điển Laroisse của Pháp định nghĩa:Nghề là hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạonguồn thu nhập cần thiết để tồn tại
Theo E.A.Klimốp, nghề là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất vàtinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phâncông xã hội mà có), nó tạo ra kỹ năng cho người sử dụng lao động của mình đểthu lấy những phương tiện cần thiết cho sự tồn tại
Khi định nghĩa về nghề, các tác giả khác đã lưu ý đó là:
Nghề là một hoạt động chuyên nghiệp làm theo sự phân công của xã hội.Người làm nghề phải có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và những phẩm chấttâm lý cần thiết trong lĩnh vực đó thông qua một quá trình đào tạo và tự đào tạo
Như vậy qua những định nghĩa trên, chúng tôi đưa ra một định nghĩa vềnghề như sau:
Nghề là một lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp do sự phân công lao độnh
xã hội quy định, sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người đã được đào tạo và tự đào tạo nhằm tạo ra những sản phẩm cần thiết cho xã hội và tạo ra những điều kiện để phát triển con người trong hoạt động đó.
2.1.1.2 Gía trị của nghề nghiệp:
Nghề nghiệp không tách khỏi giá trị, hay nói đúng hơn nghề nghiệp làmột giá trị Gía trị là cái có ý nghĩa đối với cá nhân, tập thể và xã hội, phản ánhmối quan hệ chủ thể, khách thể, được đánh giá xuất phát từ những điều kiện xãhội – lịch sử cụ thể và phụ thuộc vào trình độ nhân cách Khi đã nhận thức, đánhgiá và lựa chọn, giá trị trở thành một trong những động lực thúc đẩy con người
Trang 11đi theo một xu hướng nhất định Theo nhà xã hội học Mỹ T.H.Fitcher “Tất cảcái gì cáo lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hộiđều có một giá trị”.
Gía trị nghề nghiệp là những quan niệm về nghề nghiệp ( nghề chính,nghề phụ) qua các đặc điểm văn hoá, giá trị tồn tại hiện hữu mang những ýnghĩa chi phối hành vi, thái độ đánh giá như đề cao, coi thấp hoặc miệt thị nghềnào đó
2.1.2 Đặc điểm của nghề nghiệp:
Mỗi một loại nghề nghiệp có những đặc điểm riêng khác nhau, nhưng tựuchung lại, khi tìm hiểu và mô tả một nghề nào đó, chúng ta cần phải đề cập đếnnhững đặc điểm sau:
- Đối tượng lao động: Đối tượng lao động của nghề là hệ thống những
thuộc tính, mối quan hệ qua lại của các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà
ở cương vị lao động nhất định con người phải vận dụng chúng Ví dụ: Đối tựơnglao động chủ yếu của ngành Y là con người và những bệnh lý cụ thể, các triệuchứng, các nguyên nhân dẫn đến bệnh đó
- Mục đích lao động: Mục đích lao động là kết quả mà xã hội đòi hỏi,
trông đợi ở người lao động Mục đích cuối cùng trong lao động phải trả lời đượccâu hỏi: “làm được gì” Ví dụ: Mục đích của việc dạy học là mang lại kiến thức,học vấn cho con người, giúp con người hình thành một số phẩm chất nhân cách.Trong khi đó mục đích của nghề hướng dẫn viên du lịch lại là hướng tới giớithiệu với du khách tất cả những vẻ đẹp, sự hấp dẫn của cảnh quan thiên nhiêncùng với những tông tin về lịch sử ,văn hoá nhằm tạo cho du khách sự thíchthú, tò mò muốn khám phá
- Công cụ lao động: Công cụ lao động bao gồm các thiết bị kỹ thuật, các
dụng cụ gia công, các phương tiện làm tăng năng lực nhận thức của con người,làm tăng sự tác động của con người đến đối tượng đó Ví dụ: Công cụ lao độngcủa nghề giáo viên là tri thức khoa học, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sưphạm, và toàn bộ nhân cách của người thầy giáo
Trang 12- Điều kiện lao động: Điều kiện lao động ở đây được hiểu là những đặc
điểm của môi trường làm việc: làm việc trong nhà hay ngoài trời, nhiệt độ, tiếng
ồn, các chất độc hại cũng như những sự cố nguy hiểm có thể xảy ra Ví dụ: Điềukiện lao động của nghề may là làm việc trong nha hay trong các dây chuyền sảnxuất ở các phân xưởng Vì vậy, nghề thợ may không đòi hỏi sự thích ứng đặcbiệt của cơ thể đối với môi trường làm việc Còn điều kiện lao động của nghềhướng dẫn viên du lịch là thường xuyên phải ở ngoài trời, phải đi nhiều nơi nênđòi hỏi người làm nghề này phải có sức khoẻ tốt, kiến thức xã hội sâu rộng, khảnăng giao tiếp tốt
Ngoài ra nững đặc điểm về quy trình công nghệ, tổ chức quản lý, đặcđiểm tâm sinh lý của người làm nghề cũng không kém phần quan trọng
2.1.3 Phân loại nghề nghiệp:
Hiện nay trong xã hội có rất nhiều ngành nghề khác nhau, việc phân loạinghề không hề đơn giản Tuy nhiên, từ bình diện nhận thức tổng quát có thể nóirằng cách phân loại nghề nghiệp theo yêu cầu của nghề đối với xã hội của tácgiả Phạm Tất Dong – Nguyễn Thế Trường đã được hầu hết các nhà nghiên cứuchấp nhận Theo quan điểm này nghề nghiệp được phân thành 8 loại như sau:
- Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính: Trong lĩnh vực này sẽ có những
cán bộ, nhân viên văn phòng, đánh máy, lưu trữ, soạn thảo văn bản Nghề nàyđòi hỏi con người có đức tính thận trọng, chu đáo, ngăn nắp, tỉ mỉ Mọi tácphong và thói quen cẩu thả, thiếu ngăn nắp đều không phù hợp với nhóm nghềnày
- Những ngành nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người: Ở đây có thể
kể đến nhân viên bán hàng, thầy truốc, thầy giáo Những người này phải luôn
có thái độ niềm nở, cởi mở, chân thành với những người xung quanh Thái độ,hành vi lạnh nhạt, thiếu thông cảm, thiếu thiện chí đều không phù hợp vớinhững ngành nghề này
- Những nghề thợ (công nhân): Tính chất, nội dung lao động của nghề thợ
rất phức tạp và đa dạng Nghề thợ đại diện cho ngành sản xuất công nghiệp Tác
Trang 13phong công nghiệp, tư duy kỹ thuật, tưởng tượng không gian, khéo tay lànhững yếu rố tâm lý cơ bản không thể thiếu được ở những người thợ.
Nghề thợ đang có sự chuyển biến về cấu trúc: lao động chân tay ngàycàng giảm, lao động trí óc ngày càng tăng lên Ở những nước công nghiệp nhưAnh, Mỹ, Pháp số công nhân trí thức đông hơn số công nhân lao động chântay nặng nhọc
- Những nghề trong lĩnh vực kỹ thuật: Nghề kỹ thuật rất gần với nghề thợ.Nghề kỹ thật đòi hỏi người lao động lòng say mê với công việc thiết kế và vậnhành kỹ thuật, nắm chắc những tri thức khoa học hiện đại, có khả năng tiếp thucông nghệ mới Họ còn đóng vai trò tổ chức sản xuất, do đó năng lực tổ chức có
vị trí cơ bản
- Những nghề trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật: Văn học nghệ thuật là
một lĩnh vực hoạt động đa dạng mà tính sáng tạo là một đặc trưng nổi bật Tínhsáng tạo, tính độc đáo và riêng biệt là những yếu tố tiên quyết trong mỗi tácphẩm văn học và nghệ thuật Họ phải có cảm hứng sáng tác, sự tinh tế và nhạybén trong cảm thụ và thể nghiệm cuộc sống; lối sống có cá tính và có văn hóa,gắn bó với cuộc sống lao động và quần chúng Ngoài ra người làm công tác vănhọc nghệ thuật phải có khả năng diễn đạt tư tưởng, tình cảm, năng lực tác độngđến người khác bằng ngôn ngữ, năng lực thâm nhập vào quần chúng và vốn trảinghiệm đời sống phong phú
- Những nghề thuộc lĩnh vực nghên cứu khoa học: Đó là những nghề tìm
tòi, phát hiện những quy luật trong đời sống xã hội, trong thế giới tự nhiên cũngnhư trong tư duy của con người Người làm công tác nghiên cứu khoa học phảibiết say mê tìm kiếm chân lý, luôn luôn học hỏi, tôn trọng sự thật, thái độ thậtkhách quan trước đối tượng nghiên cưú Ngoài ra họ còn phải là những conngười thực sự cầu thị, khiêm tốn, chân thực, bảo vệ chân lý đến cùng
- Những nghề thiếp xúc với thiên nhiên: Đó là nghề bảo vệ rừng, khai thác
gỗ, trồng rừng, trồng hoa và cây cảnh Muốn làm được nghề này con ngườiphải yêu mến thiên nhiên Mặt khác họ còn phải cần cù, chịu đựng khó khăn,thích nghi với hoạt động ngoài trời, cẩn thận và tỉ mỉ
Trang 14- Những nghề có điều kiện lao động đặc biệt: Thuộc lĩnh vực lao động
này có những nghề như lái máy bay thí nghiệm, du hành vũ trụ, khai thác tàinghuên dưới đáy biển Những người làm nghề này phải có lòng quả cảm, ý chíkiên định, say mê với tính chất mạo hiểm, không ngại khó khăn gian khổ, thíchứng với cuộc sống không ổn định
2.2 Sự lựa chọn nghề và bản chất tâm lý của “chọn nghề”
Chọn nghề đối với mỗi cá nhân trước ngưỡng cửa vào đời có một ý nghĩarất quan trọng Nó “không đơn thuần là chọn một công việc cụ thể nào đó màcòn là sự lựa chọn một cách sống, một con đường sống mai sau nữa Nó khôngchỉ có ý nghĩa cá nhân mà còn có ý nghĩa xã hội”
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề, ngay từ lúc 17 tuổi
C Mác đã viết trong bài luận: “Những suy nghĩ của một thanh niên khi chọnnghề” như sau: “Cân nhắc cẩn thận vấn đề này, đó là trách nhiệm đầu tiên củamột thanh niên bước vào đời mà không muốn coi những việc quan trọng nhấtcủa mình là ngẫu nhiên” Còn E.A.Kli mốp cho rằng: “Lựa chọn nghề nghiệp làngày sinh nhật thứ hai của con người, vị trí của nó trong xã hội, sự thoả mãntrong công tác, tình hình sức khoẻ và thể chất cũng như tinh thần, niềm vui vàhạnh phúc đều phụ thuộc vào sự lựa chọn con đường đúng đắn đến mức nào”
Lựa chọn nghề nghiệp là công việc không thể thiếu của mỗi người khibước vào ngưỡng cửa cuộc đời Riêng đối với học sinh PTTH vào năm cuối cấpchọn nghề nghiệp là mối quan tâm sâu sắc, chi phối mọi suy nghĩ, tình cảm, hoạtđộng của các em
Xét trong phạm vi nhà trường phổ thông, khi học sinh quyết định ghi tênđăng kí thi vào một trường Đại học, Cao đẳng hay Trung cấp hoặc nộp đơn xinhọc hay làm một nghề nào đó sau khi tốt nghiệp PTTH chính là một sự lựachọn nghề nghiệp Sự lựa chọn nghề nghiệp của mỗi con người mà trước cuộcsống tương lai của mình mỗi người đều có những suy nghĩ nhất định, mặc dùmức sâu sắc, nghiêm túc của mỗi người là khác nhau
Về bản chất tâm lý của sự lựa chọn nghề, xét trong phạm vi nhà trường,
chọn nghề là một quá trình kết hợp hợp lý các giá trị, hứng thú, khuynh hướng
Trang 15và nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh, là sự tự ý thức và hiểu biết vầ thực tếnghề nghiệp, sự quyết định có căn cứ trong một tình huống lựa chọn cụ thể.
Về mặt lý thuyết, chọn nghề là một quyết định có căn cứ khi, “học sinhquyết định chọn nghề trên cơ sở tính đến ba mặt: Nguyện vọng và năng lực cánhân, những đồi hỏi của nghề nghiệp và những yêu cầu của xã hội” Và toàn bộcông tác hướng nghiệp phải làm sao giúp học sinh tự giác đi đến quyết định này
Từ những phân tích trên, chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về chọn nghềcủa học sinh như sau:
Chọn nghề là một quá trình ra quyết định của học sinh chọn lấy một nghề
để học hoặc đi làm trên cơ sở nhận thức, hứng thú và nguyện vọng nghề nghiệp
Tóm lại khi chọn nghề, mỗi người phải trả lời được 3 câu hỏi sau:
- Tôi thích làm nghề gì? (tức là mình có hứng thú với nghề đó không?)
- Tôi làm được nghề gì? (tức bản thân có năng lực theo đuổi nghề đókhông?)
- Tôi cần làm nghề gì? (tức nghề định chọn có nằm trong kế hoạch pháttriển không?)
Những sai lầm thường mắc phải khi chọn nghề :
Trong khi chọn nghề nghiệp cho tương lai, chúng ta thường mắc phảinhững sai lầm sau:
- Có sự phân biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, nghề thợ vànghề kỹ sư, do vậy mà hướn vào những nghề đào tạo bậc Đại học
- Thành kiến với một nghề nào đó trong xã hội
- Bị hấp dẫn bởi vẻ ngoài của nghề, thiếu hiểu biết nội dung lao động củanghề đó
- Cho rằng đạt thành tích học tập cao trong một môn văn hoá nào đó làlàm được nghề cần đến tri thức của môn đó
- Không đánh giá đúng năng lực lao động của bản thân nên lúng túng khichọn nghề
- Dựa dẫm vào ý kiến cuẩ người khác, không độc lập quyết định chọnnghề
Trang 16- Có quan niệm “tĩnh” về tính chất, nội dung lao động của các lĩnh vựcsản xuất, quên mất sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật ngàynay.
- Thiếu hiểu biết về thể lực và sức khoẻ của bản thân
2.3 Hướng nghệp trong quá trình phát triển nghề nghệp
2.3.1 Sự cần thiết của công tác hướng nghiệp
Công tác hướng nghiệp sẽ giúp cho mỗi cá nhân lựa chọn cho mình mộtnghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của các cá nhân, đápứng mục tiêu kinh tế – xã hội của quốc gia Vì vậy chọn nghề là một vấn đề có ýnghĩa quan trọng không chỉ với cá nhân mà với cả xã hội nữa
Có thể nói, chọn nghề là chọn cuộc đời, chọn số phận Cuộc đời của conngười có ý nghĩa chính là ở chỗ bằng sức lao động của mình, đem lại lợi ích chobản thân và cho người khác Nghề nghiệp mang đến cho con người “nguồnsống” cả ưvề mặt thể chất lẫn tinh thần Cuộc sống của con người và nghềnghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nghề nghiệp là nơi con người thể hiệnước mơ, hoài bão, lý tưởng của mình, là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại củacon người trong xã hội
Nghề nghiệp xưa nay vẫn là nỗi lo, là khát vọng và trăn trở luôn canhcánh từ trong sâu thẳm của biết bao thân phận con người Do đó việc lựa chọnnghề cho phù hợp không chỉ là quyết định quan trọng đối với cá nhân mà còn có
ý nghĩa đối với toàn xã hội Khi có được nghề phù hợp, con người sẽ luôn say
mê, tìm tòi, học hỏi, hăng say sáng tạo, phát huy được khả năng của bản thân;đồng thời tạo điều kiện cho qúa trình hoạt động nghề nghiệp của mình đạt hiệuquả ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Lúc đó nghề nghiệp không còn
là nỗi nhọc nhằn mà trở thành niềm vui, hạnh phúc, sự thoả mãn nguồn cảmhứng và sáng tạo của con người
Thế nhưng, con người không hề dễ dàng gì lựa chọn trong biển nghềmênh mông ấy lấy một nghề xác định Trong thực tế không phải bao giờ thanhniên cũng giải quyết một cách chính xác vấn nghề chọn nghề của mình Thông
Trang 17thường có hai loại nguyên nhân dẫn đến việc lựa chọn nghề không chính xác, đólà:
Một là: Thái độ không đúng với các tình huống khác nhau của việc chọnnghề Ví dụ: Thường thì học sinh hướng vào một nghề có chuyên môn cao nhất,
mà quên rằng, muốn đi tới đó phải qua nhiều bậc thang và phải bước từ nhữngbậc thấp nhất; những kiến thức về tiếng tăm nghề nghiệp; sự ảnh hưởng trực tiếphay gián tiếp của bạn bè đến chọn nghề; di chuyển thái độ đối với người đại diệncho một nghề nào đó sang chính bản thân nghề đó; sự say mê chỉ xuất phát từmặt bên ngoài hay một mặt cục bộ nào đó của nghề nghiệp
Hai là: Sự thiếu tri thức, kinh nghiệm, thông tin về những tình huống như:lĩnh vực hoạt động của nghề, lời khuyên hay hành vi của những người xungquanh
Vậy, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để mỗi nguời có thể lựa chọn cho mìnhmột nghề nghiệp phù hợp, tránh được những thiếu sót, sai lầm kể trên? Đó chính
là công tác giáo dục hướng nghiệp Trên thế gới, phòng hướng nghiệp đầu tiênđược thành lập (Boston) từ năm 1915 Từ 1916 những cơ quan chuyên môn vềhướng nghiệp đã được thành lập ở Đức, Pháp, Anh Khái niệm hướng nghiệp đãđược truyền bá rộng rãi sau hội nghị Quốc tế năm 1921 (ở Barcelona)
Tóm lại, công tác hướng nghiệp có một tầm quan trọng không chỉ dừnglại ở chỗ giúp cho thanh niên có được một nghề mà còn giúp họ chọn cách sốngcho tương lai, chọn con đường sống cho mai sau Chúng ta có thể khẳng định,công tác hướng nghiệp là nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách trong thời đạingày nay, nó cần phải được đẩy mạnh hơn nữa
2.3.2 Khái niệm hướng nghiệp và bản chất tâm lý của hướng nghệp
Bước vào tuổi trưởng thành, mỗi người sớm hay muộn cũng bước vàođời, tìm cho mình một chỗ đứng tương lai có thể đóng góp tích cực cho xã hội
và qua đó, có thể tạo cho mình một cuộc sống tốt đẹp Học xong bậc PTCS vàPTTH một số học sinh sẽ tiếp tục học lên tới trình độ Đại học, trong khi nhiều
em khác có thể đi ngay vào con đường lao động nghề nghiệp Hứong đi trongthực tế sẽ rất đa dạng, phức tạp, song “ việc lựa chọn nghề nghiệp trở thành
Trang 18công việc khó khăn, quan trọng nhất và không thể gạt bỏ được đối với học sinhlớp trên” Để có được sự lựa chọn nghề một cách đúng đắn, mỗi người cần có sự
hỗ trợ, hướng dẫn của những người khác, hay nói khác đi là cần đẩy mạnh côngtác hướng nghiệp cho thanh niên, nhất là các em học sinh
2.3.2.1 Định nghĩa, khái niệm hướng nghiệp
Khi phân tích về nhiệm vụ, nội dung và các hình thức của công tác hướngnghiệp, Giáo sư K.K.Platơnốp đã nêu ra cái gọi là “tam giác hướng nghiệp”.Theo ông, công tác hướng nghiệp là phải nhằm đảm bảo cho học sinh thấy 3 mặtsau:
- Những yêu cầu, đặc điểm của các nghề nghiệp
- Những yêu cầu của xã hội đối với các ngành nghề (còn gọi là thị trườnglao động xã hội)
- Những đặc điểm về nhân cách, đặc biệt là năng lực của bản thân họcsinh
Ba mặt đó cũng chính là nội dung của công tác hướng nghệp, và để thựchiện được các nội dung đó, công tác hướng nghiệp có các nội dung sau: giáo dục
và tuyên truyền nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp và tuyển chọn nghề nghiệp
Qua những phân tích ở trên, khái niệm hướng nghiệp có thể được hiểunhư sau:
Công tác hướng nghiệp là hệ thống các công việc của nhà trường, của gia đình và xã hội nằm xác định phương hướng chọn nghề cho thanh niên Vậy
công tác hướng nghiệp là việc làm của người lớn đối với mọi công dân thuộc lứatuổi lao động nói chung và đặc biệt là đối với thanh niên nói riêng
2.3.2.2 Bản chất tâm lý của hoạt động hướng nghiệp
Bản chất tâm lý của hoạt động hướng nghiệp là một hệ thống điều khiểncác động cơ chọn nghề của học sinh Hệ thống này bao gồm:
- Các chủ thể của sự điều khiển: Nhà trường, gia đình, các nhóm khôngchính thức
Trang 19- Các phương tiện và phương pháp điều khiển: Công tác hướng nghiệpcủa nhà trường, sự giáo dục của gia đình, sự thông tin định hướng nghề của các
cơ quan chuyên môn nhà nước
- Đối tượng điều khiển: Các động cơ và định hướng giá trị của học sinh
- Kết quả điều khiển: Sự sẵn sàng nghề nghiệp của học sinh, cụ thể làchuẩn bị cho học sinh có khả năng chọn nghề phù hợp với đòi hỏi của nghềnghiệp đúng với khả năng của mình và hợp với yêu cầu xã hội
2.3.3 Mục đích của hướng nghiệp
- Mục đích tổng quát là giúp cho mọi người đang trong độ tuổi lao độngnói chung và cho thanh niên nói riêng có được một nghề, có được một tương lai,
có được một con đường sống phù hợp với bản thân; điều này góp phàn hiện thựchoá các mục tiêu kinh tế – xã hội trong những giai đoạn lịch sử cụ thể và chiếnlược phát triển xã hội nói chung
- Vậy, hướng nghiệp trong quá trình phát triển nghề nghiệp nhằm giúpcho mỗi thanh niên lựa chọn được một nghề để học, nghề đó phải thoả mãn cảcác điều kiện khách quan và chủ quan đối với cá nhân trong điều kiện hiện tại vàtương lai
2.3.4 Những nội dung của công tác hướng nghiệp
Công tác hướng nghiệp gồm 3 nội dung cơ bản sau:
- Công tác giáo dục nghề nghiệp
- Tư vấn nghề nghiệp
- Tuyển chọn nghề nghiệp
2.3.4.1 Công tác giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp trong công tác hướng nghiệp là sự tác động có mục đích, có kế hoạch vào thế hệ trẻ, làm cho họ hiểu về các nghề, hiểu được nhu cầu về cán bộ của các nghề, qua đó mà hình thành hứng thú và khuynh hướng với nghề nghiệp nhất định.
Nội dung chủ yếu của công tác giáo dục nghề nghiệp là:
- Tuyên truyền nghề: Tuyên truyền về đặc điểm của nghề nghiệp, phạm viứng dụng của nghề nghiệp, tầm quan trọng của mỗi nghề nhất định
Trang 20- Giáo dục trách nhiệm thanh niên phải tham gia vào các nghề mà Nhànước đang cần đến, đặc biệt là các nghề phải lao động trong các điều kiện khókhăn, nặng nhọc.
- Giáo dục vai trò, vị trí của từng nghề đối với sự phát triển của đất nước
Từ đó thấy được niềm vinh dự của từng nghề
- Giáo dục về quyền lợi, trách nhiệm của các nghề trong hiện tại và trongtương lai Trong nhà trường cần phải tuyên truyền những thành tích đã đạt đượccủa học sinh do nhà trường đào tạo
- Tổ chức hỗ trợ, diễn đàn, triển lãm ngắn hạn có trưng bầy các sản phẩmlao động, công cụ lao động do học sinh tạo ra trong quá trình sáng tạo kỹ thuật
- Tạo điều kiện để phụ huynh học sinh có điều kiện tiếp xúc và tác độnggiáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là giáo dục của nhà trường phổ thông và chuyênnghiệp
Qúa trình thông tin nghề nghiệp cần phải tuân thủ và đáp ứng một số yêucầu sau đây:
- Giúp học sinh định hướng vào những nghề cần phát triển, đặc biệt lànhững nghề đang được quan tâm phát triển ở địa phương
- Gây hứng thú nghề nghiệp ở học sinh, từng bước xoá bỏ những thànhkiến, những quan niệm lệch lạc về một số nghề trong xã hội
- Tạo điều kiện để học sinh phát triển năng lực kỹ thuật tương ứng vớihứng thú nghề nghiệp đang hình thành
- Làm cho mỗi học sinh có thái độ đúng đối với lao động nghề nghiệp,biết tôn trọng người lao động và có ý thức bảo vệ của công, bảo vệ thành quả laođộng của người khác
2.
3.4.2 Tư vấn nghề nghiệp
Tư vấn nghề nghiệp là gì? Là hệ thống những biện pháp tâm lý – giáo dục
để chuẩn đoán, phát hiện và đánh giá những năng lực về nhiều mặt của người được tư vấn nhằm giúp họ chọn nghề một cách có hiểu biết.
Đây là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời khuyêncủa những nhà chuyên môn đối với việc lựa chọn nghề Thông thường, người ta
Trang 21thành lập những ban tư vấn nghề nghiệp trong trường học hoặc trung tâm tư vấnnghề nghiệp ngoài nhà trường Tại đó, người ta nghiên cứu, theo dõi sự pháttriển những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, đối chiếu những đặc điểm đó vớiyêu cầu của các nghề rồi giới thiệu một số nghề nên chọn Tại những trung tâm
tư vấn nghề nghiệp ở nhiều nước, học sinh đến đó nhiều lần trong thời gin họcmột cấp học Người làm công tác tư vấn lập sổ hướng nghiệp cho từng học sinh,trong đó có đủ những mục cần thiết liên quan đến việc chọn nghề Sau mỗi lầntiễp xúc với học sinh, người làm tư vấn ghi lại những gì cần thiết để cuối cùng,trên cơ sở đó mà cho học sinh những lời khuyên chọn nghề bổ ích, thiết thực
Ở nước ta hiện nay, việc tư vấn nghề cho thanh thiếu niên nói riêng vàcho mọi người trong cộng đồng nói chung là một trong những việc làm rất cấpbách, công việc này cần phải đảm bảo một số tiêu chí sau:
- Thông qua tư vấn nghề nghiệp, thế hệ trẻ có những hiểu biết về nghề, từ
đó xác định nghề cho bản thân một cách phù hợp; nghĩa là chọn nghề có căn cứkhoa học và phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội
- Tư vấn nghề cần được tiến hành ngay khi học sinh còn đang học trongnhà trường phổ thông Đây là sự góp sức của các thầy, các cô, các nhà chuyênmôn của các trung tâm tư vấn nghề
- Tư vấn nghề có tầm quan trọng không chỉ đối với cá nhân mà với cả sựphát triển xã hội nên cần tiến hành với từng cá nhân học sinh nhằm đảm bảo sựphù hợp trong mối quan hệ: Cá nhân – nghề nghiệp – xã hội
2.3.4.3 Tuyển chọn nghề nghiệp (tuyển chọn đầu vào cho học nghề)
Tiến hành khi thanh niên, học sinh chuẩn bị xin đi học, hoặc thi tuyển vàocác trường chuyên nghiệp và dạy nghề Và cả giai đoạn đầu khi các em học ở cơ
sở đào tạo nào đó
Tuyển chọn nghề nghiệp có mục đích xác định sự phù hợp nghề củangười dự tuyển Ở đây, sự phù hợp nghề nghiệp được hiểu cả theo nghĩa nhữngyêu cầu của thị trường lao động Đó là:
-Xác định về mặt sức khoẻ
- Xác định lứa tuổi
Trang 22- Xác định nguyện vọng của người xin học.
- Xác định năng lực và các phẩm chất khác xem có phù hợp với các ngànhnghề cần đào tạo cho họ hay không
Thực chất của tuyển chọn nghề nghiệp là căn cứ vào nhu cầu nhân lực củamột nghề cụ thể mà đi tìm những người có đặc điểm nhân cách phù hợp Trongtrường phổ thông, mọi việc thuộc lĩnh vực tư vấn nghề nghệp và định hướngnghề nghiệp lại phải tạo ra những cứ liệu cần để tạo ra những điều kiện thuận lợicho việc tuyển chọn nghề nghiệp sau này Ví dụ, nếu mỗi học sinh đều có một
sổ hướng nghiệp khi tuyển các em vào các truờng dạy nghề, vào các trườngtrung cấp chuyên nghiệp hoặc Đại học, vào nhà máy xí nghiệp, chắc chắn đó sẽ
là những cứ liệu quan trọng để tham khảo
Như vậy là, hướng nghiệp có hai nhiệm vụ vơ bản: tìm một nghề phù hợpnhất với những khả năng của các cá nhân và thoả mãn nhu cầu nhân sự cho tất
cả các lĩnh vực nghề nghiệp ở cấp độ quốc gia Cá nhân cần phải được thông tinđầy đủ về những yêu cầu, những sự thoả mãn, những khó khăn của một nghề màanh ta đang quan tâm bằng nhiều cách khác nhau: tham quan các nhà máy,nghiên cứu các tài liệu, chuyên khảo có liên quan tới nghề, tham dự các cuộc hộithảo, các cuộc họp của nhà máy
Ba mặt trong nội dung công tác hướng nghiệp trên cho thấy, giữa việchướng nghiệp và việc tuyển chọn nghề nghiệp không có ranh giới rõ rệt, đặc biệttrong các lĩnh vực nghiên cứu các khả năng của cá nhân thì cả hai quá trình này
sử dụng cùng một hệ thống phương pháp Ngoài ra một loạt điều kiện gắn liềnvới sự phát triển của các xí nghệp công nghiệp làm cho các vị trí lao động ngàycàng được mở rộng, phong phú hơn và điều này khiến cho việc tuyển chọn nghềnghiệp ngày càng sát lại gần với việc hướng nghiệp Trong khi tuyển chọn, nhìnchung người ta không đặt vấn đề chấp nhận một thí sinh và loại bỏ một số khác,
mà đặt về vấn đề phân bố họ cho phù hợp với các vị trí lao động tương ứng căn
cứ vào các chức năng vốn có của họ
Trang 232.3.5 Các nguyên tắc của hướng nghiệp và một vài quan điểm về định hướng nghề hiện nay
2.3.5.1 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động hướng nghiệp
Khi tiến hành hoạt động hướng nghiệp, chúng ta cần phải đảm bảo một sốnguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hình thành, giáo dục: Sự thích hợp nghề được hình thànhtrong hoạt động, do vậy cần phải đào tạo, giáo dục cho con em có khả năngthích ứng nghề nghiệp
- Nguyên tắc tôn trọng như nhau đối với các loại lao động khác nhau
- Nguyên tắc kết hợp công tác theo nhóm với công tác cá nhân, công táccủa nhà trường đối với công tác xã hội, gia đình nhằm đưa việc hướng nghiệpđến từng học sinh
- Nguyên tắc xem hướng nghiệp như là một khâu hữu cơ của việc giáodục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ
- Nguyên tắc đảm bảo quyền độc lập và tự giác lựa chọn nghề nghiệp củahọc sinh gắn liền với việc đánh giá thực tế tình huống cụ thể của cuộc sống
- Nguyên tắc tích cực hoá lập trường sống của học sinh trong việc tự xácđịnh nghề nghiệp và quyết định nghề nghiệp tương lai của mình
2.3.5.2 Một vài quan niệm về định hướng nghề nghiệp hiên nay
Dưới đây là một vài quan niệm cơ bản về hướng nghiệp mà chúng tôi đãthu thập được trên các phương tiện thông tin đại chúng:
- Saigonnet: Để chọn trường, chọn nghề, học sinh PTTH cần phải trang bị
+ Năng lực và tính chất mà nghề đòi hỏi ở người hành nghề
+Những thông tin về đào tạo và tuyển sinh
- Trang Wed về thi cử của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
Trang 24Để định hướng nghề nghiệp tương lai đúng đắn, mỗi người cần phải trảlời 3 câu hỏi về thiên hướng cá nhân, lợi ích tài chính và khả năng thành công.Tức là phát hiện thiên hướng cá nhân là gì, mức độ quan tâm đến công việc vàhướng phát triển nghề nghiệp như thế nào, khả năng phát triển trong một lĩnhvực nào đó cũng là điều có ý nghĩa ngay cả khi trái ngành Lợi ích tài chính màngành nghề đem lại cũng cần phải đuợc cân nhắc kỹ lưỡng Nguồn tài chính mà
nó mang lại có đáng kể hay không Sau cùng nên lường trước mức độ thànhcông của nghề
- Góc học sinh, sinh viên: Bố mẹ định hướng nghề nghiệp cho con phải
căn cứ vào 4 yếu tố: năng khiếu của con, lòng nhiệt tình, hoàn cảnh (sức khoẻ,điều kiện kinh tế gia đình), và hiệu quả làm việc
2.3.6 Thực trạng hoạt động hướng nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua
Với đánh giá trong đề tài khoa học nghiên cứu động cơ chọn nghề của họcsinh PTTH của tác giả Phạm Nguyệt Lãng, kết quả cho thấy phần đông học sinhPTTH chọn nghề theo đúng hứng thú cá nhân, theo sự phù hợp khả năng cánhân với nghề nghiệp, nghề có điều kiện học lên, nghề được xã hội coi trọng Từ
số liệu của một cuộc điều tra học sinh PTTH năm 1981 thấy 89.4% trong số các
em được hỏi thích vào Đại học, Cao đẳng, đến năm 1996, con số này là 91.2%,chỉ có 3.9% thích học nghề Giáo sư Phạm Tất Dong khẳng định: Việc chọnnghề của học sinh PTTH còn nhiều lệch lạc, biểu hiện ở tâm lý chuộng bằngcấp, chọn nghề theo ý thích chủ quan và cảm tính, có khi a dua theo trào lưu thờithượng trước mắt, lệ thuộc vào ý kiến của gia đình, thiếu thực tế Đồng thời việcchọn nghề đào tạo sau khi ra trường chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường laođộng Chính điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinhviên tốt nghiệp Đại học chưa có việc làm ngày càng gia tăng, năm sau cao hơnnăm trước Chúng ta có thể dẫn ra một vài con số:
Hơn 60% sinh viên ra trường chưa có việc làm, trong số những người tìmđược)
Trang 25Năm 1993, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 7830 kỹ sư, cử nhân,bác sĩ ra trường không có việc làm, 2% trong đó có trình độ khá giỏi, 20% họcnhững ngành ít có nhu cầu tuyển dụng.
Đại học Y Hà Nội từ năm 1987 đến năm 1991 có tới 1000/1600 bác sĩ ratrường không có việc làm, trong khi mới chỉ có 17.7% tổng số trạm xá xã trên cảnước có bác sỹ Tháng 5/2002 con số này lên tới 52.7%
Những con số mà chúng tôi đưa ra ở trên cho thấy rằng thực tế công táchướng nghiệp chưa được chú trọng Vì vậy trong nững năm tới để hạn chếnhững tình trạng trên, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác hướngnghiệp Giáo dục hướng nghiệp cần thiết phải trở thành trách nhiệm chung củagia đình, nhà trường và xã hội
2.4 Một vài đặc điểm tâm lý của các bậc cha mẹ có con học bậc PTTH
2.4.1 Khái niệm gia đình
Đóng vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân và với toàn xã hội, gia đìnhtrở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: Tâm lýhọc, xã hội học, giáo dục học
Theo lịch sử ngôn ngữ, từ “gia đình” xuất hiện từ thế kỉ thứ XVI nhưngcho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn toàn được công nhận
Ở góc độ vĩ mô, xã hội học coi gia đình là một thiết chế xã hội, là mộtđơn vị cơ sở được mọi người công nhận để thực hiện những chức năng xã hộinhất định, mà trước hết là sự tái sinh các đặc trưng của loài người(M.Horkheimer)
Ở góc độ vi mô, gia đình thường được mô tả là nhóm gồm một cặp vợ –chồng chung sống với lớp kế cận trực tiếp của họ Tuy nhiên định nghĩa này đãquá nhấn mạnh về mặt sinh học và chỉ thu gọn khái niệm gia đình về gia đìnhhạt nhân mà chưa đề cập đế sự gắn bó, giúp đỡ nhau giữa các thành viên tronggia đình, trong khi trên thực tế đây mới là tiêu chuẩn của một gia đình thực sự
Nhà nghiên cứu người Ba Lan J.Szepanski coi gia đình là một nhómnhững người gắn bó với nhau bằng qua hệ vợ chồng và huyết thống, đó là haiquan hệ cơ bản quyết định sự hình thành và tồn tại của gia đình
Trang 26Cho đến nay, định nghĩa về gia đình của E.Bocghex và H.Lốccơ đượcthừa nhận nhiều hơn cả: “Gia đình là một nhóm người liên kết với nhau bởinhững mối liên hện hôn nhân, máu mủ hay nhận con nuôi, tạo thành một hệriêng biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua các vai trò xã hội của từngngười (cha, mẹ, con, em) tạo thành một nền văn hoá chung.
Ở Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Gia đình là sự liên kếtcủa niều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền vànghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quyết tâm giúp đỡ nhau về cả vật chất vàtinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của nhà nước
và xã hội”
Như vậy, cho dù khi định nghĩa cụ thể về gia đình có nhiều quan điểmkhác nhau song tựu chung lại, ta có thể thấy: Gia đình là một nhóm đặc biệt, nóbiểu hiện một cấu trúc vai trò nhất định: bố mẹ, con cháu, con em Với gia đình
sự tách biệt về giới tính (nam/nữ) và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình đa thế
hệ hay một thế hệ Qua gia đình đã chuyển hoá mối quan hệ hợp tác và đoàn kếtrất đặc biệt mà tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ thành lập của nó Hơnnữa, xã hội cũng giao cho nhóm này những chức năng rất đặc biệt
2.4.2 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình
Nếu quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ pháp lý hôn nhân thì quan hệ giữacha mẹ và con cái là quan hệ tràn đầy tình cảm yêu thương chăm sóc như một lẽ
tự nhiên “cá chuối đắm đuối vì con, nhưng lại đầy ý thức trách nhiệm và nghĩa
vụ trước xã hội Nói đến trách nhiệm làm cha là nói đến thiên chức thiêng liềngcao cả nhất của loài người và của mỗi con người Ngoài thiên chức ấy cha mẹcòn có trách nhiệm nặng nề của một công dân đối với đất nước, dòng họ, đối vớigia đình và đối với bản thân Trách nhiệm làm cha lèm mẹ xuất phát từ tráchnhiệm của công dân đối với cộng đồng xã hội Gia đình vốn được coi là tế bàocủa xã hội, bởi vậy gia đình có tốt thì xã hội mới tốt đẹp Đó cũng là lý lo tại saogia đình luôn tìm được chỗ đứng ở mọi chế độ xã hội Từ chế độ phong kiến xưakia đã đề ra nguyên tắc: tu thân, tề gia sau đó mới đến trị quốc và bình thiên hạ.Ngày nay, xã hội đòi hỏi mỗi gia đình phải có trách nhiệm xây dựng gia đình
Trang 27mình thành gia đình văn hoá và nhất là phải có trách nhiệm nuôi dạy con cáithành những công dân tốt, có ích cho xã hội Tuy nhiên khi xét về mối quan hệgiữa cha mẹ và con cái trong gia đình thì đặc trưng nổi bật nhất chính là lòngyêu thương một cách tự nhiên và tự nguyện Theo Bowlby: “Những sự phục vụcủa cha mẹ đối với con cái tự nhiên đến nỗi là tầm quan trọng cực kỳ của chúng
bị lãng quên Không có mối quan hệ nào giữa người với người lại đem đặtnhững người này phụ thuộc vào những người khác một cách vô điều kiện và liêntục như vậy” Mỗi con người từ khi còn nằm trong bụng mẹ cho đến khi trưởngthành luôn được hưởng sự chăm sóc, tình yêu thương, lo lắng của các bậc sinhthành
Chính tình yêu thương và công lao to lớn của cha mẹ là nhân tố quantrọng nhen nhóm và nuôi dưỡng những phẩm chất đạo đức cho con cái: lòngnhân ái, những cảm xúc yêu thương, ý thức nghĩa vụ, đạo lý làm người Nhiềunhân cách lớn đã được hình thành ngay từ tuổi ấu thơ, trên cánh võng với tiếng
ru ngọt ngào, tha thiết yêu thương của mẹ Nhiều con người đã trở thành vĩnhân, anh hùng do ảnh hưởng của đức tính kiên trì, dũng cảm và đức độ củangười cha Thực tiễn đời sống xã hội cho phép chúng ta tin tưởng rằng gia đìnhcùng những mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ là trường học đầu tiên giáo dụctrí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ cho con người Đứa trẻ trong gia đình là concủa cha mẹ nhưng đồng thời cũng là người công dân tương lai của đất nước Vìvậy, ngoài việc chăm sóc và yêu thương con cái, cha mẹ còn có nghĩa vụ hết sứcnặng nề đó là giáo dục con cái mình trở thành những người công dân có ích cho
xã hội Khi đó con cái sẽ trở thành niềm vui, niềm tự hào, hạnh phúc của các bậccha mẹ
Mỗi một bậc cha mẹ lại có cách dạy con khác nhau hình thành nên nhữngđịnh hướng giáo dục con cái cũng khá nhau Cuộc khảo sát 200 hộ gia đình ở 2phường Ngô Thì Nhậm và phường Yên Phụ do trung tâm nghiên cứu khoa học
về gia đình và phụ nữ tiến hành 1995 về định hướng giáo dục con cái trong giađình đã cho kết quả là:
93.9% người được hỏi cho rằng giá trị đạo đức đứng hàng đầu
Trang 2878.2% người được hỏi cho rằng giá trị văn hoá đứng thứ hai.
73% người được hỏi cho rằng có nghề nghiệp chuyên môn đứng thứ ba.25% người được hỏi cho rằng giá trị làm ra tiền và có địa vị xã hội
Mọi quan hệ cha mẹ – con cái không chỉ là mối quan hệ một chiều hướng
về con mà còn thể hiện qua tình yêu thương, thái độ kính trọng trong cách cư xửcủa con cái đối với cha mẹ Thông qua cách cư xử đối với cha mẹ có thể vẽ lênbức chân dung khái quát về đạo đức của người con Cha mẹ là người sinh thànhdưỡng dục, vượt bao gian khó vì con mà không nhận được sự trân trọng yêuthương thì người con đó làm sao có được lòng yêu mến với những người xungquanh, làm sao có đuợc tình yêu thương đối với quê hương đất nước Như vậylòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ chính là bài học đạo đức đầu tiêntrong suốt qúa trình hình thành nhân cách của mỗi người
2.4.3 Một số đặc điểm tâm lý của các bậc cha mẹ có con học bậc PTTH (đặc biệt là có con học lớp 12)
Trên cơ sở những vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái đã trình bày ởtrên, ta có thể rút ra một số đặc điểm sau về nhu cầu nguyện vọng của cá bậc cha
mẹ đối với con cái đang học bậc PTTH:
- Các bậc cha mẹ xem xét con cái ở độ tuổi 15 – 18 như một bước chuyển
từ trẻ con thành người lớn Vì vậy học hỏi ý kiến con mình về một số việc quantrọng của gia đình, giao cho các em những công việc nặng Họ biểu lộ sự tintưởng và luôn nhắc nhở rằng con đã lớn Mặt khác họ cũng tôn trọng ý kiến vàcác mối quan hệ bạn bè của con, cho rằng đã đến lúc trẻ phải tự quyết định lấycuộc đời của mình
- Mặt khác, bố mẹ cũng cho rằng con cái chưa thực sự trưởng thành, còncần rất nhiều sự hỗ trợ, khuyến khích của gia đình
- Tương lai con mình sẽ làm gì là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha
mẹ có con cái đang học bậc PTTH (đặc biệt là các bậc cha mẹ có con học lớp12) Cho nên, bố mẹ lo lắng khi con học hành chểnh mảng, ham chơi hoặc antâm, phấn khởi khi con chăm chỉ học tập, ngoan ngoãn Đối với họ, đây là thời
kì quyết định tương lai của con Họ có thể tạo mọi điều kiện vật chất và tinh
Trang 29thần cho việc học tập của con Mối quan tâm này đồng nghĩa với việc cha mẹhướng nghiệp cho con Trong những năm gần đây, đa số các bậc cha mẹ ở nước
ta mong muốn con mình học lên bậc Đại học, Cao đẳng như một đường lậpnghiệp duy nhất
- Cùng với mối quan tâm về nghề nghiệp, bố mẹ cũng quan tâm đến việcdạy dỗ, uốn nắn cách ứng xử cho con cái, nhất là việc chuẩn bị hành trang cầnthiết cho con bước vào đời Họ mong muốn con mình sẽ vững chãi trước nhữngkhó khăn của cuộc đời và sống có ích cho xã hội
Trang 30CHƯƠNG II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.Tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng, gồm 7 huyện: KiếnXương, Thái Thụy, Đông Hưng, Vũ Thư, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Hưng Hà vàthành phố Hưng Yên (trực thuộc tỉnh)
Tỉnh Hưng Yên có diện tích không lớn (1573.8km2) nhưng dân số lạiđông (477.000 người) Trước thời kỳ đổi mới Hưng Yên là một tỉnh thuần nông,cùng với xu hướng mở cửa của nền kinh tế đất nước, tỉnh đã thực hiện nhiềuchính sách quan trọng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước kết hợp với việcphát huy nội lực của tỉnh để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tếcủa tỉnh, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đến nay,tỉnh Hưng Yên đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng với hệ thống cơ sở vậtchất khá phát triển trong đó phải kể đến hệ thống giao thông đường bộ đượcđánh giá là tốt nhất cả nước Nhiều khu công nghiệp đã được hình thành nhưkhu công nghiệp Tiền Hải, khu công nghiệp Phú Khánh, Khu công nghiệpNguyễn Đức Cảnh Ở đó tập trung nhiều công ty sản xuất và kinh doanh nhiềusản phẩm khác nhau, đặc biệt là những sản phẩm may mặc như giầy da, quần áo
Với sự phát triển đó, Hưng Yên đã đạt được nhiều điều kiện cần thiết đểthị xã Hưng Yên – trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của tỉnh được nâng lêncấp thành phố loại ba vào ngày 30/6/2004
Tuy nhiên, để trở thành một tỉnh công nghiệp với nền kinh tế phát triểncao, Hưng Yên còn phải phấn đấu Một trong những biện pháp, chính sách quantrọng của thực hiện mục tiêu đó, của tỉnh là chính sách về nguồn nhân lực (vìnguồn nhân lực dồi dào là một thế mạnh hàng đầu của tỉnh)
2 Huyện Văn Giang
Văn Gianglà một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Hưng Yên, phía bắcgiáp huyện Đông Hưng, phía Đông và phía Nam giáp Tiền Hải, phía Tây giápthành phố Hưng Yên, là địa bàn cư trú của 240.000 người
Trang 31Trên địa bàn huyện Văn Giangcó 39 xã, thị trấn đó là: Lê Lợi, Nam Cao,Hồng Thái, Vũ Thư, Vũ Lạc, Vũ Sơn, Vũ Tây, Vũ Thắng, Vũ Lễ, Quốc Tuấn,Quyết Tiến, Trà Giang, Bình Minh, Bình Thanh, Quang Lịch, Đinh Phùng… vàthị trấn Kiến Xương Cũng như các huyện khác thuộc tỉnh Hưng Yên, hoạt độngkinh tế chủ yếu của huyện Văn Gianglà trồng lúa nước Toàn huyện có 13.000
ha lúa canh tác Sản lượng lương thực đáp ứng được nhu cầu toàn huyện và cácnơi khác Đó là do việc huyện Văn Giang đã tích cực áp dụngcác thành tựukhoa học kỹ thuật tiến tiến (giống mới, thuốc trừ sâu, kỹ thuật canh tác) vào lĩnhvực sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, nhắc đến huyện Văn Giangta không thểkhông nhắc tới một huyện có sự phát triển mạnh mẽ về các ngành nghề thủ côngtruyền thống Trong toàn huyện Văn Giangcó tất cả 65 làng nghề truyền thốngđược nhiều người biết đến như chạm bạc - Đồng Xâm, mây tre đan – ThượngHiền, dệt đũi – Nam Cao, dệt chiếu – Quang Lịch Những ngành nghề thủ côngtruyền thống này đã tạo ra việc làm cho một bộ phận lớn nhân dân trong huyệnvào những thời gian nhàn rỗi, từ đó góp phần nâng cao thu nhập, đời sống củanhân dân Cùng với đó trong những năm qua, nhờ sự cố gắng của toàn Đảng bộ
và nhân dân điạ phương, huyện Văn Giangđã đạt được nhiều thành tựu mới trêntoàn bộ các lĩnh vực thuộc đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Đó là cơ
sở quan trọng quá trình đổi mới theo số liệu điều tra, mức tăng trưởng kinh tếcủa huyện bình quân qua 5 năm từ 2000 – 2005 là 7.84% - một con số khá cao
Cơ cấu kinh tế cũng có sự biến chuyển theo hướng ngày càng trở nên hợp lýhơn, theo xu thế chung của đất nước và của thế giới Cũng theo số liệu điều tratrên, cơ cấu kinh tế của huyện Văn Giangtrong thời gian qua như sau: 52% nôngnghiệp, 28% tiểu thủ công nghiệp, và 20% dịch vụ Về giáo dục, huyện VănGiangcũng đã được những tựu to lớn Trên địa bàn toàn huyện có khoảng 50%
số trường đạt chuẩn quốc gia, nền giáo dục của huyện đang tiến tới phổ cậptrung học trong độ tuổi Tỷ lệ học sinh cấp 3 của huyện là khoảng 70% trong đóhàng năm có khoảng 50% trong số đó vào học tại các trường Đại học, Cao đẳngtrong toàn quốc Đó là sự nỗ lực lớn của ngành giáo dục huyện Kiến Xương
Trang 32Về y tế, huyện Văn Giangcũng đã có những thành tựu đáng kể như tất cả
39 xã, thị trấn trong huyện đều có cơ sở y tế (trạm xá) trong đó có 45% cơ sở y
tế đạt chuẩn quốc gia Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm chỉ còn khoảng 22%, tỷ
lệ sinh là 1.1%
Rõ ràng, chúng ta có thể thấy rằng trong những năm qua huyện VănGiangđã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên, xétmột cách tổng thể huyện Văn Giangvẫn còn là một huyện nghèo, còn nhiều khókhăn, thử thách ở phía trước Nhưng từ những thành tựu đã đạt được cùng với sự
cố gắng nỗ lực của toàn Đảng bộ và nhân dân địa phương, chúng ta có quyền tinvào một tương lai tốt đẹp của huyện Kiến Xương
Trong quá trình nghiên cứu thực tiễn tại huyện Văn Giangchúng tôi đãphát ra 120 phiếu và thu về 102 phiếu
2 Thực trạng vấn đề hướng nghiệp cho con cái của các bậc cha
mẹ huyện Văn Giang– tỉnh Hưng Yên.
Thực trạng vấn đề hướng nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹ huyệnVăn Giang– tỉnh Hưng Yên được thể hiện ở ba mặt khác nhau Đó là:
- Nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề hướng nghiệp cho con cái
- Tình cảm của các bậc cha mẹ đối với vấn đề hướng nghiệp cho con cái
- Hành vi của các bậc cha mẹ trong việc hướng nghiệp cho con cái
2.1 Thực trạng vấn đề hướng nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹ huyện
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangvềvấn đề định hướng nghề nghiệp cho con cái, chúng tôi nghiên cứu sự đánh giácủa họ về mức độ cần thiết và hiểu biết của họ về nội dung của hoạt động hướngnghiệp cho con cái, sự hiểu biết của họ về các chủ thể hướng nghiệp cho con cái
Trang 33và đỏnh giỏ của họ về mức độ quan trọng của cỏc yếu tố khỏc nhau đối với họkhi tham gia vào việc hướng nghiệp cho con cỏi Những nội dung này được thểhiện trong cỏc cõu hỏi 1, 2, 3, 4 của bảng hỏi.
2.1.1 Thực trạng nhận thức của cỏc bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề mức độ cầnthiết của hoạt động hướng nghiệp cho con cỏi
Chỳng tụi đưa ra cõu hỏi thứ nhất nhằm tỡm hiểu về thực trạng nhận thứccủa cỏc bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề mức độ cần thiết của hoạt động hướngnghiệp cho con cỏi đối với cỏc bậc cha mẹ tại địa phương Với ba mức độ cụ thể,chỳng tụi đưa ra: Cần thiết, cú cũng được khụng cũng khụng sao, khụng cầnthiết Kết quả thu được cụ thể như sau:
Bảng 1: Nhận thức của cỏc bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề mức độ cần thiết của hoạt động hướng nghiệp cho con cỏi đối với cỏc bậc cha mẹ địa phương.
Biểu đồ: Mức độ cần thiết của việc h ớng
nghiệp cho con cái
92.16
7.84 0
Cần thiết
Có cũng đ ợc, không cũng chẳng sao Không cần thiết
Trang 34địa phương cho rằng hoạt động hướng nghiệp là ít cần thiết, có cũng được không
có cũng chẳng sao đối với họ Nhìn một cách tổng quát nhất thì đại bộ phận bậccha mẹ huyện Văn Giangđều nhận thấy tầm quan trọng, mức độ cần thiết củahoạt động hướng nghiệp cho con cái đối với các bậc cha mẹ và điều đáng mừngnữa là không có trường hợp bậc cha mẹ nào lại cho rằng hoạt động hướngnghiệp cho con cái là không cần thiết đối với họ Điều này chứng tỏ mức độnhận thức của họ về vai trò của hoạt động hướng nghiệp cho con cái là khá cao
Để tìm hiểu rõ hơn, sâu hơn về vấn đề này, chúng tôi tiến hành phỏng vấnsâu một số bậc cha mẹ tại điạ phương với câu hỏi: “Tại sao ông (bà) lại cho rằnghoạt động hướng nghiệp cho con cái là cần thiết?” Để trả lời vấn đề này, chúngtôi đã thu thập được nhiều ý kiến khác nhau của các bậc cha mẹ Chẳng hạn như:
- Bác nghĩ tụi trẻ chúng còn thiếu kinh nghiệm, luôn có sự dao động nêncần phải được hướng dẫn, khuyên bảo của những người lớn tuổi, có nhiều kinhnghiệm sống, nhất là các bậc cha mẹ (Bác Nguyễn Văn N, xã Lê Lợi)
- Định hướng nghề nghiệp cho con nhằm giúp con có được một sự lựachọn đúng đắn phù hợp với con (Bác Phạm Văn T, xã Nam Cao)
- Lựa chọn nghề cho con nhằm đảm bảo cho con một cuộc sống tốt đẹphơn (Cô Đoàn Thị L, xã Đình Phùng)
Như vậy, từ những câu trả lời trên, chúng ta có thể thấy các bậc cha mẹhuyện Văn Giangđã nhận thấy được mục đích, vai trò, tầm quan trọng và mức
độ cần thiết của hoạt động hướng nghiệp cho con cái đối với các bậc cha mẹ.Chứng tỏ, nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề vấn đề này là kháđầy đủ và sâu sắc
2.1.2 Thực trạng nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề nội dung hoạt động hướng nghiệp cho con cái
Tiếp theo, khi tìm hiểu thực trạng nhận thức của các bậc cha mẹ huyệnVăn Giangvề hoạt động hướng nghiệp cho con cái, chúng tôi muốn tiếp tục tìmhiểu những hiểu biết của các bậc cha mẹ tại địa phương về nội dung của hoạtđộng hướng nghiệp cho con cái Vì vậy, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi thứ 2, trong
đó nội dung của hoạt động hướng nghiệp cho con cái được biểu hiện ở nhiều
Trang 35phương ỏn lựa chọn, qua đú cỏc bậc cha mẹ sẽ lựa chọn phương ỏn phự hợp vớihiểu biết của bản thõn về hoạt động hướng nghiệp cho con cỏi Kết quả nghiờncứu thu được như sau:
Bảng 2: Nhận thức của cỏc bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề nội dung của hoạt động hướng nghiệp cho con cỏi.
1 Cung cấp cho con những
thụng tin về ngành nghề trong
xó hội và đặc điểm của cỏc
ngành nghề đú
2 Cung cấp cho con về nhu cầu
lao động, việc làm của xó hội
hoặc địa phương
20 40 60 80 Nội dung các hoạt động h ớng nghiệp cho con
cái mình
Trang 36con cái, chúng tôi đưa ra nhằm kiểm tra trình độ nhận thức của các bậc cha mẹ.
Số liệu thu được cho thấy số phiếu lựa chọn nội dung thứ tư chiếm tỷ lệ caonhất: 73.53%, còn 3 nội dung thành phần của hoạt động hướng nghiệp cho concái mà chúng tôi đưa ra trong ba phương án đầu trong câu hỏi thứ 2, cũng đượcmột bộ phận các bậc cha mẹ huyện Văn Giangchọn, cụ thể:
- Nội dung 1: Cung cấp cho con những thông tin về nghề trong xã hội vàđặc điểm của các ngành nghề đó được 48 bậc cha mẹ chiếm 47.05% cha mẹđược hỏi
- Nội dung thứ 2: Cung cấp cho con về nhu cầu lao động việc làm của xãhội hoặc điạ phương, được 32 bậc cha mẹ lựa chọn, chiếm 31.37% tổng số cha
mẹ huyện Văn Gianglựa chọn cho rằng đó chính là nội dung của hoạt độnghướng nghiệp cho con cái Số cha mẹ này chiếm 2.94% tổng cha mẹ được hỏi
Như vậy, thực tế cho thấy mặc dù đa số các bậc cha mẹ huyện VănGiangđã hiểu đúng nội dung của hoạt động hướng nghiệp cho con cái nhưng vẫncòn một số bậc cha mẹ lại có sự nhận thức sai lầm cho rằng hướng nghiệp chocon cái là việc hướng con theo ý định của mình Rõ ràng, sự hiểu biết của cácbậc cha mẹ huyện Văn Giangvề nội dung của hoạt động hướng nghiệp cho concái là chưa thật đầy đủ và sâu sắc
2.1.3 Thực trạng nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangkhi đánh giá chủ thể điều khiển hoạt động hướng nghiệp cho con cái
Như những phân tích đánh giá ở trên, chúng ta có thể thấy được đại bộphận các bậc cha mẹ huyện Văn Giangđã nhận thức được đúng đắn, sâu sắc vềmức độ cần thiết, nội dung của hoạt động hướng nghiệp Nhưng để trả lời chocâu hỏi: Hoạt động hướng nghiệp cho con cái thuộc về ai? thì không phải bậc
Trang 37cha mẹ tại địa phương nào cũng trả lời đầy đủ, chính xác được Để tìm hiểu rõhơn vấn đề này chúng tôi đưa vào trong bảng hỏi của mình câu hỏi thứ 3 với nộidung: “Theo ông (bà) hoạt động hướng nghiệp cho con cái thuộc về ai? Cùngvới các chủ thể có thể điều khiển hoạt động hướng nghiệp cho con cái chúng tôi
đã đưa ra để các bậc cha mẹ lựa chọn Kết quả thực tiễn thu được thể hiện rõ ởbảng sau:
Bảng 3: Thực trạng nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề chủ thể điều khiển của hoạt động hướng nghiệp cho con cái.
3 Các tổ chức xã hội, trung tâm
Đến đây, có lẽ những ý kiến thắc mắc rằng tại sao ở phần trên đa số cha
mẹ nhận thức được hoạt động hướng nghiệp cho con cái là rất cần thiết đối với
họ, mà ở đây khi tìm hiểu về các chủ thể điều khiển của hoạt động hướng nghiệpcho con, phần đông các bậc cha mẹ được hỏi trả lời là việc lựa chọn nghề chocon là để tự con xác định Liệu rằng có mâu thuẫn gì ở đây? Chúng tôi có thểđưa ra luận giải như sau: Như trong phần vài nét về địa bàn nghiên cứu, chúng tathấy các bậc cha mẹ huyện Văn Giangđa phần là những người nông dân, trình
độ văn hoá còn hạn chế Vì vậy có rất nhiều trường hợp các bậc cha mẹ đã ýthức được rằng hướng nghiệp cho con cái là một việc cần thiết song có thể dohạn chế về trình độ hiểu biết, họ gặp khó khăn trong việc hướng nghiệp cho con,
dù rằng họ rất quan tâm tới sự lựa chọn nghề của con Một người mẹ tâm sự
Trang 38chân thực với chúng tôi rằng: “Bác biết rằng cha mẹ nên có những lời khuyên,
sự chỉ dẫn để hướng nghiệp cho con, giúp con chọn được nghề phù hợp, nhưngbác chỉ mới học hết cấp I, hiểu biết còn hạn hẹp nên gặp khó khăn khi hướngnghiệp cho con Bác chỉ biết khuyên với con là hãy lựa chọn nghề mà con yêuthích, phù hợp với khả năng của con” Như vậy, qua những luận giải trên chúng
ta đã một phần có thể lý giải được vấn đề có vẻ mâu thuẫn trên trong nhận thứccủa các bậc cha mẹ huyện Kiến Xương
Chủ thể điều khiển thứ nhất chúng tôi đưa ra trong câu hỏi là: Bố mẹ, giađình cũng được khá đông các bậc cha mẹ huyện Văn Gianglựa chọn Con số nàychiếm 52.94% số cha mẹ được hỏi Rõ ràng, các bậc cha mẹ cũng không hề bỏqua vai trò của mình với tư cách là chủ thể điều khiển hoạt động hướng nghiệpcho con cái Những người con luôn cần sự hướng dẫn, khuyên bảo của các bậccha mẹ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
Một chủ thể nữa không thể không nhắc tới với tư cách là chủ thể điềukhiển hoạt động hướng nghiệp cho con cái, đó là thầy cô, nhà trường Chủ thểnày cũng đã được 43.14% các bậc cha mẹ huyện Văn Gianglựa chọn Mỗi conngười khi đến tuổi đi học, dưới sự dạy dỗ của thầy cô giáo đã bộc lộ, phát huytài năng của mình Thầy cô giáo là những người hiểu biết rõ được khả năng,năng lực của các em học sinh để từ đó có sự hướng dẫn đúng đắn cho các emhọc sinh lựa chọn một nghề phụ hợp với bản thân mình và xã hội Các bậc cha
mẹ cũng đã coi trọng vai trò của những người thầy giáo trong việc giúp con cáimình lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp
Trong các phương án chúng tôi đưa ra trong câu hỏi, phương án được ítcác bậc cha mẹ huyện Văn Gianglựa chọn nhất là phương án 3: Các tổ chức xãhội, trung tâm hướng nghiệp Điều này cũng không phải là khó hiểu Trong thờiđại ngày nay, thuật ngữ “các tổ chức xã hội”, “trung tâm hướng nghiệp” ngàycàng trở nên phổ biến trong các thành phố lớn, điều kiện kinh tế phát triển, nhucầu nhân dân cao Nhưng đối với những vùng quê còn nghèo như huyện VănGiangthì những thuật ngữ này có vẻ còn khá xa lạ, thậm chí có những bậc cha
mẹ địa phương chưa hề biết đến những thuật ngữ này Hiện nay, trong các nhà
Trang 39trường phổ thông, cũng đã có chương trình dạy nghề cho các em học sinh sắp tốtnghiệp với các nghề như thêu, điện, đan lát Nhưng những hoạt động này mớichỉ dừng lại ở mặt hình thức Các em học sinh cho rằng học những nghề này chỉ
là học cho qua chuyện, cho đủ điều kiện để tốt nghiệp, chứ không hề có sự lựachọn nghề nghiệp theo hướng này Chính vì vậy, trong số 102 bậc cha mẹ huyệnVăn Giangđược hỏi chỉ có 7.34% nói đến các tổ chức xã hội, trung tâm hướngnghiệp với vai trò là chủ thể điều khiển hoạt động hướng nghiệp cho con cáimình
Như vậy, qua những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng các bậccha mẹ huyện Văn Giangđã nhận thức được các chủ thể điều khiển hoạt độnghướng nghiệp cho con cái Để tìm hiểu sâu hơn, rõ ràng hơn, chúng tôi cũng đưa
ra ý kiến mở rộng để tìm hiểu thêm nhận thức của các bậc cha mẹ huyện KiếnXương Có nhiều ý kiến như:
- Hướng nghiệp cho con cái là vấn đề không những thuộc về nhà trường,gia đình mà còn phải xét theo năng lực học và ý nguyện của con cái mình.Nhưng nhà trường, gia đình cũng nên giúp đỡ, góp ý cho con lựa chọn nghề phùhợp
- Vai trò hướng nghiệp cho con thuộc về cả 4 chủ thể nói trên
Hơn nữa trong câu hỏi này, các bậc cha mẹ có thể lựa chọn cùng một lúcnhiều phương án trả lời Khi tiến hành kiểm phiếu, chúng tôi cũng nhận thấyrằng có sự kết hợp giữa các phương án trong phiếu trả lời của các bậc cha mẹ.Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, các bậc cha mẹ huyện Văn Giangđã nhậnthức được rằng, để hướng nghiệp cho con một cách đúng đắn cần có sự kết hợp
hỗ trợ của nhiều chủ thể khác nhau Trước tiên, con cái nên đưa ra ý kiến riêngcủa mình rồi cùng cha mẹ, thầy cô giáo xem xét lại, cùng đưa ra quyết địnhđúng đắn Tuy nhiên, các bậc cha mẹ huyện Văn Giangcũng nên nâng cao nhậnthức của mình trong việc đánh giá vai trò của các tổ chức xã hội, trung tâmhướng nghiệp với tư cách là chủ thể điều khiển của hoạt động hướng nghiệp chocon cái
Trang 402.1.4 Nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangtrong việc đánh giá mức quan trọng của các yếu tố khi hướng nghiệp cho con cái.
Để giúp con lựa chọn nghề một cách phù hợp, đúng đắn và khoa học, cácbậc cha mẹ phải kết hợp những yếu tố khác nhau như: Nguyện vọng, năng lựccủa con, yêu cầu nghề nghiệp của xã hội và những yêu cầu, đặc điểm của nghềđịnh chọn Nhưng ở mỗi bậc cha mẹ những yếu tố này lại có tầm quan trọngkhác nhau chi phối đến việc hướng nghiệp cho con cái của họ Để tìm hiểu rõhơn vấn đề này, chúng tôi đưa ra câu hỏi thứ 4 với nội dung: “Theo ông (bà) cácyếu tố sau có mức độ quan trọng như thế nào khi hướng nghiệp cho con?’’, vớicác mức độ khác nhau: Quan trọng, bình thường và không quan trọng để các bậccha mẹ lựa chọn Kết quả cụ thể thu được như sau:
Bảng 4: Nhận thức của các bậc cha mẹ huyện Văn Giangvề tầm quan trọng của các yếu tố khi hướng nghiệp cho con
1 Nguyện vọng, năng lực của