1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường THPT Hai Bà Trưng, TP Huế, tỉnh TT Huế”

24 670 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 203,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu kỹ năng tổ chức hoạt động dạy của giáo viên mẫu giáo trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”... Đối tượng

Trang 1

và những kinh nghiệm mà họ thu thập được trong quá trình học tập và côngtác KNDH sẽ giúp cho HĐ dạy của người GVMN trong mức độ nào đó,giống như HĐ của người thầy thuốc, người nghệ sĩ

Những nghiên cứu chuyên biệt đã chỉ ra rằng, trong hệ thống nhữngKNSP của GVMN, ngoài những điểm chung với những KN của giáo viêncác bậc học khác còn có những đặc điểm riêng của bậc học MN, vì họ vừa làngười mẹ, người giáo viên, người thầy thuốc, người nghệ sĩ và người bạn củatrẻ em tuổi mầm non Chính vì vậy, những KNSPMN rất đa dạng NgườiGVMG được gọi là lành nghề chỉ khi họ có các KNSPMN ở mức độ cao,đặc biệt là những KNSPMN trong HĐ dạy học ở trường MN Các KNSP cầnđược hình thành ngay từ trên ghế trường SPMN và tiếp tục hoàn thiện trongquá trình lao động nghề nghiệp Chính vì vậy, việc nghiên cứu KNTCHĐdạy của GVMG là một việc làm vô cùng cần thiết

1.1 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay, ở hầu hết các trường mẫu giáo KNTC dạy của GV chưa đượcnghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan Việc phân loại và bồidưỡng các KN dạy học cho trẻ lứa tuổi MG trên cơ sở khoa học chưa đượcquan tâm, chú trọng

Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết GVMG còn lúng túng trong việc tổchức các hoạt động CS-ND trẻ, trong việc TCHĐ dạy Đặc biệt xu hướng đổimới GDMN hiện nay đòi hỏi GVMG phải đổi mới hình thức tổ chức giáodục, mỗi HĐ giáo dục cho trẻ phải mang tính tích hợp nội dung và được thiết

kế dưới hình thức vui chơi Vì vậy, việc làm cấp bách hiện nay là phảinghiên cứu một cách khoa học, cơ bản thực trạng KNTCHĐ dạy củaGVMN, đặc biệt là GVMG và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng

ấy Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần rèn luyện vànâng cao hệ thống KN trong dạy trẻ MN nói chung và trẻ tuổi MG nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu

kỹ năng tổ chức hoạt động dạy của giáo viên mẫu giáo trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”.

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng KNTCHĐ dạy của GVMG, đề xuất một sốbiện pháp nhằm góp phần rèn luyện và phát triển các KN dạy trẻ mẫu giáo

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng tổ chức hoạt động dạy của giáo viên mẫu giáo

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Khách thể để nghiên cứu xây dựng mẫu phiếu điều tra: 30 GVMG

và 10 CBQL trên địa bàn TP Nha Trang.

- Khách thể để nghiên cứu thực trạng KNTCHĐ dạy: 250 GVMG và

50 CBQL trên địa bàn TP Nha Trang.

- Khách thể nghiên cứu thực nghiệm: 2 GVMG và 25 cháu MG bé và 30cháu MG lớn của trường MN Hương Sen, trường MG 3/2 - thành phố NhaTrang

4 Giả thuyết khoa học

Đa số GVMG đã có các KNTCHĐ dạy cho trẻ nhưng mức độ cònchưa đồng đều Thực trạng đó là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưtrình độ đào tạo, thâm niên công tác, điều kiện công tác Nếu có các biệnpháp tác động thích hợp thì KNTCHĐ dạy của GVMG sẽ được phát triểncao hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về KNSP của GVMG

5.2 Tìm hiểu thực trạng KNTCHĐ dạy nói chung, KNTC hoạt động học cóchủ đích cho trẻ mẫu giáo nói riêng của GVMG

5.3 Trên cơ sở kết quả điều tra thực trạng đề xuất một số biện pháp nângcao các KNTCHĐ dạy cho GVMG

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

6.2.2 Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm

6.2.3 Phương pháp quan sát và chụp hình một số hoạt động dạy

6.2.4 Phương pháp trò chuyện phỏng vấn

6.2.5.Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp xử lý số liệu

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu một số KN dạy của GVMG được thể hiện trongviệc tổ chức hoạt động học có chủ đích cho trẻ mẫu giáo

Trang 3

8 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về KNTCHĐdạy của GVMG, đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển KNTCHĐ dạycho GVMG, góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện tay nghề cho GVMG

9 Cấu trúc của luận văn: Luận văn được trình bày trên 88 trang không

kể phần phụ lục Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu thamkhảo, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Các số liệu được minh họa bằng 14 bảng trong chương 3 và ở phần

phụ lục 1, 2, 3, 4

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề KN, KN nghề nghiệp đã được các nhà nghiên cứu trên thếgiới quan tâm từ rất lâu Từ thời Hy Lạp cổ đại đến nay đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu, nhiều sách vở nói về vấn đề này Nhìn chung, việcnghiên cứu KN ở thời kỳ này được xuất phát từ hai quan điểm trái ngượcnhau là:

Quan điểm thứ nhất, TLH hành vi ra đời, đại diện là: J Watson,B.F.Skinner, E.L Thordike, Tolman, Holl Nghiên cứu một số quá trìnhluyện tập, một số thao tác nào đó của động vật, sau đó rút ra kết luận về

sự rèn luyện KN của con người Như vậy, đây là một quan niệm rất máymóc, nhưng lý luận dạy học theo chương trình hóa của Skinner lại là mộtthành tựu mới trong lý luận dạy học mà chúng ta cần học tập mặt tiến bộcủa nó

Quan điểm thứ hai, là những nghiên cứu về KN của các nhà TLHhoạt động theo hai hướng sau:

- Hướng thứ nhất, nghiên cứu KN ở mức độ khái quát, đại cương Họ

đi vào nghiên cứu sâu về bản chất khái niệm KN, các giai đoạn, các qui luật

và các điều kiện hình thành KN và mối liên hệ qua lại giữa KN và KX, đó làcác tác giả: A.G.Côvaliôv, V.X.Cuzin, V.A.Kruch, P.Ia.Ganperin,A.V.Pêtrôvxki,

- Hướng thứ hai, gồm các tác giả như: K.K.Platônôv, G.G.Gơlubev,E.A.Milerian, B.G.Laox, V.V.Tsebưsêva, nghiên cứu KN ở góc độ

Trang 4

TLH lao động, xem xét vấn đề KN trong mối quan hệ giữa con người vớimáy móc và công cụ, phương tiện, điều kiện lao động Đặc biệt N K.Crupxkaia rất quan tâm đến việc hình thành những KN lao động cho HS

phổ thông trong việc dạy hướng nghiệp cho họ [N K Crupxkaia, tuyển tập sư phạm, Matxcơva-1959]

Trong các công trình nghiên cứu về KNHĐSP, K I Kixegof đãphân tích khá sâu về KN Khi tiến hành thực nghiệm hình thành KN ở

sinh viên sư phạm ông đã đưa ra ý kiến “KNHĐSP có đối tượng là con người HĐSP rất phức tạp đòi hỏi sự sáng tạo, không thể hoạt động theo khuôn mẫu cứng nhắc KNHĐSP, một mặt đòi hỏi tính nghiêm túc, mặt khác đòi hỏi tính mềm dẻo cao”

Trong tác phẩm “Nghề của tôi – Giáo viên mầm non”, tác giả V P.

Smưch đã nhấn mạnh rằng: Để hình thành KNSP vấn đề quan trọng phải

có tình cảm, hứng thú đến với nó mới làm cho quá trình rèn luyện rútngắn và đỡ tiêu hao sức lực [18]

Các tác giả L S Xemuxina và E A Pancô nghiên cứu về KN và

KX nghề nghiệp của GVMN cũng đã cho thấy những đặc thù của KNnghề GVMN

Tất cả các nhà nghiên cứu đã thống nhất đánh giá vai trò quan trọngcủa KN trong mọi lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là những KNSP của nhàgiáo Những KN này phải được hình thành trong khi đang học tập tạitrường SP Từ những quan điểm trên đã cho ta một cách nhìn cơ bản vàtoàn diện hơn về quá trình hình thành KNSP cho GV tương lai

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, TLH là một ngành khoa học còn non trẻ Tuy vậy,ngay từ khi mới thành lập, tập thể các nhà nghiên cứu đã tập trung nghiêncứu các vấn đề quan trọng như: làm rõ khái niệm về KN, KN lao động,KNSP, KN tổ chức, KN quản trị kinh doanh, KN quản lý

Trong TLH lao động (1992), PGS Trần Trọng Thủy đã nêu ra kháiniệm KN và điều kiện hình thành KN hoạt động lao động công nghiệp

Trong TLH đại cương (1995), GS.TS Nguyễn Quang Uẩn đã khẳng

định: “Cùng với năng lực thì tri thức, KN, KX thích hợp cũng rất cần thiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động Có tri thức, KN, KX trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có năng lực trong lĩnh vực này”

Trong lĩnh vực đào tạo GVMN, cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứucác KN nghề GVMN cụ thể các tác giả như:

- TS Trần Thị Quốc Minh trong luận án: “Phân tích tâm lý tình huống có vấn đề trong quan hệ giữa GV và trẻ MG” (1996) đã xây dựng

Trang 5

hệ thống KN phân tích tâm lý các tình huống có vấn đề nảy sinh tronghoạt động của GVMN với trẻ MG, qua đó tác giả đã chỉ rõ những KN vậndụng lý luận vào thực tiễn để giải quyết vấn đề trong hoạt động nghềnghiệp.

- TS Đinh Văn Vang, trong luận án TS “KN dạy học bằng trò chơi của GVMG” (2002), đã xác định cấu trúc hệ thống KN dạy học bằng trò

chơi và quy trình rèn luyện hệ thống KN dạy học bằng trò chơi choGVMG

Tất cả các công trình nghiên cứu đã cho thấy, khả năng giải quyếtnhững nhiệm vụ SP phụ thuộc vào mức độ hình thành KNSP ở người GV.Nói cách khác muốn thực thi có kết quả những nhiệm vụ SP người GVcần có một hệ thống những KNSP, nhờ đó giải quyết được những nhiệm

vụ của mình một cách chuyên nghiệp Hệ thống những KN này cần đượchình thành ở người giáo sinh ngay khi còn đang học ở trường sư phạm vàđược củng cố, ổn định và phát triển ở môi trường giảng dạy sau này

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, những bài báo,những tài liệu khác về KN, KNTCHDDH của các nhà TLH Việt Namnhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu hệ thống KN nghềGVMG trong HĐ dạy ở trường MG Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tàinày là cần thiết, góp phần vào việc đào tạo và nâng cao tay nghề choGVMG nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với ngành

GD nói chung và đối với ngành GDMN nói riêng

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về HĐSP và HĐ dạy ở trường MG

1.2.1 Hoạt động sư phạm (HĐSP)

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động sư phạm

♦ HĐSP là hoạt động chung của hai chủ thể: Thầy với tư cách là chủ thể của HĐ dạy Trò với tư cách là chủ thể của HĐ học Hai HĐ đó dựa vào nhau mà vận động và phát triển, thường xuyên tác động vào nhau, trao đổi giá trị tinh thần cho nhau để hình thành nên những phẩm chất nhân cách toàn diện cho người học.

♦ HĐSP là một trong những lĩnh vực lao động phức tạp của conngười Việc thực hiện thành công HĐSP đòi hỏi mỗi người GV bên cạnhviệc nắm tri thức khoa học tự nhiên, xã hội còn phải nắm vững KNSPtương ứng

1.2.1.2 Cấu trúc hoạt động sư phạm: Có 2 quan điểm:

+ Quan điểm thứ nhất cho rằng, HĐSP bao gồm: Hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, hoạt động tổ chức (tổ chức các HĐSP).

Trang 6

+ Quan điểm thứ hai cho rằng, HĐSP bao gồm: HĐ dạy học, HĐ giáo dục Hai HĐ này có liên quan chặt chẽ, tác động lẫn nhau Trong đó,

HĐ dạy học là cơ bản, thông qua dạy học để giáo dục con người.

Về bản chất, hai quan điểm này đều dựa vào nội dung, nhiệm vụ cụthể của HĐSP để phân chia HĐSP thành hai mảng: HĐDH và HĐGD.Nhưng dù là HDDH hay HĐGD thì cũng rất cần phải tổ chức HĐ của thầy

và trò

1.2.2 Hoạt động dạy học

1.2.2.1 Hoạt động dạy:HĐ dạy là HĐ của người lớn tổ chức và điều khiển

HĐ của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự pháttriển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng

Để đạt được mục đích trên phải thông qua HĐ dạy của thầy giáo, ởđây, thầy giáo là chủ thể của HĐ dạy Chức năng của thầy trong HĐ này

không làm nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới (vì các tri thức này đã được nhân loại sáng tạo ra), cũng không làm nhiệm vụ tái tạo tri thức cũ, mà

nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ đặc trưng là tổ chức quá trình tái tạo tri thức ở

trẻ (chính nó là chủ thể của hoạt động học) Như vậy, khi tiến hành HĐ

dạy, thầy giáo không nhằm phát triển chính mình, mà nhằm tổ chức tái tạonền văn hóa xã hội, nhằm tạo ra cái mới trong tâm lý HS

Tóm lại, dạy là một HĐ chuyên biệt do người lớn đảm nhiệm nhằmgiúp trẻ lĩnh hội nền văn hóa xã hội, phát triển tâm lý thông qua tái tạo nềnvăn hóa đó Sự tái tạo nền văn hóa phải được dựa trên cơ sở HĐ tích cựccủa trẻ Để tiến hành HĐ dạy có hiệu quả cao đòi hỏi người dạy phải cónhững yếu tố tâm lý cần thiết

1.2.2.2 Hoạt động học: HĐ học là HĐ đặc thù của con người được điều

khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, KN, KX, nhữngphương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị.Hay nói cách khác, HĐ học là HĐ có đối tượng, có mục đích, có động cơ,

Trang 7

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa HĐ dạy và HĐ học

HĐ dạy nhằm tái tạo ra cái mới trong tâm lý học sinh vì vậy nó phảivận hành theo cơ chế sáng tạo HĐ học ở học sinh nhằm lĩnh hội cái đã có

vì vậy nó phải vận hành theo cơ chế tái tạo

Nhưng dù theo cơ chế tái tạo hay sáng tạo nó đều có liên quan vớinhau Thầy chỉ có thể tiến hành HĐ dạy khi có HĐ học của trò Ngược lạihọc sinh có thể tái tạo lại tri thức dưới sự tổ chức, điều khiển của thầy; nhờ

sự tổ chức, điều khiển của thầy ở những trình độ khác nhau mà có thể tạo

ra mức độ tích cực khác nhau của người học Mức độ tích cực của ngườihọc quyết định chất lượng của HĐ học; ngược lại chất lượng của HĐ họcphụ thuộc vào sự điều khiển, tổ chức các HĐ dạy của người thầy HĐ dạy

và HĐ học hợp lại với nhau thành HĐ dạy – học trong đó: người học cóchức năng lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; người dạy có chức năng tổchức, điều khiển hoạt động học của học sinh

1.2.3 Hoạt động dạy ở trường mẫu giáo

1.2.3.1 Đặc điểm hoạt động dạy ở trường mẫu giáo

HĐ dạy ở trường MG là HĐ có mục đích, kế hoạch, là HĐ tương tácgiữa trẻ em và GV GV hướng dẫn trẻ giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng,giáo dục và phát triển năng lực nhận thức, góp phần hình thành toàn vẹnnhân cách cho trẻ em Tác động SP của GVMG phải luôn thay đổi, phùhợp với yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn của trẻ Phương tiện giáodục chủ yếu là đồ dùng, đồ chơi, là MT tự nhiên và MT xã hội phong phú,

đa dạng GVMG cần biết tận dụng triệt để những điều kiện và phương tiệncần thiết, thích hợp để giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi và đặc biệt trong giờTCHĐ học có chủ đích

HD dạy ở trường MG là HĐ nhằm giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, kỹnăng hình thành chính bản thân hoạt động học tập, là nhằm chuẩn bị cácnăng lực toàn diện, là quá trình chuẩn bị sẵn sàng về thể chất, tâm lý, xã

hội cho trẻ vào học phổ thông Trẻ MN, đặc biệt trẻ MG “học mà chơi, chơi mà học”, vì HĐ vui chơi là HĐ chủ đạo của lứa tuổi này Do đó, người GVMG phải biết "chơi” cùng trẻ và phải có nghệ thuật tổ chức, hướng dẫn "trẻ chơi để mà học”.

1.2.3.2 Xu hướng đổi mới giáo dục mầm non hiện nay

● Về nội dung giáo dục, được xây dựng theo các lĩnh vực phát triển:thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm-xã hội, thẩm mỹ, đảm bảo giáodục trẻ một cách toàn diện các lĩnh vực này được cấu trúc theo hướng tíchhợp chủ đề Lấy bản thân đứa trẻ làm trung tâm, các chủ đề được xây dựng

mở rộng dần từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa, từ bản thân trẻ đếngia đình, MTTN và MTXH gần gũi với trẻ Đồng thời đảm bảo tính tích

Trang 8

hợp giữa nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ với giáo dục phát triển,gắn với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ.

● Đổi mới hình thức tổ chức giáo dục, mỗi HĐ giáo dục cho trẻ phảimang tính tích hợp nội dung và được thiết kế dưới hình thức vui chơi Mặtkhác, việc tổ chức các HĐ giáo dục cho trẻ, khác với trước đây chỉ chủ yếutheo hình thức chung cả lớp nay sử dụng nhiều hình thức đa dạng: HĐchung cả lớp, HĐ theo nhóm nhỏ và đặc biệt là HĐ cá nhân Mỗi hình thức

HĐ sẽ giúp trẻ phát triển các KN học tập khác nhau: khi HĐ cá nhân trẻđược tự tìm hiểu, khám phá sự vật hiện tượng theo cách riêng của mình,qua đó phát huy tính chủ động tích cực của trẻ, còn khi tham gia học tậptheo nhóm nhỏ hay HĐ chung cả lớp trẻ được chia sẻ giúp đỡ lẫn nhaunhững kinh nghiệm, học cách chung sống và hợp tác trong công việc đượcgiao

● Về phương pháp giáo dục, GVMN cần sử dụng linh hoạt và phốihợp hợp lý các phương pháp giáo dục đặc trưng cho lứa tuổi MN trongviệc tổ chức cho trẻ HĐ, chú trọng dạy trẻ cách học, phát huy tính tích cựcnhận thức của trẻ và cá nhân hoá quán trình dạy học Mặt khác, đòi hỏingười GV có những thay đổi về vai trò nhất định, trong lớp học giáo viên

trở thành người “tổ chức”, “cố vấn”, “trọng tài” và “kích thích” trẻ tích

cực hoạt động nhận thức, giúp trẻ được thoả mãn nhu cầu học tập cá nhân

và được chia sẻ những hiểu biết hay cảm xúc của mình với mọi ngườixung quanh Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, trong bất kỳ HĐ nào, trẻluôn được chủ động tích cực tham gia nhiều nhất và được HĐ theo hứngthú cá nhân Giáo viên phải linh hoạt trong việc xác định, lựa chọn và tổchức các HĐ đa dạng, giúp trẻ hứng thú tìm hiểu khám phá sự vật hiệntượng theo nhiều cách khác nhau, qua đó phát triển tư duy linh hoạt và rènluyện khả năng xử lý nhanh các tình huống khác nhau trong cuộc sống

Như vậy, GVMN, đặc biệt GVMG phải nắm vững xu hướng đổi mớigiáo dục mầm non hiện nay, phải có những kỹ năng sư phạm cần thiết để

có thể vừa là giáo viên, vừa là người chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và chữabệnh cho trẻ, là nghệ sĩ và là người mẹ thứ hai của trẻ

1.2.3.3 Tổ chức hoạt động học có chủ đích cho trẻ mẫu giáo

- TCHĐ học có chủ đích cho trẻ MG không theo các bước của “tiếthọc” một cách hình thức, máy móc mà xây dựng theo cách kết hợp nhiều

HĐ khác nhau một cách phù hợp, linh hoạt, tạo những tình huống HĐ củatrẻ cùng với những thao tác thử nghiệm, khám phá, tập làm để giúp trẻthực sự được HĐ lĩnh hội kiến thức, hình thành KN

- TCHĐ học có chủ đích theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, đáp ứngnhu cầu và phù hợp với khả năng cá nhân trẻ Muốn vậy, GV phải hướng dẫntrẻ phát huy cao độ tiềm năng vốn có của mình Trong HĐ học có chủ đích,

Trang 9

trẻ là chủ thể HĐ lĩnh hội tri thức một cách sinh động và sáng tạo HĐ học cóchủ đích là công việc của từng cá nhân trẻ; vì vậy GV cần thiết kế HĐ cánhân cho trẻ thông qua công việc khám phá, thử nghiệm, tập làm và các thaotác cần thiết.

1.3 Kỹ năng, kỹ năng nghề, kỹ năng nghề của giáo viên mẫu giáo

1.3.1 Kỹ năng

Tổng kết các công trình nghiên cứu của một số tác giả cho thấy cóhai loại quan niệm về KN như sau:

+ Quan niệm thứ nhất: Các tác giả V.X Cudin, V A Cruchetxki, A.

G Covaliôv, Tsebusea, Trần Trọng Thủy thì KN là phương tiện thực hiệnhành động phù hợp với mục đích và điều kiện HĐ mà con người đã nắmvững mà không cần tính đến kết quả của hành động

+ Quan niệm thứ hai: Các tác giả N.D Levitov, K.I Kixegof, K.K.

Platonop, G.G Golubev, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, NguyễnÁnh Tuyết, Trần Quốc Thành cho rằng KN chính là năng lực thực hiệnmột công việc có kết quả với chất lượng cần thiết và với thời gian tươngứng trong điều kiện mới

Như vậy, quan niệm thứ hai có chú ý đến kết quả của hành động.Một số nhà khoa học Việt Nam như: GS.TS Nguyễn Quang Uẩn,PGS.TS Ngô Công Hoàn, PGS.TS Trần Quốc Thành cũng quan niệm KN làmột mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả

Trên cơ sở xem xét các quan niệm về KN như đã trình bày ở trên đề

tài xác định chọn khái niệm: KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức và những kinh nghiệm đã có để đạt mục đích đề ra Tức là KN không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người.

1.3.2 Kỹ năng nghề

Theo quan điểm của Klimov, Platonov, Lomov , Phạm Tất Dong,Đặng Danh Ánh, Ngô Công Hoàn thì kỹ năng nghề là những khả năngphù hợp với đòi hỏi riêng của nghề đó Ngoài trình độ học vấn nói chungnhất thiết phải có những kiến thức cơ sở, cơ bản phục vụ cho nghề đó vàchúng được gọi là kiến thức nghiệp vụ

Theo James C Hansen thì “Kỹ năng nghề là những khả năng mà con người có thể sử dụng những gì đã hiểu biết để đạt được những mục đích, những yêu cầu trong nghề nghiệp đề ra”.

Ở một số nước Nga, Đức, Pháp, Hàn Quốc người ta xác địnhnhững kỹ năng nghề dạy học (kỹ năng sư phạm) như:

* Nhóm những kỹ năng thiết kế và tiến hành dạy học

* Nhóm các kỹ năng sư phạm nhằm phát triển thói quen hoạt độngđộc lập

Trang 10

* Nhóm các kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục

Các nhà nghiên cứu Nga đã chỉ ra hệ thống KNSP như: KN thiết kế,

KN tổ chức, KN định hướng, KN giao tiếp (KN định vị và điều khiểntrong giao tiếp), KN nhận thức, KN nghiên cứu, KN kích thích động viên

Nhiều trường sư phạm trong khu vực và trên thế giới đều khẳng địnhrằng trong quá trình đào tạo GV cần hình thành cho GV khả năng giảiquyết những nhiệm vụ sư phạm Khả năng giải quyết những nhiệm vụ nàyphụ thuộc vào mức độ hình thành KNSP ở người GV Nói cách khác,muốn thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ SP, người GV cần có hệ thốngcác KNSP, nhờ đó giải quyết những nhiệm vụ của mình một cách “chuyênnghiệp”, hệ thống những KN này cần được hình thành ở sinh viên ngay khiđang còn học ở trường sư phạm

Ở Việt Nam nhiều tác giả đã nghiên cứu về KNSP, nhiều người đã

đồng ý với định nghĩa mà tác giả Nguyễn Như An đã đưa ra: “KNSP là khả năng thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của hành động sư phạm bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những cách thức, những qui trình đúng đắn”.

Nghề dạy học là một trong những nghề phức tạp và quan trọng Trình

độ và chất lượng được đào tạo của người GV có ảnh hưởng to lớn đếncuộc đời của biết bao HS Vì vậy, nghệ thuật SP của người GV có ảnhhưởng rất quan trọng Nhưng nghệ thuật SP bắt đầu từ việc hình thànhnhững KNSP

1.3.3 Kỹ năng nghề của giáo viên mẫu giáo

Các nghiên cứu chuyên môn đã chỉ ra rằng: KN nghề nghiệp củaGVMN nói chung và GVMG nói riêng có tính đặc thù được qui định bởi cácchức năng đặc thù của nghề GVMN và khách thể HĐ động của họ GVMNtrong HĐSP của mình vừa phải thực hiện chức năng chung của người giáo

viên, vừa phải đồng thời thực hiện đầy đủ các chức năng đặc thù của “người

mẹ, người thầy thuốc và người nghệ sĩ” GVMN vừa phải giáo dục, dạy trẻ lại

vừa phải chăm sóc-nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ trong mọi HĐ của trẻ MN Do đóGVMN phải có những KN, KX riêng biệt

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu GDMN đã đưa ra nhiều ý kiến vềKNSP mầm non Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn GDMN, TS.Trần Thị Quốc Minh đã dựa trên các dạng HĐ cơ bản của GVMN mà phân

loại các nhóm KN như sau: Nhóm kỹ năng nhận thức, Nhóm kỹ năng thiết

kế, Nhóm kỹ năng giao tiếp và tổ chức, Nhóm kỹ năng chuyên biệt.

Theo chúng tôi bốn nhóm kỹ năng trên được xác định là có cơ sởkhoa học và rất phù hợp trong thực tiễn vì nắm vững những kỹ năng này sẽgiúp giáo viên mầm non đạt hiệu quả cao trong hoạt động dạy học cho trẻmầm non

Trang 11

Chương 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

• Xây dựng hệ thống KNTCHĐ dạy của GVMG

• Tìm hiểu thực trạng KNTCHĐ dạy của GVMG và phân tíchnhững nguyên nhân dẫn đến thực trạng ấy

• Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm hoàn thiện các KNTCHĐdạy của GVMG, góp phần nâng cao tay nghề cho GVMG

2.2 Tiến trình nghiên cứu

2.2.1 Điều tra thăm dò : từ 15/6 đến 15/7/2007

2.2.2 Điều tra chính thức: từ 30/7 đến 30/8/2007

2.2.3 Nghiên cứu thử nghiệm: từ 20/9 đến 20/10/2007

2.2.4 Tiến hành xử lý số liệu và phân tích kết quả nghiên cứu thựctrạng về kỹ năng sư phạm của giáo viên mẫu giáo và viết luận văn

2.3 Các phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.3.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

♣ Điều tra thăm dò

- Dựa trên cơ sở lý luận về KNDH và KNTCDH, chúng tôi xâydựng mẫu phiếu số 1, 2, 3

-Tiến hành điều tra thăm dò mẫu 3 bộ phiếu trên 30 GVMG và 10

CBQL công tác tại các trường MG trong TP Nha Trang (30 GVMG và

10 CBQL này sẽ không tham gia trả lời phiếu điều tra chính thức).

- Hoàn thiện phiếu trên cơ sở các ý kiến đóng góp của giáo viên vàcán bộ quản lý qua điều tra thăm dò để chuẩn bị điều tra chính thức

♣ Điều tra chính thức

Phiếu 1: Điều tra việc rèn luyện và nâng cao KNTCHĐ dạy của GVMG Phiếu 2: Điều tra việc rèn luyện và nâng cao tay nghề của GVMG.

Phiếu 3: Điều tra việc rèn luyện KN qua sự đánh giá việc rèn luyện KN ở

GVMG của 50 CBQL trong các trường MG, trường MN

Hướng dẫn các khách thể cách trả lời từng câu hỏi theo đúng mụcđích và yêu cầu của câu hỏi Mỗi khách thể là GVMG sẽ độc lập trả lờicâu hỏi được nêu trong 2 phiếu (phiếu 1 và phiếu 2), khách thể là CBQLtrả lời phiếu 3

* Thời gian tiến hành điều tra: từ 02/8/2007 đến 15/9/2007

2.3.2.2 Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm

Trang 12

* Thời gian thực nghiệm: từ 20/9 đến 20/10/2007

* Nội dung thực nghiệm: giáo viên sẽ tiến hành TCHĐ học cho trẻ với

nội dung như sau:

- Giáo dục âm nhạc: Dạy múa “Thật là hay” (Lớp MG 3-4 tuổi)

- LQMTXQ: Nước đổi màu (Lớp MG 5-6 tuổi)

2.3.2.3 Phương pháp quan sát và chụp hình một số HĐ của cô và trẻ

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành PP quan sát nhằm

bổ trợ thêm cho PP chính Chúng tôi tiến hành quan sát, ghi chép và chụphình những hoạt động, việc sử dụng các KN dạy học khi họ tiến hànhTCHĐ học cho trẻ MG qua môn LQMTXQ và GDÂN, đặc biệt quanhững tiết thực nghiệm

2.3.2.4 Phương pháp trò chuyện phỏng vấn

Qua trò chuyện với GVMG, với CBQL trong các trường MG,trường MN và các cháu MG để thu được những thông tin còn thiếu màphương pháp chính không thu được và củng cố những thông tin đã thuđược từ phương pháp chính

2.3.2.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến một số

chuyên gia đầu ngành Tâm lý học, ngành GDMN (5 chuyên gia có học hàm, học vị, có uy tín cao trong ngành giáo dục), những người làm công

tác quản lý ở các trường MG, trường MN (50 CBQL) và các GVMG cóthâm niên giỏi, điển hình ở các trường MG để xây dựng 3 bộ phiếu trưngcầu ý kiến cũng như khi xử lý phiếu, khi xây dựng các khái niệm công cụ,khi đề xuất những biện pháp, kiến nghị… của đề tài để có thể giải quyếttốt nhiệm vụ và mục đích đã đặt ra của đề tài

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Chương 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Vài nét về ngành học MN thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Toàn thành phố hiện nay có 50 trường trong đó có: 4 NT (công lập),

29 trường MG (CL: 3 trường, DL: 23 trường, TT: 3 trường), 18 trường

MN (CL: 7 trường, DL: 7 trường, TT: 3 trường) và 187 nhóm lớp mầmnon tư thục

Về học sinh, có 1970 cháu nhà trẻ (tỷ lệ 21%); có 9.650 cháu MG (tỷ

lệ 74,5%); riêng trẻ MG 5 tuổi có 6320 cháu (tỷ lệ 92,5%) So với 5 năm

Ngày đăng: 18/04/2015, 10:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w