3.2.Khách thể nghiên cứuBảng 1.1 : Số lượng khách thể nghiên cứu Trường / Mái ấm Số lượng Học sinh thiếu niên sống tại gia đình Học sinh hiếu niên sống tại Mái ấm 4.Giới hạn phạm vi nghi
Trang 1PHẦN I : MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Các Mác đã nói rằng: “Sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sựphát triển của tất cả các cá nhân mà nó giao tiếp một cách trực tiếp hoặc gián tiếpvới họ” (theo Phạm Minh Hạc [11,489]) Cho nên, cùng với hoạt động, giao tiếp làmột con đường quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách Hiểu rõvề đặc điểm giao tiếp của con người giúp ta biết được một số thông tin về nhậnthức, tình cảm cũng như nhân cách của họ Đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổicó nhiều biến động về tâm sinh lý với hoạt động chủ đạo là giao tiếp nhóm Vìvậy, tìm hiểu về đặc điểm giao tiếp của lứa tuổi này là điều cần thiết và có ý nghĩaquan trọng cho các nhà giáo dục nắm bắt được những chuyển biến tâm lý của thiếuniên
Mặt khác, hơn mười năm trở lại đây dưới sự tác động của nền kinh tế thịtrường, các giá trị, giềng mối của gia đình trở nên lỏng lẻo Hậu quả là số cặp vợchồng ly hôn tăng lên đáng kể, kéo theo đó là những đứa trẻ bỏ nhà đi lang thang
Vì chúng không chịu được sự mâu thuẫn của bố mẹ, cũng như thiếu thốn sự chămsóc chu đáo của gia đình Hậu quả thứ hai của nền kinh tế thị trường là sự phân hoágiàu nghèo diễn ra nhanh chóng Ở những vùng quê nghèo, các gia đình đông conlàm không đủ nuôi mấy miệng ăn Chính vì thế cả gia đình hoặc chỉ có trẻ ra thànhphố để kiếm sống Đó là hai nguyên nhân chính trong các nguyên nhân làm sốlượng trẻ em lang thang ở các đô thị lớn tăng lên : gia đình tan vỡ và nghèo đói[6,26] Theo một số nghiên cứu thì độ tuổi trẻ em lang thang ở Việt Nam từ khoảng
12 - 15 tuổi là phổ biến, độ tuổi dưới 12 khoảng 7 - 8% [36]
Hiện nay, các chương trình, các tổ chức bảo vệ trẻ em ở Việt Nam phát triểnrất mạnh, kể cả trong và ngoài nước Do đó, các em được tập trung vào sống, họctập ở các Mái ấm, Nhà mở, Trung tâm chăm sóc trẻ…Trẻ sinh hoạt, học tập ở Mái
Trang 2ấm đến cuối tuần; một hoặc hai tháng; lễ; Tết; hè trẻ được người thân đón về giađình, sau đó trẻ trở lại Mái ấm để tiếp tục học tập Sống trong hoàn cảnh đặc biệtnhư vậy, tâm lý của trẻ sống tại Mái ấm sẽ có những đặc điểm rất khác so với trẻsống tại gia đình, đặc biệt là cách cư xử với mọi người xung quanh, trong suy nghĩ,hành vi còn nhiều chỗ lệch chuẩn Trong khi đó GDV ở Mái ấm không thể thay thếcha mẹ để uốn nắn cho các em.
Đồng thời xuất phát từ thực tế của bản thân người nghiên cứu đã tham giadạy phụ đạo, sinh hoạt với các em ở Mái ấm Aùnh sáng Q.3 trong khoảng thời gian
3 năm Vì thế, người nghiên cứu nhận thấy những bất ổn trong tâm lý của các em,mong muốn có một nghiên cứu cụ thể để hiểu các em hơn Trên cơ sở kết quảnghiên cứu được, người nghiên cứu đề xuất những biện pháp giáo dục giúp các emphát triển tâm lý bình thường và trở thành những người công dân có ích cho xã hội
Từ những lý do nêu trên việc nghiên cứu vấn đề : “So sánh một số đặc điểm giao tiếp giữa học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình ở TP.HCM”
là một việc làm thiết thực và cần thiết
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và so sánh một số đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếuniên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình, trên cơ sở đó đề xuất một số biện phápgiáo dục giúp các em sống tại Mái ấm phát triển nhân cách tốt hơn
3.Đối tượng nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
+ Nhu cầu giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và giađình
+ Nội dung giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và giađình
+ Đối tượng giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và giađình
Trang 33.2.Khách thể nghiên cứu
Bảng 1.1 : Số lượng khách thể nghiên cứu
Trường / Mái ấm Số lượng
Học sinh
thiếu niên
sống tại gia
đình
Học sinh hiếu
niên sống tại
Mái ấm
4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Nội dung: Vấn đề giao tiếp có nhiều đặc điểm khác nhau, nhưng trong
nghiên cứu này chỉ tìm hiểu 3 đặc điểm:
+ Nhu cầu giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sốngtại gia đình
+ Đối tượng giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm vàsống tại gia đình
+ Nội dung giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sốngtại gia đình
4.2 Khách thể: Thiếu niên tuổi từ 12 - 15 tuổi trên cơ sở chọn ngẫu nhiên ở
+ 2 trường THCS tại Q.8, Q.10+ 6 Mái ấm tiếp nhận trẻ lang thang, trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ emnghèo cộng đồng
như đã nêu trên
5.Giả thuyết nghiên cứu:
Trang 4Theo T.V Đragunova : “Hoạt động chủ đạo của tuổi thiếu niên là giao tiếp”[14,51] Thiếu niên có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn xâydựng lại mối quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa người lớn và các em Còn mối quanhệ với bạn bè cùng tuổi thì đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với học sinh tiểu học.Chính vì thế, học sinh thiếu niên dù sống tại Mái ấm hay sống tại gia đình đến lứatuổi này đều có nhu cầu giao tiếp theo đúng sự phát triển của tâm lý lứa tuổi Đồngthời, căn cứ vào kết quả một số nghiên cứu gần đây của Nguyễn Quang Uẩn(2000) [41] và Nguyễn Xuân Thức (2000) [36] về tâm lý trẻ em lang thang và trẻ
em mồ côi ở lứa tuổi thiếu niên đều khẳng định các em có nhu cầu giao tiếp ở mứcđộ cao đối với bạn cũng như đối với mọi người Đây là hai trong nhiều đối tượngtrẻ được nhận vào sống ở các Mái ấm
Về đối tượng giao tiếp thì theo kết quả nghiên cứu ở học sinh thiếu niên củaĐỗ Thị Hạnh Phúc (1998) [31], các em có mức độ tiếp xúc khác nhau với các đốitượng Cụ thể cao nhất vẫn là bạn, sau đó là cha, mẹ, anh chị của mình Tuy nhiêntrẻ ở Mái ấm không sống với người thân, mà sống với các bạn có cùng hoàn cảnhvà thầy cô GDV Vì vậy mức độ giao tiếp với các đối tượng sẽ không hoàn toàngiống như trẻ sống tại gia đình
Về nội dung giao tiếp, HSTN sống tại gia đình và HSTN sống tại Mái ấm vẫncó những điểm giống nhau do đặc điểm của lứa tuổi Song do địa điểm sống khácnhau nên có những nội dung giao tiếp HSTN sống tại gia đình quan tâm nhiềunhưng HSTN sống tại Mái ấm lại không quan tâm đến, hoặc ngược lại Và quanghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thức (2000) như nói ở trên cũng cho thấy cósự khác nhau về nội dung giao tiếp giữa trẻ bình thường và trẻ mồ côi
Từ các căn cứ trên người nghiên cứu đưa ra những giả thuyết nghiên cứu sauđây:
5.1 Không có sự khác biệt về nhu cầu giao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấmvà sống tại gia đình
Trang 55.2 Có sự khác biệt về đối tượng giao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấm vàsống tại gia đình.
5.3 Nội dung giao tiếp có sự khác biệt theo địa điểm sống và giới tính củaHSTN
6.Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giao tiếp : khái niệm giao tiếp, vaitrò và chức năng của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, đặcđiểm giao tiếp; đặc điểm giao tiếp của HSTN sống tại gia đình; đặc điểm giao tiếpcủa HSTN sống tại Mái ấm
6.2 Tìm hiểu thực trạng về nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dunggiao tiếp của HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình
6.3 So sánh nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp theo địađiểm sống và giới tính của khách thể nghiên cứu
6.4 Tìm hiểu nguyên nhân của sự khác biệt về nhu cầu, nội dung, đối tượnggiao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình
6.5 Đề xuất một số biện pháp giáo dục giúp HSTN sống tại Mái ấm có điềukiện phát triển tâm lý, nhân cách tốt hơn
7.Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lý luận
7.2 Điều tra bằng phiếu câu hỏi
7.3 Phỏng vấn
7.4 Xử lý số liệu bằng toán thống kê – phần mềm SPSS 11.5
Trang 6PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề giao tiếp
Hiện nay, giao tiếp là một trong những phạm trù cơ bản của Tâm lý học, đồngthời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác Vấn đề giaotiếp được nghiên cứu từ rất sớm ngay từ thời cổ đại, nhưng các nghiên cứu khoahọc đi sâu vào bản chất của giao tiếp thì chỉ mới bắt đầu từ giữa thế kỷ XX Quảthật, đây vẫn là vấn đề còn mới mẻ trong khoa học nói chung và trong Tâm lý họcnói riêng
1.1.1.Các công trình nghiên cứu chung về giao tiếp
1.1.1.1.Các công trình nghiên cứu giao tiếp ở nước ngoài
Từ thời cổ đại, giao tiếp đã xuất hiện trong tư duy triết học của Socrate (470 –
399 TCN) và Platon (428 – 347 TCN) Hai ông cho rằng đối thoại là sự giao tiếp trítuệ của những người biết suy nghĩ Song tác giả Lê Xuân Hồng (1996) nhận xét :
“Tư tưởng này trong xã hội Cổ đại chỉ tạo ra bước đầu tiên của việc hiểu biết giaotiếp mà thôi, vì trình độ phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa mọi người cònthấp, chưa đủ để vấn đề giao tiếp của con người trở thành có ý nghĩa đích thựctrong ý thức xã hội” [19, 6]
Đến thời kỳ Phục hưng, lần đầu tiên giao tiếp trở thành đối tượng nghiên cứucủa nghệ thuật được biểu hiện trong các truyện ngắn của Bocarô, thơ trữ tình củaPetơraki, và trong tác phẩm nghệ thuật của Lêôna Đơvanhxi (1452 – 1512) cũngđề cập đến giao tiếp của mẹ con [2,7]
Đến thế kỷ XVIII, nhà triết học người Hà Lan M.P.Hemsterhins đã viết mộttiểu luận có nhan đề : “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người
Trang 7khác” Tư tưởng của ông được đánh giá cao vì ông đã đặt mối quan hệ giữa ngườivới người vào trung tâm chú ý của mình chứ không phải là mối quan hệ giữa conngười với thiên nhiên có tính huyền bí [26,10]
Thế kỷ XIX, giao tiếp được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hìnhthành, phát triển bản chất xã hội của con người Nó gắn liền với các công trìnhnghiên cứu của nhiều nhà triết học như Phơbach (1804 – 1872), C.Mac (1818 –1883), V.I.Lenin (1870 – 1924)…
Phơbach khẳng định giao tiếp là sự thể hiện của “tính người” Ông viết : “Bảnchất của con người chỉ thể hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con ngườivới con người, dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn” [10,6].Trong “Bản thảo kinh tế triết học” 1884, C.Mac đã có tư tưởng về nhu cầu xãhội giữa con người và con người Trong hoạt động xã hội và tiêu dùng xã hội , conngười phải giao lưu thực sự với người khác C.Mac viết : “Cảm giác và sự hưởngthụ của người khác cũng trở thành sở hữu của bản thân tôi Cho nên ngoài nhữngkhí quan trực tiếp ấy, hình thành những khí quan xã hội dưới hình thức xã hội.Chẳng hạn như giao tiếp trực tiếp với người khác đã trở thành khí quan biểu hiệnsinh hoạt của tôi và là một trong những phương thức chiếm hữu sinh hoạt của conngười”.[2,8]
Bên cạnh đó, C.Mac còn thấy được nhu cầu giao tiếp giữa con người với conngười trong xã hội và vai trò của nó đối với sự phát triển của mỗi người Ông chorằng : Thông qua giao tiếp với người khác mà con người có thái độ đối với bản thânmình, với người khác và giao tiếp với người khác là chiếc gương để mỗi người tựsoi mình Con người chỉ trở thành người khi nó có những quan hệ hiện thực vớinhững người khác.[26,11]
Tiếp nối tư tưởng của C.Mac, V.I.Lenin lập luận rằng : Khi giao tiếp, conngười đã tham gia vào nhiều hình thái xã hội phức tạp, ở đó đã tạo ra những mốiquan hệ xã hội Như vậy, theo Lenin giao tiếp trước hết là tiền đề của sự hình
Trang 8thành và phát triển những mối quan hệ xã hội Sau đó, chính nó lại là quá trìnhthực hiện các mối quan hệ xã hội đã hình thành.[10,6]
Những năm 30 của thế kỷ XIX các nhà TLH Xô Viết như L.X.Vưgotski,X.L.Rubinxtein, A.N.Leonchiev…đã vận dụng triết học Mac vào việc nghiên cứucác hiện tượng tâm lý người, đề cập đến vấn đề giao tiếp với tư cách là một vấn đềkhoa học và ngày càng được các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học quan tâm sâusắc
Sang đầu thế kỷ XX, vấn đề giao tiếp được nhiều nhà khoa học Phương Tâyquan tâm, được đề cập tới trong nhiều tác phẩm triết học, tâm lý học, điều khiểnhọc…
G.Mit (1863 – 1931) nhà TLH, triết học Mỹ, một đại diện của triết học thựcdụng đã khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con người.Ông viết:
“Nếu mỗi người muốn có cái riêng của mình thì phải có “cái tôi” khác Đó lànhững khách thể xã hội khác với những khách thể vật lý vì nó có khả năng tácđộng tích cực lên cái tôi của người khác mà ngày nay chúng ta thường gọi là chủthể” [2,9]
Karl Jaspert (1883 – 1969), nhà triết học, nhà TLH người Đức đã đề ra lýthuyết giao tiếp (thông tin) hiện sinh Ông lập luận rằng giao tiếp là điều kiện tổngquát cho sự tồn tại của con người và được xuất phát từ nhu cầu của con người.Chính vì thế hằng ngày con người cần phải giao tiếp với nhau một cách sống động,liên tục qua các cuộc tranh luận về các vấn đề xã hội Tuy nhiên trong giao tiếphiện sinh, mọi người gắn bó với nhau nhưng họ vẫn giữ được cá tính riêng
Một đại diện khác của triết học hiện sinh là Mactin Babơ (1875 – 1965), cónhững đóng góp không nhỏ phát triển lý thuyết giao tiếp Qua tác phẩm “Tôi vàbạn”, ông đưa ra nguyên tắc giao tiếp nổi tiếng “Tồn tại là đối thoại” Tức làkhông có giao tiếp, con người không sống được
Trang 9Các nhà hiện sinh Pháp J.Macsen (1869 – 1973), J.P.Sactơrơ (1905 – 1961),Manie (1905 – 1950) cũng nghiên cứu về giao tiếp xuất phát từ quan điểm củaBabơ Manie đã viết : “Tôi chỉ tồn tại chừng nào tôi tồn tại cho người khác”.
Còn trường phái phân tâm học với đại diện là Sigmud Freud (1856 – 1939) thìtìm hiểu giao tiếp trong mối liên hệ với giấc mơ Khi giao tiếp có người phát tínhiệu, có người nhận thông tin và quá trình này diễn ra trên cơ sở cả hai bên đềumuốn tìm hiểu lẫn nhau, muốn làm theo nhau [2,11]
Đến giữa thế kỷ XX, một hệ thống khoa học mới ra đời đánh dấu bằng các tácphẩm tiêu biểu như : “Điều khiển học” của nhà bác học Mỹ N.Vi – na (1948), “Lýthuyết toán học quá trình thông tin (1949), “Phác họa lý thuyết chung về hệ thống(1950) của C.Senen… Từ đây, TLH nói chung và TLH giao tiếp nói riêng chịu ảnhhưởng rất nhiều của điều khiển học, lý thuyết thông tin, lý thuyết hệ thống…
Những năm 70 của thế kỷ này, giao tiếp được nhiều tâm lý học Xô Viếtnghiên cứu , bàn luận sâu sắc, nhiều tác phẩm viết về giao tiếp, nhiều công trìnhnghiên cứu giao tiếp đã ra đời và tập trung thành những nhóm sau:
- Nhóm các nghiên cứu về bản chất, kết cấu và nhiệm vụ của giao tiếp trongmôi trường rộng và môi trường hẹp, như của G.M.Andreeva, A.A.Bodalev,A.G.Covaliov, Ia.L.Colominski, E.C.Kuzumin, A.A.Leonchiev, B.Ph.Porsnhev…
- Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giao tiếp và phương tiện thông tin,truyền thông đại chúng (của Iu.Vogland, P.Ph.Lomov, B.Đ.Parưgin vàA.B.Petropxki…)
- Các nghiên cứu về sự phối hợp hoạt động và giao tiếp của con người trongtập thể (Ya.L.Colominxki, E.X.Kydmin, L.I.Umanxki…)
- Các nghiên cứu về phong cách giao tiếp (V.X.Merlin, A.Acorotaev,T.X.Tambosev, A.C.Marcova, A.Ia.Nhiconova, M.R.Sukin…)
- Các công trình nghiên cứu giao tiếp và nhân cách (A.Abodaliov,K.A.Abulkhanova, M.L.Bonheva…)[10, 8 - 9]
Trang 10Tóm lại, các công trình nghiên cứu điểm qua ở trên đã nghiên cứu vấn đề giaotiếp theo các khía cạnh sau :
- Vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển của con người và xãhội loài người
- Nghiên cứu bản chất của giao tiếp dưới nhiều quan điểm khác nhau : triếthọc, phân tâm học, điều khiển học, tâm lý học hiện sinh, lý thuyết hệ thống, lýthuyết thông tin…
- Nghiên cứu các vấn đề chung của giao tiếp : kết cấu, nhiệm vụ, phong cáchgiao tiếp
- Nghiên cứu mối liên hệ của giao tiếp với các hiện tượng tâm lý và đời sốngcủa con người : giấc mơ, nhân cách, hoạt động trong tập thể, thông tin đại chúng,nghệ thuật…
1.1.1.2.Các công trình nghiên cứu giao tiếp ở Việt Nam
Ở Việt Nam , vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm 1970.Về nghiên cứu lý luận, có thể coi “Các Mác và phạm trù giao tiếp” của ĐỗLong (1983) là tác phẩm đầu tiên đề cập một cách hệ thống về cơ sở lý luận củavấn đề giao tiếp Tiếp theo đó là hàng loạt cuốn sách, bài báo chuyên đề viết vềgiao tiếp ở trẻ, sinh viên sư phạm của Trần Trọng Thuỷ, Bùi Văn Huệ; ở trẻ mẫugiáo của Nguyễn Thị Aùnh Tuyết, ở quan hệ mẹ - con của Nguyễn Khắc Viện.Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu lý luận về giao tiếp của Phạm Minh Hạc, PhạmHoàng Gia, Đặng Xuân Hoài, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Nhận v v đượcđề cập đến trong các sách chuyên khảo của các tác giả
Về nghiên cứu thực nghiệm giao tiếp ở Việt Nam, chúng ta có thể kể đến mộtsố luận án tiến sĩ:
- “Cơ sở tâm lý học của việc nâng cao hiệu quả giao tiếp của phó trung đoàntrưởng về chính trị với các quân nhân” (Luận án PTS của Hoàng Đình Châu, HàNội - 1991)
Trang 11- “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” (Luận án PTS của Hoàng ThịAnh, Hà Nội - 1993)
- “Quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá với bạn cùng lứa tuổi chohọc sinh các lớp 4, 5 trường tiểu học” (Luận án PTS của Lưu Thu Thuỷ, Hà Nội –1995)
- “Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ em mẫu giáo trong nhóm chơi khôngcùng độ tuổi” (Luận án PTS của Lê Xuân Hồng, Hà Nội - 1996)
-“Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với họcsinh khi thực tập tốt nghiệp” (Luận án PTS của Nguyễn Thị Thanh Bình, Hà Nội -1996)
- “Nghiên cứu tính tích cực giao tiếp của trẻ em mẫu giáo 5 – 6 tuổi tronghoạt động vui chơi” (Luận án PTS của Nguyễn Xuân Thức, Hà Nội- 1997)
Nhìn chung, các luận án thực hiện từ năm 1997 trở về trước chủ yếu nghiêncứu các vấn đề giao tiếp trên đối tượng trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên sư phạm.Tuy nhiên càng về sau, vấn đề giao tiếp được mở rộng nghiên cứu trên nhiềukhách thể thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống Chứng tỏ hiện nay giao tiếplà một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống Ví dụ cácluận án sau:
- “Vấn đề giao tiếp của Bác sĩ Quân y với người bệnh trong quá trình khámvà chữa bệnh (Luận án TS Quân sự của Nguyễn Thị Thanh Hà, Hà Nội – 2000)
- “Một số đặc điểm giao tiếp của hiệu trưởng trường Tiểu học” (Luận án TSTâm lý của Nguyễn Liên Châu, Hà Nội – 2002)
- “Đặc điểm giao tiếp của phạm nhân bị kết án phạt tù của các tội phạm ítnghiêm trọng” (Luận án TSKH Tâm lý của Hoàng Thị Bích Ngọc, Hà Nội – 2002)Đồng thời từ năm 1981 đến nay, dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy khoaTâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, cán bộ Viện Khoa học giáo
Trang 12dục đã có một số luận văn tốt nghiệp đại học, luận án sau đại học và thạc sỹnghiên cứu về đặc điểm giao tiếp
Tương tự như vậy, học viên Cao học và sinh viên của khoa Tâm lý - Giáo dụctrường Đại học Sư phạm TP.HCM cũng tiến hành nghiên cứu về vấn đề này trongluận văn Thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp đại học
- “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm An Giang”(Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học của Đỗ Văn Thông – 1999)
- “Tìm hiểu thực trạng một số kỹ năng giao tiếp của học sinh trung học phổthông địa bàn Quận 5 TP.HCM” (Luận văn tốt nghiệp đại học của Lê Hồng Đào –2002)
- “Tìm hiểu những trở ngại tâm lý của giáo sinh trong giao tiếp với học sinhtrung học phổ thông khi thực tập sư phạm (Luận văn tốt nghiệp đại học củaNguyễn Ngọc Mai Duyên – 2004)
Các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề cốt lõi củagiao tiếp trên khách thể là trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên các trường Cao đẳng –Đại học Nội dung tập trung vào các vấn đề sau:
- Đối tượng giao tiếp của học sinh, sinh viên
- Phạm vi giao tiếp
- Nội dung giao tiếp
- Nhu cầu giao tiếp
- Một số kỹ năng giao tiếp của cá nhân
- Một số kỹ năng, trở ngại tâm lý trong giao tiếp sư phạm
1.1.2.Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên
Các giáo trình Tâm lý học lứa tuổi của Lê Văn Hồng (1996) [18,48], Vũ ThịNho (1999) [27,102], A.V.Petrovski (1982) [30,134] đều có đề cập đến một số đặcđiểm giao tiếp của thiếu niên như nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dunggiao tiếp Song do hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là giao tiếp với bạn bè cùng
Trang 13tuổi nên các tác giả chỉ tập trung khai thác mặt lý luận của các đặc điểm này xungquanh đối tượng giao tiếp là bạn bè.
Về nghiên cứu thực nghiệm có tác giả Đỗ Hồng Anh (1989) [1,13-14] nghiêncứu đặc điểm giao tiếp ở học sinh 11- 13 tuổi trong hai năm 1983 –1985 Trongnghiên cứu này tác giả so sánh sự thay đổi về đối tượng giao tiếp, nhu cầu giaotiếp, sự phân hoá giới tính giữa học sinh 10 –12 tuổi và 12 – 13 tuổi Kết quảnghiên cứu cho thấy học sinh ở tuổi 12 – 13 tuổi có sự phân hoá mạnh về đối tượnggiao tiếp và nhu cầu giao tiếp nghiêng hẳn về bạn bè cùng tuổi Còn học sinh 10 –
12 tuổi thì không phân hoá mạnh giữa bạn bè và cha mẹ, các em đều có mongmuốn giao tiếp với các đối tượng này như nhau
Tiếp đó là nghiên cứu của Đỗ Thị Hạnh Phúc (1998) [31,35] tìm hiểu sâu hơnvề đối tượng thiếu niên hướng đến trong giao tiếp và thứ bậc của các đối tượngnày Đối tượng thiếu niên hướng đến đầu tiên vẫn là bạn thân, sau đó là mẹ, bố,anh chị, bạn học và cuối cùng là giáo viên tương ứng với điểm trung bình theo thứtự : 1.75 – 1.15 – 1.05 – 0.87 – 0.62 – 0.55 Xét về giới tính thì có sự khác biệt :các em nam thì hướng tới bố trước rồi mới tới mẹ (tương ứng với điểm ưu tiên là :bố – 1.20; mẹ – 1.09) Các em gái hướng tới mẹ nhiều hơn bố ( điểm ưu tiên dànhcho mẹ – 1.22; bố – 0.90) Khi so sánh giữa học sinh khối 6 và khối 8, nhu cầu traođổi với bạn thân của học sinh lớp 8 cao hơn
Tóm lại, các nghiên cứu trên đã đề cập đến mặt lý luận và thực tiễn về nhucầu giao tiếp của thiếu niên với bạn, các đối tượng giao tiếp thiếu niên hướng tới.Riêng về nội dung giao tiếp của thiếu niên với các đối tượng khác ngoài bạn bèchưa thấy đề cập đến
1.1.3.Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ lang thang, mồ côi
Hiện nay, các nghiên cứu về trẻ lang thang và trẻ mồ côi hầu hết thuộc lĩnhvực xã hội học nhằm thống kê số lượng trẻ, tìm hiểu nguyên nhân trẻ đi lang thang,tình trạng của trẻ, cũng như đề xuất các biện pháp và chính sách để chăm sóc, hỗ
Trang 14trợ trẻ, đặc biệt là các biện pháp để ngăn chặn tình trạng trẻ lang thang ở các đô thịlớn.
Các nghiên cứu về trẻ lang thang, mồ côi ở khía cạnh tâm lý học còn rất ít.Gần đây, có nghiên cứu của Nguyễn Quang Uẩn (2000) – “Trẻ em lang thang vànhu cầu tâm lý của các em” [41,14] cho rằng trẻ em lang thang có nhu cầu giao lưurất lớn Nhưng các em có những mối quan hệ giao lưu phức tạp trên đường phố dễdàng bắt chước những hành vi trái quy tắc xã hội (trộm cắp, đánh nhau…) Vì thếviệc giao lưu của trẻ lang thang đường phố dễ dàng đem lại những suy thoái, biếnchất trong tâm hồn trẻ [41,18]
Ngoài ra có nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thức (2000) tìm hiểu đặc điểm giaotiếp của 39 trẻ mồ côi đang sống tại làng SOS ở Hà Nội và khách thể đối chứng là
30 trẻ em bình thường cùng độ tuổi Kết quả của nghiên cứu nổi bật ở ba vấn đề :
- Trẻ mồ côi có nhu cầu tiếp xúc người cao Nhưng trong giao tiếp trẻ mồ côicó xu hướng thu hẹp quan hệ và đi vào chiều sâu hơn là xu hướng mở rộng phạm vigiao tiếp, dàn trải Cụ thể ở trẻ em mồ côi 84,6% thích loại hình quan hệ “ít bạnnhưng chơi thân”; 15,4% cho rằng “càng nhiều bạn càng tốt” Còn ở trẻ bìnhthường thì 46,7% thích “ít bạn nhưng chơi thân”; 53,3 % cho rằng “càng nhiều bạncàng tốt” Như vậy ta thấy có sự khác biệt rõ ràng về nhu cầu giao tiếp giữa trẻbình thường và trẻ mồ côi
- Giữa trẻ mồ côi và các trẻ bình thường có sự giống nhau về thứ bậc cácthành phần trong cấu trúc tâm lý của “ấn tượng ban đầu” : cảm tính, lý tính, xúccảm nhưng có sự khác biệt về tỷ lệ % giữa các thành phần
- Nội dung giao tiếp của trẻ mồ côi và trẻ bình thường có điểm khác biệt lớnnhất là nội dung “làm ăn kiếm tiền” Ở trẻ mồ côi điểm trung bình là 2.2; trẻ bìnhthường là 1.0
Qua các nghiên cứu trình bày ở trên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về đặcđiểm về giao tiếp của HSTN sống tại Mái ấm, cũng như so sánh với HSTN sống tại
Trang 15gia đình Tuy vậy, những nghiên cứu trên đây là kết quả bước đầu để người nghiên
cứu làm cơ sở thực hiện đề tài : “So sánh một số đặc điểm giao tiếp giữa học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình ở TP.HCM”.
1.2.Khái niệm chung về giao tiếp trong tâm lý học
1.2.1.Khái niệm giao tiếp
Lịch sử nghiên cứu về vấn đề giao tiếp được trình bày ở trên đã cho chúng tathấy giao tiếp là một hiện tượng khá phức tạp trong cuộc sống Do đó, khái niệmgiao tiếp cũng được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chưa hoàn toàn thống nhất.Tuy nhiên mỗi khía cạnh của giao tiếp mà các tác giả nghiên cứu đều có tính hợplý tương đối của nó Có thể khái quát thành 5 khuynh hướng mà các nhà tâm lý họcđã và đang nghiên cứu về bản chất của giao tiếp như sau [10,14] :
a.Khuynh hướng thứ nhất: Xem xét những khía cạnh tâm lý khác nhau trong
nội hàm khái niệm giao tiếp Gồm có:
Nhóm thu hẹp nội hàm khái niệm (chỉ nhấn mạnh một khía cạnh trong nội
hàm khái niệm) : thông tin; tri giác; hoạt động, hành vi của giao tiếp.
Nhóm này phân tích từng mặt trong nội hàm khái niệm giao tiếp Tuy nhiêncác mặt này chỉ là biểu hiện bên ngoài, đơn lẻ của quá trình giao tiếp.Trong khi đógiao tiếp là một hiện tượng tâm lý người nên phải có sự kết hợp giữa trao đổi thôngtin, nhận thức cũng như cảm xúc, tình cảm, hoạt động của người tham gia giao tiếp
Nhóm mở rộng khái niệm giao tiếp, xem giao tiếp như là một hiện tượngtâm lý có chung ở cả người và động vật
Thực ra động vật cũng có giao tiếp nhưng bản chất giao tiếp giữa người và vậtkhác nhau Giao tiếp ở người mang bản chất xã hội lịch sử, phát triển cùng với sựphát triển của xã hội loài người, còn giao tiếp của động vật thuần tuý chỉ là bảnnăng sinh tồn Vì vậy, việc đồng nhất giao tiếp của người và động vật là khôngchính xác
Trang 16 Nhóm đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của giao tiếp, có thể là sự traođổi những ý nghĩ, tình cảm, ý chí giữa người này và người kia, hoặc là sự kết hợpchặt chẽ giữa ba mặt thông tin, tri giác và tác động qua lại giữa con người với nhau.Trong một số giáo trình Tâm lý học biên soạn cho sinh viên các trường Đạihọc sư phạm, hoặc Cao đẳng sư phạm, nhóm tác giả như: Phạm Minh Hạc (1988)(2001), Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Hoàng Gia dùngkhái niệm “giao lưu” thay cho “giao tiếp” Và định nghĩa “Giao lưu là hoạt độngxác lập và vận hành các quan hệ người – người để thực hiện hoá các quan hệ xãhội giữa con người (người ta) với nhau”[13,39], [12,58].
Riêng từ điển Tiếng Việt [45,393] thì định nghĩa khác “Giao lưu là có sự tiếpxúc và trao đổi giữa hai dòng, hai luồng khác nhau Nơi giao lưu của hai dòng sông.Hàng hoá giao lưu giữa các vùng…” Còn “Giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau.Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp”
Ngoài ra có tác giả Ngô Công Hoàn (1997) xem : “Giao tiếp là quá trình tiếpxúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi nhận thức, tư tưởng, tìnhcảm, vốn sống kinh nghiệm cá nhân, xã hội, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, hoànthiện nhân cách phù hợp với những chuẩn mực hành vi xã hội của cộng đồng”[17,107]
Nhìn chung, các nghiên cứu theo nhóm này đã đi sâu vào bản chất giao tiếp ởnhiều nội dung khác nhau trong nội hàm khái niệm giao tiếp Do đó, vấn đề giaotiếp được đánh giá toàn diện hơn so với xu hướng chỉ nhấn mạnh đến một khíacạnh của giao tiếp
b.Khuynh hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp dưới cách nhìn của các
chuyên ngành tâm lý học khác nhau : tâm lý học nhân cách, tâm lý học xã hội, tâmsinh – lý Tùy vào đặc trưng riêng của từng ngành mà các nhà tâm lý học nghiêncứu giao tiếp theo hướng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
Trang 17c Khuynh hướng thứ ba : Giao tiếp trong các ngành của tâm lý học ứng
dụng : tâm lý học kinh doanh, tâm lý học thương nhiệp, tâm lý học truyền thông,tâm lý học y học… Khi đề cập đến giao tiếp, các nhà tâm lý học ứng dụng thườngchú ý đến hai vấn đề cơ bản : Một – nhấn mạnh khía cạnh thông tin, thông báotrong giao tiếp; Hai – Tìm ra những ứng dụng hiệu quả của giao tiếp cho từng lĩnhvực
d.Khuynh hướng thứ tư: Tìm hiểu bản chất của giao tiếp trong việc xác định
vị trí giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù tâm lý học Đại diện là ýkiến của hai nhà tâm lý học A.A.Leonchiev và B.Ph.Lomov về mối quan hệ giữagiao tiếp và hoạt động của con người
A.A.Leonchiev cho rằng giao tiếp như là một dạng đặc biệt của hoạt động Nócó thể là phương thức, điều kiện của hoạt động có đối tượng , bao gồm đầy đủ cácthành phần trong sơ đồ cấu trúc của hoạt động : chủ thể – hoạt động – đối tượng.Giao tiếp cũng có những đặc điểm cơ bản của hoạt động như tính mục đích, sự vậnhành theo nguyên tắc gián tiếp…
B.Ph.Lomov lại cho rằng giao tiếp không phải là một dạng của hoạt động, màlà một phạm trù tương đối độc lập trong tâm lý học, đồng đẳng với phạm trù hoạtđộng Bởi vì nếu coi giao tiếp là một dạng hoạt động thì sẽ không tìm được vị trícủa giao tiếp trong hệ thống các loại hoạt động đã phân loại trước đây (vui chơi,học tập, lao động…)
Hai quan điểm trên đều có những điểm chưa thoả đáng A.A.Leochiev lý giảichưa thật thuyết phục về đối tượng, động cơ và chủ thể của hoạt động này CònB.Ph.Lomov lại quá đối lập mối quan hệ “chủ thể – hoạt động – đối tượng” vớimối quan hệ chủ thể – chủ thể trong giao tiếp Đây là hai khái niệm ngang bằngnhau, có mối quan hệ gắn bó, khăng khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là haimặt thống nhất của cuộc sống con người và sự phát triển tâm lý [25,382] Có thểbiểu diễn mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động bằng sơ đồ sau:
Trang 18Sơ đồ 1:
Nhìn vào sơ đồ ta thấy, giao tiếp không phải là một dạng đặc biệt của hoạtđộng, mà chúng tồn tại bình đẳng với nhau Tuỳ vào mục đích hoạt động của chủthể mà hoạt động giao tiếp hay hoạt động có đối tượng chiếm vị trí chủ đạo
e Khuynh hướng thứ năm : tìm hiểu bản chất giao tiếp bằng việc phân biệt
khái niệm giao tiếp với khái niệm có liên quan : “quan hệ xã hội”, “thông tin”,
“ứng xử”
Như vậy, có nhiều khuynh hướng khác nhau tìm hiểu về bản chất khái niệmgiao tiếp, song ta có thể rút ra những nội dung cốt lõi của khái niệm như sau:
- Đây là một khái niệm độc lập trong tâm lý học
- Giao tiếp được thực hiện bởi mối quan hệ có ý thức giữa con người với conngười trong xã hội loài người
- Giao tiếp mang tính chất xã hội – lịch sử, chứa đựng một nội dung xã hội –lịch sử nhất định và diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể, có thời gian, không giannhất định
- Trong giao tiếp có diễn ra sự tiếp xúc tâm lý giữa các cá nhân trên các mặt:tri giác, trao đổi thông tin, thể hiện thái độ, cảm xúc và sự tác động, ảnh hưởng lẫnnhau…
- Thông qua giao tiếp, một mối quan hệ nào đó (chính trị, kinh tế, văn hoá,pháp luật…) được thực hiện
- Giao tiếp có mục đích phối hợp hành động giữa các cá nhân, đảm bảo sựthống nhất trong một hoạt động chung, tạo ra sự biến đổi của chủ thể
Hoạt động
Hoạt động có đối tượng
Hoạt động giao tiếp
Trang 19Qua sự phân tích ở trên và căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, chúngtôi chọn khái niệm giao tiếp của tâm lý học hoạt động làm khái niệm công cụ đểnghiên cứu.
Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người tri giác lẫn nhau, trao đổi thông tin, thể hiện thái độ, cảm xúc, ảnh hưởng tác động qua lại, phối hợp với nhau trong hoạt động chung.
1.2.2.Vai trò và chức năng của giao tiếp
1.2.2.1.Vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Con người sinh ra đã được thiên nhiên ưu đãi cho một bộ não tiến hoá hơn cácloài động vật khác và khả năng phát triển thành người Tuy nhiên những điều kiệnban đầu đó chưa đủ để con người trở thành “người” thực sự Yếu tố quyết địnhchính là sự tích cực hoạt động của con người vào các mối quan hệ xã hội, nhằmlĩnh hội các kinh nghiệm xã hội – lịch sử của thế hệ trước thành vốn riêng của cánhân Bằng con đường giao tiếp, cá nhân đã hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội
đa dạng và phong phú trong toàn bộ hoạt động của mình, và biến chúng thành cácchức năng tâm lý, ý thức và nhân cách mang bản chất người
Chính vì thế C.Mác đã viết : “Bản chất của con người không phải là cái gìtrừu tượng vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chấtcon người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” [26,28]
Giao tiếp là con đường quan trọng nhất của sự phát triển tâm lý con ngườitrong quá trình phát sinh cá thể của nó (A.V.Daparôgiét, N.I.Lixina, 1974) (theo[11,489]) Con vật chủ yếu phát triển bằng con đường di truyền Những yếu tố ditruyền này có thể được biến đổi trong quá trình phát triển của cá thể, cụ thể là cáckinh nghiệm cá thể Con người thì khác, những kinh nghiệm lịch sử – xã hội củathế hệ trước không thể chiếm lĩnh bằng con đường di truyền, mà bằng con đườngbên ngoài, con đường “đối tượng hoá” các sản phẩm của nền văn hoá vật chất và
Trang 20tinh thần do con người tạo ra trong những hệ thống từ vựng và cú pháp của tiếngnói, trong các hình thức logic của tư duy, trong các công trình khoa học và nghệthuật…Quả thật, nếu không có sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử đó thìcon người khó có thể có sự phát triển tâm lý toàn vẹn.
Một nhà xã hội học người Pháp A.Pieron đã viết : “Nếu như hành tinh củachúng ta bị một tai họa mà tất cả mọi người lớn đều chết hết, chỉ còn lại trẻ con, thìmặc dù giống người vẫn tiếp tục phát triển, nhưng lịch sử nhân loại không thể tránhkhỏi bị gián đoạn, những lâu đài văn hoá có thể tiếp tục tồn tại, nhưng không có aigiới thiệu những lâu đài ấy cho thế hệ mới Máy sẽ không hoạt động, sách sẽkhông có người đọc, tác phẩm nghệ thuật sẽ mất chức năng thẩm mỹ của nó Lịchsử nhân loại nhất định phải bắt đầu lại từ đầu” [26,29] Nếu vậy, muốn trẻ con lĩnhhội được những giá trị tinh thần và vật chất của nhân loại nhất thiết cần có sự giaotiếp giữa trẻ với người lớn Những người đã nắm được nền văn hoá ở mức độ nàođó và có khả năng truyền lại cho nó những kinh nghiệm đã tích luỹ được, có khảnăng dạy cho nó những phương thức hoạt động thực hành và trí tuệ mà loài ngườiđã tạo ra.[11,490]
Về mặt thực nghiệm, các nhà tâm lý học Xô viết đã chứng minh được : “Giaotiếp là yếu tố quyết định quan trọng nhất của các quá trình nhận thức ở tất cả cácmức độ” và ảnh hưởng đến việc tổ chức và điều khiển các quá trình nhận thức.[25,427 – 428]
Thực nghiệm của Becherev đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của giao tiếp trực tiếp đếnđộ chính xác và sự chi tiết hoá của tri giác Vấn đề về sự ảnh hưởng của giao tiếpđến quá trình trí nhớ thì có thực nghiệm của V.Ph.Vedernhicov Riêng vấn đề vềvai trò của giao tiếp trong các quá trình tư duy vẫn còn nhiều ý kiến mâu thuẫn :một mặt khẳng định ảnh hưởng tích cực của giao tiếp đến quá trình tư duy; mặtkhác tài liệu thực nghiệm chứng tỏ hoạt động tư duy theo cá nhân chất lượng hơnkhi có sự tham gia của giao tiếp.[25,422]
Trang 21Ngoài ra thông qua giao tiếp còn hình thành nhân cách cho con người: conngười học được cách đánh giá hành vi thái độ, lĩnh hội đươc các tiêu chuẩn đạođức, kiểm tra và vận dụng những tiêu chuẩn đó vào thực tiễn Từ đó, mỗi người tạocho mình những nguyên tắc đạo đức hành vi của mình, sống và hành động theonhững nguyên tắc đó [11,490] Không có giao tiếp, những phẩm chất nhân cáchquan trọng như : lòng dũng cảm, lòng tốt, tính trung thực, tính nguyên tắc, tính kỷluật, tinh thần trách nhiệm…khó mà hình thành ở con người.
Đồng thời, khi giao tiếp với người khác, nó kích thích hứng thú nhận thức củacon người, có thể là nhận thức về người khác, và nhận thức cả chính bản thân mình.Những thông tin thu nhận được từ bên ngoài giúp họ tự đối chiếu với chính bảnthân mình, xem xét mình đã làm được gì và chưa được gì Từ đó mà họ có thái độgiá trị – cảm xúc nhất định đối với bản thân mình Phạm vi giao tiếp càng rộng thìnhững thông tin thu nhận được càng phong phú
Vì giao tiếp có vai trò quan trọng như vậy, nên nhà tâm lý học B.Ph.Lomovnhấn mạnh một cách đặc biệt và đưa lên thành một phạm trù độc lập bên cạnhphạm trù hoạt động trong tâm lý học Ông đã chỉ ra rằng giao tiếp là một mặt thiếtyếu và là thành tố của hoạt động sống của chủ thể, nó đóng vai trò như là cái quyếtđịnh quan trọng nhất đối với toàn bộ hệ thống tâm lý (Vấn đề giao tiếp trong tâmlý học) [25]
Do đó, sự giao tiếp không đầy đủ về số lượng, nghèo nàn về nội dung của trẻnhỏ với người lớn đã dẫn đến hậu quả là trẻ mắc bệnh “Hopitalism” (còn gọi làbệnh do nằm viện), mặc dù được nuôi dưỡng tốt Trẻ phát triển trong điều kiện
“đói giao tiếp” như vậy đều bị trì trệ về phát triển tâm lý và thể chất
Tóm lại, giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển tâm lý, ý thức,
nhân cách của con người cụ thể :
- Phát triển các quá trình nhận thức : tri giác, trí nhớ, tư duy…
- Hình thành các phẩm chất đạo đức của con người
Trang 22- Kích thích hứng thú nhận thức giúp con người thu nhận được nhiều thông tin.
- Không có giao tiếp con người sẽ chậm phát triển về tâm lý và thể chất
1.2.2.2.Chức năng của giao tiếp
Có nhiều cách phân chia chức năng giao tiếp theo một số quan điểm khácnhau của các nhà tâm lý học:
- Theo B.Ph.Lomov (2000) thì giao tiếp là quá trình nhiều mức độ nên cácchức năng của nó có thể phân loại theo nhiều hệ thống khác nhau:
+ Chức năng tổ chức hoạt động chung, nhận thức qua lại, hình thành và pháttriển các quan hệ liên nhân cách
+ Chức năng giao tiếp – thông tin, chức năng giao tiếp – điều chỉnh, chức nănggiao tiếp cảm xúc
Ông cho rằng cả hai cách phân loại chức năng giao tiếp này không loại trừnhau, chúng ta vẫn có thể đặt ra các phương án khác.[25,403]
- Phạm Minh Hạc (2002) đã phân chia các chức năng giao tiếp thành hai nhóm: nhóm các chức năng thuần tuý xã hội và nhóm các chức năng tâm lý xã hội
+Nhóm các chức năng thuần tuý xã hội bao gồm các chức năng giao tiếp phụcvụ các nhu cầu chung của xã hội hay một nhóm người để điều khiển, động viên lẫnnhau…Giao lưu thông tin giữa các nhóm, các tập thể, các tổ chức tạo thành xã hội.+ Nhóm các chức năng tâm lý – xã hội là các chức năng giao tiếp phục vụ cácnhu cầu của từng thành viên xã hội với người khác Tránh cho người khác rơi vàotình trạng cô đơn, một trạng thái nặng nề khủng khiếp, nhiều khi dẫn tới bệnh tậthoặc tự sát.[11,466]
- Các nhà tâm lý học xã hội cũng có nhiều cách phân chia khác nhau:
+ Theo Ngô Công Hoàn (1997) thì trong tâm lý học xã hội và tâm lý học quảnlý người ta thường quan tâm tâm đến các chức năng : Chức năng thông báo (truyềntin), chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi, hoạt động [17,403]
Trang 23+ Theo Mai Thanh Thế (1996) thì các chức năng giao tiếp gồm: chức năngthông tin liên lạc, chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng kích động liên lạc[16,108-109]
Giao tiếp có vai trò to lớn trong sự phát triển của từng cá nhân cũng như của
toàn xã hội Vì vậy giao tiếp có thể có nhiều chức năng khác nữa Nhưng nhìn chung, giao tiếp có thể có các chức năng chính sau đây:
- Chức năng thông tin (hay còn gọi là chức năng nhận thức) : Con người khi
giao tiếp chúng ta trao đổi, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho nhau Nhờ đó màchúng ta có thể hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết cả thế giới bên ngoài Mỗi cá nhânvừa là nơi phát và nhận thông tin Thu nhận và xử lý thông tin là một trong nhữngcon đường quan trọng để phát triển nhân cách
- Chức năng cảm xúc : Qua giao tiếp chủ thể này biểu lộ cảm xúc, thái độ với
chủ thể khác, ngược lại nó cũng nhận được thái độ của chủ thể khác đối với mình
Do đó giao tiếp là một trong những con đường hình thành tình cảm của con người
- Chức năng phối hợp hoạt động : Nhờ quá trình giao tiếp, con người có thể
cùng nhau bàn bạc, phân chia công việc nhằm đạt tới một mục tiêu chung
- Chức năng đánh giá, điều chỉnh hành vi : Trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau, tỏ
thái độ, cùng nhau hoạt động, mỗi chủ thể có thể đánh giá bản thân mình và đánhgiá người khác Từ đó con người có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình
ra quyết định của chủ thể khác
1.2.3.Đặc điểm giao tiếp
Trong “Từ điển Tiếng Việt”, đặc điểm là nét riêng biệt của một sự vật hiệntượng [45,292] Do đó, đặc điểm giao tiếp là những nét, những tính chất được biểuhiện trong quan hệ giữa người với người Tuỳ theo đặc điểm cá tính, lứa tuổi, trìnhđộ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội, điều kiện giao tiếp …mà những nét, tínhchất này biểu hiện khác nhau
Trang 24Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tìm hiểu một số đặc điểm giao tiếp củahọc sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình, cụ thể gồm ba đặc điểm:
- Nhu cầu giao tiếp
- Nội dung giao tiếp
- Đối tượng giao tiếp
1.2.3.1.Nhu cầu giao tiếp
“Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thoả mãn để tồn tạivà phát triển” [42,97] Nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú và khác xavề chất so với nhu cầu của con vật Nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn tại của cơthể như : ăn, mặc, ở…Nhu cầu tinh thần bao gồm nhu cầu nhận thức, nhu cầu thẩmmỹ, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu lao động, nhu cầu hoạt động xã hội…
Như vậy, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu tinh thần của conngười, nó giúp con người thỏa mãn mong muốn trao đổi thông tin, hiểu biết, chia sẻtình cảm, xúc cảm, thiết lập quan hệ với người khác Đó là một trong những nhucầu quan trọng và vĩ đại nhất của con người cần phải được thoả mãn để tồn tại vàphát triển với tư cách là một nhân cách, chủ thể Chính vì thế, C.Mác đã khẳngđịnh : “Nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là nhu cầu về ngườikhác Nhu cầu ấy không ngang hàng với nhu cầu khác của con người Nó cao hơnmọi nhu cầu khác Sự phát triển của nó trong con người chính là một điều kiện đểcon người trở thành con người” (theo [26,35])
Nhu cầu giao tiếp chính là nguồn gốc của tính tích cực giao tiếp ở cá nhân.Chúng xuất hiện ngay từ lúc đứa trẻ mới lọt lòng, bắt đầu bằng nụ cười của bé 4tuần tuổi và sau đó là “cảm xúc hớn hở” khi được người khác trò chuyện của bé 4tháng tuổi Lớn lên nữa nhu cầu giao tiếp của trẻ được mở rộng ra với bạn bè cùngtuổi, với thầy cô giáo, đỉnh điểm là lứa tuổi thiếu niên hoạt động chủ đạo của trẻ làgiao tiếp với bạn và hoạt động nhóm Nhu cầu này tiếp tục phát triển ở lứa tuổithanh niên và đi vào chiều sâu ở lứa tuổi trung niên do bị chi phối bởi các mối quan
Trang 25tâm trong gia đình Đến tuổi về già, nhu cầu giao tiếp vẫn được duy trì, đặc biệt lúcnày một số người già rất sợ cô đơn Chính vì thế, nhu cầu này luôn tồn tại cùng vớisự phát triển của con người, họ luôn khát khao tìm kiếm những người tâm đầu ýhợp để chia sẻ, tâm sự, để được lắng nghe và khẳng định bản thân mình.
Vậy, nhu cầu giao tiếp là những đòi hỏi tất yếu của con người được tiếp xúc với người khác nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người - là khái niệm
công cụ của nghiên cứu này
1.2.3.2.Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp thường có 2 loại : nội dung tâm lý và nội dung công việc
- Nội dung tâm lý: Khi tham gia vào quá trình giao tiếp, các chủ thể đều mangđến những đặc điểm nhân cách của mình Do đó, kết thúc quá trình giao tiếp, cácchủ thể đều để lại trong nhau những tác động về mặt tinh thần (tâm lý) Nội dungtâm lý trong giao tiếp gồm các yếu tố như : nhận thức, thái độ cảm xúc và hành vi.+ Nội dung nhận thức khi giao tiếp rất đa dạng : có thể là nhận thức về bảnthân chủ thể, về người khác, về thế giới xã hội và tự nhiên xung quanh Cho nên cóngười nói rằng : nếu chúng ta biết một điều, ta giữ cho riêng mình thì cuối cùngcũng chỉ biết một Nhưng nếu ta chia sẻ cho một người, ta biết được hai điều, chiasẻ cho năm người, ta biết được sáu điều…,và những gì ta biết tăng theo số người tatrao đổi
Do đó, tham gia vào quá trình giao tiếp nào cũng mang lại cho chúng ta nhữnghiểu biết mới
+ Nội dung thái độ cảm xúc luôn đi cùng với nội dung nhận thức Ở đó conngười thể hiện sự quan tâm hay thờ ơ, nhiệt tình hay bàng quang, lạnh nhạt…khitiếp xúc với mọi người Điều này mang tính định hướng cho quá trình giao tiếp, tứcgiao tiếp của con người thành công hay thất bại phụ thuộc khá nhiều vào yếu tốnày
Trang 26+ Nội dung hành vi được biểu hiện qua hệ thống vận động của tay, chân, nétmặt, ánh mắt, nụ cười của toàn cơ thể Những hành vi đó đều có một ý nghĩa nhấtđịnh trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
- Nội dung công việc của giao tiếp chủ yếu để thực hiện các mối quan hệ xãhội Do đó bất kỳ sự tiếp xúc nào cũng có một nội dung nhất định Song ngay trongnội dung công việc vẫn thể hiện nội dung tâm lý Công việc là biểu hiện bên ngoàicủa các cuộc tiếp xúc, nên chất lượng công việc cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp củanội dung tâm lý Những mối quan hệ tốt đẹp thường mang lại thành công cho côngviệc nhiều hơn so với các mối quan hệ không thoải mái
Như vậy, nội dung giao tiếp là những chủ đề, những thông tin mà con người trao đổi, bàn bạc hay tranh luận với nhau trong cuộc sống hằng ngày – là khái
niệm công cụ của nghiên cứu này
1.2.3.3.Đối tượng giao tiếp
Để thực hiện quá trình giao tiếp, chủ thể phải thiết lập mối quan hệ với ngườikhác Tùy vào mối quan hệ mà chủ thể có mức độ tiếp xúc với người đó nhiều hay
ít Trong suốt quá trình sống, con người thiết lập rất nhiều mối quan hệ khác nhau :quan hệ sản xuất, quan hệ giữa người – người, quan hệ đạo đức, pháp quyền…Vìvậy, đối tượng giao tiếp của con người rất đa dạng
Chính vì thế, đối tượng giao tiếp là những con người chủ thể tiếp xúc, trao đổi, trò chuyện, tâm sự với nhau trong cuộc sống hằng ngày – là khái niệm công
cụ của nghiên cứu này
1.3.Đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại gia đình
1.3.1.Gia đình
Tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc định nghĩa : “Gia đình là một nhómngười có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung” [21,33] Giađình được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống được tạo ra từquan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng…) Do được xây dựng trên
Trang 27nền tảng tình cảm và mối quan hệ gần gũi như vậy, nên không nơi đâu con ngườiđược nâng niu, chăm sóc, yêu thương, dạy dỗ, được hưởng hạnh phúc, được an ủinhư ở gia đình Vì thế, gia đình là nguồn tạo hạnh phúc cho mỗi con người, có giátrị vô cùng quý báu của nhân loại cần được giữ gìn và phát huy.
Gia đình Việt Nam đang tồn tại với nhiều loại hình khác nhau:
- Gia đình hạt nhân : gia đình bao gồm hai thế hệ : cha mẹ và con cái chưatrưởng thành Đây là loại hình gia đình phổ biến nhất hiện nay
- Gia đình mở rộng : còn gọi là gia đình lớn gồm ba thế hệ trở lên
- Gia đình đầy đủ : gia đình gồm nhiều thế hệ cùng chung sống nhưng trong đócó ít nhất một cặp vợ chồng với con cái chưa thành niên chung sống
- Gia đình không đầy đủ : gia đình thiếu khuyết về thành phần cơ bản (vợ hoặcchồng) Trong gia đình này chỉ có một trong hai người cha hoặc mẹ với con donhiều nguyên nhân khác nhau như : góa, ly hôn, không chồng có con…
Gia đình dù ở loại hình nào vẫn là tế bào của xã hội, nơi con người được nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục để từng bước trở thành con người xã hội
1.3.2.Học sinh thiếu niên sống tại gia đình
Học sinh thiếu niên sống tại gia đình là những học sinh trong độ tuổi 12 – 15tuổi, đang học tại các trường trung học cơ sở Trong đề tài này, người nghiên cứukhông tìm hiểu loại hình gia đình mà thiếu niên đang sống, chỉ quan tâm đến nơithiếu niên đang ở, sinh hoạt là gia đình của mình, đang được những người thânquan tâm, chăm sóc hằng ngày
1.3.3.Đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại gia đình
Như trên chúng tôi đã đề cập, đề tài chỉ nghiên cứu ba đặc điểm giao tiếp lànhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp Vì thế, ở phần nàychúng tôi cũng tìm hiểu ba đặc điểm này ở thiếu niên
Đặc điểm một, hai – về nhu cầu và đối tượng giao tiếp Hoạt động giao tiếp là
hoạt động chủ đạo của lứa tuổi thiếu niên, nên hoạt động này làm thõa mãn nhu
Trang 28cầu giao tiếp rất lớn của thiếu niên Các em mong muốn xây dựng quan hệ qua lạivà hành động trong quan hệ đó với tất cả mọi người.
Tuy nhiên nhu cầu này không đồng đều ở những đối tượng khác nhau mà các
em tiếp xúc Đối tượng mà các em muốn hướng tới hơn cả là bạn bè cùng lứa tuổi.Giao tiếp với bạn bè của thiếu niên có ý nghĩa quan trọng và có sức hấp dẫn kỳ lạ.Đôi khi nó đẩy lùi học tập xuống hàng thứ yếu, hạ thấp sự hấp dẫn của giao tiếpvới người thân trong gia đình Vì thế khi đến tuổi này các em thường không thích đichơi cùng với cha mẹ như lúc còn nhỏ.[7,53]
Có nhiều nguyên nhân để giải thích sự hấp dẫn của giao tiếp bạn bè, nhưngtựu trung lại có hai nguyên nhân chính Đầu tiên, bạn bè mà đặc biệt là bạn thân làngười hiểu các em nhiều nhất, cùng tuổi, cùng học tập, cùng sinh hoạt, vui chơi giảitrí… nên các em thường có những tâm tư, tình cảm giống nhau, dễ bộc bạch tâm sự,dễ tìm được sự đồng cảm ở bạn Vì thế, các em rất tin tưởng bạn bè, khi gặp khókhăn hay những lúc vui buồn, các em cũng nghĩ đến bạn để được trao đổi, chia sẻ.Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ nhu cầu khẳng định của thiếu niên Do sự pháttriển về thể chất, đặc biệt là sự phát triển về giới, và sự trưởng thành hơn về mặtxã hội nên các em cho mình đã lớn, và mong muốn trở thành người lớn Song trongmắt của bố mẹ và những người lớn khác, các em vẫn là trẻ con Chính vì vậy, các
em mong muốn có bạn (nhất là bạn thân) để được tin cậy, tôn trọng, và khẳng định
vị trí của mình trong mắt mọi người
Bên cạnh đó, nhu cầu giao tiếp với bạn thân của các em có sự phân hóa theomức độ trưởng thành của các em : nhu cầu trao đổi với bạn thân của học sinh khối
8 cao hơn học sinh khối 6.[31,38]
Đối với các em, việc lựa chọn người bạn như thế nào để kết bạn, để tin tưởngchia sẻ những vấn đề của mình không phải đơn giản Theo các giáo trình về tâm lýhọc lứa tuổi [18], [27], [30] đều khẳng định : các em rất chú ý đến phẩm chất củamột người bạn, đến sự thông minh nhanh trí, đến vốn kiến thức rộng về mọi mặt,
Trang 29không riêng gì kiến thức học tập ở nhà trường, chú ý đến tính cam đảm, khả nănglàm chủ bản thân… Riêng những phẩm chất của tình bạn là được các em đánh giácao, ưu tiên xếp hàng đầu là: sự chung thuỷ, lòng trung thành, trung thực, thẳngthắn, giúp bạn trong mọi hoàn cảnh và tôn trọng bạn, dám hi sinh cho tình bạn…Docách đánh giá bạn như vậy nên những người bạn thông minh, học giỏi, được thầycô, người lớn đánh giá tốt chưa hẳn là mẫu người lý tưởng để các em kết bạn Vìvậy, nếu các em gặp được những người bạn tốt thì những phẩm chất đó sẽ là cơ sởđể các em xây dựng một tình bạn trong sáng, bền vững Nếu ngược lại, các em kếtbạn với những đối tượng không tốt thì nguy cơ các em bị ảnh hưởng cái không tốtcủa bạn nhiều hơn là đấu tranh với những cái xấu của bạn
Trên cơ sở lý luận như trên, nhà giáo dục cũng như cha mẹ nên quan tâm đếnviệc kết bạn của con cái Để các em tự chọn bạn nhưng cha mẹ phải luôn quan tâmvà định hướng để các em lựa chọn bạn tốt và không bị ảnh hưởng cái xấu của bạn.Tuy mối quan tâm của các em nghiêng hẳn về phía bạn bè nhưng không phải
vì thế mà các em không có nhu cầu giao tiếp với cha mẹ Cha, mẹ vẫn là người các
em muốn chia sẻ, trao đổi ngay sau bạn bè [31,37] Các em thường hướng đến chamẹ nhiều hơn khi gặp các vấn đề nghiêm túc, những vấn đề cần đến sự hiểu biếtsâu rộng, kinh nghiệm từng trải Và dù sao đi nữa cha mẹ vẫn là người ruột thịt củacác em, đã nuôi dưỡng các em khôn lớn và luôn che chở, nâng đỡ các em
Ngoài ra các em vẫn có trao đổi với anh chị, thầy cô giáo của mình nhưng vớimức độ thấp hơn so với bạn và cha mẹ
Nhìn chung, đối tượng giao tiếp của thiếu niên khá phong phú Nhưng mức độgiao tiếp với các đối tượng đó thiếu niên có sự ưu tiên cao thấp khác nhau
Đặc điểm ba - về nội dung giao tiếp, thiếu niên không chỉ trao đổi với bạn bè
về các vấn đề liên quan đến học tập mà còn thông báo cho nhau những tin tức cùngquan tâm, thảo luận các sự kiện xảy ra trong lớp Đối với bạn thân, các em có thểthổ lộ cả những điều thầm kín như : ước mơ, mong muốn trong tương lai, những
Trang 30thay đổi cơ thể diễn ra trong giai đoạn này, những nhận xét của mình về nhữngngười xung quanh Và khi giao tiếp với bạn, các em cũng muốn nhận được nhữngđánh giá, nhận xét của người khác về bản thân mình.
Về các nội dung thiếu niên giao tiếp với cha mẹ, và những người lớn khác thìcác em hướng đến khi cần có sự hướng dẫn giúp đỡ những vấn đề khó khăn trongcuộc sống vượt quá hiểu biết của các em, khi cần tham khảo kinh nghiệm sống…Cóthể những nội dung trao đổi này không thường xuyên, song khi trao đổi với nhữngđối tượng này giúp trẻ giải quyết tốt các khó khăn của mình, có sự cân bằng trongtâm lý
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhu cầu giao tiếp của thiếu niên rất cao,phân bố khác nhau ở các đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp Và cùng vớihoạt động học tập, giao tiếp giúp các em trưởng thành hơn, tập nắm bắt nhữngchuẩn mực trong quan hệ nhân cách với mọi người Từ đó, các em có nhận thức,thái độ và hành vi phù hợp với các mối quan hệ đa dạng xung quanh mình
1.4.Đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm
1.4.1.Mái ấm
Hiện nay ở TP.HCM cũng như các tỉnh thành khác có nhiều dạng cơ sở trợgiúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: mái ấm, câu lạc bộ, trung tâm chăm sóc trẻđường phố, nhà mở, chương trình chăm sóc trẻ, trường vừa học vừa làm, trung tâmgiáo dục – dạy nghề thiếu niên…Mái ấm là một trong những dạng cơ sở xã hội nhưvậy
Theo “Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” được Chủ tịch nước thôngqua ngày 15/6/2004 [44, 27], trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm :
- Trẻ mồ côi, không nơi nương tựa
- Trẻ em bị bỏ rơi
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật
- Trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học
Trang 31- Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS
- Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại
- Trẻ em lang thang
- Trẻ em bị xâm hại tình dục
- Trẻ em nghiện ma tuý
- Trẻ em vi phạm pháp luật
Tùy vào hoạt động chuyên biệt của từng Mái ấm mà tiếp nhận trẻ thuộc một,hai hoặc ba hoàn cảnh như trên đã nêu Trên thực tế, một số năm gần đây do Nhànước có biện pháp ngăn chặn tình trạng trẻ em lang thang phát triển thêm, nên sốlượng trẻ em lang thang đã giảm hơn trước Vì thế một số Mái ấm đã nhận thêm trẻ
em nghèo trong cộng đồng có nguy cơ về tệ nạn xã hội đang kiếm sống trên đườngphố
Trong đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu các Mái ấm tiếp nhận trẻ langthang, trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi và trẻ em nghèo cộng đồng Những Mái ấm tiếpnhận trẻ đặc biệt như trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ nghiện ma tuý, trẻ khuyết tật, tàntật… thì không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi
Hoạt động của các Mái ấm đều nằm trong dự án có sự tài trợ của các tổ chứcnước ngoài, hoặc cá nhân là người nước ngoài Hiện tại ở TP.HCM, các Mái ấmđược sự tài trợ bởi các tổ chức như: Terre des hommes (Thụy Sĩ), Loreto (Úc),Christina Noble, Studio Bazar International…Chủ nhiệm dự án là các cơ quan đoànthể, tổ chức xã hội như: Hội Phụ nữ từ thiện thành phố, Uỷ ban dân số gia đình vàtrẻ em thành phố, Mặt trận Tổ quốc, Hội bảo trợ trẻ em thành phố, …Thực hiện cụthể các công việc ở Mái ấm do các đơn vị trực thuộc cơ quan chủ nhiệm dự án tạiđịa bàn Mái ấm đang tọa lạc Ví dụ Mái ấm Aùnh sáng Quận 3: chủ nhiệm dự ánlà : Hội phụ nữ từ thiện TP.HCM; Tổ chức thực hiện: Hội liên hiệp Phụ nữ Quận 3;Tổ chức tài trợ : Loreto (Úc)
Trang 32Nhiệm vụ của Mái ấm là chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, vãng – hồi gia vàhướng nghiệp cho trẻ Độ tuổi trẻ được tiếp nhận vào Mái ấm là từ khoảng 8 – 16tuổi, nhưng cũng tuỳ vào trường hợp cụ thể mà Mái ấm có thể tiếp nhận trẻ nhỏhơn hoặc lớn tuổi hơn trong khoảng tuổi đó Hiện nay, có Mái ấm dành riêng chotrẻ trai và trẻ gái.
Trực tiếp quản lý Mái ấm thường có một chủ nhiệm, 1 - 4 GDV, một quản gia.Ngoài ra còn có cộng tác viên là trẻ cũ ở Mái ấm đã lớn tham gia phụ giúp quản lýcác em, hoặc sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng phụ đạo văn hóa, sinh hoạtgiao lưu với các em
Trẻ sống tại Mái ấm ngoài việc học tập văn hóa tại các trường ở địa phương,theo nhiều dạng : phổ cập, phổ thông, bán công, trung tâm giáo dục thường xuyên;trẻ còn được tham gia các hoạt động khác như học vẽ, học nhạc, vi tính, bơi lội,bóng đá, giao lưu với các trẻ ở Mái ấm khác Hoặc trẻ tham gia các hoạt động vănhóa, văn nghệ, thể thao dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Đến độ tuổi 14 – 15 trẻ được tạo điều kiện để học nghề và tìm việc làm Sau
16 tuổi trẻ được hồi gia hoặc chuyển sang nhà hội nhập để tái hòa nhập cộng đồng.Những trường hợp đặc biệt, sau 16 tuổi trẻ vẫn được giữ lại sống tại Mái ấm, tùyvào điều kiện cụ thể của trẻ và Mái ấm
1.4.2.Học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm
Học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm là những em có hoàn cảnh như đã nói ởtrên, tuổi từ 12 – 15 Các em đang sống và học tập tại Mái ấm Hầu hết các em đềuhọc không đúng tuổi của mình, thường là học chậm hơn
Hằng tuần, hoặc hằng tháng, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm trẻ đượcngười thân đón về thăm nhà vào 2 ngày cuối tuần, dịp lễ, Tết hoặc kỳ nghỉ hè Cótrường hợp thì được người thân đến thăm
Chủ trương bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ có hoàn cảnh đặc biệt hiện nay làluôn tạo mối liên hệ mật thiết giữa trẻ với người thân, không tách rời trẻ khỏi
Trang 33người thân của mình Ngoại trừ những em không còn người thân, hoặc thất lạc chưatìm được người thân Điều này vừa tạo sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáodục giúp các em phát triển nhân cách hài hoà, vừa tránh cho người thân ỷ lại vàocác cơ sở xã hội mà quên đi nghĩa vụ quan tâm và chăm sóc trẻ.
1.4.3 Đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm
Cùng độ tuổi là thiếu niên nên HSTN sống tại Mái ấm cũng có những đặcđiểm giao tiếp đặc trưng của lứa tuổi này như HSTN sống tại gia đình Tuy nhiên,HSTN sống tại Mái ấm có hoàn cảnh đặc biệt hơn nên có những đặc điểm giao tiếpriêng
Thiếu niên sống ở Mái ấm cũng có nhu cầu giao tiếp rất lớn do các em thiếuthốn tình cảm gia đình Cho nên các em rất mong muốn được mọi người quan tâm,chia sẻ, đặc biệt là những người người bạn cùng cảnh ngộ với mình
Về đối tượng giao tiếp thì thiếu niên cũng có những đối tượng giao tiếp tronggia đình giống như thiếu niên ở gia đình, nhưng mức độ tiếp xúc không đượcthường xuyên do sinh hoạt của các em ở Mái ấm như trình bày ở trên Ngoài ra các
em còn giao tiếp với bạn bè, thầy cô ở trường các em đi học, những người trongkhu phố mà Mái ấm đang toạ lạc Khác với thiếu niên ở gia đình, thiếu niên ở Máiấm có thêm một môi trường sống nữa là Mái ấm, trong đó có các trẻ cùng sốngchung, các thầy cô GDV – những đối tượng các em tiếp xúc thường xuyên nhất.Sinh hoạt của các em trong Mái ấm cũng gần giống như ở gia đình : có họctập, ăn uống, vệ sinh, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí; chỉ khác là các em ở Mái ấmsống trong môi trường tập thể có những quy định chặt chẽ hơn Vì thế nội dunggiao tiếp của các em với mọi người cũng có những điểm tương đồng như trẻ ở giađình Tuy nhiên các em ở Mái ấm có hoàn cảnh sống khó khăn hơn nên những giátrị “tồn tại” có ý nghĩa thực tế chi phối hành vi và suy nghĩ của các em nhiều hơn[32,29] Do đó, việc trao đổi với bạn bè, người thân, thầy cô GDV …về ước mơ làmmột nghề kiếm được nhiều tiền cho bản thân và gia đình là điều dễ hiểu
Trang 34Tựu trung lại, học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm có nhiều đặc điểm giao tiếpgiống học sinh thiếu niên sống tại gia đình về nhu cầu giao tiếp, đối tượng giaotiếp, nội dung giao tiếp do tâm lý lứa tuổi chi phối Song do hoàn cảnh, điều kiệnsống khác nhau nên giữa hai khách thể này vẫn có sự khác nhau về một số đặcđiểm giao tiếp.
Như vậy, trên cở sở kế thừa và hệ thống hoá các vấn đề lý luận của những
người nghiên cứu trước, luận văn đã làm rõ nội hàm khái niệm “Giao tiếp”, và cácđặc điểm giao tiếp : “Nhu cầu giao tiếp”, “Nội dung giao tiếp”, “Đối tượng giaotiếp”, phân tích vai trò và chức năng của giao tiếp đối với sự phát triển tâm lý, ýthức, nhân cách của con người Từ đó, nêu được ba đặc điểm giao tiếp của HSTNsống tại gia đình và sống tại Mái ấm Dựa trên cơ sở lý luận đó, người nghiên cứutiến hành tìm hiểu thực trạng và so sánh ba đặc điểm giao tiếp trên giữa HSTNthiếu niên sống tại MA và sống tại GĐ (Phương pháp và kết quả nghiên cứu sẽtrình bày rõ ở chương 2, 3)
* Các khái niệm công cụ nghiên cứu chính của đề tài nghiên cứu :
- Giao tiếp : là mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc
tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người tri giác lẫn nhau, trao đổithông tin, thể hiện thái độ, cảm xúc, ảnh hưởng tác động qua lại, phối hợp với nhautrong hoạt động chung
- Nhu cầu giao tiếp : là những đòi hỏi tất yếu của con người được tiếp xúc với
người khác nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người
- Nội dung giao tiếp : là những chủ đề, những thông tin mà con người trao đổi,
bàn bạc hay tranh luận với nhau trong cuộc sống hằng ngày
- Đối tượng giao tiếp : là những con người chủ thể tiếp xúc, trao đổi, trò
chuyện, tâm sự với nhau trong cuộc sống hằng ngày
Trang 35CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ của đề tài bằngcách đọc và phân tích các bài báo, tài liệu tham khảo và những công trình nghiêncứu có liên quan
2.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2.2.1.Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi
Đây là phương pháp chính để tìm hiểu thực trạng và so sánh một số đặc điểmgiao tiếp giữa học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình
2.2.1.1.Xây dựng phiếu câu hỏi
Phiếu câu hỏi đóng dành cho hai khách thể thiếu niên ở Mái ấm và thiếu niên
ở gia đình dựa trên các tài liệu tham khảo và ý kiến của 27 thiếu niên ở Mái ấm,
37 thiếu niên ở gia đình
- Phiếu câu hỏi mở dành cho HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình gồm 2 phần: (Phụ lục 1)
+ Phần 1: Trắc nghiệm nhu cầu giao tiếp của Marlau – Crauna [38,13] gồm 20
items nhằm kiểm tra độ tin cậy của trắc nghiệm trước khi đưa vào thu số liệu chínhthức Kết quả độ tin cậy của trắc nghiệm đo trên 64 phiếu : = 0.517 – đạt mứctrung bình
+ Phần 2 : Các câu hỏi mở gồm :
1.Em thường trò chuyện với ai ở những nơi sau?
1.1.Ở gia đình
1.2.Ở trường
1.3.Ở khu phố em đang sống
1.4.Ở Mái ấm (Câu hỏi này chỉ dành cho HSTN sống tại Mái ấm trả lời)2.Em thường nói những chuyện gì với những người em đã kể trên ?
Trang 36- Phiếu câu hỏi đóng dành cho HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình gồm 3 phần (Phụ lục 2)
+ Phần 1 : Các thông tin về bản thân của thiếu niên ở Mái ấm và ở gia đình + Phần 2: Trắc nghiệm nhu cầu giao tiếp của Marlau – Crauna [38,13] gồm 20
items – đo chính thức Kết quả độ tin cậy đo trên 299 phiếu : = 0.6104 – đạt mứctrung bình
Tính tổng số điểm và phân loại theo tiêu chuẩn sau :
Nhu cầu giao tiếp trung bình của nam :
M = 10,66 ± 3,29
Nhu cầu giao tiếp trung bình của nữ :
M = 11,46 ± 3,21
+ Phần 3 : Các câu hỏi về đối tượng giao tiếp gồm 5 câu :
Câu 1 : Mức độ giao tiếp với các đối tượng ở 4 địa điểm : gia đình, trường,khu phố thiếu niên đang ở, Mái ấm (chỉ dành cho HSTN sống tại Mái ấm trả lời)
Câu 2 : Mức độ mong muốn giao tiếp với các đối tượng giao tiếp ở 4 địađiểm như câu 1
Câu 3 : Mức độ giao tiếp với các bạn : cùng giới, khác giới, cùng lớp, kháclớp, cùng ở trong khu phố, bạn thân, cùng ở trong Mái ấm (chỉ dành cho thiếu niên
ở Mái ấm trả lời)
Câu 4 : Mức độ mong muốn với người bạn có đặc điểm tâm lý như thế nào.Gồm 11 đặc điểm tâm lý chia thành 2 nhóm:
Phẩm chất đạo đức cá nhân : 4.1; 4.2; 4.3; 4.4; 4.6; 4.7; 4.8; 4.9
Trang 37 Năng lực của bạn : 4.5; 4.10; 4.11
Các đặc điểm này được tham khảo từ tài liệu [18,52-53]; [7,56]; 105]; [23,82-83]; [30,138-140]
[27,104- Câu 5 : Mức độ mong muốn giao tiếp với thầy cô ở trường (đối với HSTNsống tại gia đình), thầy cô GDV (đối với HSTN sống tại Mái ấm) có đặc điểm tâmlý như thế nào Gồm 11 đặc điểm tâm lý chia thành 2 nhóm:
Phẩm chất đạo đức của cá nhân : 5.3; 5.4; 5.6; 5.9; 5.11
Năng lực giáo dục : 5.1; 5.2; 5.5; 5.7; 5.8; 5.10
Các đặc điểm này được tham khảo từ tài liệu [18,208-232]
+ Phần 4 : Các câu hỏi về nội dung giao tiếp với cha mẹ, người thân (câu 6);
với bạn (câu 7); với thầy cô ở trường (đối với HSTN sống tại gia đình), thầy côGDV (đối với HSTN sống tại Mái ấm) (câu 8) Gồm 15 nội dung chia thành 4nhóm:
Bảng 2.1 : Các nội dung và nhóm nội dung giao tiếp
Nhóm vấn đề Các vấn đề cụ thể
Các vấn đề của cuộc sống bản thân
Những chuyện thuộc về lớp học của emNhững chuyện trong trường học
Những chuyện trong Mái ấm (chỉ dành cho HSTN sống tại Mái ấm trả lời)
Những chuyện trong gia đình của emNhững vấn đề tin tức, thời sự(trong nước và quốc tế)
Chuỵện làm ăn kiếm tiềnCác vấn đề riêng của bản thân
Những vấn đề liên quan đến công việc học tập của bản thân
Chuyện riêng tư, thầm kín của bản thânNhững chuyện liên quan đến việc phấn đấu, rèn luyện của em trong tương lai
Các mối quan hệ của bản thân
Các mối quan hệ bạn bèNhững chuyện liên quan đến cách cư xử,đánh giá mọi người xung quanh
Các hoạt động vui chơi, giải trí, sở
thích của bản thân
Văn hoá, văn nghệ(vẽ, hát, múa, ca sĩ…)Thể thao (bóng đá, bơi lội,võ thuật…)Sách, báo, truyện văn học, phim ảnh
Trang 38Thời trang, mốt ăn mặcCác nội dung này được tham khảo từ tài liệu [29,33-34]; [36,34]
Cả phiếu câu hỏi mở và đóng khi thu số liệu đều được tách riêng thành haiphiếu khác nhau Riêng khi trình bày trong phụ lục cả hai phiếu này sẽ được trìnhbày chung, những câu hỏi nào chỉ dành riêng cho HSTN sống tại Mái ấm trả lờingười nghiên cứu sẽ đánh dấu sao (*) trên đầu
2.2.1.2.Phương thức chọn mẫu nghiên cứu
- Mẫu để thu phiếu câu hỏi mở : 27 học sinh thiếu niên chọn ngẫu nhiên sống
tại Mái ấm Aùnh sáng Q.3, 37 học sinh thiếu niên sống tại gia đình chọn ngẫu nhiêntừ một lớp 7 của trường THCS Bàn Cờ Q.3
- Mẫu để khảo sát thực trạng : Tổng mẫu nghiên cứu là 299 HSTN.
+ Trong đó gồm 244 học sinh thiếu niên sống tại gia đình được chọn ngẫunhiên từ hai trường : THCS Nguyễn Tri Phương Q.10 chọn 2 lớp 7, 2 lớp 8 (Ý địnhcủa người nghiên cứu chỉ chọn 1 lớp 7 và 1 lớp 8 nhưng vì ban giám hiệu trườngmuốn tận dụng nghiên cứu này để hiểu thêm về học sinh của mình nên đã yêu cầungười nghiên cứu khảo sát thêm 1 lớp 7 và 1 lớp 8); trường THCS Trần Danh NinhQ.8 chọn 1 lớp 7 và 1 lớp 8
+ 55 học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm chọn ngẫu nhiên từ 6 Mái ấm, có 3Mái ấm nam và 3 Mái ấm nữ trên địa bàn Q.10, Q.4, Q.8, Q.Tân Bình, Q.6
- Mẫu để so sánh : do số lượng học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại
gia đình chênh lệch nhau khá lớn nên để khách quan hơn trong quá trình so sánhngười nghiên cứu đã làm 244 thăm đại diện cho số phiếu thu được ở 2 trườngTHCS Sau đó chọn ngẫu nhiên 55 thăm có cả nam và nữ tương ứng với 55 phiếuthu được từ các Mái ấm
2.2.1.3.Cách thu và xử lý số liệu
- Bước 1 : Phát phiếu câu hỏi mở để lấy cơ sở soạn phiếu câu hỏi đóng.
Trang 39- Bước 2 : Thu thập số liệu bằng phiếu câu hỏi đóng
- Bước 3 : Chấm điểm trắc nghiệm nhu cầu giao tiếp, kiểm tra và loại bỏ
những phiếu không đạt yêu cầu
- Bước 4 : Tính điểm và xử lý số liệu :
+ Đối với câu 1, 3, 6, 7, 8; thang đánh giá gồm 3 mức độ : Mức độ khôngbao giờ : 1 điểm; Mức độ đôi khi : 2 điểm; Mức độ thường xuyên : 3 điểm
+ Đối với câu 2, 4, 5; thang đánh giá gồm 3 mức độ : Mức độ không mongmuốn : 1 điểm; Mức độ bình thường 2 điểm; Mức độ rất mong muốn : 3 điểm
- Số liệu sau khi được xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5 được đánh giá nhưsau :
+ Đối với điểm trung bình (Mean) của tất cả các câu được phân lại theobiên giới liên tục :
M < 1.50 : không bao giờ, không mong muốn
1.50 ≤ M ≤ 2.50 : đôi khi, bình thường
M > 2.50 : thường xuyên, rất mong muốn
+ Kết quả so sánh trung bình hai mẫu độc lập bằng kiểm nghiệm T (T - test)với mức xác suất = 0.05 nếu:
p (sig 2 - tailed) < 0.05 có sự khác biệt ý nghĩa
p (sig 2 – tailed) ≥ 0.05 không có sự khác biệt ý nghĩa
Cách đánh giá này tham khảo từ tài liệu [40, 67]
2.2.2.Phương pháp phỏng vấn
- Lần 1 : Phỏng vấn các thầy cô chủ nhiệm của 6 Mái ấm (đã nêu trên) về tình
hình chung của Mái ấm hiện tại (Phụ lục 3)
- Lần 2 : Sau khi thu phiếu ở Mái ấm và ở trường, người nghiên cứu chọn ngẫu
nhiên một số em để phỏng vấn sâu dựa trên phiếu các em đã làm (Phụ lục 4) Sốlượng thiếu niên được phỏng vấn như sau :
Trang 40Bảng 2.2 : Số lượng HSTN được phỏng vấn ở các trường và Mái ấm
Trường/Mái ấm Số lượng
THCS Nguyễn Tri Phương 3
- Lần 3 : Phỏng vấn sâu các thầy cô chủ nhiệm của Mái ấm về nguyên nhân
của sự khác biệt ở một số đặc điểm giao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấm và sốngtại gia đình sau khi đã xử lý số liệu (Phụ lục 5)
2.2.3.Phương pháp toán thống kê
Dùng phần mềm SPSS 11.5 để :
- Tính điểm trung bình, tần số , tổng điểm
- So sánh bằng kiểm nghiệm T giữa các nhóm nghiên cứu
- Phân tích kết quả nghiên cứu từ các số thống kê