1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý cá nhân trong quá trình học tập của sinh viên năm cuối các trường Đại học

78 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 675,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: 7.1 Nhóm phương phương pháp nghiên cứu lý luận... Phương pháp thống kê toánhọc góp phần chứng minh giả thuyết và giải quyết những nhiệm vụ n

Trang 1

Mục lục Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể - đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Giới hạn đề tài nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

Chương I Một số vấn đề về trở ngại tâm lý. 1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

2 Trở ngại tâm lý 11

3 Đặc điểm khách thể khảo sát 20

4 Trở ngại tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên năm cuối 25

5 Những đóng góp của đề tài 26

Chương II Thực trạng một số trở ngại tâm lý của sinh viên năm cuối ở các trường đại học. 1 Nhận thức của sinh viên về trở ngại tâm lý 27

2 Một số biểu hiện trở ngại tâm lý của sinh viên năm cuối 32

3 Hành vi khắc phục trở ngại tâm lý của sinh viên qua một số tình huống 56

4 Một số ý kiến về vấn đề khắc phục những trở ngại tâm lý ở sinh viên năm cuối 65

Kết luận và kiến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Cơ sở lý luận

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người luôn phải thamgia vào các loại hình hoạt động khác nhau Có thể nói, hoạt động là điều kiện đểtồn tại và phát triển của con người

Song, trong quá trình hoạt động của mình, con người cũng luôn phải đốimặt với những khó khăn, những trở ngại kìm hãm quá trình hoạt động Nếu conngười muốn tiếp tục phát triển thì nhất định phải vượt qua những khó khăn, trởngại đó

Những khó khăn mà con người gặp phải trong quá trình hoạt động củamình, có thể là những khó khăn khách quan, do điều kiện bên ngoài mang lại,hoặc cũng có thể do chủ quan bản thân con người Những khó khăn này tựuchung lại, chúng là những Ỏhàng rào tâm lýÕ hay khó khăn tâm lý có thể xuấthiện ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình hoạt động của con người Vì thế vấn đềkhắc phục, hạn chế những trở ngại tâm lý trong quá trình hoạt động, tạo điềukiện cho con người phát triển và hoàn thiện nhân cách, luôn luôn được đặt ra vàđòi hỏi phải giải quyết kịp thời

Mặt khác hoạt động học tập là một trong những hoạt động chủ đạo trongsự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người Trong đó hoạt độnghọc tập không chỉ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cá nhân mỗi sinh viên,mà nó còn có những vai trò, ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế,chính trị, xã hội vv của đất nước

Sinh viên năm cuối ở các trường đại học trong qúa trình học tập hiện nayđang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trở ngại Sinh viên năm cuối là một độingũ tri thức hoàn toàn mới chuẩn bị bắt tay vào công cuộc kiến thiết nước nhà.Kết quả học tập, rèn luyện của họ ra sao đều được thể hiện rõ nhất ở năm cuốicùng của bậc đại học Bởi vậy một vấn đề đặt ra là , nếu giải quyết tốt nhữngkhó khăn, trở ngại tâm lý ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên năm

Trang 3

cuối, chính là đã giúp nâng cao kết quả rèn luyện của một lực lượng lao động xãhội mới giàu tiềm năng thế mạnh Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhânmà còn có ý nghĩa đối với cả xã hội.

1.2 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn hoạt động học tập của sinh viên hiện nay đang đặt ra những vấnđề vô cùng nan giải

Trước hết đó là vấn đề bản thân quá trình học tập đang phải đối mặt vớinhiều khó khăn như: về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học cònnhiều bất cập, hệ thống tri thức còn nghèo nàn lạc hậu Vấn đề ra trường, công

ăn việc làm; quan hệ tình cảm cũng có những tác động không nhỏ đến ý chíhọc tập, rèn luyện phấn đấu của sinh viên vv Đối mặt với những khó khăn đó,ở mỗi sinh viên đều có những phản ứng khác nhau Chẳng hạn, có những sinhviên biết trước sẽ khó khăn trong quá trình tìm việc làm sau khi ra trường nênđã tích cực nỗ lực học tập để trang bị cho mình một hành trang tri thức đầy đủvững chắc, tin cậy cho tương lai; nhưng trái lại, có những sinh viên lại tỏ ra bấtcần từ đó dẫn đến thái độ thờ ơ, coi thường học tập rèn luyện nghề Có trườnghợp sinh viên vì lo lắng, gặp khó khăn trong vấn đề tình cảm mà trở nên bỏ bê,trễ nải việc học tập; mặt khác, ngay chính kết quả học tập của các kỳ trước cũngcó những tác động nhất định đến kết quả học tập của sinh viên năm cuối

Như vậy chúng ta có thể thấy, có rất nhiều trở ngại tâm lý đã, đang, và sẽcòn gây ảnh hưởng không tốt tới kết quả học tập của sinh viên năm cuối Việcnghiên cứu, làm rõ và tìm ra biện pháp khắc phục kịp thời những trở ngại tâm lýđó sẽ tạo điều kiện nâng cao kết quả học tập rèn luyện của sinh viên nói chungvà sinh viên năm cuối nói riêng, lên một bước

Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề khắc phục những trở ngạitâm lý nảy sinh và ảnh hưởng tới kết quả học tập của sinh viên, đặc biệt là sinhviên năm cuối, là vô cùng quan trọng, cấp thiết Với những lý do nêu trên, chúng

tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý

cá nhân trong quá trình học tập của sinh viên năm cuối các trường Đại học”.

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu:

Việc tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi nhằm một số mục đích sau:2.1 Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý nảy sinh và ảnh hưởng đến quá trìnhhọc tập của sinh viên năm cuối các trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc GiaHà Nội và ĐH Kinh tế quốc dân

2.2 Tìm ra những nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của một số trở ngạitâm lý đối với quá trình học tập của sinh viên năm cuối; trên cơ sở đó đề ranhững biện pháp khắc phục nhằm giúp sinh viên đạt được kết quả cao nhất tronghọc tập ở trường ĐH

3 Khách thể - đối tượng nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số trở ngại tâm lý ảnh hưởng đếnquá trình học tập của sinh viên năm cuối

3.2 Khách thể khảo sát:

Khách thể khảo sát gồm 138 sinh viên năm cuối của các trường ĐH ở HàNội, gồm có: ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội và ĐH Kinh tế quốcdân

Trong đó:

- Trường ĐHSư phạm Hà Nội; gồm 46 sinh viên, thuộc khoa Giáo dục chính trị

- Trường ĐH Quốc Gia Hà Nội; gồm 46 sinh viên, thuộc khoa Kinh tế

- Trường ĐH Kinh tế quốc dân; gồm 46 sinh viên, thuộc nhiều khoa khác nhau

Các khách thể khảo sát được lựa chọn ngẫu nhiên

4 Giả thuyết khoa học:

- Chúng tôi cho rằng những trở ngại tâm lý đã có ảnh hưởng đến quá trìnhhọc tập của sinh viên năm cuối hiện nay

- Nếu khắc phục được những trở ngại tâm lý này sẽ tạo điều kiện thuận lợicho sinh viên phấn đấu đạt kết quả cao trong học tập ở năm cuối

Trang 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Tìm hiểu những cơ sở lý luận và xây dựng cơ sở lý luận cho đề tàinghiên cứu Cụ thể, tìm hiểu khái niệm trở ngại tâm lý và đặc điểm của sinhviên, trong đó có sinh viên năm cuối ở các trường đại học

5.2 Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý ảnh hưởng đến quá trình học tập củasinh viên năm cuối, trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội và ĐHKinh tế quốc dân

6 Giới hạn đề tài nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trong phạm vi sau:

* Về đối tượng: đó là một số trở ngại tâm lý cơ bản ảnh hưởng nhiều nhấtđến học tập của sinh viên năm cuối

* Về khách thể điều tra, gồm:

- 138 sinh viên của các trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia HàNội; ĐH Kinh tế quốc dân, thuộc nhiều khoa, ngành khác nhau

- 15 giảng viên thuộc khoa Tâm lý giáo dục học – trường ĐH Sư phạm HàNội và trường ĐH Kinh tế quốc dân

* Về địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu trên phạm vi sinh viên năm cuối củacác trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội; ĐH Kinh tế quốc dân

Phạm vi nghiên cứu kể trên của đề tài còn nhiều hạn chế, do tính cấp thiếtvà ý nghĩa thiết thực của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi rất mong đề tài sẽ đượcphát triển trên quy mô rộng hơn nữa để kết quả thu được có độ tin cậy cao hơn,đồng thời bổ xung những thiếu xót mà đề tài chưa giải quyết được

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Nhóm phương phương pháp nghiên cứu lý luận

Các phương pháp trên được sử dụng một cách triệt để, phát huy tối đa ưuđiểm của phương pháp, đó là khai thác một khối lượng lớn tri thức lý luận nhằmcung cấp cơ sở lý luận và xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 6

7.2.1 Phương pháp điều tra viết.

Đây là một trong các phương pháp chính, sử dụng xuyên suốt quá trìnhnghiên cứu đề tài Phương pháp điều tra viết trước hết được sử dụng với mụcđích thu thập thông tin, những vấn đề ít nhiều có liên quan đến đề tài nghiêncứu Mặt khác những thông tin thu được trong quá trình điều tra khách thể hầuhết là kết quả của phương pháp điều tra viết

7.2.2 Phương pháp trò chuyện

Phương pháp trò chuyện tham gia vào quá trình nghiên cứu với mục đíchbổ sung những tài liệu và chứng cứ cho kết quả nghiên cứu Đồng thời qua đótìm hiểu, tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách sâu sắc, khách quan hơn Vớiviệc sử dụng phương pháp trò chuyện , chúng tôi đã là rõ hơn vấn đề nghiêncứu, đồng thời bổ khuyết thực tiễn cho các phương pháp khác thông qua tiếpxúc, trò chuyện với các khách thể nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp quan sát

Trong suốt quá trình trước khi tiến hành nghiên cứu đề tài, cũng như trongkhi tiến hành đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát nhằm hỗ trợ chocác phương pháp nghiên cứu khác Mặt khác, phương pháp quan sát có vai trò tolớn trong việc nghiên cứu, tiếp cận khách thể một các khách quan

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học:

Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng nhằm xử lý nhữngthông tin, kết quả của quá trình điều tra, nghiên cứu Phương pháp thống kê toánhọc góp phần chứng minh giả thuyết và giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứuđề ra

Trang 7

Chương I Một số vấn đề về trở ngại tâm lý.

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

1.1 Một số nghiên cứu được tiến hành ở nước ngoài.

ở nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu về những trở ngại tâm lý, haykhó khăn tâm lý đã được tiến hành từ rất lâu Phần lớn các công trình đều nghiêncứu dưới góc độ lý luận về bản chất, nguyên nhân, cũng như biểu hiện của hiệntượng trở ngại trong tâm lý con người khi họ tham gia vào một loại hình hoạtđộng nào đó Dưới đây là một số công trình nghiên cứu điển hình

Vào năm 1986, tác giả G.M Anđreeva với việc tiến hành phân tích cácchức năng thông tin của quá trình giao tiếp ở con người Ử5Ứ, đã nhận thấy, ởđiều kiện trao đổi thông tin của con người có thể xuất hiện những rào cản tâm lý.Qua đây, tác giả nêu lên một số nguyên nhân làm nảy sinh những trở ngại tâm lýtrong quá trình giao tiếp

Hai tác giả H Hipsơ và M Phorvec đồng tác giả cuốn sách lý luậnỎNhập môn tâm lý học xã hộiÕ, đã lý giải chức năng của giao tiếp , đồng thờinêu ra các yếu tố gây khó khăn cho giao tiếp.Ử3Ứ

Bên cạnh đó, vào năm 1987 tác giả E.V Sukanova viết cuốn sách có tựađề ỎNhững khó khăn của giao tiếp liên nhân cách Õ, trong đó đề cập sâu sắcđến những vấn đề điển hình như vị trí, đặc điểm hay nhân cách của hiện tượnggiao tiếp và chủ thể giao tiếp

Nhìn chung, nghiên cứu của E.V Sukanova thiên về phân tích những trởngại trong giao tiếp liên nhân cách, chưa đề cập đến yếu tố cá nhân có sự chiphối và ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp với nhau, trong quá trình cùng thamgia hoạt động với người khác

Ngoài ra có tác giả V.A Cancalie, năm 1987 nghiên cứu nhu cầu giao tiếp

sư phạm của giáo viên Ử6Ứ đã nêu ra một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của

Trang 8

sinh viên sư phạm Điển hình như: không biết cách giàn xếp, tổ chức một cuộctiếp xúc; không hiểu đặc điểm của đối tượng giao tiếp; có tâm trạng lo lắng, sợhãi

V.A Cancalie đã phân tích khá tỉ mỉ những trở ngại tâm lý trong giao tiếpcủa sinh viên sư phạm, đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên nhân của nhữngtrở ngại này

Như vậy qua việc điểm qua một số các công trình nghiên cứu tiêu biểucủa các tác giả nước ngoài, nghiên cứu về vấn đề Ỏtrở ngại tâm lýÕ, chúng ta cóthể thấy rằng hầu hết các nghiên cứu chỉ trú ý làm rõ những trở ngại tâm lý tronghoạt động giao tiếp mà chưa chú ý đúng mức đến các lĩnh vực hoạt dộng kháccủa con người Mặt khác, một lần nữa cho thấy, việc nghiên cứu, làm rõ nhữngtrở ngại tâm lý trong các hoạt động khác về lý luận cũng như thực tiễn biểu hiệnvà cách khắc phục là hết sức quan trong và cần thiết

1.2 Một số nghiên cứu được tiến hành trong nước.

Nghiên cứu về những Ỏtrở ngại tâm lýÕ trong quá trình con người thamgia vào các hoạt động khác nhau, là một vấn đề hiện nay đang được chú ý quantâm của các nhà tâm lý học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nhiều công trìnhnghiên cứu, đề tài nghiên cứu đã ra đời ở Việt Nam trong khoảng thời gian gầnđây đã cho thấy điều này Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

Giáo sư Nguyễn Văn Lê, năm 1992 viết tác phẩm ỎVấn đề giao tiếpÕ

Ử7Ứ, dưới góc độ thông tin, tác giả đã bàn đến những khó khăn trong giao tiếp

Tác giả Nguyễn Thanh Bình, Ử8Ứ nghiên cứu về một số trở ngại tâm lýtrong giao tiếp của sinh viên sư phạm với học sinh khi đi thực tập tốt nghiệp.Với đề tài ỎMột số trở ngại tâm lý của giáo sinh thực tập công tác chủ nhiệmÕ,tác giả đã đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về trở ngạitâm lý trong giao tiếp

Tác giả Huyền Phan với bài viết : ỎNhững trở ngại tâm lý khi giao tiếpÕđăng trên tạp chí ỎDân tríÕ (số 62 – 1995) chỉ ra rằng: nhiều khi giao tiếp

Trang 9

không đạt được mục đích vì bị các trở ngại tâm lý ngăn cản Muốn giao tiếp đạtmục đích thì các chủ thể giao tiếp cần phải vượt qua các trở ngại tâm lý đó.

Tác giả Mạnh Toàn với bài viết: ỎNăm nguyên nhân thất bại trong giaotiếpÕ, đăng trên tạp chí ỎThế giới trong taÕ (số 18 – năm 1996) đã tập chungphân tích ý kiến của bác sĩ người Mỹ là Rabikahher về năm nguyên nhân cảntrở cuộc tiếp xúc giữa người với người Tác giả đã nêu và giải thích khá tườngtận năm nguyên nhân này, song chưa bàn đến lý luận, cũng như chưa có nghiêncứu thực nghiệm về những khó khăn tâm lý này trong giao tiếp

Tác giả Lê Hương viết tác phẩm: ỎMột số khó khăn tâm lý trong quản lýsản xuất và kinh doanh ở các xí nghiệp quốc doanh hiện nayÕ, đăng trong cuốnỎTâm lý học kinh doanhÕ, do Hội TL – GD học Việt Nam xuất bản tại TP.HCM năm 1993.Trong bài nghiên cứu, tác giả đã phân tích những khó khăn tâmlý trong công tác quản lý xí nghiệp của các nhà quản lý, chủ yếu ở hai mặt: nhucầu và hoạt động Cùng với việc phân tích, tác giả đã đưa ra những số liệu thựctế để chứng minh cho các khó khăn tâm lý đó

Giáo sư Phạm Ngọc Viễn với cuốn ỎTâm lý học thể thaoÕ tập chungphân tích biện pháp cơ bản của công tác huấn luyện tâm lý chung cho các vậnđộng viên , qua đó nêu ra các khó khăn tâm lý thể hiện dưới dạng các cảm giácsợ hãi, không tin tưởng, do dự trong quyết định v.v Những khó khăn tâm lýnày thường xuất hiện trong điều kiện thi đấu, bị chi phối bởi các yếu tố như:khởi động không thành công, đối phương của mình có thành tích cao, trọng tàiđánh giá thiếu khách quan Các khó khăn tâm lý rất đa dạng về nội dung, songcó thể chia thành 3 mặt như sau: Những khó khăn về nhận thức; Những khókhăn về cảm xúc và Những khó khăn về đạo đức

Năm 1998, tác giả Nguyễn Thanh Sơn với nghiên cứu ỎNhững khó khăncủa học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt NamÕ, đăng trongtạp chí ỎNghiên cứu giáo dục Õ- số 4 Tác giả đã nêu lên một số khó khăn củahọc sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam đồng thời chỉ ranhững nguyên nhân của chúng

Trang 10

Cùng năm 1998, nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Chiên với đền tài:ỎKhắc phục các khó khăn của sinh viên khi sử dụng ngôn ngữ hoá họcÕ, đăngtrong tạp chí ỎNghiên cứu giáo dụcÕ – số 7; đã chỉ ra một số khó khăn của sinhviên dân tộc khoa hoá học trường ĐHSP Chẳng hạn: Chưa hiểu hết ý nghĩa củamột số thuật ngữ , khái niệm trong hoá học; Chưa nắm chắc cách gọi tên hợpchất vô cơ v.v đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân của các khókhăn này.

Đề tài ỎNghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong xử lý tình huống sưphạm của sinh viên trường CĐSP Thái BìnhÕ của tác giả Lê Sĩ Khôi Ử4Ứ đãnghiên cứu một cách khá hệ thống, sâu sắc và toàn diện về trở ngại tâm lý củasinh viên sư phạm trong giao tiếp Tác giả Lê Sĩ Khôi đi từ góc độ lý luận đếnthực tiễn, chỉ ra khái niệm cũng như bản chất của trở ngại tâm lý trong giao tiếpđồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và phương cách khắc phục chúng

Tác giả Nguyễn Minh Hải tiến hành nghiên cứu đề tài ỎNhững khó khăntâm lý trong quá trình giải toán của học sinh tiểu họcÕ, đăng trên tạp chíỎNghiên cứu giáo dụcÕ – số 4 năm 1995 Qua nghiên cứu của mình, tác giảNguyễn Minh Hải chỉ rõ những trở ngại tâm lý khi học sinh tiểu học giải quyếtcác bài tập toán trong quá trình học tập

Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã tập chung làm rõ nhiều vấn đềxung quanh khái niệm trở ngại tâm lý Đó là việc làm rõ khái niệm, bản chất,vạch ra những trở ngại, khó khăn tâm lý đồng thời làm rõ những nguyên nhân vàtrên cơ sở đó có những biện pháp tác động thích hợp nhằm làm hạn chế và tiếntới loại bỏ những tác động tiêu cực Tuy nhiên phạm vi tiến hành nghiên cứucòn rất hạn chế, chủ yếu tập chung nghiên cứu những trở ngại tâm lý trong quátrình con người tiến hành hoạt động giao tiếp; một số đề tài nghiên cứu vềnhững khó khăn tâm lý trong hoạt đông học tập của học sinh Mặt hạn chế khác,đó là các đề tài phần lớn chỉ nghiên cứu trên khách thể là sinh viên sư phạm vànghề giáo viên mà chưa chú ý đến các ngành nghề khác Trong thực tế, vấn đềtrở ngại tâm lý luôn luôn tồn tại trong tất cả các loại hình hoạt động của con

Trang 11

người; do đó vấn đề nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân và khắc phục trở ngại tâmlý trong các loại hoạt động khác ngoài hoạt động giao tiếp là hết sức cần thiết.

Với việc tiến hành đề tài : ỎTìm hiểu một số trở ngại tâm lý cá nhân trongquá trình học tập của sinh viên năm cuối các trường Đại họcÕ, chúng tôi hi vọngsẽ mở rộng đối tượng nghiên cứu, là những trở ngại tâm lý cá nhân ảnh hưởngđến quá trình học tập; mở rộng phạm vi khách thể nghiện cứu, không chỉ trênkhách thể là sinh viên sư phạm mà còn là sinh viên của các nghành nghề khác ítđược quan tâm Qua đó chúng tôi mong muốn tìm ra những nguyên nhân và cácbiện pháp khắc phục, tiến tới loại bỏ những trở ngại tâm lý có tác động tiêu cựcđến hoạt động của con người nói chung và hoạt động học tập của sinh viên nóiriêng, đặc biệt là sinh viên năm cuối

2 Trở ngại tâm lý.

2.1 Khái quát chung về trở ngại

Trong thực tế cuộc sống, mỗi khi không hoàn thành một công việc, nhiệmvụ hay một mục đích nào đó, người ta thường tìm ra những nguyên nhân đã kìmhãm kết quả mà mình mong muốn đạt tới Người ta thường nói, do nguyên nhânnày hay nguyên nhân khác làm cản trở hoạt động của mình Nói khác đi, đó lànhững khó khăn hay trở ngại ( gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan) đã tácđộng đến quá trình hoạt động của con người Vì vậy có thể coi trở ngại là nhữngrào cản, những vướng mắc, những khó khăn khiến cho con người không thể dễdàng thực hiện được nhiệm vụ hay hoạt động, hành động của mình, nhiều khi nókhiến cho con người không thể đạt được kết quả mong muốn cuối cùng

Trở ngại trong cuộc sống hoạt động của con người có nghĩa bao hàm rấtrộng Hoạt động của con người đa dạng và phong phú bao nhiêu, thì những trởngại thể hiện trong cuộc sống cũng phong phú và đa dạng bấy nhiêu

Về mặt ngôn ngữ, trong cuốn Từ điển Tiếng Việt – nhà xuất bản Đà Nẵnggiải thích như sau: ỎTrở ngại là gây khó khăn, làm cho không tiến hành được dễ

Trang 12

dàng, suôn sẻÕ Ử10 – trang 1045Ứ Như vậy, trên bình diện lý luận, trở ngạitrong cuộc sống cũng được nhìn nhận bao gồm tất cả những yếu tố nào gây chochủ thể những khó khăn, những sự cản trở khi tiến hành một hoạt động nào đó.

Vậy trở ngại tâm lý là gì ? Có phải đó là những khó khăn, trở ngại xảy ratrong tâm lý, ý thức của con người hay không ? Tiếp theo dưới đây chúng tôi sẽlàm sáng tỏ vấn đề này

Như trên đã nói, trong bất kỳ hoạt động nào, con người luôn luôn gặpnhững khó khăn trở ngại, làm cho con người không tiến hành được hoạt động,hoặc làm cho hoạt động không đạt được kết quả như mong muốn Những khókhăn đó do những yếu tố chủ quan hoặc khách quan tạo ra; trong đó:

- Những yếu tố khách quan, hay nói cách khác đó là những yếu tố bênngoài, chúng bao gồm môi trường sống; môi trường công tác, làm việc, họctập Con người tồn tại và hoạt động trong những môi trường đó, lại trực tiếphoặc gián tiếp chịu các tác động của nền văn hoá, các yếu tố địa lí (đất đai, khíhậu ), điều kiện, phương tiện làm việc v.v Những yếu tố này tồn tại xungquanh con người, bên ngoài con người, không chịu sự tác động của con người

do đó được coi là những nhân tố khách quan

- Những yếu tố chủ quan, hay còn gọi là những yếu tố bên trong, đó lànhững khó khăn, trở ngại nảy sinh do đặc điểm sinh lý, đặc điểm cơ thể; hoặc dochính đặc điểm tâm lý tạo ra như tính tích cực, kinh nghiệm , năng lực tư duy,ngôn ngữ, kỹ năng chưa hoàn thiện vv của chính bản thân chủ thể Những yếutố này nằm bên trong con người - chủ thể tâm lý, do đặc điểm tâm lý tạo ra, nêncó thể coi là những trở ngại tâm lý trong hoạt động của con người

2.2 Khái niệm trở ngại tâm lý trong tâm lý học.

Trong tâm lý học, khi nói đến khái niệm Ỏtrở ngại tâm lýÕ trong hoạtđộng là nói đến những hàng rào tâm lý kìm hãm hoạt động đạt kết quả, mục đíchvạch ra từ trước Nhiều nghiên cứu khác nhau về Ỏtrở ngại tâm lýÕ trong hoạtđộng đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, tựu chung lại có thể sắp xếp thành banhóm ý kiến như sau:

Trang 13

 Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, Ỏtrở ngại tâm lýÕ là trạng thái tâm lýthể hiện tính thụ động lúng túng của chủ thể khi gặp những tình huống,những điều kiện thay đổi làm cản trở quá trình hành động và làm sai lệchkết quả hoạt động Trong từ điển TLH, tác giả Vũ Dũng nêu: Ỏ Hàng ràotâm lý là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụ động quá mức của chủ thể,gây cản trở trong việc thực hiện hành động Cơ chế diễn tiến của hàng ràotâm lý là sự gia tăng những mặc cảm và tâm thế tiêu cực : hổ thẹn, cảmgiác tội lỗi, sợ hãi, lo lắng, tự đánh giá thấp bản thân mình v.v Tronghành vi xã hội của con người, hàng rào tâm lý xuất hiện như những ngăncách trong giao tiếpÕỬ9 – trang 89Ứ

 Nhóm ý kiến thứ hai, quan niệm, Ỏtrở ngại tâm lýÕ là tổ hợp các thuộctính, các trạng thái , các đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng, làm cho quá trình hoạt động gặp khó khăn, làm cho chủ thể không pháthuy được khả năng của mình, dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế.Nhóm ý kiến này quan niệm về trở ngại tâm lý có phần rộng hơn so vớinhóm ý kiến thứ nhất

Với ý kiến trên, tác giả B.Đ.Parưghin cho rằng : hàng rào tâm lý được hiểungầm như các quá trình, các thuộc tính , các trạng thái của con người nói chung,bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm của con người Ử7Ứ

Đồng hành với ý kiến trên, tác giả Phạm Ngọc Viễn khi phân tích các biệnpháp cơ bản của công tác huấn luyện tâm lý chung cho các vận động viên thểthao, đã đồng thời nêu ra các khó khăn, trở ngại về nhận thức xuất hiện khi họ(các vận động viên thể thao) phản ánh không đúng về bản thân và tình huống cụthể; trở ngại về cảm xúc phụ thuộc vào trạng thái của vận động viên với nhiệmvụ được giao; tương tự như vậy, trở ngại về đạo đức nẩy sinh khi nhận thức vàrung cảm về những yêu cầu của xã hội Ử9Ứ

 Nhóm ý kiến thứ ba, gồm những ý kiến nhận định, Ỏtrở ngại tâm lýÕ làsự thiếu thích ứng, thiếu linh hoạt của chủ thể trong quá trình hoạt độngvà trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ tức thời, khiến cho chủ thể

Trang 14

không kịp thời huy động được những đặc điểm cá nhân cho phù hợp vớiyêu cầu, nội dung, đối tượng và hoàn cảnh công việc.

V.Ph Galưgin cho rằng: hàng rào tâm lý - đó là trướng ngại có tính chất tâmlý làm cản trở quá trình thích ứng của cá nhân đối với các yếu tố mới của ngoạicảnh, do các đặc điểm của hoàn cảnh , đặc điểm của cá nhân Ử7Ứ

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng ba nhóm ý kiến trên đã khái quát khárõ nét về bản chất và biểu hiện của hiện tượng Ỏtrở ngại tâm lýÕ trong hoạtđộng của con người, trong đó các ý kiến đề cập đến trên mọi phương diện, từcác trạng thái tâm lý, cảm xúc; cho đến tổ hợp các thuộc tính, các đặc điểm nhâncách; đến sự thích ứng của chủ thể với môi trường, hoàn cảnh khách quan v.v Ngoài ra có thể kể tới một số nhà nghiên cứu khác, sau khi xem xét các nhậnđịnh trên, họ đã đưa ra ý kiến của mình trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thểnhư sau:

- Tác giả Nguyễn Thanh Bình Ử5Ứ : Trở ngại tâm lý trong giao tiếp làtoàn bộ những đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợpvới nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp Bản chất của trở ngại tâm lýtrong giao tiếp - tác giả khẳng định, là sự không phù hợp giữa những đặc điểmtâm lý cá nhân, kiểu hành vi ứng xử với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giaotiếp

- Tác giả Lê Sỹ Khôi Ử4Ứ: ỎTrở ngại tâm lý trong giải quyết tình huống

sư phạm là những đặc điểm tâm lý và phương thức hành động của sinh viênđược nảy sinh trong quá trình sinh viên tiến hành giải quyết các tình huống sưphạm Các đặc điểm đó làm cản trở quá trình thực hiện hành động và hạn chếkết quả giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên trong rèn luyện kỹ nănggiải quyết tình huống sư phạm.Õ Đồng thời với việc trình bày khái niệm, tác giả

Lê Sỹ Khôi còn nhấn mạnh một số lưu ý khi nghiên cứu trở ngại tâm lý tronggiải quyết tình huống sư phạm, đó là:

 Trở ngại tâm lý là hiện tượng tâm lý phổ biến Bất kỳ cá nhân nào thamgia vào bất kỳ hoạt động nào cũng sẽ gặp trở ngại tâm lý Hơn nữa, đốivới sinh viên trong quá trình tham gia hoạt động nghiệp vụ sư phạm, là

Trang 15

thời kỳ các phẩm chất nhân cách của người giáo viên đang được hìnhthành, do vậy, mức độ thích ứng của họ với hoạt động sư phạm còn hạnchế, nên sự xuất hiện trở ngại tâm lý càng phổ biến.

 Tính đa dạng của trở ngại tâm lý phụ thuộc vào mức độ phù hợp giữa kiểunhân cách với đặc điểm của tình huống, điều kiện nảy sinh tình huống

 Trở ngại tâm lý mang tính chủ thể rõ nét: trước một tình huống cụ thể,người có kinh nghiệm phù hợp và năng lực sư phạm cao sẽ ít gặp trở ngại

 Trở ngại tâm lý là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệuquả hoạt động Trong rèn luyện nghiệp vụ có thể làm cho sinh viên thiếutích cực, hiệu quả luyện tập thấp

 Trở ngại tâm lý có nguồn gốc từ thế giới khách quan, con người có thểnhận thức, kiểm soát và điều khiển được nó nhằm làm hạn chế ảnh hưởngtiêu cực của nó tới hoạt động của con người, và tới kết quả hoạt động.Trong quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi nhận định, trở ngại tâm lýlà những đặc điểm tâm lý nằm trong hệ thống cấu trúc nhân cách cá nhân khôngphù hợp với nội dung, đặc điểm, yêu cầu, hoàn cảnh, tình huống của hoạt độngmà chủ thể tiến hành Những đặc điểm tâm lý không phù hợp đó đã làm kìmhãm, cản trở, gây khó khăn cho việc tiến hành hoạt động của chủ thể khôngđược thuận lợi hoặc không được như ý

Với cách hiểu như trên, chúng tôi cho rằng, trở ngại tâm lý vừa có tính ổnđịnh vừa có tính cơ động Bởi lẽ, với những chủ thể có những đặc điểm tâm lýtrong hệ thống cấu trúc nhân cách (như xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực)không phù hợp với một loại hình hoạt động nào đó, thì chắc chắn khi tiến hànhhoạt động này, cá nhân đó sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với các cá nhân khác.Nhưng sự không phù hợp này chỉ có tính chất tương đối, vì, khi cá nhân đó biếtcách khắc phục những đặc điểm tâm lý không phù hợp (ví dụ: sự nhút nhát tronggiao tiếp; sự thiếu hụt kiến thức trong giải quyết tình huống ) thì khi đó nhữngtrở ngại tâm lý, hay nói đúng hơn là những đặc điểm tâm lý không phù hợp vớihoạt động đó sẽ bị loại bỏ, từ đó giúp cho hoạt động của mình tiến hành được dễdàng thuận lợi hơn và đạt kết quả tốt nhất Đây cũng chính là một trong những

Trang 16

lý do để chúng tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài này Mặt khác, nhưnhiều nhà nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng, trở ngại tâm lý bao gồm cả sự thiếuthích ứng, thiếu linh hoạt của chủ thể trong quá trình hoạt động và trong việcthực hiện mục tiêu, nhiệm vụ tức thời, khiến cho chủ thể không kịp thời huyđộng được những đặc điểm cá nhân cho phù hợp với yêu cầu, nội dung, đốitượng và hoàn cảnh công việc (trên đã dẫn) Như vậy điều này có nghĩa là, trongnhững tình huống cụ thể, đối với người này có thể là tâm lý gặp khó khăn,nhưng với người khác thì không Hoặc ở thời điểm này, chủ thể thể gặp khókhăn đối với tình huống ấy, nhưng ở thời điểm khác thì không (nhất là khi tìnhhuống khó khăn đã lặp lại nhiều lần) Chính vì vậy điều này cũng cho thấy tính

cơ động, không bất biến của những trở ngại tâm lý

2.3 Phân loại trở ngại tâm lý.

2.3.1 Căn cứ trên hình thức biểu hiện của trở ngại tâm lý, tác giả LêSĩ Khôi Ử4Ứ phân loại như sau:

*Trở ngại tâm lý về mặt nhận thức

* Trở ngại tâm lý thuộc lĩnh vực xúc cảm , tình cảm

* Trở ngại tâm lý thuộc lĩnh vực hành vi

2.3.2 Căn cứ trên phạm vi biểu hiện, chúng tôi cho rằng có hai loại trởngại tâm lý, đó là trở ngại tâm lý cá nhân và trở ngại tâm lý xã hội

* Trở ngại tâm lý cá nhân là những trở ngại nảy sinh trên phương diện cáthể, nó gây sự cản trở, là rào cản kìm hãm hoạt động của cá nhân Trở ngại tâmlý cá nhân chịu sự chi phối, tác động của trở ngại tâm lý xã hội Trở ngại tâm lýcủa mỗi cá nhân khác nhau thì khác nhau về phạm vi, mức độ, cũng như nhữngnguyên nhân và ảnh hưởng của trở ngại tâm lý

* Trở ngại tâm lý xã hội là những trở ngại tâm lý nảy sinh trên phươngdiện loài Những trở ngại tâm lý xã hội có sự chi phối và ảnh hưởng đến trở ngạitâm lý cá nhân

Trang 17

2.3.3 Vì trở ngại tâm lý là một hiện tượng cơ động, không bất biến mà cósự thay đổi theo sự điều chỉnh của chủ thể, do đó chúng tôi căn cứ vào thờigian tồn tại của trở ngại tâm lý, chia trở ngại tâm lý hai loại:

* Trở ngại tâm lý ngắn hạn: Là những trở ngại tâm lý tồn tại trong khoảngthời gian ngắn từ vài phút cho đến vài tháng, căn cứ trên loại hình hoạt động màchủ thể tham gia

* Trở ngại tâm lý dài hạn: Là những trở ngại tâm lý tồn tại trong khoảngthời gian dài, từ vài giờ cho đến vài năm tuỳ theo loại hình hoạt động mà chủthể tham gia

2.3.4 Từ những phân loại nêu trên về trở ngại tâm lý, chúng tôi nhận thấykhi nghiên cứu về những trở ngại tâm lý ảnh hưởng đến quá trình học tập củasinh viên năm cuối các trường đại học ở Hà Nội là chúng tôi tiếp cận nghiên cứutrên phương diện trở ngại tâm lý cá nhân Bởi lẽ, những trở ngại tâm lý này,không chỉ có những ảnh hưởng, tác động khác nhau đối với mỗi cá nhân vềphạm vi ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng, nguyên nhân và kết quả mà còn tồn tạiở mỗi cá nhân trong một khoảng thời gian khác nhau Chẳng hạn, với người này,trở ngại tâm lý A gây ảnh hưởng rất lớn trong một khoảng thời gian dài, nhưngvới người khác, trở ngại tâm lý A gây ảnh hưởng rất ít và tồn tại trong khoảngthời gian ngắn là mất đi

2.4 Trở ngại tâm lý cá nhân.

2.4.1 Khái niệm cá nhân và trở ngại tâm lý cá nhân

2.4.1.1 Cá nhân

Khái niệm Ỏcá nhânÕ bắt đầu được hình thành ngay từ thời cổ đại Lúcđầu, thuật ngữ ỎpersonaÕ dùng để chỉ cái mặt nạ mà diễn viên của sân khấu cổđại đeo vào khi trình diễn, sau đó nó dùng để chỉ bản thân người diễn viên và cáivai mà người đó đóng Dĩ nhiên thuật ngữ Ỏcá nhânÕ đã được khái quát hoá vàsau đó dùng để chỉ vai trò thực sự của con người trong đời sống xã hội

A.G.Côvaliov cho rằng: cá nhân là một cá thể có ý thức, có một vị trí nhấtđịnh và thực hiện một chức năng nhất định trong xã hội Ử1; trang 16Ứ

Trang 18

Trong các xã hội phong kiến và xã hội tư bản đều quan niệm một cáchphản động về cá nhân Bởi lẽ họ cho rằng, chỉ những kẻ có Ỏdòng dõi quý tộcÕ,hoặc những kẻ giàu có, chiếm hữu nhiều tài sản mới được coi là một cá nhân,một nhân vật trong xã hội Ngoài ra, trong xã hội tư bản còn truyền bá nhiềuquan điểm tâm sinh lý học, điển hình như học thuyết Freud Theo thuyết này, thìcá nhân là một cá tính sinh vật học đóng khung trong bản thân nó, tuy sốngtrong xã hội và chịu tác động của xã hội nhưng lại đối lập với xã hội Như vậyquan điểm của S.Freud là biểu hiện nổi bật của chủ nghĩa cá nhân sinh vật họcvề nhân cách Sau này, những người theo thuyết Freud mới (Hoocni ; Frôm )đã tìm cách làm dịu bớt quan niệm sinh vật học dung tục về nhân cách do Freudđưa ra Họ cố đổi mới thuyết này bằng cách giảm bớt vai trò của tính dục trongcuộc sống của con người, thừa nhận vai trò tích cực của văn hóa và của hoàncảnh xã hội nói chung Tuy nhiên học thuyết Freud kể cả cũ và mới là một quanđiểm phản khoa học, phản động về nhân cách, nó biện hộ cho chế độ tư bản hiệnhành, cho tình cảnh khổ cực của các cá nhân trong chế độ đó Thuyết Freud làmcho con người lãng quên việc giải quyết những vấn đề xã hội và đắm chìm vàothế giới những hiện tượng tâm lý bí hiểm và những xung đột trong tâm hồn.

Ngày nay chúng ta thừa nhận quan điểm khoa học cho rằng cá nhân đượchình thành trong hệ thống những quan hệ khách quan: quan hệ kinh tế, tư tưởng,đạo đức, chính trị Đồng thời bản thân cá nhân cũng biểu lộ ra và bộc lộ nhữngđặc điểm của nó thông qua những quan hệ của bản thân nó Những quan hệ cơbản của cá nhân là quan hệ đối với xã hội và đối với mọi người, quan hệ đối vớibản thân, đối với những trách nhiệm riêng, những trách nhiệm xã hội và laođộng Những mối quan hệ này nói lên bộ mặt đạo đức của cá nhân, cương vị củanó trong tập thể

Mác và Angghen khẳng định trong cuốn ỎHệ tư tưởng ĐứcÕ, rằng: ỎSựphong phú thực sự về tâm hồn của mỗi cá nhân hoàn toàn tuỳ thuộc vào sựphong phú của những quan hệ thiết thực của cá nhân đóÕ Ử2 – trang 33Ứ vàỎrõ ràng rằng sự phát triển của mỗi cá nhân là do sự phát triển của tất cả nhữngcá nhân khác có liên quan với nó một cách trực tiếp hay gián tiếp quy định, rằng

Trang 19

các thế hệ cá nhân khác nhau đều có quan hệ với nhau, đều liên quan với nhau,rằng sự tồn tại vật chất của các thế hệ sau là do những bậc tiền bối của họ quyđịnh vì họ kế thừa những sức sản xuất và hình thức giao tiếp mà các thế hệ trướckia đã tích luỹ được và chính những cái đó lại quy định mối quan hệ giữa ngườivà người trong thế hệ sau Nói tóm lại là sự phát triển và lịch sử của từng cánhân riêng lẻ hoàn toàn không thể tách rời khỏi lịch sử của những cá nhân khácsống trước nó hay đồng thời với nó mà chính lại do lịch sử của người ấy quyđịnh.Õ Ử1- trang 23,24Ứ

Một điều chú ý khác, đó là bao giờ cá nhân cũng sống và hoạt động trongmột quốc gia, một giai cấp, một tầng lớp xã hội, một tập thể nhất định, chẳngnhững nó có chung với những người khác các điều kiện sống vật chất và vănhoá mà lẽ tự nhiên là nó cũng có chung sắc thái tâm lý với tầng lớp xã hội mà nólà một thành viên Điều đó sẽ quy định cái đặc thù trong bộ mặt tâm lý của cánhân (những nét dân tộc trong tính cách, những nhu cầu và hứng thú của giaicấp, thái độ đối với những mặt khác nhau của đời sống xã hội.) Tuy vậy, trongbộ mặt tâm lý của mỗi con người - cá nhân cũng bộc lộ những nét cá biệt khônggiống ai, phản ánh quá trình sinh sống và phát triển cụ thể của cá nhân đó Mỗingười đều có một lịch sử phát triển riêng Song, cần nhớ rằng, cái chung, cái đặcthù và cái cá biệt trong bộ mặt tinh thần của một người không phải nằm cạnhnhau mà thống nhất với nhau và thâm nhập vào nhau V.I.Lênin khẳng định rằngcái chung biểu hiện trong cái cá biệt và thông qua cái cá biệt

Như vậy việc nghiên cứu về cá nhân nói chung, trong đó nghiên cứu vềnhững trở ngại tâm lý của cá nhân nói riêng cần phải chú ý đến những thuộc tínhbản chất riêng biệt, độc đáo ở cá nhân cũng nhưng những đặc điển tâm lý chungcủa một nhóm, tập thể mà cá nhân đó có mối quan hệ, liên quan trực tiếp haygián tiếp

Trong nghiên cứu về một số trở ngại tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến quátrình học tập của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu trên cơ sở những lý luận khoa học về cá nhân, nghiên cứu trở ngạitâm lý cá nhân trong sự thống nhất và có mối quan hệ qua lại với tập thể, nhóm

Trang 20

khách thể nghiên cứu nói riêng và sự ảnh hưởng, tác động của môi trường, xãhội nói chung.

2.4.2 Biểu hiện của trở ngại tâm lý cá nhân

Trở ngại tâm lý cá nhân được thể hiện trên ba mặt, đó là mặt nhận thức,thái độ và hành vi của chủ thể

* Thứ nhất, về mặt nhận thức: Nhận thức là thành tố đầu tiên quan trọngtrong đời sống tâm lý con người Trên cơ sở mà mỗi cá nhân bày tỏ thái độ vàhành vi ứng xử tương ứng Người có trở ngại trong nhận thức thường có hiểubiết không đầy đủ về đối tượng của mình Vấn đề hiểu biết đầy đủ về đối tượnglà cơ sở quan trọng giúp chủ thể thành công trong hoạt động Nhờ có những hiểubiết này, mà chủ thể chủ động lựa chọn nội dung cách thức hoạt động phù hợpđối tượng

* Thứ hai, về mặt thái độ: Trở ngại tâm lý của cá nhân ở mặt thái độ,được biểu hiện thông qua cách nhìn nhận, quan điểm, đánh giá, xúc cảm, tìnhcảm của cá nhân đó với đối tượng Thường là những biểu hiện như:

+ E ngại, không hứng thú với hoạt động

+ Xúc cảm, tình cảm không phù hợp với hoàn cảnh hoạt động

+ Không điều khiển được trạng thái cảm xúc của mình

* Thứ ba, về mặt hành vi: Hành vi được hiểu là sự phối hợp vận động củatoàn bộ các bộ phận, giác quan của cơ thể hướng vào một đối tượng, hay giảiquyết một nhiệm vụ, mục đích nhất định Người có trở ngại tâm lý trong hoạtđộng thường biểu hiện hành vi thiếu tự nhiên, gò bó, lúng túng, hành độngkhông ăn khớp với tình huống, bối cảnh

3 Đặc điểm khách thể khảo sát.

3.1 Đặc điểm khách thể sinh viên

3.1.1 Đặc điểm sinh viên

Trang 21

Lực lượng sinh viên hiện nay đang ngày càng chiếm số lượng động đảotrong dân số Họ có mặt ở mọi vùng miền của tổ quốc, mọi lĩnh vực cũng nhưmọi hoạt động xây dựng hay bảo vệ tổ quốc

Về đặc điểm nhân cách: sinh viên là những con người có nhân cách pháttriển tương đối hoàn thiện và ổn định Với thế mạnh về tuổi trẻ và trí tuệ, sựnăng nổ, khát vọng cống hiến chính vì vậy họ luôn mong muốn được tham giavào nhiều lĩnh vực hoạt động, dám đương đầu với mọi thử thách, đồng thời thíchđược thử nghiệm sức lực, trí tuệ, khả năng của mình trong mọi lĩnh vực hoạtđộng của cuộc sống – ỎNơi đâu cần sinh viên có - nơi nào khó có sinh viênÕ ởhọ, chúng ta có thể thấy xu hướng nghề nghiệp được hình thành và được củngcố bằng những nỗ lực phấn đấu học tập, rèn luyện nghề và hoàn thiện mình

Trong đặc điểm nhân cách của sinh viên, nổi bật lên, đó là năng lực hoạtđộng nghề nghiệp, trình độ tri thức, kỹ năng kỹ xảo được đào tạo đã phát triển ởmức cao Họ không chỉ được đào tạo về tri thức, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp,mà bên cạnh đó còn được trang bị những tri thức lý luận, hệ tư tưởng, thế giớiquan, nhân sinh quan khoa học, tiến bộ Điều đó tạo điều kiện tối ưu cho sự pháttriển ở mức cao hơn về sau

ở sinh viên, chúng ta thường thấy lòng nhiệt tình và tính năng động sángtạo, ưa thích hoạt động, chính vì thế họ thường có mối quan hệ rất quảng giao,luôn hoà đồng với xung quanh, dễ thích nghi và dễ thay đổi

Những đặc điểm nhân cách đang và đã hình thành nêu trên ở sinh viêncũng làm nảy sinh một số mặt tiêu cực nhất định Có thể thấy rất rõ ràng, đó làtính bốc đồng, dễ bị lôi kéo, nhất thời có những suy nghĩ và hành động sai sót.Bên cạnh những tấm gương sáng về sinh viên miệt mài nghiên cứu học tập, rènluyện bản thân để ngày mai lập nghiệp, chúng ta cũng thấy nhiều hiện tượngsinh viên sa ngã vào các tệ nạn xã hội, hay đó đây vẫn thấy hiện tượng sinh viêntỏ ra chán nản, thất vọng với cuộc sống Đa số sinh viên là có ước mơ cao đẹp,phấn đấu vì lý tưởng, mong muốn có một cuộc sống ổn định và thành đạt, nhưngvẫn còn đó những sinh viên có suy nghĩ nông cạn, hời hợt quá coi trọng lối sốngvật chất, sống không có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội Không

Trang 22

phải ngẫu nhiên mà khi nói về sinh viên, người ta luôn phải đề cập đến mặt tốtvà mặt xấu, mặt được và chưa được ở họ:ỎSV VN vốn Ỗýợc coi lỔ nóng nổ,nhanh nhẹn, cần cự nhýng khụng ớt bạn chỉ biết cú ngồi nghe, chộp vỔ ngủ!Chuyện ỎSV thụ Ỗộng hay khụngÕ vốn khụng cũn lỔ chuyện riờng SV mỔcũn lỔ cả nguồn lực trớ thức xõy dựng, phỏt triển Ỗất nýớc hụm nay vỔ ngỔymaiÕ.́(Báo điện tử – Trang web: http://www.tuoitre.com.vn – Tuổi trẻ online;thứ sáu ngày 28/01/2005).

Sinh viên trong thời kỳ đổi mới có điều kiện nền kinh tế – xã hội pháttriển không ngừng, nền tri thức nhân loại tăng lên theo từng giây, đang có rấtnhiều những cơ hội, những tiềm năng phát triển, song cũng vì vậy mà có khôngít những khó khăn, thử thách

Họ được chăm sóc tốt về mặt thể chất sức khoẻ, được quan tâm giáo dụccả về tri thức, kỹ năng và những phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt đẹp Đượctrang bị, cũng như tiếp cận những tri thức, khoa học công nghệ tiên tiến của thếgiới Có nhiều cơ hội nhận thức và khẳng định mình trong những cuộc thi lớnnhư ỎTrí tuệ Việt NamÕ (cuộc thi sáng tạo phần mềm công nghệ thông tin);ỎRôbôconÕ (cuộc thi chế tạo rô-bốt), hay ỎKhởi nghiệpÕ – một cuộc thi nhằmtìm kiếm, thắp sáng những tài năng kinh doanh nhưng cũng đồng thời là một sânchơi thú vị của sinh viên Sinh viên là những chủ nhân tương lai của đất nước, làsức sống, là động lực, là Ỏnguyên khíÕ của quốc gia, chính vì vậy luôn luônđược sự chăm sóc, quan tâm, cả những ưu ái của Đảng, của nhà nước và củatoàn xã hội

Tuy vậy, những thách thức, trở ngại mà sinh viên hiện nay đã, đang, vàcòn sẽ đối mặt trong cuộc sống là không ít

Trước hết, đó là sự phát triển của thời đại tuân theo một quy luật tất yếu,đó là sự đào thải Sinh viên là những người có tri thức, hệ tư tưởng, hệ thốngquan điểm tiến bộ, bởi vậy hiểu rõ điều này hơn ai hết Mỗi người đều phải tựphấn đấu để ít nhất là theo kịp sự phát triển của xã hội, và vượt lên trước sự pháttriển đó Mỗi người đều ý thức được sự cạnh tranh về nhiều mặt, dù muốn haykhông, sinh viên vẫn phải đối mặt với điều đó

Trang 23

Thứ đến, sự phát triển của nền kinh tế – xã hội như một guồng máy kéotheo cả những tiêu cực, tệ nạn Nếu mỗi sinh viên không biết tự bảo vệ mìnhtrước những cám dỗ tầm thường của cuộc sống, điều đó sẽ rất dễ đưa họ vào conđường xa ngã, lầm lạc Hiện nay không phải là ít những hiện tượng đáng buồnnhư thế.

Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay mà Đảng, nhà nước và toàn thểxã hội đều quan tâm, đó là thực trạng thất nghiệp của người lao động trí thức nóichung và của sinh viên sau khi ra trường nói riêng Về vấn đề này, theo Ỗiều tracủa Viện Nghiờn cứu thanh niờn, 70% sinh viờn Việt Nam cho biết lo lắnghỔng Ỗầu hiện nay lỔ việc lỔm Một Ỗiều tra khỏc khẳng Ỗịnh chýa Ỗến 10%cử nhõn khoa học tỡm Ỗýợc việc trong cỏc viện nghiờn cứu vỔ trýờng Ỗại học.(Báo điện tử ỎSinh viên việt namÕ– Trang Web: http://www.svvn.com.vn ;ngày 2/5/2005)

3.1.2 Đặc điểm sinh viên năm cuối

Năm cuối của bậc đại học là giai đoạn cuối cùng, chặng đường cuối cùngcủa cuộc đời sinh viên Theo chúng tôi, đây là thời gian mà mỗi sinh viên phảiđối mặt nhiều nhất với những khó khăn

Đây là thời kỳ mà sinh viên cần phải cố gắng nhất, nỗ lực nhất nếu muốnhoàn thiện mình, nếu muốn phấn đấu để những dự định, hoài bão có thể trởthành hiện thực

Sinh viên phải bận rộn hơn với những công việc, lo toan Họ bị chi phốinhiều hơn bởi các mối quan hệ Bị chi phối nhiều hơn bởi kết quả học tập Nếunhư ở các năm trước, nỗi lo về công ăn việc làm chỉ gợn lên trong lòng họnhững suy nghĩ băn khoăn, trăn trở thì giờ đây họ phải trực tiếp đối mặt với thựctế khó khăn khi tìm việc phù hợp với năng lực và nguyện vọng, lại bị chi phốibởi điều kiện thực tế của mình Họ trực tiếp chịu sự chi phối, tác động hoặc tíchcực, hoặc tiêu cực của vấn đề việc làm sau khi ra trường Trong thực tiễn chúngtôi ghi nhận được, câu hỏi thường thấy ở các sinh viên năm cuối đó là dự định sẽxin việc ở đâu, xin việc như thế nào ? Mà đó là những câu hỏi không dễ gì tìm ralời giải đáp, không chỉ đối với sinh viên mà đối với cả xã hội hiện nay

Trang 24

Những khó khăn, tác động bên ngoài đó, vô hình chung đã đẩy sinh viênvào những khó khăn tâm lý nhất định ở mỗi sinh viên khác nhau, mỗi ngànhnghề khác nhau, vấn đề khó khăn không giống nhau, mặt khác, mức độ cũng rấtkhác, song, dù ít, dù nhiều, không ai dám khẳng định rằng mình không gặp khókhăn nào trong tâm lý khi phải đối mặt với thực tiễn hiện nay.

3.2 Về khách thể nghiên cứu.

Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên 138 sinh viên năm cuối của 3 trường ĐHcó uy tín cao ở Hà Nội, đó là: ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội và

ĐH Kinh tế quốc dân Trong đó:

+ Tỉ lệ Nam – Nữ là tương đương (69 sinh viên nam và 69 sinh viên nữ)+ Tỉ lệ sinh viên của mỗi trường là cân bằng nhau:

 ĐH Sư phạm Hà Nội 46 sinh viên Gồm : 23 sinh viên nam và 23 sinhviên nữ

 ĐH Quốc Gia Hà Nội 46 sinh viên Gồm : 23 sinh viên nam và 23 sinhviên nữ

 ĐH Kinh tế quốc dân 46 sinh viên Gồm : 23 sinh viên nam và 23 sinhviên nữ

3.2.1 Sinh viên trường ĐH Sư phạm Hà Nội

Khách thể mà chúng tôi tiến hành điều tra tại trường ĐH Sư phạm Hà Nộigồm 46 sinh viên của khoa Giáo dục chính trị khoá k51 (tỉ lệ nam – nữ tươngđương) Đây là những sinh viên thuộc ngành khoa học xã hội, chương trình đàotạo 4 năm

Nếu xét theo chuyên ngành đào tạo, có thể coi sinh viên khoa chính trị cótrình độ lý luận cũng như hệ thống tư tưởng tương đối tốt Với chuyên ngànhđào tạo của mình, ra trường sinh viên có đủ năng lực để trở thành người giáoviên dạy các môn Đạo đức; Giáo dục công dân ở các trường phổ thông, hoặc cácmôn chính trị ở các trường trung cấp chuyên nghiệp

Sinh viên trường ĐHSư phạm Hà Nội nói chung và sinh viên khoa Giáodục chính trị nói riêng đều có thái độ học tập, rèn luyện nghề rất tốt Họ có

Trang 25

những ưu điểm lớn như sự cần cù, chịu khó, ham học hỏi, có ý chí rèn luyện vềphẩm chất đạo đức Tuy vậy họ gặp nhiều hạn chế do tính không năng động,phạm vi xin việc rất hạn hẹp.

3.2.2 Sinh viên trường ĐHQuốc Gia Hà Nội

Tại trường ĐH Quốc Gia Hà Nội chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 46sinh viên năm cuối của khoa Kinh tế (tỉ lệ nam – nữ tương đương) theo sự lựachọn ngẫu nhiên Sinh viên khoa Kinh tế trường ĐH Quốc Gia Hà Nội cóchương trình đào tạo 4 năm

Sinh viên trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, theo đánh giá của nhiều ýkiến đều cho rằng họ rất năng động và tự tin trong mọi hoạt động Chuyênngành đào tạo của sinh viên khoa Kinh tế thuộc khối khoa học tự nhiên, do đómột phần trong tính cách của họ là sự năng động, sáng tạo, thực tế là điều dễthấy Mặt khác, họ rất chủ động trong việc tiếp thu cái mới nhất là về công nghệthông tin, cập nhật những vấn đề của xã hội hiện nay Phạm vi tìm kiếm việclàm của họ rất rộng khi nền kinh tế mở cửa của chúng ta ngày càng phát triểnmạnh mẽ Vấn đề mà sinh viên ĐH Quốc Gia Hà Nội thường quan tâm sau khi

ra trường, không phải là tìm cho mình một công việc ổn định, mà quan trọnghơn, công việc đó phải tương sứng với năng lực của họ, bên cạnh đó còn là sựcạnh tranh trong công việc

3.2.3 Sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân

Chúng tôi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên 46 sinh viên của trường ĐHKinh tế quốc dân, thuộc nhiều khoa khác nhau (tỉ lệ nam – nữ tương đương).Chuyên ngành đào tạo của sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân thuộc khốikhoa học tự nhiên với chương trình đào tạo 4 năm

Sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân có nhiều nét tương đồng với sinhviên ĐH Quốc Gia Hà Nội do đặc thù của chuyên ngành đào tạo Họ cũng có sựnăng động nhất định trong mọi hoạt động Mỗi sinh viên đều ý thức rất rõ đượcsự cạnh tranh sau khi ra trường để có được một công việc phù hợp với nhu cầuvà năng lực của mình Cũng giống như sinh viên khoa Kinh tế trường ĐH QuốcGia Hà Nội, ngay từ trước khi bắt đầu kỳ thực tập họ đã tự mình đi liên hệ cơ sở

Trang 26

để được nhận vào làm nhân viên tập sự, điều đó đòi hỏi mỗi sinh viên phải pháthuy tối đa tính tự lực, năng động, sáng tạo, cũng như khả năng thích ứng hoàncảnh, công việc của mình.

Trên đây là những nét cơ bản nhất về đặc thù sinh viên của ba trường: ĐH

Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội và ĐH Kinh tế quốc dân Tuy nhiên,những đặc điểm nêu trên không có ý nghĩa tuyệt đối cho bất kỳ trường đại họcnào trong đó Bởi lẽ, sinh viên là một lực lượng rất đông đảo và rất đa dạngphong phú trong hoạt động, không thể đứng trên một ý kiến, cách nhìn nhận nàođó để đánh giá chung cho toàn bộ Mặt khác, xét trên phương diện hoạt độngnày, nhận xét có thể đúng với trường này, nhưng trên bình diện khác nhận xét đóchưa hẳn đã đúng với trường đó Chính vì vậy chúng ta cần phải có cách nhìnnhận đánh giá đa chiều, tránh phiến diện

4 Trở ngại tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên năm cuối.

Quá trình học tập của sinh viên cũng được coi là một quá trình hoạt độngcủa con người, chính vì vậy, hoạt động ấy cũng sẽ chịu sự điều khiển, chi phốicủa các hoạt động tâm lý Như phần lý luận đã trình bày, bất kỳ hoạt động nàocủa con người cũng sẽ có những trở ngại tâm lý nhất định Tuy nhiên, ở mỗihoạt động khác nhau thì trở ngại tâm lý sẽ khác nhau, đồng thời ở mỗi cá nhânkhác nhau thì trở ngại tâm lý cũng có mức độ ảnh hưởng và biểu hiện khácnhau

Với đề tài : ỎTìm hiểu một số trở ngại tâm lý cá nhân trong quá trình họctập của sinh viên năm cuối các trường Đại họcÕ, chúng tôi lý giải một số câuhỏi quan trọng sau: Những trở ngại tâm lý hiện nay ảnh hưởng nhiều nhất đếnquá trình học tập của sinh viên năm cuối ở các trường đại học là gì ? Mức độảnh hưởng của chúng ra sao ? Và biện pháp nào để khắc phục những trở ngạitâm lý đó ?

5 Những đóng góp của đề tài.

Trang 27

Tiến hành nghiên cứu đề tài: ỎTìm hiểu một số trở ngại tâm lý cá nhântrong quá trình học tập của sinh viên năm cuối các trường Đại họcÕ chúng tôigóp phần kế tục những đề tài đã được tiến hành nghiên cứu trước đây về trở ngạitâm lý trong quá trình học tập của sinh viên các trường sư phạm (ĐH Sư phạmvà CĐ Sư phạm) Bên cạnh đó chúng tôi đã chú ý mở rộng phạm vi đối tượngnghiên cứu là những trở ngại tâm lý ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinhviên.

Những nghiên cứu trước đây chỉ chú trọng khảo sát trên khách thể là sinhviên của các trường sư phạm, với đề tài này, chúng tôi mở rộng phạm vi kháchthể khảo sát cả về mặt phạm vi địa bàn, lẫn khách thể khảo sát Chúng tôi tiếnhành khảo sát trên sinh viên của ba trường đại học có uy tín cao thuộc địa bànthành phố Hà Nội.Vì thế kết quả nghiên cứu sẽ cho một đánh giá rộng hơn vềnhững trở ngại tâm lý trong quá trình học tập của sinh viên

Những nghiên cứu của đề tài góp phần tìm ra những trở ngại tâm lý cơbản, có ảnh hưởng nhiều nhất đến quá trình học tập, cũng như kết quả học tậpcủa sinh viên các trường đại học hiện nay Qua việc nghiên cứu tìm hiểu nhữngtrở ngại tâm lý đó, chúng tôi đề ra một số biện pháp khắc phục, nhằm tạo điềukiện, cơ sở nâng cao kết quả quá trình học tập của sinh viên nói chung, sinh viêncác trường đại học nói riêng

Chương II Thực trạng một số trở ngại tâm lý của sinh viên năm

cuối ở các trường đại học.

1 Nhận thức của sinh viên về trở ngại tâm lý.

Chúng tôi đưa ra câu hỏi : Ỏtheo anh (chị) trở ngại (khó khăn) tâm lý là gì

?Õ với 4 phương án trả lời :

 A Là những tác động tâm lý có ảnh hưởng tới quá trình hoạt độngcủa con người

Trang 28

 B Là tất cả những khó khăn mà con người gặp phải trong quá trìnhhoạt động của mình.

 C Là các yếu tố tâm lý gây cản trở, hoặc kìm hãm hoạt động củacon người

 D Là tính e dè, ngần ngại, nỗi thất vọng, chán nản của con ngườinảy sinh trong quá trình hoạt động của mình

Chúng tôi cho rằng, khái niệm trở ngại tâm lý phải phản ánh được đó lànhững đặc điểm tâm lý (nằm trong hệ thống cấu trúc nhân cách cá nhân), mànhững đặc điểm tâm lý này đã làm kìm hãm, cản trở, gây khó khăn cho việctiến hành hoạt động của chủ thể không được thuận lợi hoặc không được như ý.Đây có thể coi là cách hiểu thông thường nhất về khái niệm trở ngại tâm lý.Cũng như vậy, phương án C: trở ngại tâm lý là các yếu tố tâm lý gây cản trở,hoặc kìm hãm hoạt động của con người có thể coi là phương án hợp lý nhất Đápán A và B đều hiểu khái niệm theo nghĩa rộng nhất, nó bao hàm cả những tácđộng tích cực hoặc những tác động khác ngoài các hiện tượng tâm lý Trong khiđó phương án D chỉ là những biểu hiện thường gặp của trở ngại tâm lý

Kết quả chúng tôi thu được thể hiện trong bảng 1 như sau:

Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về trở ngại tâm lý

Trang 29

Đõy là mụ̣t cõu hỏi mà khách thờ̉ điờ̀u tra có thờ̉ lựa chọn mụ̣t hay nhiờ̀uphương án trả lời, do đó tỉ lợ̀ khách thờ̉ lựa chọn ở mụ̃i khụng hoàn toàn trùngkhớp với tụ̉ng tỉ lợ̀ 100% của 138 khách thờ̉ điờ̀u tra.

Qua bảng 1 chúng tụi nhọ̃n thṍy:

- Phương án D (trở ngại (khó khăn) tõm lý là tính e dè, ngõ̀n ngại, nụ̃i thṍtvọng, chán nản của con người, nảy sinh trong qúa trình hoạt đụ̣ng của mình)được sự đụ̀ng tình cao nhṍt của khách thờ̉ điờ̀u tra với 91 ý kiờ́n lựa chọn, chiờ́m65,94%

- Đứng thứ hai là phương án C ( trở ngại tõm lý là các yờ́u tụ́ tõm lý gõycản trở, hoặc kìm hãm hoạt đụ̣ng của con người.) có 37 ý kiờ́n lựa chọn, chiờ́m26,81%

- Đứng thứ ba là phương án A ( trở ngại tõm lý là những tác đụ̣ng tõm lýcó ảnh hưởng tới quá trình hoạt đụ̣ng của con người.) với 30 ý kiờ́n lựa chọn,chiờ́m 21,74%

- Phương án B (trở ngại tõm lý là tṍt cả những khó khăn mà con ngườigặp phải trong quá trình hoạt đụ̣ng của mình.) được ít người lựa chọn nhṍt với

23 người lựa chọn, chiờ́m 16,67% Sự chờnh lợ̀ch vờ̀ tỉ lợ̀ khách thờ̉ lựa chọnphương án trả lời được thờ̉ hiợ̀n rõ trong biờ̉u đụ̀ 1a như sau:

Tỉ lệ %

Biểu đồ1a: tỉ lệ sinh viên lựa chọn

ph ơng án trả lời.

Trang 30

Như vậy, đa số khách thể khảo sát (chiếm 65,94% tổng số khách thể điềutra) chỉ hiểu khái niệm trở ngại tâm lý ở mức độ những biểu hiện của nó, nhưtính e dè, ngần ngại, nỗi thất vọng, chán nản của con người Cách hiểu nàykhông sai, nhưng thiếu xót vì nó chưa khái quát được hết những đặc điểm tâm lýcủa con người gây ra trở ngại tâm lý.

Số khách thể có cách hiểu hợp lý nhất về trở ngại tâm lý mặc dù xếp thứhai, song chỉ chiếm 26,81% chỉ hơn 1/4 tổng số khách thể điều tra Trong thực tếquá trình điều tra, chúng tôi thu thập được nhiều ý kiến sinh viên phản ánh rằnghiểu biết rất ít về trở ngại tâm lý, hoặc có trường hợp còn không hiểu chút nào,đặc biệt đối với các khách thể điều tra là sinh viên thuộc khối khoa học tự nhiênnhư trường ĐHQGHN và ĐHKTQD Thực tế này, một phần được thể hiện rõtrên số phiếu khảo sát, bởi lẽ không có một khách thể điều tra nào có cách hiểukhác so với những phương án mà chúng tôi đã nêu

Khi so sánh sự lựa chọn phương án trả lời giữa khách thể điều tra của cáctrường khác nhau, chúng tôi nhận thấy đứng thứ nhất ở cả ba trường vẫn làphương án D, tuy nhiên, ở các phương án khác lại có sự khác biệt lớn, điều nàythể hiện rõ qua biểu đồ 1b

* Trường ĐHSPHN:

Trang 31

- Đứng thứ hai là phương án B, có số lượng 14 ý kiến lựa chọn, chiếm10,14%.

- Đứng thứ ba là phương án A, có số lượng 11 ý kiến lựa chọn, chiếm7,97%

- Xếp cuối cùng là phương án C, có số lượng 10 ý kiến lựa chọn, chiếm7,25 %

* Trường ĐHQGHN:

- Xếp thứ hai là phương án A, có 13 ý kiến lựa chọn, chiếm 9,42%

- Xếp thứ ba là phương án C, có 6 ý kiến lựa chọn, chiếm 4,35%

- Đứng cuối cùng là phương án B, với 3 ý kiến lựa chọn, chiếm 2,17%

* Trường ĐHKTQD:

- Đứng thứ hai là phương án C, với 21 người lựa chọn, chiếm 15,22%

- Cùng xếp vị trí cuối là phương án A và B, cùng có số lượng 6 ý kiến lựachọn, chiếm 4,35%

Trang 32

11 14 10

38

13

3 6

29

21 24

0 5 10 15 20 25 30 35

Trang 33

Trong ba trường ĐHSPHN; ĐHQGHN; ĐHKTQD, chúng tôi nhận thấy,trường ĐHKTQD đứng thứ nhất về số lượng khách thể lựa chọn phương án hợplý nhất (21 khách thể) trong khi ĐHSPHN chỉ có 10 khách thể và ĐHQGHN có 6khách thể lựa chọn phương án hợp lý nhất.

* Kết luận 1:

Phần lớn khách thể khảo sát là sinh viên năm cuối các trường ĐH ở Hà Nộiđều có những hiểu biết nhất định về những trở ngại tâm lý Tuy nhiên nhận thứcvề trở ngại tâm lý của sinh viên chủ yếu thông qua những biểu hiện của nó.Chẳng hạn: tính e dè, ngần ngại, nỗi thất vọng, chán nản mà chưa nắm được bảnchất của những trở ngại tâm lý

2 Một số biểu hiện trở ngại tâm lý của sinh viên năm cuối.

2.1 Những trở ngại tâm lý thường gặp ở sinh viên năm cuối.

Chúng tôi đưa ra câu hỏi: ỎTheo anh (chị), sinh viên năm cuối ở cáctrường ĐH hiện nay đang có những trở ngại (khó khăn) tâm lý gì ?Õ kết quả thuđược từ phía khách thể điều tra như sau: Bảng 2.1a

Bảng 2.1a: Những trở ngại tâm lý thường gặp ở sinh viên năm cuối

Trang 34

: Điểm trung bình.

TB: Thứ bậcNhững trở ngại tâm lý trên chúng tôi đưa ra với sự đánh giá cho điểm củakhách thể khảo sát Mỗi trở ngại tâm lý đều có 5 mức độ từ thấp đến cao, tươngứng với thang điểm từ 1 đến 5 Trong đó, 1 điểm là mức độ thấp nhất, 5 điểm làmức độ cao nhất

* Qua bảng 2.1a chúng tôi nhận thấy:

- Trở ngại tâm lý D: Không xin được việc làm đúng chuyên ngành, có điểmtrung bình = 3,58; xếp thứ 1/8

Việc làm là một trong những mối quan tâm hàng đầu của mỗi sinh viên,đặc biệt là sinh viên năm cuối Thực tế hiện nay cho thấy rõ sự khó khăn của sinhviên trong vấn đề xin được việc làm theo đúng chuyên ngành của mình Rất nhiềusinh viên sau khi ra trường phải làm trái nghành, đặc biệt, làm những công việckhông hề có chút liên quan gì đến ngành học của mình Sinh viên là những ngườitrực tiếp đối mặt với những vấn đề bất cập đó, chính vì vậy trở ngại tâm lý nàyđược họ qua tâm đưa lên hàng đầu, xếp thứ 1/8 trở ngại tâm lý thường gặp đối vớisinh viên năm cuối

- Trở ngại tâm lý A: Lo lắng kết quả học tập không cao, có điểm trung bình

= 3,15; xếp thứ 2/8

Kết quả học tập là một trong những mục tiêu học tập quan trọng mà sinhviên cần phấn đấu, chính vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, đến toàn bộ quátrình học tập của mỗi sinh viên Chính vì vậy, khi kết quả học tập không cao sẽ làmột trong những trở ngại tâm lý đối với sinh viên Điều này được khẳng định khitrở ngại tâm lý này được đa số khách thể điều tra xếp thứ 2/8

- Trở ngại tâm lý C: Lo lắng kỳ thi tốt nghiệp, bảo vệ khoá luận, đồ án, cóđiểm trung bình = 3,09; xếp thứ 3/8

Khi bước vào năm học cuối, hầu hết sinh viên đều có ý thức cố gắng phấn

Trang 35

nợ trình nếu còn Kỳ thi tốt nghiệp và bảo vệ đồ án, khoá luận có ảnh hưởng rấtlớn đến bảng điểm tổng kết của mỗi sinh viên Mặt khác, đây là những yêu cầutrong quá trình học tập mà sinh viên phải huy động tối đa tri thức, kỹ năng, kỹxảo, cũng như huy động tối đa sự cố gắng, nỗ lực của bản thân Mặc dù khôngđược đánh giá cao bằng trở ngại tâm lý D và A, song, vấn đề Ỏthi tốt nghiệp, bảovệ khoá luận, đồ ánÕ vẫn được sinh viên chú ý quan tâm, xếp loại hàng thứ 3/8.

- Trở ngại tâm lý E: Thất nghiệp, có điểm trung bình = 3,04; xếp thứ 4/8.Khái niệm Ỏthất nghiệpÕ có nghĩa rộng hơn khái niệm Ỏkhông tìm đượcviệc làm đúng chuyên ngànhÕ Khi không tìm được việc làm đúng chuyên ngành,sinh viên vẫn có thể tìm kiếm được những công việc khác phù hợp với năng lựcbản thân, nhưng khi thất nghiệp, có nghĩa là hoàn toàn không có công ăn việclàm Hiện nay, với tính năng động của mình, sinh viên thường chấp nhận làm tráingành hơn là chấp nhận sự thất nghiệp Chính vì vậy sinh viên không đánh giácao trở ngại tâm lý này, Ỏthất nghiệpÕ chỉ đứng thứ 4/8

- Trở ngại tâm lý B: Lo lắng kiến thức chưa đầy đủ, có điểm trung bình =2,62; xếp thứ 5/8

Quá trình học tập trên ghế nhà trường chủ yếu là quá trình thu lượm, tínhluỹ kiến thức nhằm phục vụ cho công tác nghề nghiệp sau này Kiến thức cũng làmột trong những lĩnh vực quan tâm của sinh viên Qua khảo sát ý kiến của nhiềusinh viên thuộc trường ĐHSPHN và trường ĐHKTQD bằng phương pháp phỏngvấn, chúng tôi nhận thấy rất nhiều sinh viên cho rằng: vấn đề học đại học hiệnnay còn nhiều bất cập Một số vấn đề dễ thấy như, học không đi với hành, nặngvề lý thuyến mà thiếu tính thực tế, phương pháp kiểm tra thi cử chưa đánh giáđúng thực học của người học, hầu như sinh viên ra trường đều rất bỡ ngỡ trướccông việc mình đảm nhiệm những lý do đó khiến cho sinh viên hiện nay ít coitrọng vấn đề kiến thức Họ quan tâm nhiều hơn đến vấn đề điểm, và vấn đề việclàm Chính vì vậy, vấn đề Ỏkiến thức chưa đầy đủÕ chỉ được sinh viên xếp đứngthứ 5/8

Trang 36

- Trở ngại tâm lý G: Quan hệ xã hội không được tốt, có điểm trung bình =2,09; xếp thứ 6/8.

Đối với sinh viên, vấn đề quan hệ xã hội có ảnh hưởng ít nhiều đến vấn đềxin việc làm sau khi ra trường, đồng thời nó cho thấy tính năng động, quảng giaocủa sinh viên Sinh viên hiện nay có những mối quan hệ rất đa dạng, có mặt tronghầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống do đặc điểm tâm lý và đặc điểm môi trườnghoàn cảnh của họ mang lại Mặt khác họ là những con người năng động, khôngngại giao tiếp, không ngại tham gia vào bất cứ mối quan hệ phức tạp nào, sẵnsàng và có nhu cầu giao tiếp rất cao, chính vì vậy, vấn đề Ỏquan hệ xã hộiÕkhông phải là trở ngại tâm lý lơn đối với sinh viên, nó chỉ đứng hành thứ 6/8

- Trở ngại tâm lý H: Lo lắng tiền ăn học, có điểm trung bình = 1,90; xếpthứ 7/8

Tiền ăn học là một trong những điều kiện không thể thiếu đối với mỗi sinhviên Bởi lẽ trong tất cả mọi vấn đề từ sinh hoạt, học phí đều phải cần có tiềnchi trả, trong khi đó không phải lúc nào sinh viên cũng sẵn có và có thể đáp ứngđược hết tất cả những nhu cầu đó Chính vì vậy, khi lâm vào tình trạng thiếu thốnvề tiền bạc, cũng thường khiến cho sinh viên những trở ngại tâm lý nhất định,chẳng hạn sự thiếu tập chung vào học tâp, bị phân tán tư tưởng vv Hiện nay,chủ yếu sinh viên có tiền ăn học là do phía gia đình, người thân chu cấp, tuynhiên cũng có một bộ phân sinh viên soay sở làm thêm để có tiền ăn học, hoặcphụ giúp gia đình Chính vì vậy, trở ngại tâm lý về vấn đề tiền ăn học chỉ đứnghàng thứ 7/8

- Trở ngại tâm lý F: Lo lắng về chuyện tình cảm, có điểm trung bình =1,86; xếp thứ 8/8

Đối với nhiều sinh viên việc xác định tư tưởng phấn đấu, dành tâm trí choviệc học tập là nhiệm vụ hàng đầu Vấn đề tình cảm đối với sinh viên không phảilà không có những khó khăn, những trở ngại vướng mắc, song, so với nhiệm vụhọc tập, vấn đề tình cảm (chủ yếu là tình lứa đôi, tình cảm bạn bè cùng giới hoặc

Trang 37

khác giới) chỉ là thứ yếu, không quan trọng bằng Đây là lý do cho thấy, phần lớnkhách thể điều tra xếp trở ngại tâm lý F ở hàng cuối cùng 8/8.

Như vậy chúng ta có thể kết luận về một số những trở ngại tâm lý thườnggặp đối với sinh viên ở năm cuối như:

- Không xin được việc làm đúng chuyên ngành

- Lo lắng về kết quả học tập không cao

- Lo lắng về kỳ thi tốt nghiệp, bảo vệ khoá luận, đồ án

- Thất nghiệp

Mốt số các trở ngại tâm lý khác nhưng không phổ biến như: Lo lắng kiến thứcchưa đầy đủ; Quan hệ xã hội của mình không được tốt; Lo tiền ăn học

* So sánh khách thể điều tra giữa các trường, chúng tôi nhận thấy:

Thứ bậc giữa các trở ngại tâm lý có sự chênh lệch không đáng kể Đó là:

- Trở ngại tâm lý D: Không xin được việc làm đúng chuyên ngành:

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 1,28; xếp thứ 1/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 1,24; xếp thứ 1/8

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 1.06; xếp thứ 3/8

- Trở ngại tâm lý A: Lo lắng kết quả học tập không cao:

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 1,04; xếp thứ 2/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 1,17; xếp thứ bậc 2,5/8 (cùng thứ bậcvới trở ngại C)

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 0,95; xếp thứ 4/8

- Trở ngại tâm lý C: Lo lắng kỳ thi tốt nghiệp, bảo vệ khoá luận, đồ án:+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 1,01; xếp thứ 3/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 1,17; xếp thứ bậc 2,5/8 (cùng thứ bậcvới trở ngại A)

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 0,91; xếp thứ 5/8

- Trở ngại tâm lý E: Thất nghiệp:

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 0,96; xếp thứ 4/8

Trang 38

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 1,02; xếp thứ bậc 4/8.

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 1,07; xếp thứ bậc 1,5/8 (cùng thứ bậcvới trở ngại tâm lý B)

- Trở ngại tâm lý B: Lo lắng kiến thức chưa đầy đủ:

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 0,87; xếp thứ 5/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 0,68; xếp thứ bậc 5/8

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 1,07; xếp thứ bậc 1,5/8 (cùng thứ bậcvới trở ngại tâm lý E)

- Trở ngại tâm lý G: Quan hệ xã hội không được tốt:

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 0,75; xếp thứ 6/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 0,48; xếp thứ bậc 7/8

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 0,87; xếp thứ bậc 6/8

- Trở ngại tâm lý F: Lo lắng chuyện tình cảm :

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 0,7; xếp thứ 7/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 0,5; xếp thứ bậc 6/8

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 0,66; xếp thứ bậc 8/8

- Trở ngại tâm lý H: Lo tiền ăn học:

+ ĐHSP HN: có điểm trung bình = 0,59; xếp thứ 8/8

+ ĐHQGHN: có điểm trung bình = 0,45; xếp thứ bậc 8/8

+ ĐHKTQD: có điểm trung bình = 0,86; xếp thứ bậc 7/8

Chúng tôi cho rằng, về cơ bản những trở ngại tâm lý kể trên ở các trườngkhác nhau nhưng có thứ bậc tương đối giống nhau

Với kết quả này chúng tôi khẳng định thứ bậc các trở ngại tâm lý thườnggặp ở sinh viên năm cuối giữa khách thể điều tra là sinh viên thuộc trườngĐHSPHN; ĐHKTQD và ĐHQGHN có mối quan hệ với nhau khá chặt chẽ Điềunày khẳng định những trở ngại mà khách thể điều tra là sinh viên trườngĐHSPHN thường xuyên gặp thì cũng thường gặp đối với khách thể điều tra làsinh viên trường ĐHQGHN và sinh viên trường ĐHKTQD

Trang 39

Sự giống nhau này do khách thể điều tra thuộc sinh viên trường ĐHSPHN;ĐHKTQD và ĐHQGHN không bị sự chi phối của những khác biệt về đặc điểmtâm lý, đặc điểm môi trường hoàn cảnh giao lưu vv mà cùng có những nỗi lolắng chung về quá trình học tập và sau khi ra trường.

* So sánh giữa nam và nữ:

Bảng 2.1e Những trở ngại tâm lý thường gặp ở sinh viên năm cuối

– phân chia theo giới tính

- Trở ngại tâm lý D: Không xin được việc làm đúng chuyên ngành:

+ Sinh viên nam: có điểm trung bình = 1,80; xếp thứ 1/8

+ Sinh viên nữ: có điểm trung bình = 1,78; xếp thứ 1/8

- Trở ngại tâm lý C: Lo lắng kỳ về kì thi tốt nghiệp, bảo vệ khoá luận, đồ án:

+ Sinh viên nam: có điểm trung bình = 1,45; xếp thứ 3/8

+ Sinh viên nữ: có điểm trung bình = 1,64; xếp thứ 3/8

Ngày đăng: 18/04/2015, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Lê Sĩ Khôi - ỎNghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong xử lý tình huống sư phạm của sinh viên trường CĐSP Thái Bình; Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học - ĐHSP Hà Nội năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ỎNghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong xử lý tình huống sư phạm của sinh viên trường CĐSP Thái Bình
Tác giả: Lê Sĩ Khôi
Nhà XB: ĐHSP Hà Nội
Năm: 2002
5. Nguyễn Thanh Bình (1996) – Những trở ngại tâm lý của sinh viên thực tập tốt nghiệp với học sinh; kỉ yếu hội thảo thành tựu ứng dụng Tâm lýhọc; Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam lần 2; Tháng 10/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trở ngại tâm lý của sinh viên thực tập tốt nghiệp với học sinh
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam
Năm: 1996
1. A.G.Côvaliov – Tâm lý học cá nhân (tập 1); NXB Giáo dục ; Hà Nội 1971 Khác
2. C.Mac và F.Angghen – Hệ tư tưởng Đức; NXB Sự thật; Hà Nội 1962 Khác
3. H. Hipsơ và M. Phorvec (1984) – Nhập môn Tâm lý học xã hội (Tài liệu dịch) ; NXB KHXH – HN Khác
6. Nguyễn Thanh Bình – Một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của giáo sinh khi giảng bài trên lớp; tạp chí Nghiên cứu Giáo dục – số 7 năm 1999 Khác
7. Nguyễn Văn Lê (1992) – Vấn đề giao tiếp; NXB GD – HN Khác
8. Nguyễn Thanh Bình – Một số trở ngại tâm lý của giáo sinh thực tập công tác chủ nhiệm ; Tạp chí ĐH và GD chuyên nghiệp – tháng 2/1995 Khác
9. Phạm Ngọc Viễn – Tâm lý học thể dục - thể thao; NXB Hà Nội; năm 1991 Khác
10. Từ điển tiếng Việt (2000) NXB Đà Nẵng ; năm 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w