1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường

109 3K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 220,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam 19, tài nguyên được hiểu là “tổng lượng một dạng thức sẵn có trong môi trường, như đất đai, nhân lực, tư liệu sản xuất, cơ hội, khả năng, tiền vốn, dữ liệu khoa học, thông tin... được khai thác, sử dụng trong những điều kiện xã hội, kinh tế và công nghệ nhất định”. Có nhiều loại tài nguyên khác nhau như: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế, tài nguyên xã hội, tài nguyên khoa học, vv. Việc đánh giá tài nguyên thay đổi theo những biến đổi về kinh tế (vd. biến đổi về giá cả), về xã hội và khoa học công nghệ (vd. công nghệ mới có thể làm tăng số lượng tài nguyên). Phần tài nguyên có thể khai thác theo công nghệ thông dụng, trong những điều kiện kinh tế và xã hội hiện thời gọi là dự trữ. Những dự trữ đã được nhận biết có thể chia thành loại dự trữ đã xác minh, loại có thể có và loại có thể thu hồi; những dự trữ khác được phát hiện thì hoặc là dự trữ giả thiết hoặc là dự trữ theo lí thuyết.Nói cách khác, tài nguyên, theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu cầu phát triển của mình. Tùy theo tiêu chí, tài nguyên được phân chia thành các dạng khác nhau. Nếu dựa vào khả năng có thể bị hao kiệt trong quá trình khai thức sử dụng, người ta chia ra: tài nguyên có thể bị cạn kiệt và tài nguyên không cạn kiệt. Nếu dựa vào khả năng có thể phục hồi trong quá trình khai thác sử dụng, người ta chi ra: tài nguyên có thể phục hồi và tài nguyên không thể phục hồi. Nếu dựa vào nguồn gốc phát sinh, người ta chia ra: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Nếu dựa vào mục đích sử dụng, người ta có thể chia ra: tài nguyên nông nghiệp, tài nguyên công nghiệp, tài nguyên du lịch,…Nói tóm lại, tài nguyên là một phạm trù lịch sử, ranh giới của nó mở rộng theo thời gian cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Việc phân loại tài nguyên phụ thuộc vào tiêu chí phân loại.1.1.1.2. Tài nguyên đấtĐất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người. Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông, lâm nghiệp.Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%.Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì (độ mầu mỡ thích hợp cho trồng cây công nghiệp và lương thực).1.1.1.3. Tài nguyên nướcNước là nguồn tài nguyên có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Tài nguyên nước được hiểu là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển, đại dương và trong khí quyển. Theo luật tài nguyên nước Việt Nam năm 2013 11 Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo. Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất. 1.1.1.4. Tài nguyên khí hậuTài nguyên khí hậu được định nghĩa bao gồm gió, ánh sáng mặt trời, lượng mưa và các thành phần của khí quyển có khả năng được sử dụng để phục vụ cho các hoạt động của con người. Trên thực tế tài nguyên khí hậu của có thể được khai thác theo từng thành phần riêng biệt (tài nguyên năng lượng gió, năng lượng mặt trời…) hoặc tổng hợp của các yếu tố để tạo nên một điều kiện khí hậu đặc trưng nào đó (khí hậu ôn đới núi cao: Sapa, Đà Lạt…). 1.1.1.5. Tài nguyên sinh vậtLà toàn bộ giống loài trên trái đất có khả năng phục vụ cho nhu cầu của con người. Tài nguyên sinh vật bao gồm tài nguyên thực vật và tài nguyên động vật. Giá trị của tài nguyên sinh vật thể hiện ở mức độ phong phú về chủng loại, số lượng cá thể và mức độ quý hiếm của các loài.1.1.1.6. Tài nguyên khoáng sảnTài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày.Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống. Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v...).Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách: Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng); Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất); Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy)….

Trang 1

MỤC LỤC

1 TÍNH CẤP THIẾT 1

2 MỤC TIÊU 2

3 NHIỆM VỤ 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5 BỐ CỤC BÀI TIỂU LUẬN 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG 3

1.1 Các Khái niệm cơ bản về tài nguyên và môi trường 3

1.1.1 Các khái niệm về tài nguyên 3

1.1.2 Các khái niệm về môi trường 8

1.1.3 Khái niệm sinh thái học và hệ sinh thái 8

1.2 Khái niệm Tai biến thiên nhiên và tai biến môi trường 9

1.3 Khái niệm Mâu thuẫn và Xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên 10

1.4 Quản lý tổng hợp tài nguyên - môi trường 11

1.4.1 Tổng quan về quản lý tổng hợp 11

1.4.2 Khái niệm về quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG BẰNG 17

2.1 Khái niệm và hệ thống phân loại vùng đồng bằng 17

2.1.1 Khái niệm vùng đồng bằng 17

2.1.2 Cơ sở phân loại vùng đồng bằng 18

2.1.3 Hệ thống phân loại đồng bằng ở Việt Nam 21

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển vùng đồng bằng 24

2.2.1 Nhân tố tự nhiên 24

2.2.2 Yếu tố nhân sinh 27

2.3 Các loại tài nguyên cơ bản ở vùng đồng bằng 28

2.3.1 Tài nguyên đất 28

2.3.2 Tài nguyên nước 31

2.3.3 Tài nguyên khí hậu 32

2.3.4 Tài nguyên sinh vật 32

2.3.5 Tài nguyên khoáng sản 34

2.3.6 Các dạng tài nguyên nhân văn 35

2.4 Những mâu thuẫn, xung đột nảy sinh trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên vùng đồng bằng 36

2.4.1 Những mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên tài nguyên đất 36

2.4.2 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên nước 38

2.4.3 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên khoáng sản 39

Trang 2

2.5 Những vấn đề môi trường ở vùng đồng bằng trong khai thác, sử dụng tài

nguyên 39

2.5.1 Ô nhiễm môi trường đất 39

2.5.2 Ô nhiễm môi trường nước 40

2.5.3 Ô nhiễm môi trường không khí 41

2.6 Các tai biến thiên nhiên và tai biến môi trường vùng đồng bằng 42

2.6.1 Mưa, bão, lụt, triều cường, ngập mặt và nước biển dâng 42

2.6.2 Xói lở bờ sông do khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng 43

2.6.3 Hạn hán và hoang mạc hóa 43

2.6.4 Cháy rừng 44

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG VÙNG CAO NGUYÊN 44

3.1 Khái niệm vùng cao nguyên và hệ thống phân loại vùng cao nguyên 44

3.1.1 Khái niệm vùng cao nguyên 44

3.1.2 Cơ sở phân loại vùng cao nguyên 45

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển vùng cao nguyên 46

3.2.1 Các nhân tố tự nhiên 46

3.2.2 Yếu tố nhân sinh 47

3.3 Các dạng tài nguyên cơ bản ở vùng cao nguyên 47

3.3.1 Tài nguyên đất 47

3.3.2 Tài nguyên nước 48

3.3.3 Tài nguyên khí hậu 49

3.3.4 Tài nguyên sinh vật 49

3.3.5 Tài nguyên khoáng sản 50

3.4 Những mâu thuẫn, xung đột trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên ở vùng cao nguyên 50

3.4.1 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên rừng 50

3.4.2 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên đất 51

3.4.3 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên khoáng sản 52

3.4.4 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên nước 53

3.5 Những vấn đề môi trường trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên vùng cao nguyên 53

3.5.1 Ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản 53

3.5.2 Vấn đề môi trường trong khai thác tài nguyên nước 54

3.5.3 Vấn đề môi trường trong khai thác tài nguyên đất 55

3.6 Các tai biến thiên nhiên, tai biến môi trường liên quan đến hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên 56

3.6.1 Hạn hán, hoang mạc hóa 56

3.6.2 Lũ quyét, sạt lở đất 57

3.6.3 Cháy rừng 57

Trang 3

CHƯƠNG 4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI

TRƯỜNG MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU 58

4.1 Khái niệm và hệ thống phân loại miền núi và trung du 58

4.1.1 Miền núi 58

4.1.2 Vùng trung du 66

4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển miền núi và trung du 68 4.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển miền núi 68

4.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển vùng Trung du 70

4.3 Các dạng tài nguyên cơ bản ở miền NÚI VÀ TRUNG DU 70

4.3.1 Tài nguyên khoáng sản 70

4.3.2 Tài nguyên đất 71

4.3.3 Tài nguyên nước 73

4.3.4 Tài nguyên khí hậu 75

4.3.5 Tài nguyên rừng 76

4.4 Những mâu thuẫn xung đột nảy sinh trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên 77

4.4.1 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên rừng 77

4.4.2 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên đất 78

4.4.3 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên khoáng sản 78

4.4.4 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên nước 79

4.5 Những vấn đề môi trường trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên tại miền núi và trung du 80

4.5.1 Ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản 80

4.5.2 Vấn đề môi trường trong khai thác tài nguyên nước 80

4.5.3 Vấn đề môi trường trong khai thác tài nguyên đất 82

4.6 Các tai biến thiên nhiên, tai biến môi trường liên quan đến hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên 82

4.6.1 Xói lở bờ sông do khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng 83

4.6.2 Hạn hán, hoang mạc hóa 83

4.6.3 Lũ quét, sạt lở đất 83

4.6.4 Cháy rừng 84

CHƯƠNG 5 ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ TỔNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG BẰNG, TRUNG DU, MIỀN NÚI VÀ CAO NGUYÊN 85

5.1 Hiện trạng quản lý tài nguyên và môi trường 85

5.1.1 Hệ thống văn bản pháp quy về tài nguyên và môi trường 85

5.1.2 Những tồn tại trong vấn đề quản lý tài nguyên và môi trường 85

5.2 Quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường 86

5.2.1 Quan điểm quản lý tổng hợp theo lãnh thổ tự nhiên 86

5.2.2 Quan điểm quản lý tổng hợp theo hệ sinh thái 86

5.2.3 Quan điểm quản lý tổng hợp theo ngành và liên ngành 86

Trang 4

5.2.4 Quan điểm quản lý liên vùng, liên quốc gia 87

5.2.5 Quan điểm quản lý tổng hợp theo quy hoạch 87

5.2.6 Quan điểm quản lý tài nguyên và môi trường có sự tham gia của cộng đồng 87

5.3 Một số định hướng cơ bản 87

5.3.1 Chú trọng đầu tư cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tài nguyên môi trường.87 5.3.2 Xây dựng chiến lược, lập quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên theo lãnh thổ tự nhiên 89

5.3.3 Bổ sung cơ sở pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lãnh thổ tự nhiên 89

5.3.4 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho cộng đồng 90

5.3.5 Quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường vùng đồng bằng 90

5.3.6 Quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường vùng cao nguyên 90

5.3.7 Quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường miền núi và trung du 91

CHƯƠNG 6 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG THEO LƯU VỰC SÔNG 92

6.1 Các khái niệm cơ bản về lưu vực sông 92

6.1.1 Lưu vực sông 92

6.1.2 Chức năng của sông và lưu vực sông 93

6.2 Hệ thống các lưu vực sông lớn của Việt Nam 93

6.2.1 Lưu vực hệ thống sông Kỳ Cùng- Bằng Giang 94

6.2.2 Lưu vực hệ thống sông Hồng - Thái Bình 95

6.2.3 Lưu vực hệ thống sông Mã 97

6.2.4 Lưu vực hệ thống sông Cả 98

6.2.5 Lưu vực hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn 100

6.2.6 Lưu vực hệ thống sông Ba (Đà Rằng) 102

6.2.7 Lưu vực sông Đồng Nai - Vàm Cỏ 103

6.2.8 Lưu vực sông Cửu Long (Mê Công) 104

6.3 Nội dung quản lý tổng hợp lưu vực sông 104

6.3.1 Đối tượng quản lý 104

6.4 Hiện trạng quản lý tài nguyên - môi trường theo lưu vực sông 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG

HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1.1 Các khái niệm về tài nguyên

1.1.1.1 Tài nguyên

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [19], tài nguyên được hiểu là

“tổng lượng một dạng thức sẵn có trong môi trường, như đất đai, nhân lực, tưliệu sản xuất, cơ hội, khả năng, tiền vốn, dữ liệu khoa học, thông tin được khaithác, sử dụng trong những điều kiện xã hội, kinh tế và công nghệ nhất định” Cónhiều loại tài nguyên khác nhau như: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế,tài nguyên xã hội, tài nguyên khoa học, vv Việc đánh giá tài nguyên thay đổitheo những biến đổi về kinh tế (vd biến đổi về giá cả), về xã hội và khoa họccông nghệ (vd công nghệ mới có thể làm tăng số lượng tài nguyên) Phần tàinguyên có thể khai thác theo công nghệ thông dụng, trong những điều kiện kinh

tế và xã hội hiện thời gọi là dự trữ Những dự trữ đã được nhận biết có thể chiathành loại dự trữ đã xác minh, loại có thể có và loại có thể thu hồi; những dự trữkhác được phát hiện thì hoặc là dự trữ giả thiết hoặc là dự trữ theo lí thuyết

Nói cách khác, tài nguyên, theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn vậtliệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể

sử dụng để phục vụ nhu cầu cầu phát triển của mình Tùy theo tiêu chí, tàinguyên được phân chia thành các dạng khác nhau

- Nếu dựa vào khả năng có thể bị hao kiệt trong quá trình khai thức sửdụng, người ta chia ra: tài nguyên có thể bị cạn kiệt và tài nguyên không cạnkiệt

- Nếu dựa vào khả năng có thể phục hồi trong quá trình khai thác sử dụng,người ta chi ra: tài nguyên có thể phục hồi và tài nguyên không thể phục hồi

- Nếu dựa vào nguồn gốc phát sinh, người ta chia ra: tài nguyên thiênnhiên và tài nguyên nhân văn

- Nếu dựa vào mục đích sử dụng, người ta có thể chia ra: tài nguyên nôngnghiệp, tài nguyên công nghiệp, tài nguyên du lịch,…

Trang 6

Nói tóm lại, tài nguyên là một phạm trù lịch sử, ranh giới của nó mở rộngtheo thời gian cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Việc phân loại tàinguyên phụ thuộc vào tiêu chí phân loại.

1.1.1.2 Tài nguyên đất

Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Đất có hai nghĩa: đấtđai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng

để sản xuất nông, lâm nghiệp

Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâuđời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địahình và thời gian Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%,hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%

Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì(độ mầu mỡ thích hợp cho trồng cây công nghiệp và lương thực)

1.1.1.3 Tài nguyên nước

Nước là nguồn tài nguyên có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người Tài nguyên nước được hiểu là lượng nước trongsông, ao hồ, đầm lầy, biển, đại dương và trong khí quyển Theo luật tài nguyênnước Việt Nam năm 2013 [11] Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nướcdưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo Nướcdưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất

1.1.1.4 Tài nguyên khí hậu

Tài nguyên khí hậu được định nghĩa bao gồm gió, ánh sáng mặt trời,lượng mưa và các thành phần của khí quyển có khả năng được sử dụng để phục

vụ cho các hoạt động của con người Trên thực tế tài nguyên khí hậu của có thểđược khai thác theo từng thành phần riêng biệt (tài nguyên năng lượng gió, nănglượng mặt trời…) hoặc tổng hợp của các yếu tố để tạo nên một điều kiện khí hậuđặc trưng nào đó (khí hậu ôn đới núi cao: Sapa, Đà Lạt…)

1.1.1.5 Tài nguyên sinh vật

Là toàn bộ giống loài trên trái đất có khả năng phục vụ cho nhu cầu củacon người Tài nguyên sinh vật bao gồm tài nguyên thực vật và tài nguyên độngvật Giá trị của tài nguyên sinh vật thể hiện ở mức độ phong phú về chủng loại,

số lượng cá thể và mức độ quý hiếm của các loài

Trang 7

1.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơnchất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy racác nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏkhoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triểnkinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác độngmạnh mẽ đến môi trường sống Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vậtchất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người Bên cạnh đó,việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi,kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v )

Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách: Theo dạng tồntại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng); Theo nguồngốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt tráiđất); Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loạimàu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệuxây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy)…

1.1.1.7 Bản chất của việc khai thác và sử dụng tài nguyên

Quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên là quá trình con người khai tháccác chất, các thuộc tính có ích của các vật thể và các lực trong tự nhiên, đồngthời để lại trong môi trường các chất thải và năng lượng thừa, một mặt có thểlàm tài nguyên bị cạn kiệt, mặt khác lại làm cho môi trường bị ô nhiễm

Quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên chính là quá trình con ngườitham gia vào các chu trình vật chất, năng lượng trong tự nhiên, làm cho các chutrình này bị biến đổi phức tạp hơn, đồng thời lại tạo ra các bộ phận mới cónguồn gốc nhân tác Chẳng hạn, trong quá trình sử dụng tài nguyên nước, conngười đã làm thay đổi vòng tuần hoàn nước trên toàn cầu, và việc bơm nước vàocác vỉa dầu đã loại bỏ một bộ phận nước trên trái đất ra khỏi vòng tuần hoàn.Con người đã làm thay đổi mạnh mẽ chu trình cacbon, nitơ…

Do tính chất không thể chia cắt được của môi trường tự nhiên, nhất là củakhí quyển, thủy quyển và sinh quyển, nên tác động của con người lên môitrường ở địa phương có thể truyền được đi xa hàng trăm, hàng nghìn kilômet,làm cho vấn đề môi trường về bản chất là vấn đề toàn cầu Ví dụ, ở Bắc Cựckhông có hoạt động trồng trọt, nhưng người ta đã từng phát hiện được thuốc trừsâu trong sữa của gấu trắng Bắc Cực Điều này càng rõ nét khi mà trong thời đại

Trang 8

ngày nay, khi mà ở bất cứ nơi nào trên Trái Đất cũng có thể chịu tác động dohoạt động của con người.

Do quy luật trao đổi vật chất và năng lượng trong lớp vỏ cảnh quan nêncác tác động của con người lên tự nhiên, có thể gây ra những phản ứng dâychuyền, làm cho các tác động gây hậu quả không mong muốn có thể mở rộngquy mô và trở lên khó kiểm soát hơn Chính điều này đòi hỏi con người cần sớmnhìn ra các xu hướng diễn biến của các phản ứng dây chuyền để có thể điềuchỉnh kịp thời Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuậthiện đại, lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ mà sức mạnh của con người

có thể so sánh với lực lượng địa chất Con người thể hiện sức mạnh khổng lồcủa mình trong việc cải tạo và chế ngự tự nhiên Nhưng cùng với những thànhquả đạt được, loài người đã phải gánh chịu những hậu quả không mong muốn,đến mức nhiều nhà khoa học lo ngại về một cuộc “khủng hoảng sinh thái” Khitác động theo hướng cải tạo thiên nhiên ở quy mô lớn thì các hậu quả khôngmong muốn tiềm tàng cũng ở quy mô lớn tương ứng

Thiên nhiên có khả năng duy trì trạng thái cân bằng và có khả năng tự làmsạch Tuy nhiên nếu tác động của con người vượt quá những giới hạn cho phépthì trạng thái cân bằng bị phá vỡ, môi trường bị suy thoái hoặc ô nhiễm

Trong quá trình sử dụng tài nguyên, con người làm thay đổi mạnh mẽcảnh quan cũng như phân bố lại vật chất trên lớp vỏ trái đất, tạo ra các dị thườngđịa hóa, chẳng hạn các kim loại phân bố khá phân tán trong vỏ Trái Đất, nhưngnhờ công nghiệp luyện kim, con người đã tích tụ chúng ở các máy công cụ,phương tiện vận tải, các công trình xây dựng… Các dị thường địa hóa nàythường gắn nhiều nhất với các vùng nông nghiệp thâm canh, các trung tâm côngnghiệp Và đáng ngại thay, các nơi này lại là vùng tập trung đông dân cư Chính

vì vậy mà các ổ gây ô nhiễm càng dễ gây hại cho sức khỏe cộng đồng

Thiên nhiên tồn tại ở thể cân bằng động Dưới tác động của con người,cân bằng động này bị phá vỡ, cân bằng động mới được thiết lập Quan hệ qua lạigiữa môi trường địa lý và xã hội loài người phát triển qua hàng chuỗi các cânbằng động như vậy Việc bảo vệ tự nhiên, khôi phục các trạng thái cân bằng của

tự nhiên không có nghĩa là khôi phục lại đúng trạng thái cân bằng ban đầu đãmất Iu G Xauskin (1973) đã cảnh báo (mặc dù lúc bấy giờ chưa phổ biến quanniệm phát triển bền vững) rằng nền sản xuất xã hội phát triển mở rộng như mộtvòng xoáy trôn ốc với biên độ ngày càng lớn, còn cơ sở tài nguyên của nhân loại

Trang 9

lại thu hẹp như một vòng xoáy trôn ốc với biên độ ngày càng nhỏ, và đó chính làmột mâu thuẫn lớn trong quá trình phát triển Ngay từ lúc ấy, Iu G Xauskin đãnhấn mạnh đến sự phụ thuộc của số phận loài người vào cách thức con ngườikhai thác tự nhiên, số phận của nhân loại không tách rời số phận của môi trường

tự nhiên trên Trái Đất Ông đã nhìn thấy khía cạnh đạo đức trong việc sử dụnghợp lý tài nguyên, điều mà sau này người ta nói đến trong khái niệm phát triểnbền vững sao cho sự phát triển của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến sựphát triển của thế hệ tương lai

Loài người có thể làm cho việc sử dụng tài nguyên hợp lý hơn thông quáquá trình tổ chức hợp lý lãnh thổ sản xuất, hợp lý hóa các chu trình năng lượng –sản xuất, các chu trình tài nguyên, sử dụng tổng hợp nguyên liệu, năng lượng,giảm thiểu các chất thải và năng lượng thừa chuyển vào môi trường, tìm kiếmcác công nghệ sạch (công nghệ không tạo ra chất thải), tìm kiếm các vật liệumới và các nguồn năng lượng mới, tái tạo tài nguyên, tái sử dụng phế liệu Tuynhiên những lợi ích kinh tế do sử dụng tự nhiên hợp lý là có tính chất lâu dài,đòi hỏi đầu tư lớn, trong nhiều trường hợp không hấp dẫn các nhà sản xuất và ởcác nước nghèo, có nhiều hạn chế về khả năng vốn và công nghệ, thì điều nàycũng không dễ thực hiện Còn nhiều lý do về kinh tế, chính trị là rào cản nhânloại có các giải pháp toàn diện và toàn cầu để sử dụng hợp lý tài nguyên có giớihạn của Trái Đất và giữ cho Trái Đất an toàn về môi trường

1.1.2 Các khái niệm về môi trường

1.1.2.1 Môi trường

Theo Luật bảo vệ Môi trường (2005) [11] Môi trường bao gồm các yếu tố

tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [19], môi trường bao gồm cácyếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau,bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và pháttriển của con người và thiên nhiên”

Nội dung quản lí MT: bảo vệ rừng và bảo đảm độ che phủ trên lãnh thổ;chống ô nhiễm không khí, nước và đất; bảo hộ lao động; giải quyết và tận dụngcác phế thải; chống xói mòn, laterit và hoang mạc hoá đất đai; quản lí nơi cư trúcho các sinh vật, bảo vệ và chống sự tiêu diệt các loài sinh vật quý hiếm; bảo vệ

Trang 10

mĩ quan và các di sản văn hoá; khai thác hợp lí, bảo vệ và làm giàu tài nguyên,

vv "Luật bảo vệ môi trường" của Việt Nam quy định những hoạt động giữ cho

MT trong lành, sạch đẹp, cải thiện MT, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn,khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho MT, khaithác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

1.1.2.2 Ô nhiễm môi trường

Theo luật bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam, ô nhiễm môi trường là

sự biến đổi của thành phần môi trường, không phù hợp với tiêu chuẩn môitrường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Điều 3)

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới: sự ô nhiễm là việc chuyển cácchất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hại đếnsức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chấtlượng môi trường

Như vậy, môi trường chỉ được gọi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng,nồng độ hoặc cường độ các tác nhân gây ô nhiễm đạt đến mức có khả năng tácđộng xấu đến con người, sinh vật và vật liệu

1.1.3 Khái niệm sinh thái học và hệ sinh thái

- Đa dạng loài: là sự phogn phú về các loài được tìm thấy trong các hệsinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê

Trang 11

- Đa dạng hệ sinh thái: là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhautrên cạn cũng như dưới nước tại một vùng nào đó.

1.1.3.4 Cân bằng sinh thái

Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định về sinh thái, trong đó các thànhphần môi trường tự nhiên ở trong trạng thái cân bằng Nếu cân bằng sinh tháikhông được duy trì, thì hệ sinh thái sẽ bị suy thoái

1.2 KHÁI NIỆM TAI BIẾN THIÊN NHIÊN VÀ TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG

Tai biến - là quá trình, tính chất hoặc trạng thái của môi trường tự nhiên,

xã hội, kỹ thuật-công nghệ có thể đe doạ trạng thái hoạt động bình thường của

hệ thống “ kỹ thuật - tự nhiên” (HKT) ở các cấp bậc khác nhau hoặc con người

và môi trường xung quanh (Ragozin, 1995)

Tai biến tự nhiên bao gồm toàn bộ những biến đổi có hại về trạng thái

của thạch quyển, thuỷ quyển, khí quyển, Ví dụ: động đất, trượt đất, lũ lụt, lũbùn đá, xảy ra cục bộ hay khu vực Người ta có thể chia ra một số nhóm taibiến thiên nhiên lớn như sau: Tai biến địa động lực (động đất, núi lửa, trượt lở,sụt lún….); Tai biến khí tượng (mưa, bão, lũ, vòi rồng, hạn hán, sét, hạn hán, samạc hóa….); Tai biến có nguồn gốc nhân sinh (cháy rừng, công nghiệp hạtnhân, tai biến sinh thái, tai biến từ hoạt động của quân đội, tai biến do giaothông)

Tai biến môi trường là quá trình gây mất ổn định trong hệ thống môi

trường Đó là một quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường gồm 3

giai đoạn: Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ): Các yếu tố gây hại tồn tại trong

hệ thống, nhưng chưa phát triển gây mất ổn định; Giai đoạn phát triển: Các yếu

tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái mất ổn định nhưng chưa vượt qua

ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường; Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình

vượt qua ngưỡng an toàn, gây thiệt hại cho con người về sức khoẻ, tính mạng,tài sản, Những sự cố gây thiệt hại lớn được gọi là tai hoạ, lớn hơn nữa đượcgọi là thảm hoạ môi trường

Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thànhphần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật

Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt độngcủa con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoáihoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng

Trang 12

Ở đồng bằng, miền núi, trung du và cao nguyên, do đặc điểm tự nhiên,kinh tế - xã hội khác nhau nên những tai biến thiên nhiên và tai biến môi trườngcũng có biểu hiện khác nhau.

1.3 KHÁI NIỆM MÂU THUẪN VÀ XUNG ĐỘT TRONG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN

Những mẫu thuẫn và xung đột trong quá trình khai thác, sử dụng tàinguyên là một tất yếu khách quan, tuy nhiên việc nghiên cứu để tìm ra bản chấtcủa các mẫu thuẫn này sẽ góp phần đắc lực trong việc giải quyết có hiệu quảnhững mâu thuẫn đó Có nhiều loại xung đột khác nhau trong quá trình khai thác

và sử dụng tài nguyên, nhưng chúng ta có thể chia ra hai nhóm xung đột lớn:xung đột giữa các thành phần của tự nhiên và xung đột mang tính chất xã hội(giữa con người với con người) Tuy nhiên trong khuôn khổ chuyên đề này tácgiả chỉ tập trung phân tích các xung đột có tính chất xã hội

Xét cho cùng bản chất của những mâu thuẫn, xung đột mang tính chất xãhội trong vấn đề tài nguyên – môi trường là sự không công bằng trong quyềnhưởng thụ những giá trị vật chất, tinh thần do tài nguyên mang lại, cùng với đó

là việc gánh chịu những hậu quả về môi trường do hoạt động khai thác tài, chếbiến, sử dụng tài nguyên gây ra

Đã có rất nhiều nghiên cứu về các cuộc xung đột sắc tộc và ly khai ở cácquốc gia và các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng có một mối liên hệ nhất địnhgiữa việc khai thác tài nguyên thiên nhiên với nguồn gốc của các cuộc xung độtnày Có hai hiện tượng chủ yếu được sử dụng để lý giải cho mối liên hệ này, đó

là "lòng tham" ("greed" - hay việc theo đuổi lợi ích vật chất) và "các mối bấtbình" (grievances - hay sự bất bình của người dân bản địa đối với các hậu quảcủa việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc khu vực họ sinh sống)

Thuyết "lòng tham" do hai nhà nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới làPaul Collier và Anke Hoeffler khởi xướng, trong đó hai nhà nghiên cứu này chorằng việc theo đuổi các lợi ích kinh tế là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các cuộcxung đột bên trong các quốc gia

Thuyết "nỗi bất bình" trong khi đó tập trung vào sự bất bình và thất vọngcủa người dân nơi có tài nguyên được khai thác như là một nguyên nhân làmcho các cuộc xung đột bùng phát và kéo dài Ví dụ như Ted Gurr cho rằng sựkhác biệt giữa mong muốn được thừa hưởng những thành quả của việc khai tháctài nguyên và những gì đạt được trên thực tế là nguyên nhân dẫn tới sự thất vọng

Trang 13

của người dân bản địa, khiến họ có cảm giác như bị "cướp bóc", từ đó dẫn tớinỗi bất bình của người dân và cuối cùng họ có thể chọn con đường bạo lực chínhtrị nhằm giải tỏa nỗi bất bình của mình Đặc biệt, sự bất bình của người dân bảnđịa đối với việc khai thác tài nguyên sẽ càng nguy hiểm nếu kết hợp với các mốibất bình khác liên quan đến sắc tộc, tôn giáo hay bất bình đẳng.

Ở các vùng lãnh thổ khác nhau những mâu thuẫn, xung đột có biểu hiệnkhác nhau, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên đặc biệt là sự khác biệt về cácđiều kiện kinh tế - xã hội

1.4 QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG

1.4.1.1 Quản lý tổng hợp lưu vực sông

Lưu vực sông là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đấtchảy tự nhiên vào sông Trong ranh giới thủy văn của lưu vực một con sông cóthể tồn tại nhiều quốc gia, nhiều ngôn ngữ, tộc người, các hình thái kinh tế,chính trị, xã hội khác nhau Trong một quốc gia, lưu vực sông có thể gồm nhiềuranh giới hành chính có trình độ phát triển khác nhau, trên đó tồn tại các điềukiện tự nhiên, các dạng tài nguyên, các hệ sinh thái, các điều kiện kinh tế, xãhội Trên lưu vực sông, mỗi dạng tài nguyên đều có chủ sở hữu (được nhànước giao quyền) theo khuôn khổ pháp luật và được đặt trong cơ chế quản lýtheo trách nhiệm ngành và địa giới hành chính Nhưng về bản chất tự nhiên, cácnguồn tài nguyên thiên nhiên thường không có biên giới rõ ràng, chúng tồn tại

và phát triển trong mối quan hệ tương tác, nương tựa vào phụ thuộc lẫn nhau.Bởi vậy bất cứ một cách quản lý riêng lẻ nào cũng không mang lại sự phát triểnbền vững, chúng cần được quản lý một cách tổng hợp Trong mô hình quản lýtổng hợp lưu vực sông, lưu vực sông được lấy làm cơ sở và xem đó là một hệthống thống nhất, trong đó có những tác động qua lại giữa các loại tài nguyên(nước, đất, rừng, các hệ sinh thái ) và con người Phương pháp này nhằm quản

Trang 14

lý lưu vực sông như một thực thể với những mục đích bảo vệ toàn bộ năng suấtcủa các nguồn tài nguyên trong một thời gian lâu dài, đồng thời bảo vệ và cảithiện chất lượng môi trường của lưu vực sông.

Hiện tại cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý tổng hợp tài nguyên

và môi trường theo lưu vực sông Có ý kiến cho rằng đó là việc điều hòa, chia sẻcác nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên nước nói riêng và tài nguyên thiênnhiên nói chung cho mục các mục đích khác nhau: nông nghiệp, thủy điện, cấpnước sinh hoạt và công nghiệp, giao thông thủy để đạt hiểu quả kinh tế màkhông làm suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường Có ý kiến lại nhấn mạnhđến sự phối hợp ở tất cả các ngành, các cấp chính quyền (quốc gia, tỉnh đếncộng đồng địa phương) trên lưu vực sông trong khai thác, sử dụng để bảo vệ tài

nguyên và môi trường [18] Tuy vậy, có thể hiểu quản lý tổng hợp lưu vực sông hay quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lưu vực sông là sự hợp tác trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên lưu vực một cách hợp lý, công bằng để đạt được lợi ích kinh tế và xã hội mà không làm tổn hại đến sự bền vững của hệ sinh thái.

1.4.1.2 Quản lý tổng hợp đới bờ

Năm 1972 có thể được lấy làm mốc để xác định sự ra đời của các lý thuyết

về quản lý Quản lý tổng hợp đới bờ hay quản lý tổng hợp vùng bờ biển(Integrated Coastal zone management) - QLTHVBB, với việc ban hành sắc lệnhquản lý vùng bờ biển của Hoa Kỳ [15]

QLTHVBB là một chương trình tạo dựng nhằm quản lý tài nguyên vùng bờbiển, có sự tham gia liên kết của tất cả các ngành kinh tế bị tác động, các cơquan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (Clark.J.R, 1996) QLTHVBB làmẫu hình quan niệm mới nhất về quản lý các vùng bờ biển, liên kết hoạt độngđối tác, tập hợp các bên có quyền lợi, là một quá trình phối hợp và các hoạt độngkhông trùng lặp Nó bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quyhoạch và quản lý hệ thống vùng bờ và tài nguyên, có xét đến các đặc điểm lịch

sử, văn hóa và truyền thống, mâu thuẫn lợi ích và sử dụng, đó là một quá trìnhliên tục và tiến hóa nhằm đạt tới sự phát triển bền vững (UNCED, 1992).QLTHVBB là một quá trình động và liên tục, nhờ đó các quyết định được đưa ranhằm sử dụng, phát triển bền vững và bảo vệ các khu vực và tài nguyên bờ vàbiển (Biliana, 1993)

Trang 15

Theo cộng đồng châu Âu (1997), QLTHVBB là một quá trình động, đanăng và lặp lại nhằm phát triển quản lý bền vững vùng bờ biển Nó gồm một chu

kỳ đầy đủ từ thu thập thông tin, lập quy hoạch (theo nghĩa rộng nhất), ra quyếtđịnh, quản lý và giám sát thực hiện QLTHVBB dùng sự tham gia và hợp tác đãđược đồng thuận của tất cả các bên có lợi ích để đạt được các mục tiêu xã hội ởmột vùng bờ biển xác định và thực thi các hành động nhằm hướng tới các mụcđích này Về lâu dài, QLTTVBB tiến tới sự cân bằng về các mục tiêu môitrường, kinh tế - xã hội, văn hóa và nghỉ dưỡng, nằm trong phạm vi của quátrình tự nhiên "Tổng hợp" ở đây mang nghĩa tổng hợp các mục tiêu, tổng hợpnhiều cách thức cần thiết để đạt mục tiêu Nó còn có nghĩa tổng hợp mọi lĩnhvực, chính sách, mọi ngành liên quan và trình độ quản lý hành chính Nó còn có

ý nghĩa tổng hợp các phần biển và đất liên của vùng trọng tâm, cả không gian vàthời gian

Bên cạnh đó, còn có khái niệm quản lý tổng hợp ven bờ biển (ICM Integrated Coastal management), trong đó trọng tâm là đối tượng sử dụng tàinguyên thiên nhiên, chứ không phải nguồn tài nguyên (United Nations, Atlas ofthe Ocean, GESAMP Glossary)

-Như vậy, về bản chất QLTHVBB là quản lý nhà nước với cách thức quản

lý tập trung Điều này xuất phát từ thực tế là hiện nay hầu hết các nền kinh tế vĩ

mô trên thế giới là nền kinh tế thị trường với cách thức quản lý phi tập trung.Trước đây, nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa được quản lý theo kiểu chỉhuy tập trung và bao cấp, trên thực tế chưa thành công và đã đổ vỡ Tuy nhiên,nền kinh tế quản lý phi tập trung cũng đã bộc lộ rõ những vấn đề phải đối mặt vềsuy giảm tài nguyên và suy thoái môi trường, dẫn đến khả năng phát triển khôngbền vững, không chỉ về xã hội hội, môi trường và cả về kinh tế Vì vậy,QLTHVBB được đặt ra như một tất yếu, nhưng tiếp cận nó là một quãng đườngdài từ nhận thức, lý luận đến thực tiễn, từ ý tưởng đến thành công Nó chỉ có thểđạt được mục tiêu với vai trò quản lý nhà nước với cách thức quản lý tập trung.QLTHVBB được coi là quản lý đa ngành, đa mục tiêu và đa lợi ích, là chìa khóacủa phát triển bền vững vùng bờ biển

Tuy nhiên, hiện nay quan niệm này chưa phải đã được chấp nhận ở mọinơi Còn có những quan điểm cho rằng quản lý vùng bờ biển không phải cáchquản lý tối ưu và chủ đạo, vì khó có khả năng thành công do chính các nhượcđiểm từ cách thức quản lý tập trung, khó có khả năng trở thành một quá trình tồn

Trang 16

tại tự mình (trường hợp ở Inđônêxi) Ở đây vai trò quản lý vùng bờ biển phi tậptrung giống như trong quản lý kinh tế được đề cao và đề xuất phát triển các môhình chủ đạo kiểu "đồng quản lý" hay "quản lý dựa vào cộng đồng".

1.4.2 Khái niệm về quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường

Qua những phân tích ở trên, có thể thấy cách hiểu khác nhau về quản lýtổng hợp rất khác nhau, tuỳ theo cách tiếp cận mà quản lý tổng hợp được hiểutheo những cách khác nhau

Ở Việt Nam, trên phương diện quản lý nhà nước, theo Nghị định Số:

25/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2009 của Thủ tường Chính Phủ về quản

lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo [6] có đề cập đến 5nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, gồm:

• Bảo đảm sự quản lý thống nhất, liên ngành, liên vùng, đồng thời hài hoàlợi ích chung giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo

vệ môi trường biển, hải đảo; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, hải đảovới phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

• Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường,bảo đảm an toàn trên biển, đồng thời góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền quốcgia và toàn vẹn lãnh thổ

• Tăng cường và đa dạng hóa các hình thức đầu tư, thu hút mọi nguồn lựctrong nước và quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển, hảiđảo

• Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, giảm thiểu ô nhiễm và khắc phục suythoái môi trường biển, hải đảo; bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái biển, hải đảobảo đảm sự phát triển bền vững

• Tuân thủ các Điều ước quốc tế về biển mà Việt Nam là thành viên

Như vậy trên phương diện quản lý nhà nước, quản lý tổng hợp tài nguyên

và môi trường có thể được hiểu là phương thức quản lý đảm bảo sự thống nhất, liên ngành, liên vùng , cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan trong khai thác,

sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh

tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc hòng với bảo vệ môi trường.

Theo Uỷ hội sông Mê Kông [4] quản lý tổng hợp là chiến lược quản lý dựa trên quan điểm hệ sinh thái, tập trung vào mối quan hệ giữa các yếu tố khác nhau, và ghi nhận động thái, sự thay đổi của các hệ sinh thái tự nhiên.

Cũng theo cơ quan này, sự khác nhau lớn nhất giữa quản lý theo tập quán và

Trang 17

quản lý tổng hợp đó là quản lý tổng hợp thiên về “phòng chống” hơn là “chữa”.Trong khi đó quản lý theo tập quán mang tính phản ứng lại (có nghĩa là cácquyết định được đưa ra để ứng phó với sự cố) Quản lý tổng hợp mang tính đónđầu (có nghĩa là các quyết định được đưa ra để ngăn chặn sự cố) Các ích lợi củaquản lý tổng hợp bao gồm:

• Bảo vệ dài hạn tài nguyên

• Tăng cường khả năng không xuống cấp tài nguyên do sử dụng đa mụcđích

• Giảm chi phí về năng lượng và tài chính vào giải quyết các mâu thuẫn

do cạnh tranh trong sử dụng tài nguyên

• Khôi phục nhanh chóng và hiệu quả các hệ sinh thái bị hư hại

Theo quan điểm của các nhà địa lý Việt Nam, quản lý tổng hợp là một quan điểm quản lý dựa trên cách tiếp cận thể tổng hợp địa lý Như chúng ta đã

biết một lãnh thổ ở cấp bất kỳ đều là một thể thống nhất về mặt tự nhiên và kinh

tế - xã hội, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ không tồn tại độclập mà luôn có mối quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn nhau Đồng thời mộtlãnh thổ dù ở cấp lớn đến đâu vẫn là một bộ phận của một hệ thống lớn hơn nó,

và các thành phần tự nhiên kinh tế - xã hội cấu thành lãnh thổ đó cũng là một bộphận của hệ thống lớn hơn chi phối và tác động đến chúng Chính vì vậy khi mộtyếu tố trong lãnh thổ thay đổi nó có thể dẫn đến sự thay đổi của các yếu tố kháccũng như toàn bộ hệ thống Sự thay đổi đó chỉ dừng lại khi hệ thống đạt đượcmức cân bằng mới (cân bằng động) Do đó, trong quá trình khai thác và sử dụngtài nguyên mà bản chất là quá trình tác động đến các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xãhội nhằm lấy đi những thuộc tính có ích và đề lại môi trường những thuộc tínhkhông có ích (hoặc chưa có ích) con người cần tính toán được xu hướng, cường

độ của sự thay đổi của từng yếu tố cũng như toàn bộ thống

Nói cách khác quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường một lãnh thổ nào đó chính là việc xác lập được cơ sở khoa học hay lôgic khoa học trong việc

sử dụng lãnh thổ vì mục tiêu phát triển bền vững.

Trang 18

PHẦN 2 QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG BẰNG, CAO NGUYÊN,

TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI

Trang 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [21], vùng đồng bằng hay bìnhnguyên là một vùng đất đai rộng lớn với địa hình tương đối thấp - nghĩa là nótương đối bằng phẳng, với độ cao so với mực nước biển không quá 500m và độdốc không quá 5° Khi độ cao không quá 200m, người ta gọi nó là đồng bằngthấp, còn khi độ cao từ 200m tới 500m, gọi là đồng bằng cao

Theo Nguyễn Trọng Hiếu và Phùng Ngọc Đĩnh [8], đồng bằng là dạng địahình có về mặt tương đối bằng phẳng với diện tích đáng kể (từ vài km2), thường

có độ cao tuyệt đối không lớn Đôi khi độ cao tuyệt đối của đồng bằng có thể đạttới vài trăm mét Song độ cao tương đối giữa các bộ phận trong đồng bằng luônluôn không đáng kể, từ vài mét đến vài chục mét Những khu vực rộng lớn củalục địa, trong đó bao gồm nhiều đồng bằng có nguồn gốc phát sinh hoặc cấu tạođịa chất khác nhau được gọi là miền đồng bằng Trong miền đồng bằng có thể

có núi, song diện tích của nó không đáng kể

Theo Đào Đình Bắc [2], đồng bằng là những khu vực bề mặt lục địatương đối rộng, độ chênh cao rất nhỏ (không quá 10m), hầu như bằng phẳng, ít

bị chia cắt, mạng lưới thung lũng thưa Trong thực tế, độ cao tuyệt đối củanhững đồng bằng rộng lớn có thể chênh lệch tới vài trăm mét, nhưng đố là trênkhoảng cách hàng chục, thậm chí hàng trăm km, do vậy ta hầu như không cảmthấy được Ví dụ đồng bằng tây Sibiri là một trong những đồng bằng rộng nhấtthế giới (2,5 triệu km2), cao dần theo hướng từ bắc xuống nam trên khoảng cách1500-2000km mà rìa phía nam cũng chỉ đạt tới độ cao 200m Cần nhấn mạnhrằng dù bằng phẳng đến đâu, đồng bằng vẫn có một độ nghiêng chung nhất định

và thông thường phù hợp với hướng chảy của các dòng sông lớn

Như vậy có thể nói, đồng bằng là dạng địa hình thấp, độ cao tuyệt đối củađồng bằng phụ thuộc vào loại đồng bằng, nhưng thông thường chia thành 3

Trang 20

mức: đồng bằng thấp (<200m), đồng bằng cao (200-600m), đồng bằng cao trênnúi (>600m) [1], mức độ chia cắt sâu thấp (không quá 10m), có ranh giớichuyển tiếp từ từ sang các dạng địa hình khác, có cùng nguồn gốc phát sinh vàlịch sử phát triển Miền đồng bằng là những khu vực rộng lớn, bao gồm nhiềuđồng bằng và có thể tồn tại các dạng địa hình khác Miền đồng bằng lớn thường

có vị trí trung khớp với những cấu trúc miền nền, nơi có chế độ kiến tạo chủ yếu

là vận động dao động biên độ nhỏ

2.1.2 Cơ sở phân loại vùng đồng bằng

Đồng bằng là một khái niệm hoàn toàn mang tính hình thái bề ngoài,nhưng trên thực tế, nếu xét về mặt phát sinh thì chúng rất đa dạng Để phục vụcho việc nghiên cứu và sử dụng lãnh thổ đồng bằng, cần tiến hành phân loạichúng một cách chi tiết và từ những góc nhìn khác nhau

Theo giáo sư Đào Đình Bắc [2], có 3 nguyên tắc phân loại đồng bằng:

2.1.2.1 Phân loại theo độ cao

Theo độ cao tuyệt đối, có thể chia ra bốn loại sau:

- Đồng bằng trũng: có độ cao tuyệt đối thấp hơn cả mực nước biển Ví dụ

đồng bằng Prikaspie có độ cao tuyệt đối âm 26m

- Đồng bằng thấp (còn gọi là các miền đất thấp): có độ cao tuyệt đối nhỏ

hơn 200m Ví dụ đồng bằng tây Sibiri, đồng bằng châu thổ sông Hồng, đồngbằng sông Cửu Long

- Đồng bằng cao: có độ cao tuyệt đối lớn so với mực nước biển (từ

200-600m) Đó là những miền đất cao bằng phẳng hoặc cao nguyên Ví dụ đồngbằng trung tâm nước Pháp

- Đồng bằng cao trên núi: có độ cao tuyệt đối trên 600m Đồng bằng trên

núi khác với cao nguyên ở chỗ nó bị các thung lũng chia cắt ở mức độ yếu hơn

và rìa của chúng thường chuyển tiếp từ từ sang các sườn núi xung quanh

2.1.2.2 Phân loại theo đặc điểm bề mặt

Hình thái bề mặt đồng bằng nhìn chung bằng phẳng, đơn điệu, song nếuxem xét chi tiết, ta vẫn có thể phát hiện được những sự khác biệt nhất định.Theo đó có thể phân biệt những dạng đồng bằng sau đây

- Đồng bằng nghiêng thoải: kiểu đồng bằng bày có độ nghiêng chung về

một hướng, nhưng rất nhỏ Ví dụ, đồng bằng Amazôn, đồng bằng Đanuýp, đồngbằng tây Sibiri

Trang 21

- Đồng bằng nghiêng: là loại có độ dốc chung hướng về một phía nhưng

góc nghiêng lớn hơn Thông thường đây là những đồng bằng nghiêng trước núi

- Đồng bằng lõm: có đặc điểm nổi bật là phần trung tâm thấp hơn xung

quanh Vì rằng những đồng bằng loại này đều nằm sâu trong lục địa và không códòng thoát nước ra đại dương nên người ta gọi là đồng bằng nội địa Chúng đặctrưng cho các miền khí hậu khô hạn và bán khô hạn Ví dụ: đồng bằng lõmBankhat (Trung Á), đồng cỏ ven Pricaspie và nhiều bộ phận của đồng bằng BắcPhi

- Đồng bằng ven biển: có đặc điểm của những bề mặt san bằng sâu sắc,

có độ nghiêng chung về phía biển, chiều rộng nhỏ và thường trải dài dọc theo bờbiển

- Đồng bằng gợn sóng: có độ cao dao động rõ rệt và là loại chuyển tiếp

vào miền đồi Đôi khi cũng gọi là đồng bằng đồi bởi vì trên nền chung bằngphẳng có thể gặp lác đác một số quả đồi

- Đồng bằng thung lũng: phát triển ở những đoạn thung lũng sông đặc

biệt mở rộng Đặc điểm của nó là có bề mặt nhìn chung bằng phẳng, nhưng đivào chi tiết cũng có rất nhiều dạng vi địa hình với độ chênh cao trên dưới 1m, độdốc không đáng kể

2.1.2.3 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh

- Đồng bằng mài mòn biển: Được hình thành do quá trình mài mòn của

sóng biển trong điều kiện kiến tạo tương đối yên tĩnh; thường là những dải hẹpkéo dài ven bờ biển Lớp trầm tích vụn trên bề mặt nói chung rất mỏng, diện lộ

đá gốc chiếm ưu thế Ở Việt Nam kiểu đồng bằng này có thể gặp nhiều ở venbiển Quảng Ninh, Hà Tĩnh và dọc bờ biển Miền Trung

- Đồng bằng tích tụ biển: hình thành khi biến lấn vào khu vực lục địa

thấp đã bị bán bình nguyên hoá, hay là do tích tụ dưới đáy các biển nông saunền Bên dưới lớp trầm tích biển thường vẫn còn lại những trầm tích lục địa vàtrầm tích nước ngọt Chúng còn được gọi là những đồng bằng nguyên sinh, theonghĩa là những đồng bằng tích tụ đáy biển nông được nâng lên bởi vận độngkiến tạo dao động Chúng thường có diện tích rất rộng lớn

- Đồng bằng phù sa ven biển: hình thành ở cửa những con sông có quá

trình châu thổ phát triển mạnh Bề mặt đồng châu thổ thường tương đối bằngphẳng, hơi nghiêng về phía biển hoặc hồ lớn và bị chia cắt bởi mạng lưới sôngngòi dày đặc đổ ra biển Quy mô phân bố của chúng có thể đạt diện tích đáng kể,

Trang 22

đặc biệt là các châu thổ liên quan đến quá trình võng sụt kiến tạo, như các châuthổ sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long

- Đồng bằng ven biển: có nguồn gốc phức tạp hình thành ở những dải

trũng lục địa ven bờ đã từng bị nâng lên, giáng xuống nhiều lần Vì vậy, trongcấu tạo trầm tích của chúng, ta có thể thấy những lớp trầm tích biển và trầm tíchlục địa xen kẽ nhau

- Đồng bằng tích tụ lục địa: được hình thành do tích tụ trầm tích sông,

hồ, sườn tích, băng tích, trầm tích gió trên những khu vực mặt đất bị hạ lún từ

từ, chậm chạp và ít bị chia cắt Bề dày tầng tích tụ có thể tới hàng nghìn mét(đồng bằng Ấn - Hằng có bề dày trầm tích lên tới 2000m)

- Đồng bằng tích tụ sông: hình thành ở những khu vực bãi bồi mở rộng.

Bề dày tầng aluvi thường mỏng hơn rất nhiều so với bề dày tích tụ của các loại

kể trên Chúng thường phát triển trong đáy các thung lũng có biểu hiện võng hạtương đối hoặc tuyệt đối hoặc ở những nơi cắt nhau của các đứt gãy kiến tạo

- Đồng bằng băng thuỷ: được tạo thành bởi hoạt động tích tụ của nước

băng tan Vật liệu tích tụ ở đây có thành phần chủ yếu là cuội, sỏi và cát phânlớp xiên Càng ra xa ranh giới băng hà, vật liệu cát và sét càng nhiều hơn, trởthành đồng bằng cát băng thuỷ Bề mặt đồng bằng băng thuỷ có độ nghiên nhẹ

ra xung quanh và nhìn chung không bằng phẳng do có những đồi băng tích nhỏ

- Đồng bằng tích tụ phù sa hồ: được hình thành khi bồn hồ bị thoái hoá,

trở nên khô cạn

- Đồng bằng kiến trúc: là loại đồng bằng phát triển trên phạm vi các nền

lục địa, ứng với các địa đài sau khi thoát khỏi mực nước biển vẫn giữ được cáclớp trầm tích biển nằm ngang hoặc gần nằm ngang (vì vậy còn gọi là đồng bằngnguyên sinh) Giữa đồng bằng kiến trúc và đồng bằng bóc mòn phân lớp có sựkhác biệt là: đồng bằng bóc mòn phân lớp ứng với các phần địa đài nâng, cácquá trình bóc mòn chiếm ưu thế, ngược lại, các đồng bằng kiến trúc ứng với cácphần tĩnh của địa đài và biểu hiện bóc mòn không đáng kể

- Đồng bằng bào mòn (loại bán bình nguyên): hình thành do quá trình

bào mòn, xâm thực lâu dài Trên bề mặt loại đồng bằng này có nơi lộ đá gốc, cónơi bị bao phủ bởi lớp trầm tích mỏng Bề mặt nói chung không bằng phẳng,thường gợn sóng, độ cao tuyệt đối tăng dần từ ngoại vi vào trung tâm Giữa địahình và cấu trúc địa chất bên dưới có sự không ăn khớp rõ ràng

Trang 23

` - Đồng bằng đa sinh: là những đồng bằng rộng lớn có nguồn gốc không

đồng nhất (bộ phận này có nguồn tích tụ, bộ phận khác có nguồn gốc bàomòn ) Các bộ phận tích tụ và bào mòn này có liên hệ đồng sinh với nhau

2.1.3 Hệ thống phân loại đồng bằng ở Việt Nam

Đồng bằng ở Việt Nam là nhóm địa hình quan trọng thứ hai sau nhóm đồinúi Tuỳ thuộc vào mức độ sụt võng mạnh hay yếu, đặc điểm địa hình bờ biển,đặc điểm mạng lưới sông ngòi dẫn đến sự hình thành nhiều kiểu địa hình đồngbằng khác nhau

Theo Vũ Tự Lập [9], địa hình đồng bằng ở nước ta có thể được phân loạinhư sau:

2.1.3.1 Kiểu đồng bằng chân núi - ven biển

Hình thành tại các vũng nhỏ chịu ảnh hưởng của các vận động thăng trầmyếu, đồng bằng rất hẹp ngang, từ chân núi ra biển khoảng chục cây số Ví dụ:đồng bằng Quảng Ninh, đồng bằng Kỳ Anh, đồng bằng Quảng Bình, đồng bằngKhánh Hoà Tính chất chân núi thể hiện ở sự có mặt khá phổ biến của cácthềm lũ tích, thềm biển mài mòn và đồi sót Tính chất ven biển thể hiện ở tỷ lệlớn của đất mặn, đất cát tại các dải cồn phá Tính chất cửa sông không mạnh dosông ngắn, lưu lượng ít, kém phù sa Các vũng cũ các hẹp thì cồn cát càngnhiều, nếu vũng cũ mở rộng hơn, diện tích phá có thể lớn, kéo theo sự gia tăngdiện tích đồng bằng phá - tam giác châu

2.1.3.2 Đồng bằng thềm chân núi

Là đồng bằng cao, không bị ngập nước lũ, thường nằm ở rìa giáp đồi núicủa dải đồng bằng chạy suốt từ Bắc chí Nam Không như các đồng bằng kháchình thành trong điều kiện yên tĩnh hay sụt lún yếu, đồng bằng thềm chân núi đã

bị lôi kéo ít nhiều vào vận động nâng lên của vùng đồi núi Tuỳ theo độ cao,mức độ xâm thực và tính chất phù sa, có thể phân biệt ra hai kiểu:

- Kiểu đồng bằng thềm xâm thực - tích tụ: có độ cao khoảng 25-50m và

cấu tạo chủ yếu từ phù sa cổ, lũ tích nhiều cuội sỏi, thường bị latêrit hoá, tronglòng đồng bằng có thể có đồi núi sót Kiểu đồng bằng này có thể bắt gặp ở vùngBất Bạt đến Xuân Mai (Hà Tây), vùng Triệu Sơn (Thanh Hoá) và ở Đông NamBộ

Trang 24

- Kiểu đồng bằng thêm tích tụ - xâm thực: xa đồi núi hơn, thấp hơn,

khoảng 10-20m, với phù sa mới là chính, như các đồng bằng thềm ở Bắc Giang,Vĩnh Phúc

2.1.3.4 Đồng bằng ven biển hiện tại

Có độ cao từ 0-2m, hằng ngày vẫn chịu ảnh hưởng của biển, vì thế ngoàicác dạng địa hình bồi tụ do sông, ta thấy có các dạng địa hình mà vai trò củathuỷ triều, của sóng rất rõ Tuỳ theo tương quan tác động giữa sông và biển cóthể phân ra hai kiểu đồng bằng ven biển

- Kiểu etchuye: hình thành tại các vùng cửa sông chịu tác động mạnh của

thuỷ triều Đồng bằng tiến triển rất chậm tuy vẫn nhiều bãi bồi lộ ra khi triềuxuống và bị ngập khi triều lên, điển hình là etchuye sông Thái Bình và etchuyesông Đồng Nai Còn ở duyên hải Trung Bộ, các etchuye có ít bãi triều vì sôngrất yếu, ít phù sa, nhưng lại nhiều cồn cát hay đụn cát và đồng bằng tiến chậmtheo phương thức phá - cồn Đụn cát phát triển tại nơi gió thổi mạnh như ởQuảng Bình, Phan Thiết

- Kiểu đenta: hình thành ở những cửa sông lớn, nhiều phù sa như sông

Hồng, sông Cửu Long, đồng bằng tiến nhanh ra biển theo phương thức tam giácchâu, ta gặp các nón phóng bùn rất lớn lấn ra biển với tốc độ 80-100m/năm Cồncát và phá không nhiều và không thành nét chủ yếu của địa hình Ở đây nét chủyếu của địa hình là các bãi da bồi trên đó các lạch triều ngang dọc chi chít Venbiển đồng bằng sông Cửu Long còn có một kiểu địa hình đặc biệt mà tác nhân

chủ yếu là sinh vật, đó là kiểu đồng bằng tích tụ - sinh vật Bên dưới đồng bằng

có nhiều than bùn tạo nên từ xác thực vật ven biển mà ở đây là rừng tràm, thấy ởvùng U Minh

Trang 25

Như vậy có thể thấy địa hình đồng bằng ở nước ta khá phong phú đadạng, phân bố dọc theo chiều dài lãnh thổ Căn cứ vào điều kiện thành tạo, đặcđiểm vật liệu có thể chia ra một số khu vực đồng bằng như sau:

- Dải đồng bằng duyên hải Quảng Ninh: kéo dài từ Móng cái đến Quảng

Yên (Yên Hưng ngày nay) Đồng bằng rất hẹp ngang, nơi rộng nhất không quá10km Được cấu tạo chủ yếu từ phù sa cổ, hình thành nên những bậc thềm caohơn những bãi bồi phù sa mới đến 10m

- Vùng đồng bằng Bắc Bộ (Đồng bằng sông Hồng): đây là vùng đồng

bằng châu thổ rộng lớn thứ 2 của cả nước, chịu ảnh hưởng của hệ thống sôngHồng - Thái Bình Tuy nhiên địa hình của đồng bằng không hoàn toàn đồngnhất, rìa phía đông giáp biển có độ cao 0-2m; phần trung tâm có độ cao 2-4m,rìa tây bắc chịu ảnh hưởng của vận động nâng lên ta thấy có 2 bậc thềm phù sa

cổ (10-12m và 30-35m), rìa tây nam các thềm phù sa cổ có độ cao khoảng 25m.Trong đồng bằng còn xuất hiện những đồi núi của nền cổ bên dưới, thấy ở hầukhắp các tỉnh (ngoại trừ Thái Bình và Hưng Yên)

Vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã, sông Cả (đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh): có cấu tạo tương tự như đồng bằng sông Hồng, tuy nhiên diện tích nhỏ

-hơn, kém bằng phẳng -hơn, nhiều đồi núi rải rác, cồn cát ven biển phát triển.Mức độ chênh cao giữa các bậc thềm, bãi bồi có thể lên tới 10m (Thạch Hà)

- Dải đồng bằng ven biển từ đèo Ngang đến Hải Vân: do dải trường sơn

Bắc ăn sát ra biển và nước núi chạy song song với bờ biển, nên các dải dồngbằng ven biển không phát triển bề ngang, đồng thời bị phân chia thành từng vệttheo chiều dọc Trong khu vực có nhiều cồn cát di động (cao 30 -80m)

- Dải đồng bằng duyên hải từ Hải Vân đến Bình Thuận: dải đồng bằng

có thể chia thành 4 đoạn Đoạn từ Hải Vân đến Cù Mông gồm 3 đồng bằngQuảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định - bị các đèo thấp ngăn cách Đồng bằngtương đối rộng và len lỏi lên vùng đồi, ngược theo các thung lũng sông; Từ đèo

Cù Mông đến đèo Cả là cánh đồng Phú Yên Tuy nhiên chỉ có đồng bằng cửasông Ba là tương đối rộng, còn lại những cánh đồng chân núi - ven biển rất nhỏ;Đoạn từ Mũi Nạy đến Mũi Dinh- đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt vụn vặt; Đồngbằng duyên hải Bình Thuận mở rộng và chuyển tiếp từ từ sang Đông Nam Bộ.Tuy nhiên ở đây diện tích thêm phù sa cổ, diện tích cồn cát, đụn cát cổ - mớichiếm đa số tuyệt đối Đồng bằng phù sa mới (Tuy Phong, Phan Ri, Phan Thiết)

có diện tích nhỏ

Trang 26

- Đồng bằng Nam Bộ: là đồng bằng rộng lớn nhất nước ta, được chia

thành 2 khu vực khác nhau rõ rệt là Đông Nam Bộ và Châu thổ sông Cửu Long

+ Đông Nam Bộ: bao gồm đồng bằng thềm phù sa cổ cao 25-50m và bán

bình nguyên đất đỏ bazan cao 50-200m, thuộc địa phận các tỉnh Đồng Nai, BìnhPhước, Bình Dương, Tây Ninh Hai bậc địa hình này chạy song song theo hướngtây bắc - đông nam và dốc nghiêng từ phía đông bắc xuống tây nam Ngoài ratrong lòng đồng bằng cũng nhô lên vài ngọn núi

+ Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long (Tây Nam Bộ): là một phần của

châu thổ tự nhiên rộng lớn, độ cao trung bình 2m, đỉnh của tam giác châu này cóthể lên tới PhnomPênh Đồng bằng không có hệ thống đê nên vào mùa lũ, nướcgây ngập lụt nhiều nơi

2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁTTRIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG

Các vùng đồng bằng ở nước ta đa phần thuộc nhóm địa hình đồng bằngtích tụ (ngoại trừ đồng bằng Đông Nam Bộ), được hình thành tại các vùng sụtlún và tích tụ phù sa Đệ Tứ Bên cạnh đó, đồng bằng là nơi dân cư trù mật,được khai thác từ lâu đời Do vậy, khi đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến sựhình thành và phát triển vùng đồng bằng cần đề cập đến hai nhóm nhân tố có tácđộng tổng hợp: nhân tố tự nhiên và nhân tố có nguồn gốc con người

2.2.1 Nhân tố tự nhiên

2.2.1.1 Cấu trúc địa chất – địa hình

Cấu trúc địa chất giữ vai trò là nền móng, định hình hướng phát triển củađồng bằng Đối với 2 đồng bằng châu thổ là: ĐBSH và ĐBSCL, yếu tố cấu trúcđịa chất có tác động rất mạnh đến khuynh hướng phát triển của 2 đồng bằng này

ĐBSH, có diện tích trên 15000km2, hình thành trên võng Kainozoi chồnglên các kiến trúc không đồng nhất Móng bồn trũng có cấu tạo khối, do sự tíchcực hóa trong Kainozoi của các hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam.Trũng sinh thành từ Paleogen giữa-muộn, chủ yếu vào Neogen – Đệ tứ, vớimóng kết tinh nằm ở độ sâu đến 11km Cấu trúc địa chất của ĐBSH còn ảnhhưởng đến hướng chảy của các dòng sông trong đồng bằng Nhiều tài liệunghiên cứu chỉ ra rằng, dòng chảy hiện nay của sông Hồng trùng với đứt gãy sâu

ở móng và nếp oằn trong trầm tích Kainozoi [1]

Trang 27

Thực tế ĐBSH, được phát triển trên một vùng sụt lún kiểu rift mạnh [9]

có dạng một tam giác cân kéo dài về phía Tây bắc Trong lịch sử phát triển củamình các vận động tân kiến tạo đã xảy ra với mức độ rất khác nhau ở vùng rìa

và trung tâm vùng trũng Điều này dẫn đến chiều dày trầm tích đệ tứ không đều

ở các nơi, đặc biệt đối với trầm tích Holocen ở trên cùng, dày từ 80 đến 100 mét

ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏngdần

Đối với ĐBSCL, được hình thành trên phần sụt sâu của trũng núi Tông LêXáp – Nam Bộ Chiều sâu của móng đá gốc ở đới trục từ 200m – 2200m, lênđến 4000m ở thềm lục địa Trong quá trình tiến triển ở đồng bằng vai trò quyếtđịnh thuộc về các đứt gãy trẻ hoặc kế thừa Quan trọng nhất là đứt gãy Tà Lài –Rạch Giá và sông Hậu

Đứt gãy sông Hậu phương Tây Bắc chia lãnh thổ ra hai khối, có tính chấtchuyển động kiến tạo khác nhau Khối đông bắc lún chìm nghiêng về phía tâynam, tạo nên địa hào Cửu Long Còn khối tây nam, với cự ly sụt yếu hơn,nghiêng về phía đông nam

Ta còn thấy vai trò của cấu trúc địa chất thông qua việc so sánh sự khácbiệt giữa ĐBSH và ĐBSCL Cả hai đồng bằng đều được hình thành trên võnggiữa núi, bắt đầu sụt lún vào Oligocen hoặc cuối Eocen Tuy nhiên, ở ĐBSHtrầm tích Kainozoi dày gấp 3-3,5 lần ở ĐBSCL, nhưng trầm tích Đệ Tứ thì tráilại, mỏng hơn (250m so với 300-400m) Điều đó nói lên rằng trong Paleogen vàNeogen ĐBSCL bị sụt lún yếu hơn ĐBSH, nhưng trong Đệ Tứ thì mạnh hơn Sựkhác nhau đó được cắt nghĩa bởi vị trí kiến tạo không giống nhau của hai vùng.ĐBSH liên quan chủ yếu với quá trình rift và chịu ảnh hưởng của hoạt động tạonúi mạnh Còn võng Cửu Long lại có liên quan mật thiết với quá trình sụt lúnngoài thềm lục địa và các phun trào bazan, phát triển rộng rãi ở ven rìa đồngbằng với hoạt động tích cực trong Đệ Tứ

2.2.1.2 Quá trình tích tụ, trầm tích vật liệu

Quá trình tích tụ ở các đồng bằng của Việt Nam là kết quả tổng hợp củacác tác nhân: quá trình phong hóa, tác động của các yếu tố khí hậu, mạng lướithủy văn, tác động của biển… Tuy nhiên, đối với 2 đồng bằng lớn (ĐBSH,ĐBSCL), các tác nhân hình thành không chỉ xuất phát trên lãnh thổ nước ta màcòn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của các lãnh thổ láng giềng

Trang 28

ĐBSH là kết quả của quá trình lắng đọng phù sa, trầm tích vật liệu của 2

hệ thống sông chính: sông Hồng và sông Thái Bình cùng với tác động của biển.Trong đó hệ thống sông Hồng giữ vai trò chủ đạo Hệ thống sông Hồng là hệthống sông lớn thứ 2 cả nước, gồm sông Hồng – dòng chảy chính, sông Đà, sông

Lô có tổng diện tích lưu vực 235.600km2, trong đó diện tích lưu vực trong nướcchiếm 47% tổng diện tích lưu vực [9] Phần lưu vực trong nước phát triển trongđiều kiện nhiệt đới ẩm gió mùa, có hệ số bóc mòn khá lớn (vùng An Châu:392,57 tấn/km2 năm, vùng Việt Bắc 362,73 tấn/km2 Năm, vùng Tây Bắc322,35 tấn/km2 Năm) [1] Tuy nhiên, nguồn phù sa chủ yếu của sông Hồng lạikhông xuất phát từ trong nước mà từ khu vực tây nam Trung Quốc (cao nguyênVân Quý) Điều này chỉ ra rằng, việc quản lý khai thác ĐBSH không chỉ dừng ởviệc phối hợp quản lý giữa các tỉnh trong lưu vực của nước ta mà cần có sự phốihợp quản lý với nước bạn

Tương tự với ĐBSH, ĐBSCL là kết quả bồi đắp và trầm tích vật liệu của

hệ thống sông Cửu Long (Mê Công) – hệ thống sông lớn nhất Đông Dương,tổng diện tích lưu vực lên tới 795.000km2, chiều dài dòng chảy chính 4500km.Tuy nhiên phần diện tích lưu vực và dòng chảy thuộc lãnh thổ Việt Nam lại chỉchiếm lần lượt là 8,64% (68.725 km2) và 5,1% (230km)[9] Tổng lượng phù sacủa hệ thống sông Cửu Long lên tới 70 triệu tấn/năm đây là nguồn vật liệu chínhtạo nên ĐBSCL Bên cạnh đó, do địa hình ĐBSCL có độ cao tuyệt đối thấp nênchịu các động rất lớn của thủy triều (hiện tượng triều cường) đặc biệt vào mùakhô

Đối với các đồng bằng duyên hải miền trung, gồm: đồng bằng Thanh –Nghệ, Nam – Ngãi; Bình - Phú là kết quả bồi đắp của các hệ thống sông Mã –

Cả, Vu Gia – Thu Bồn, Ba – Đà Rằng Tuy nhiên do các hệ thống sông ở đâyngắn, và chảy trong vùng có nền thạch học cứng, lượng mưa thấp do vậy vật liệutrầm tích thô, cùng với việc các dãy núi tiến sát ra biển dẫn đến đồng bằng nhỏ,hẹp, nhiều cồn cát

2.2.1.3 Quá trình xâm thực – bóc mòn

Ở Việt Nam, nhân tố xâm thực bóc mòn không phải tác nhân trực tiếp tạonên các đồng bằng lớn ở nước ta, mà chỉ giữ vai trò cung cấp nguồn vật liệu vàtạo nên các đường nét mới trên bề mặt đồng bằng

Tuy nhiên cũng có một số đồng bằng hoặc bộ phận của đồng bằng, nhân

tố xâm thực bóc mòn là tác nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của

Trang 29

đồng bằng hiện nay Tiêu biểu phải kể đến đồng bằng Đông Nam Bộ Thực chấtĐông Nam Bộ là một đồng bằng thềm phù sa cổ có độ cao từ 10 -100m, gồm haidải đông bắc và tây nam Dải đông bắc, rộng 20-30 km, tiếp xúc với cao nguyênbazan Xuân Lộc, Lộc Ninh và Pediment vùng Sông Bé Trong phạm vi dải nàythấy rõ 3 bậc địa hình trên các độ cao 40-50m, 70-80m, 90-100m Dải tây nam,cao từ 6-7m đến 15-20m và rộng đến 60km, cấu thành chủ yếu bởi aluvi Nhân

tố xâm thực bóc mòn được biểu hiện rõ bởi lớp vỏ phong hóa laterit dày (4-5m)

và rắn chắc Vỏ này thường được phủ bởi một lớp bột cát dày 1-2m màu xám(đất xám) Chúng sinh thành do kết quả của quá trình rửa trôi bề mặt (eluvi,deluvi) khi đồng bằng được nâng lên và bắt đầu bị chia cắt nhẹ

Tác động của sinh vật: đối với việc hình thành đồng bằng, vai trò của sinhvật chủ yếu thể hiện ở khu vực ven biển Trong đó nổi lên vai trò của các cánhrừng ngập mặn, giúp chắn sóng, cố định phù sa, làm cho quá trình bồi tụ diễn ranhanh chóng

2.2.2 Yếu tố nhân sinh

Hoạt động của con người: Đây là yếu tố rất quan trọng làm biến đổi địahình bề mặt qua từng thời kỳ lịch sử khai thác đồng bằng Bàn tay lao động củacon người đã làm thay đổi địa hình ban đầu, tạo ra địa hình như ngày nay thôngqua việc đào sông ngòi, kênh mương, đắp đường sá, đê điều và lập ra các khudân cư, ruộng vườn Minh chứng tiêu biểu là hệ thống đê điều ở ĐBSH, việc đắp

đê trong hàng nghìn năm khai phá lãnh thổ đã góp phần hình thành nên các đặcđiểm địa hình của ĐBSH ngày nay Ví dụ hệ thống đê sông Hồng - Thái Bình cóchiều dài lên tới 2.700 km [13], khiến cho Đồng bằng Sông Hồng bị chặn đứngtrong quá trình bồi đắp tự nhiên của nó, làm cho bề mặt đồng bằng bị phân hóamạnh, bên cạnh các sống đất cao lại có nhiều nơi thấp úng vào mùa mưa, đồngthời lại có nhiều ao hồ Nhiều ô khép kín đã được hình thành như ô Hà Đông(giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Phủ Lý), ô Hà Nam Ninh (giữa sông Hồng,sông Đáy, sông Phủ Lý và sông Nam Định), ô Bắc Hưng Hải (giữa sông Hồng,sông Đuống, sông Luộc và sông Thái Bình) Ra phía biển lại có những ô baoquanh bởi các đê ngăn nước mặn như ô Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Dương

Đối với ĐBSCL, việc đào kênh, rạch điển hình là kênh Vĩnh Tế (dài87km, nối Châu Đốc với Hà Tiên), kênh Thoại Hà (31 km), kênh Bảo Định,kênh Ruột Ngựa, kênh Phố Xếp, kênh Rạch Chanh, kênh An Thông, kênh Lợi

Tế, kênh Long An, đã ảnh hưởng rất lớn đến diện mạo của đồng bằng

Trang 30

Hiện nay, với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất nhanh cảnh quanđồng bằng đang bị thay đổi nhanh chóng bởi các hoạt động kinh tế: rất nhiềukhu công nghiệp, dịch vụ, chung cư cao tầng, đướng xá…mọc lên Bên cạnh đóviệc khai thác tài nguyên khoáng sản (đá vôi, cát sỏi), cũng tạo ra những biếnđổi rất lớn trên bề mặt đồng bằng (vùng sản xuất xi măng ở Hải Dương, HảiPhòng, Hà Nam…) Điều này đang phá vỡ quy luật phân bố vật chất tự nhiên,làm gia tăng các ảnh ảnh hưởng ngoài quy luật và tiềm ẩn các nguy cơ khó kiểmsoát: sụt lún, hạ thấp mực nước ngầm….

2.3 CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN CƠ BẢN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG

2.3.1 Tài nguyên đất

Tài nguyên đất được xét đến trên các khía cạnh cơ bản sau: thứ nhất, đất

là môi trường sản xuất và sinh sống của các loài sinh vật (đặc biệt là thực vật);thứ hai đất là giá thể để xã hội loài người tồn tại và phát triển – không gian sống

Ở vùng đồng bằng Việt Nam, đất là loại tài nguyên quan trọng nhất Nó lànguồn lực trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các khu vực này

Trên khía cạnh thứ nhất, ở đồng bằng, tài nguyên đất rất dạng, tuy nhiênquan trọng nhất phải kể đến nhóm đất phù sa Nhóm đất này bao gồm các bồitích sông, không chịu ảnh hưởng của biển, không có tầng phèn tiềm tàng hayhoạt động Diện tích khoảng 3,4 triệu ha (chiếm 10,8% diện tích đất Việt Nam)

Độ phì nhiêu của đất phụ thuộc vào đặc tính phù sa các sông bồi đắp nên châuthổ Các sông lớn, có lưu vực rộng, sông đào lòng sâu qua nhiều lớp đất đá,dòng chảy cũng qua nhiều vùng nham thạch khác nhau, đồng thời tập trungnước và phù sa của nhiều phụ lưu, thường có phù sa trung tính hoặc ít chua, độcao no bazơ khá, đất có mầu nâu tươi, đó là trường hợp của sông Hồng và sôngCửu Long Các sông nhỏ, lưu vực hẹp, nhất là sông miền Trung chảy qua các đáhỗn hợp hoặc macma axit, có phù sa chua, nghèo, mầu nhạt, xám nâu hoặc xám.Đất phù sa ở đồng bằng có thể chia thành 4 loại: đất phù sa trung tính và ít chua,đất phù sa chua, đất glây và đất lầy

- Đất phù sa trung tính và ít chua (pH = 7,5-5,5), có diện tích 226.000 haphân bố chủ yếu tại châu thổ sông Hồng, dọc hai sông Tiền và sông Hậu Đất làvốn đất quý nhất, tuy nhiên đây là khu vực có mật độ dân cư đông, nhiều đô thị,cho nên diện tích bị thu hẹp nhanh (phục vụ cho các hoạt động phi nôngnghiệp)

Trang 31

- Đất phù sa chua: bao gồm đất bồi tích của sông Thái Bình, tất cả đất củađồng bằng duyên hải miền Trung, tại châu thổ sông Cửu Long thì bọc lấy dải đấtphù sa trung tính ít chua Có diện tích lên tới 1,666 triệu ha Là loại đất có thànhphần cơ giới nặng, tỷ lệ sét 20-50%, đất chặt, có mầu nâu nhạt đến xám, dễ bạcmầu Trong quá trình khai thác cần chú ý cải tạo để nâng cao độ phì, giảm chua.

- Đất glây: hình thành tại những nơi thấp, đọng nước trong thời gian dài(> 6tháng), mực nước ngầm gần mặt đất Đất rất chua (pH = 4), bí, mầu xámxanh, thành phần cơ giới nặng, mùn trung bình (2-4%), đạm và kali trung bình,nghèo lân Chiếm diện tích khoảng 450.000 ha, phân bố chủ yếu ở ĐBSH, BắcTrung Bộ, rải rác ở duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.Loại đất này cần cải tạo bằng cách tháo nước tiêu úng, cầy lật cho thoáng khí,bón vôi và lân, nên canh tác 1 vụ lúa và một vụ thủy sản

- Đất lầy: có diện tích khoảng 43.000 ha, tập trung ở Hà Tĩnh, QuảngBình, nằm giữa vùng đồi gò chân núi và dải cồn cát ven biển, ở đồng bằng Bắc

Bộ thấy ở ô trũng Hà – Nam – Ninh Đất có đặc tính rất chua (pH = 4), có nhiềuđộc tố với cây trồng, giàu đạm, nghèo lân và kali, tỷ lệ mùn từ 4-8%

Bên cạnh nhóm đất phù sa, ở đồng bằng còn phổ biến nhóm đất phèn, đây

là nhóm đất quan trọng vì diện tích lên tới 1,863 triệu ha (5,92% diện tích toànquốc) Phân bố chủ yếu ở châu thổ sông Cửu Long, ở châu thổ sông Hồng xuấthiện ở duyên hải Hải Phòng, Thái Bình Đất phèn thường hình thành ở vùng cửasông ven biển, sau rừng ngập mặn, khi đất đã cao lên, thoát ngập nước thườngxuyên và có điều kiện ôxy hóa, đất mặn sú, vẹt, đước chính là đất phèn tiềmtàng Vì thế khi chặt phá rừng ngập mặn để nuôi tôm hay canh tác mà khôngđúng kỹ thuật sẽ làm cho đất hóa phèn nhanh chóng, vừa không đạt hiệu quảkinh tế, vừa làm mất vốn rừng ngập mặn Khi rừng tràm tự nhiên thay thế rừngngập mặn, thì trong rừng tràm thường có tầng than bùn có khả năng giữ chặt cácion Al, hạn chế sự hình thành phèn, đồng thời than bùn giữ ẩm cho đất trong cáctháng khô cũng hạn chế quá tringh ôxy hóa, tầng pyrit luôn luôn nằm trong tìnhtrạng khử cũng không hình thành sunfat sắt, nói cách khác phèn được giữ lại ởdạng tiềm tàng vô hại Phá rừng tràm, khai thác than bùn sẽ mở rộng diện tíchđất phèn hoạt động

Ngoài ra, vùng đồng bằng còn một số nhóm đất đáng chú khác, đó là: đấtmặn – tổng diện tích khoảng 1,272 triệu ha; nhóm đất cát – 533.000 ha; đất xámbạc màu trên phù sa cổ (1,2 triệu ha) - phát triển trên các thềm phù sa cổ (15-

Trang 32

20m), tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ (0,9 triệu ha), rìa châu thổ sông Hồng,duyên hải nam trung bộ, rìa châu thổ sông Cửu Long.

Tóm lại, đất là tài nguyên quan trọng bậc nhất ở vùng đồng bằng, việc sửdụng, cải tạo, bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên này có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với không chỉ sự phát triển của vùng đồng bằng mà còn với vấn đề an ninhlương thực của cả nước

Ở khía cạnh thứ hai, tài nguyên đất vùng đồng bằng lại rất hạn chế Bởi lẽvùng đồng bằng chiếm 1/4 diện tích cả nước, nhưng lại là nơi sinh sống củakhoảng 75% dân số Hơn nữa đây là nơi tập trung các trung tâm kinh tế lớn của

cả nước, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra rất mạnh, trong khi diện tíchđất chưa sử dụng có thể mở rộng còn rất ít Điều đó dẫn đến không gian sống,sản xuất trong khu vực đồng bằng ngày càng bị thu hẹp Đối với ĐBSH, tínhđến thời điểm năm 2009 (theo số liệu của Tổng cục thống kê), tổng diện tích đất

tự nhiên là 2106,3 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 794,7 nghìn ha(37,7%), đất lâm nghiệp là 461,2 nghìn ha (21,9%), đất chuyên dùng và đất ở là423,9 nghìn ha (20,1%), đất chưa sử dụng chiếm 20,2% Vùng ĐBSCL có diệntích tự nhiên 4051,9 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 2550,7 nghìn ha, đấtlâm nghiệp là 331,4 nghìn ha, đất chuyên dùng và đất ở là 352,8 nghìn ha, đấtchưa sử dụng chiếm 20,2% tương đương 817 nghìn ha Ở đồng bằng Đông Nam

Bộ, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 8,1% diện tích, tương đương 191,7 nghìn

ha Tại khu vực đồng bằng duyên hải chúng ta cũng thấy tình trạng tương tự.Mặc dù diện tích đất chưa sử dụng của 2 đồng bằng lớn (ĐBSH và ĐBSCL) còntrên 20%, tuy nhiên đây là những vùng đất lầy thụt, nhiễm mặn, đất cát… rấtkhó cải tạo và cần có thời gian dài

Chính vì vậy có thể thấy rằng tài nguyên đất ở đồng bằng mặc dù rấtphong phú về chủng loại nhưng lại đang trong tình trạng suy giảm cả về sốlượng và chất lượng

2.3.2 Tài nguyên nước

2.3.2.1 Tài nguyên nước mưa

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với lượngmưa trung bình nhiều năm khoảng 1960mm [14], tuy nhiên sự phân bố mưatrong năm rất không đều và chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Cácvùng đồng bằng ở Việt Nam (sông Hồng, Cửu Long, duyên hải) tuy nằm ở

Trang 33

những vĩ độ khác nhau, nhưng lượng mưa trung bình ở các vùng đồng bằng này

là tương đương nhau, dao động trong khoảng từ 1600-2000mm, ngoại trừ khuvực Phú Khánh và Ninh Thuận – Bình Thuận có lượng mưa thấp (<1200mm).Bên cạnh đó khu vực cực nam của ĐBSCL, Kỳ Anh (Hà Tĩnh) lại có lương mưalớn (>2400mm) Về chế độ mưa, tại hai đồng bằng lớn lượng mưa tập trung chủyếu vào mùa hạ, trong khi dải đồng bằng duyên hải miền trung, lượng mưa chủyếu rơi vào thu – đông

Nước mưa là nguồn tài nguyên quý giá cho đời sống và sản xuất, tuynhiên lương mưa lại tập trung chủ yếu trong một mùa, dẫn đến tình trạng ngập,lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô Vấn đề này đặt ra thách thức lớnđối với việc quản lý và sử dụng hợp nguồn tài nguyên quý giá này

2.3.2.2 Tài nguyên nước sông ngòi

Ở vùng ĐBSH, có mạng lưới sông ngòi dày đặc, tuy nhiên nguồn nướcđịa phương lại không lớn Lớp dòng chảy sông ngòi địa phương 762mm, dòngchảy ngầm vào sông là 454 mm, dòng chảy trong đất là 1179 mm, tương ứngvới khối lượng 13 tỷ m3/năm, 3 tỷ m3/năm và 20 tỷ m3/năm Trong khi đó dòngchảy ngoại lai rất lớn: dòng chảy ngầm lên tới 40 tỷ m3/năm, dòng chảy mặt là

75 tỷ m3/năm [14] Mặc dù vậy, vào mùa khô (mùa đông) ĐBSH vẫn rơi vàotình trạng thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, trong khi mùa hạ (mùa mưa) lại

ở trong tình trạng dư thừa nước, và thường xuyên đối mặt với nguy cơ lụt lội

Ở vùng ĐBSCL, cũng giống như ĐBSH, đây là vùng có tài nguyên nướcrất phong phú, nhưng nguồn nước tại địa phương cũng rất hạn chế chỉ đạt 9 tỷ

m3/năm (trong đó có 2 tỷ m3 nước ngầm) Trong khi đó dòng chảy ngoại lai lênđến 99,4 tỷ m3/năm và 33,4 tỷ m3 ngước ngầm Để đảm bảo cho hoạt động sảnxuất nông nghiệp (2,55 triệu ha đất nông nghiệp) vào mùa khô, vùng cần khoảng

35 tỷ m3 nước, trong khi nước sông Mê Kông vào mùa khô chỉ đáp ứng đượckhoảng 10 tỷ m3, phần còn lại sẽ phải phụ thuộc vào nước ngầm

Ở đồng bằng Đông Nam Bộ, được đánh giá là vùng tương đối nghèo nước[14], hàng năm thu nhận khoảng 12 tỷ m3 dòng chảy sông ngòi, 6 tỷ m3 dòngchảy ngầm và 43 tỷ m3 nước trong đất Với lợi thế của địa hình thềm cổ, nhiềunơi có lớp phủ bazan dày, độ chia cắt yếu Đông Nam Bộ cũng là một vùng cónhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp: cao su, càphê, ca cao, cây ăn quả… Theo tính toán, để đáp ứng được 646 nghìn ha đấtnông nghiệp hiện nay cần 9 tỷ m3 nước

Trang 34

Đối với vùng đồng bằng duyên hải, được đánh giá là thuận lợi về tàinguyên nước Tuy nhiên vấn đề đối với khu vực này là mức độ tập trung củadòng chảy mặt rất cao lên tới 47 tỷ m3 (chiếm 63% dòng chảy).

2.3.3 Tài nguyên khí hậu

Vùng đồng bằng Việt Nam nằm trên trải dài trên nhiều vĩ độ, do đó sựphân hóa về các điều kiện khí hậu rất rõ rệt

Đối với vùng đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải Thanh – Nghệ, do chịu ảnhhưởng mạnh của gió mùa đông bắc, nên khí hậu mang tính chất cận nhiệt, cómột mùa đông lạnh Điều này tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệpcận nhiệt và ôn đới với các loài rau, củ, quả ôn đới

Vùng đồng bằng Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ ít chịu ảnh hưởngcủa gió mùa đông bắc, khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nóng quanh năm.Lượng nhiệt và bức xạ cao, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp nhiệt đới quanhnăm Vùng ĐBSCL có thể trồng 3 đến 4 vụ lúa một năm

Bên cạnh nguồn tài nguyên nhiệt, bức xạ tại vùng đồng bằng đặc biệt khuvực duyên hải Nam Trung Bộ còn có nguồn tài nguyên năng lượng gió Đâyđược xem là nguồn năng lượng sạch và vô tận

2.3.4 Tài nguyên sinh vật

Các con sông vùng đồng bằng đã tạo ra nhiều dạng sinh cảnh tự nhiên,thay đổi từ các bãi thuỷ triều, giồng cát và đầm lầy ngập triều ở vùng đồng bằngven biển, các vùng cửa sông, cho đến vùng ngập lũ, các khu trũng rộng, đầm lầythan bùn, các dải đất cao phù sa ven sông và bậc thềm phù sa cổ nằm sâu trongnội địa

Các vùng đất ngập nước bị ngập theo mùa hoặc thường xuyên chiếm mộtdiện tích lớn ở ĐBSCL, ĐBSH Những vùng này có chức năng kinh tế và sinhthái quan trọng Các vùng đất ngập nước là một một trong những hệ sinh thái tựnhiên phong phú nhất Trong các vùng đất ngập nước ở đồng bằng, có thể xácđịnh được 2 hệ sinh thái tự nhiên

- Hệ sinh thái rừng ngập mặn: phát triển ở vùng rìa ven biển trên các bãilầy mặn Ở Việt Nam loại rừng này chiếm diện tích lên tới 450.000 ha, trong đólớn nhất là khu vực ĐBSCL (300.000 ha) Ở phía Bắc, do có mùa đông lạnh,đồng thời các vùng cửa sông hẹp, nên diện tích rừng ngập mặn chỉ khoảng80.000ha Khu vực đồng bằng duyên hải ít bãi lầy ven biển, các cồn cát chiếm

Trang 35

diện tích lớn nên tổng diện tích chỉ khoảng 50.000 ha [9] Đây là loại rừng cósinh khối và năng suất sinh học ngang với rừng rậm nội chí tuyến gió mùa ẩmthường xanh, đặc biệt là sinh khối động vật nước lợ

Về thực vật, các loài đặc trưng có thể kể đến: ở Miền Bắc là Mắm đen,

Sú, Đâng, Trang, Vẹt dù, Su, Giá, Tra, Cóc ; ở Miền Trung là: Mắm, Đâng,Trang, Sú, Vẹt, Bần, Ôrô Từ phía nam đèo Hải Vân, thành phần rừng ngập mặnphong phú hơn, thân cao hơn (4-5m), Đước chiếm ưu thế, tiếp theo là Vẹt dù,Vẹt tách, Côi, Cóc đỏ, Dà vôi, Tra, Giá….; ở Miền Nam, rừng ngập mặn có sinhkhối và thành phần loài đa dạng nhất, với các loài cây: Đước (30m), Vẹt, Dà vôi,

Dà quánh, Cóc trắng, Cóc đỏ, Cui biển, Giá, Tra, …

Về động vật, cũng có sự khác biệt giữa các vùng, nhìn chung ở phía Namphong phú và đa dạng hơn Có nhiều loại có giá trị kinh tế cao: Hầu, Sò, Ngao,Phi, Ngán, Don, Sá Sùng, Bào ngư, Trai ngọc, Tôm, Cua bể, Ghẹ, cá… Các loàichim bản địa, di cư (150 loài): Bồ nông chân hồng, Mòng biển đầu đen, Cò thìa,

Cò trắng Trung Quốc, Choắt chân màng, Choi choi mỏ thìa, Sếu….Các loài thú:khỉ, sóc, chuột, lợn rừng, rái cá, mèo cá,…

- Hệ sinh thái rừng tràm: được hình thành tại những vùng trũng, úng nướcsau rừng ngập mặn Diện tích rừng tràm rộng nhất ở U Minh (Cà Mau, KiênGiang), lên tới 120.000ha, tiếp đó là Đồng Tháp Mười Cây tràm ở U Minh caotới 20m, thân thẳng, vỏ nhẵn thường được sử dụng làm cột nhà, xẻ ván, lấy lácất tinh dầu,… các loài mọc xen có Mật cất, Bí bái, Sắng, Nang, Mốp, Dớn… Ởphía Bắc, rừng tràm ít phát triển, cây thấp bé (4-5m), thân vặn vẹo… (rừng tràmQuảng Bình)

Về động vật, rừng tràm có quần xã động vật bao gồm cả sinh vật dướinước và trên cạn, với đặc trưng là những sân chim Tùy vào tỷ lệ đất – nước vàmức độ ngập úng định kỳ hoặc thường xuyên, mà thành phần quần xã động vậtthay đổi tùy nơi Rừng tràm U Minh có nhiều động vật trên cạn hơn rừng tràmĐồng Tháp Mười - chỉ là những khóm nhỏ trên vùng nước mênh mông Hệ độngvật dưới nước ở Đồng Tháp Mười thuộc khu hệ Ấn Độ - Mã Lai Đã ghi nhậnđược 159 loài cá, trong đó có 51 loài có giá trị kinh tế: Chép, Bống trắng, Nheo,Ngạnh, Trích, Đối… Đồng Tháp Mười và U Minh có nhiều loài chim định cưhoặc di cư, tập trung nhất vào mùa khô: vịt trời (20.000 – 30.000 cá thể), Cốc,

Cò bợ, Cò trắng, Diệc lửa, Choắt, Sếu cổ trụi Ngoài ra còn số ít các loài bò sát(rắn, trăn, rùa), cá sấu; thú: chuột, sóc, khỉ, rái cá…

Trang 36

Tóm lại tài nguyên sinh vật vùng đồng bằng rất phong phú, đa dạng là tiền

đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực, đặc biệt là nôngnghiệp và du lịch Tuy nhiên, tình trạng khai thác bừa bãi, thiếu quản lý đanggây ra những tác động tiêu cực cho môi trường tự nhiên nói riêng và môi trườngsống của con người nói chung

2.3.5 Tài nguyên khoáng sản

Về chủng loại, tài nguyên khoáng sản ở vùng đồng bằng kém phong phú.Tuy nhiên có những loại có trữ lượng lớn, mang lại giá trị kinh tế cao Khoángsản tập trung chủ yếu ở 2 đồng bằng châu thổ

Đối với ĐBSH, đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng

ở Hải Dương, phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ Tài nguyên

đá vôi ở Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Môn - Hải Dương, dải đá vôi từ HàTây đến Ninh Bình chiếm 5,4% trữ lượng đá vôi cả nước, phục vụ cho phát triểnngành công nghiệp vật liệu xây dựng Tài nguyên than nâu ở độ sâu 200m đến2.000m có trữ lượng hàng chục tỷ tấn đứng hàng đầu cả nước, hiện chưa có điềukiện khai thác Ngoài ra vùng còn có tiềm năng về khí đốt Nhìn chung khoángsản của vùng không nhiều chủng loại và có trữ lượng vừa và nhỏ nên việc pháttriển công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ bên ngoài

Đối với ĐBSCL trữ lượng khoáng sản không đáng kể Đá vôi phân bố ở

Hà Tiên, Kiên Lương dạng núi vách đứng với trữ lượng 145 triệu tấn Phục vụsản xuất xi măng, vôi xây dựng; cát sỏi ở dọc sông Vàm Cỏ, sông Mê Kông trữlượng khoảng 10 triệu mét khối; than bùn ở U Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứgiác Long Xuyên Ngoài ra còn các khoáng sản khác như đá, suối khoáng…

Đối với đồng bằng Đông Nam Bộ, quặng bôxit trữ lượng khoảng 420 triệutấn phân bố ở Bình Phước, Bình Dương Các khoáng sản khác như đá ốp lát(chiếm 27% giá trị khoáng sản trên đất liền) phân bố ở Tánh Linh (Bình Thuận),Phú Túc (Đồng Nai), cao lanh trữ lượng xấp xỉ 130 triệu tấn phân bố ở BìnhDương, Bình Phước; mỏ cát thuỷ tinh phân bố ở Bình Châu (Bà Rịa - VũngTàu) cung cấp nguyên liệu cho nhà máy thuỷ tinh Biên Hoà và cho xuất khẩu

Đối với dải đồng bằng duyên hải, khoáng sản chủ yếu là cát thủy tinh (trữlượng 573,2 m3), có nhiều ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế,Titan (trữ lượng 2,32 triệu tấn) có nhiều ở Quảng Trị

Trang 37

Nhìn chung tài nguyên khoáng sản ở vùng đồng bằng không phong phú vềchủng loại Bên cạnh đó việc khai thác tài nguyên khoáng sản ở đồng bằng sẽgây ra nhiều tác động về mặt môi trường sinh thái.

2.3.6 Các dạng tài nguyên nhân văn

Đồng bằng là vùng đất có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời và là địa bàn

cư trú chủ yếu của người Kinh Do vậy các loại tài nguyên nhân văn trong khuvực gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất của người Kinh trong điều kiện tựnhiên đặc trưng của vùng đồng bằng Việt Nam

Hệ thống tài nguyên nhân văn ở vùng đồng bằng Việt Nam rất phong phú

và đa dạng tồn tại ở cả hai dạng vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, tùy theo vùng,miền mà các giá trị nổi bật của tài nguyên nhân văn được biểu hiện khác nhau

Đối với tài nguyên nhân văn việc phân chia nên căn cứ vào các vùng vănhóa thay vì các khu vực địa lý tự nhiên hoặc hành chính Theo một số nhà vănhóa (Ngô Đức Thịnh, 1993; Trần Quốc Vượng, 2007), vùng đồng bằng nước ta

có thể được xếp vào 3 vùng văn hóa cơ bản

Thứ nhất là vùng châu thổ Bắc Bộ, bao gồm vùng đồng bằng sông Hồng

và dải đồng bằng duyên hải Thanh -Nghệ, hay là vùng hạ lưu của 3 hệ thốngsông Hồng - Thái Bình, Mã và sông Cả Khu vực này có những đặc cơ bản sau:

- Về nguồn lao động: đây là vùng đông dân và có mật độ dân số lớn nhất

cả nước Năm 2009, ở đồng bằng sông Hồng dân số trung bình là 19,58 triệungười (chiếm 22,9% tổng số số dân cả nước), khu vực đồng bằng Thanh - Nghệ

có dân số trung bình khoảng 5,0 triệu người (chiếm gần 70% dân số của 3 tỉnhThanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) Với trung bình 75% dân số từ 15 tuổi trở lên(tương đương khoảng 18,4 triệu người), đây thực sự là khu vực có nguồn laođộng rất dồi dào Bên cạnh đó, vùng còn là trung tâm văn hóa - giáo dục lớnnhất cả nước, nơi tập trung rất nhiều các trường đại học, cao đẳng, các việnnghiên cứu (Hà Nội, thành phố Vinh) do vậy vùng cũng là khu vực tập trungnhiều lao động có trình độ cao Ở vùng Đồng bằng sông Hồng số người đã cótrình độ từ cao đẳng trở lên và số người đang theo học ở bậc học này xấp xỉ 1,98triệu người (chiếm 13,07% tổng số người từ 15 tuổi trở lên)

Người lao động trong vùng mang đầy đủ đặc trưng của lao động ViệtNam, với đức tính cần cù, chịu khó, tiết kiệm, ham học hỏi… Tuy nhiên bêncạnh những ưu điểm, vẫn còn đó những yếu điểm cố hữu của lao động ViệtNam, đó là: tỷ lệ người lao động chưa qua đào tạo còn lớn (tính tổng số người

Trang 38

đã và được đào tạo nghề nghiệp từ bậc sơ cấp trở lên ở vùng Đồng bằng sôngHồng năm 2009 là 3,07 triệu người, chiếm 20,25% tổng số dân từ 15 tuổi trởlên), tư tưởng cục bộ vùng miền, thói quen làm việc tự do không tuân thủ quyđịnh, tư duy tiểu nông, mạnh mún, chộp giật… Đây là những điểm cần lưu ýtrong quá trình sử dụng tài nguyên lao động trong vùng.

- Về các dạng tài nguyên nhân văn vật thể trong vùng: vùng châu thổ Bắc

Bộ có rất nhiều công trình kiến trúc văn hóa, nghệ thuật, những di tích lịch sử văn hóa, tín ngưỡng - tôn giáo, các công trình kiến trúc đương đại Ví dụ: Hoàngthành Thăng Long, chùa Một Cột, Cầu Long Biên (Hà Nội), quần thể di tíchchùa Bái Đính (Ninh Bình), đinh làng Đình Bảng, chùa Bút Tháp (Bắc Ninh),…

Về các dạng tài nguyên nhân văn phi vật thể: nổi bật nhất trong vùng làcác lễ hội truyền thống (lễ hội chùa Hương, Hội Lim, Bà Chúa Kho, ĐềnTrần…), các làn điệu dân ca (quan họ Bắc Ninh, Chèo), văn hóa ẩm thực…

Thứ hai là vùng đồng bằng duyên hải Trung bộ

2.4 NHỮNG MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNHKHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG

2.4.1 Những mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên tài nguyên đất

Đồng bằng là khu vực có mật độ dân số cao, cư dân chủ yếu là ngườikinh, trình độ dân trí khá cao… Bên cạnh đó, đồng bằng là nơi tập trung cáctrung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn nhất cả nước, là vùng có tốc độ côngnghiệp hóa, đô thị hóa cao nhất Nguồn tài nguyên thiên nhiên đáng chú nhấtcủa vùng đồng bằng là tài nguyên đất, và thực tế cũng chỉ ra rằng hầu hết nhữngmâu thuẫn, xung đột ở vùng đồng bằng đều xuất phát từ tài nguyên đất Như trên

đã phân tích (phần 2.3), xét trên khía cạnh không gian sống, tài nguyên đất ởđồng bằng rất hạn chế, do đó giá trị vật chất của tài nguyên đất ở đồng bằng làrất lớn Chính điều này đã dẫn đến những xung đột mang tính đối kháng giữacác nhóm có lợi ích trong tranh chấp đất đai

Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên đất có thể kể đến một sốcặp quan hệ như sau: giữa chính quyền và người dân sở hữu đất đai; giữa cácdoanh nghiệp khai thác đất – chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư; giữacác cộng đồng dân cư với nhau

Trang 39

Ở cặp quan hệ thứ nhất, giữa chính quyền và người dân: mẫu thuẫn, xungđột nảy sinh thường xuất phát từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyênđất, hoặc thay đổi ý nghĩa của các loại tài nguyên đất vì mục đích công (giaothông, trường học, ) Mặc dù việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cóthể diễn ra theo đúng trình tự của pháp luật, đảm bảo sự minh bạch thì xung độtvẫn có thể nảy sinh Điều này có nguyên nhân từ việc định giá đền bù của luậtkhông theo sát thực tiễn, dẫn đến người dân bị thua thiệt trong quá trình bị thuhồi đất Cùng với đó là sinh kế của cộng đồng sở hữu tài nguyên đất bị de dọa

mà không có sự đảm bảo từ chính quyền khi thực hiện chuyển đổi hoặc thay đổi

ý nghĩa của tài nguyên đất

Ở cặp quan hệ thứ hai, giữa doanh nghiệp - chính quyền địa phương vớicộng đồng dân cư: mâu thuẫn, xung đột nảy sinh do sự thiếu công bằng trongviệc thụ hưởng lợi ích từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Đây là vấn đềgây bức xúc rất lớn trong nhân dân không chỉ những người trực tiếp sở hữu đấtđai bị thu hồi mà toàn bộ cộng đồng có liên quan Việc chuyển đổi từ đất nôngnghiệp sang các mục đích khác như: đất ở, đất chuyên dùng làm tăng giá trị củađất lên nhiều lần, nhưng những người dân sở hữu đất lại không được hưởng lợitương ứng Trong khi đó chính quyền địa phương với vai trò trung gian tronggiải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp và người dân lại thường nghiêng về lợiích của các doanh nghiệp (thường là vì những nguồn lợi bất chính) Chính vì vậyxung đột này thường trở thành xung đột giữa người dân và chính quyền địaphương thay vì với doanh nghiệp

Tóm lại, mặc dù xung đột về tài nguyên đất có thể xảy ra ở nhiều cặpquan hệ khác nhau, nhưng quan trọng và nổi cộm nhất vẫn là xung đột giữangười dân và chính quyền Hầu hết người dân ở các địa phương thường khôngđược biết thông tin rõ ràng về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cũng như tiếntrình thực hiện Quy hoạch và Kế hoạch sử dụng đất ở địa phương mình Có thểnói, người dân bị đứng ngoài cuộc và không được tham gia đóng góp ý kiến củamình trong toàn bộ quá trình lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, đặc biệt làcác trường hợp liên quan tới việc thu hồi đất của họ để thực hiện các dự án Kếtquả là ở nhiều nơi quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất không phù hợp với thực

tế Ngoài việc gây lãng phí tài nguyên đất, vấn đề trên còn gây tác động tiêu cựctới sinh kế của người dân Những thực tế về"quy hoạch treo" và "sự đánh đổi

Trang 40

bằng mọi giá" của chính quyền địa phương đã làm cho cuộc sống của họ bịđảo lộn, bấp bênh kéo theo những xung đột xã hội là hệ lụy tất yếu.

2.4.2 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên nước

Như chúng ta đã biết, vùng đồng bằng ở Việt Nam là khu vực có tàinguyên nước khá phong phú, tuy nhiên do mức độ tập trung dân số và sản xuấtcao Nên việc thiếu nước đang xảy ra thường xuyên hơn với đồng bằng, đặc biệt

là vào mùa khô

Không giống như đất đai, tài nguyên nước không thuộc sở hữu của cánhân hay cộng đồng cụ thể nào do vậy ít xuất hiện những mâu thuẫn, xung độtmang tính chất đối kháng Xung đột về tài nguyên nước phổ biến nhất là xungđột giữa chính quyền với người dân liên quan đến việc chuyển đổi mục đích sửdụng; mâu thuẫn giữa người dân và các doanh nghiệp liên quan đến ô nhiễmmôi trường nước

Ở cặp quan hệ thứ nhất, việc chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyênnước sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của cộng đồng Ví dụ việc mởrộng hoạt động giao thông đường thủy (xây dựng cảng) sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, du lịch…

Ở cặp quan hệ thứ hai, việc bất chấp hậu quả về mặt môi trường của cácdoanh nghiệp sản xuất để tìm kiếm lợi nhuận cao, đang làm gia tăng mâu thuẫn

và xung đột giữa cộng đồng dân cư sử dụng trực tiếp nguồn nước và các doanhnghiệp Ví dụ điển hình cho loại xung đột này là vụ xả thải trực tiếp xuống sôngThị Vải của nhà máy VEDAN Việt Nam (2008), khoảng 100.000 m3 nước thảiđộc ra sông mỗi tháng đã tạo ra vùng ô nhiễm có phạm vi 10 km dọc bờ sôngThị Vải Nước sông tại các vùng này bị ô nhiễm nặng nề, nước có màu đen hôi,

cá chết hàng loạt Theo báo cáo của Viện Tài nguyên và Môi trường, gần 2.700

ha nuôi trồng thủy sản của khu vực này bị thiệt hại Ví dụ này cho thấy lợi íchcủa cộng đồng sử dụng nguồn nước trực tiếp để tạo sinh kế đã bị xâm hạinghiêm trọng Điều này tất yếu dẫn đến những xung đột

2.4.3 Mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tài nguyên khoáng sản

Ở đồng bằng, những mẫu thuẫn, xung đột dạng này chủ yếu liên quan đếnđến hoạt động khai thác tài nguyên cát, sỏi tại các dòng sông Mặc dù Thủ tướngChính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/2002/CT-TTg( ngày 31 tháng 7 năm 2002)

và Chỉ thị số 29/2008/CT-TTg (ngày 2/10/2008) về tăng cường công tác quản lý

Ngày đăng: 18/04/2015, 01:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban quản lý VHL và TT dự báo KTTV Quảng Ninh (2000), Đặc điểm khí tượng hải văn VHL, NXB Thế giới, Hạ Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm khítượng hải văn VHL
Tác giả: Ban quản lý VHL và TT dự báo KTTV Quảng Ninh
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2000
6. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Nghị định Số: 25/2009/NĐ-CP ( về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: v
7. Nguyễn Ngọc Dung (2010), Quản lý tài nguyên &amp; môi trường, NXB Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên & môi trường
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dung
Nhà XB: NXB XâyDựng
Năm: 2010
9. Vũ Tự Lập (1999), Địa lý tự nhiên Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
10. Trần Đức Lương (2006), Địa chất Việt Nam (tập I, II), Cục địa chất và khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Việt Nam (tập I, II)
Tác giả: Trần Đức Lương
Năm: 2006
14. Nguyễn Thanh Sơn (2005), Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Nhà XB: NXB GiáoDục
Năm: 2005
19. Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, bản điện tử (http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam
Tác giả: Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam
20. Trần Thanh Xuân, Trần Thục, Hoàng Minh Tuyển (2011), Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động củabiến đổi khí hậu đến tài nguyên nước Việt Nam
Tác giả: Trần Thanh Xuân, Trần Thục, Hoàng Minh Tuyển
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ Thuật
Năm: 2011
16. Phạm Đức Thi (2013), Hoang mạc hóa ở Việt Nam và biến đổi khí hậu (http://www.vacne.org.vn/default.aspx?newsid=10239) Link
1. Lê Đức An (1985), Địa mạo Việt Nam (phần lục địa), Liên đoàn bản đồ địa chất, Hà Nội Khác
2. Đào Đình Bắc (2004), Địa mạo đại cương, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, HN Khác
4. Ban thư ký uỷ hội sông Mê Công - Chương trình đào tạo môi trường (2011), Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và môi trường, Phnom Penh, Campuachia Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam Khác
8. Nguyễn Trọng Hiếu, Phùng Ngọc Đĩnh (2004), Địa lý tự nhiên đại cương 1 Khác
11. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật bảo vệ môi trường 12. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Luật tài nguyên nước Khác
13. Lâm Hùng Sơn (2005), Cơ sở khoa học cho việc xác định cao trình đê trong kiểm soát lũ của hệ thống sông Hồng, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thủy lợi và Môi trường, Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội Khác
15. Trần Đức Thạnh - CB (2011), Định hướng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Bắc Bộ, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Khác
17. Tổng hội địa chất Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu, đánh giá "Thực trạng quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam&#34 Khác
18. Nguyễn Quang Trung (2004), Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông Đà, Đề tài cấp nhà nước KC-08-04 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w