1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

23 1,2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể
Chuyên ngành Dân sự
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2005
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 194 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU:

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường Việt Nam hội nhập ngày càngsâu rộng với kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xemnhư một công cụ hữu hiệu giúp các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình.Một nền kinh tế năng động luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro và việc nhậnbiết chúng, khắc phục và ngăn chặn những rủi ro ngay từ chính những giaodịch được kí kết là một cách làm khôn ngoan và chủ động mà các nhà làmluật đã dự phòng thông qua việc thiết kế qui định pháp luật về các biện phápbảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Và một trong những hoạt động tích cực

và hiệu quả nhất của con người nhằm hướng tới mục đích đó là việc thamgia vào các loại giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân sự Giao dịchdân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộgia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằmthỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, và trong sản xuất kinhdoanh Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa qua trọng trong điều kiện của nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.Thực tế cho thấy giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể vẫn làvấn đề phức tạp, gây ra nhiều vướng mắc Việc nắm vững và hiểu rõ một sốvấn đề về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể có ý nghĩa rấtquan trọng với mỗi người trong xã hội hiện nay

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

I Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:

1, Giao dịch dân sự:

Theo Điều 121 BLDS 2005 :“Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn

phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân hoặc của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc làm chấm dưt quyền và nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng dân sự là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều

bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hợpđồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hằng ngày.Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất

ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua bán, cho thuê…) nhưngcũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia (hợp đồng hợp tác – Điều 111

Trang 2

BLDS 2005) Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thểtham gia Trong hợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia,tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợpđồng Do vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên

về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của

một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương Thông thường, hành vi pháp lýđơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập dichúc, từ chối hưởng thừa kế) Có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia vàomột bên của giao dịch (hai cá nhân, tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng…).Hành vi pháp lý đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thứcphải phù hợp với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 122BLDS)

Ý chí tự nguyện của chủ thể trong giao dịch dân sự:

Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ýchí, cho nên tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ

ý chí Không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu mộttrong hai yếu tố này không có hoặc không thống nhất cũng không thể có tựnguyện Sự tự nguyện của một bên (hành vi pháp lý đơn phương) hoặc sự tựnguyện của các bên trong một quan hệ dân sự (hợp đồng) là một trong cácnguyên tắc được quy định tại điều 4 BLDS năm 2005: Tự do, tự nguyện camkết thỏa thuận Vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là vi phạm pháp luật Vìvậy, giao dịch thiếu sự tự nguyện không làm phát sinh hậu quả pháp lý Bộluật dân sự quy định một số trường hợp giao dịch xác lập không có sự tựnguyện sẽ bị vô hiệu Đó là các trường hợp vô hiệu do giả tạo, do nhầm lẫn,

do bị lừa dối, bị đe dọa, do xác lập tại thời điểm không nhận thức và làm chủđược hành vi của mình

Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một nguyên tắc cơbản trong giao dịch dân sự Điểm c khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định:Chủ thể của giao dịch dân sự có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ giađình nhưng trực tiếp tham gia giao dịch bao giờ cũng là con người cụ thể

Dù với tư cách cá nhân hay với tư cách đại diện cho pháp nhân, tổ hợp tác,

hộ gia đình thì người tham gia giao dịch dân sự cũng phải hoàn toàn tựnguyện

Trang 3

Tự nguyện được hiểu là sự phù hợp, thống nhất giữa mong muốn bên

trong với sự bày tỏ mong muốn đó ra bên ngoài bằng một hình thức nhấtđịnh Ý chí của chủ thể phải là ý chí đích thực, tức là nguyện vọng, mongmuốn chủ quan bên trong của chủ thể không bị tác động bởi bất cứ yếu tốkhách quan hay chủ quan nào khác dẫn tới việc chủ thể đó không nhận thứchoặc kiểm soát được ý chí của mình Giữa ý chí đích thực của chủ thể (bêntrong) với sự biểu hiện ý chí (sự biểu hiện ra bên ngoài) phải có sự thốngnhất Nếu không có sự thống nhất ý chí thì chủ thể không có sự tự nguyện

Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là giao dịch viphạm sự thống nhất giữa mong muốn bên trong với sự bày tỏ, thể hiện mongmuốn đó ra bên ngoài Vi phạm sự tự nguyện trong giao dịch dân sự có thể

là hành vi vô ý hoặc cố ý thực hiện hoặc không thực hiện đúng những camkết, thỏa thuận, điều kiện mà một bên đưa ra và được bên kia chấp nhận.Trong những trường hợp một người không muốn tham gia một giaodịch nhưng họ buộc phải tham gia giao dịch đó hoặc muốn tham gia giaodịch này nhưng buộc phải chấp nhận một nội dung khác vì những lý do nhấtđịnh làm cho họ không xử sự khác được thì giao dịch đó sẽ bị coi là vi phạm

sự tự nguyện của chủ thể

Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:

Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệuquả” Như vậy, có thể suy ra là giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch khôngtồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý

Thông thường giao dịch hợp pháp sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, xuất phát từ các nguyênnhân khác nhau mà giao dịch có thể có sự vi phạm vào một trong các điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Điều 127 BLDS 2005 quy định giao

dịch dân sự vô hiệu là “Giao dịch không có một trong các điều kiện được

quy định tại Điều 122 của Bộ luật này”

Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là giao dịch dân sự

vô hiệu do không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự là “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” (Điểm c khoản 1

Điều 122 BLDS 2005)

thể:

Trang 4

Để đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận tronggiao dịch dân sự được quy định tại Điều 4 BLDS 2005, pháp luật dân sựcũng đã quy định một trong các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực đó

là: “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” (Điều 122 BLDS

2005)

Các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể baogồm:

3.1 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo:

- Khái niệm giả tạo trong giao dịch dân sự:

Giả tạo được hiểu là không thật, vì được tạo ra một cách không tự

nhiên Như vậy, giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch dân sự được tạo ra mộtcách không tự nhiên

Đối với giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toànmong muốn sự thể hiện một ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất địnhmặc dù ý chí đó không phải là ý chí đích thực Do đó, có thể hiểu giao dịchdân sự được xác lập do giả tạo là giao dịch dân sự được xác lập để nhằm chedấu một giao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

+) Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật:

Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân

sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo

vô hiệu, còn giao dich bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch

đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”

Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch giả tạo, Điều

129 BLDS 2005 đã phân chia giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo thànhhai trường hợp:

+) Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịchkhác:

Như vậy, ít nhất trong trường hợp này có hai giao dịch song songtồn tại đó là giao dịch đích thực (bên trong) và giao dịch giả tạo (giao dịchche dấu, thể hiện ra bên ngoài)

Giao dịch giả tạo để nhằm che giấu giao dịch khác luôn luôn vô hiệu,còn giao dich đích thực (giao dịch bên trong) vẫn có hiệu lực pháp lý Tuynhiên, nếu giao dịch đích thực cũng vi phạm vào các điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự thì có thể vô hiệu

Trang 5

Vụ án cụ thể: A là thành viên của 1 Công ty TNHH có 3 thành viên

A,B,C Năm 2002 vì cần vay tiền Ngân hàng nên A đồng ý cho công tymượn tài sản là 1.1992m2 đất để thế chấp vay A,B,C đã lập 1 biên bản giả

có nội dung: công ty uỷ quyền cho A mua đất chứ không phải đất của A.Nhưng biên bản này không được Ngân hàng chấp nhận vì thế họ đã phải làmthủ tục bảo lãnh cho công ty vay tiền Ngân hàng bằng quyền sử dụng đất của

A Tháng 4/2005 A xin rút khỏi Công ty và Công ty chỉ còn 2 thành viên B

và C Đến tháng 6/2005 Công ty trả hết nợ, lấy các giấy tờ bảo lãnh tại ngânhàng, nhưng không trả lại giấy tờ đất cho A mà lại tiến hành khởi kiện đòi Aphải giao đất cho công ty Căn cứ kiện là biên bản giả lập ban đầu mà A sơsuất không huỷ sau khi Ngân hàng không chấp nhận Vậy, A có thể làm gì

để bảo vệ quyền lợi của mình đối với mảnh đất?

Như vậy, biên bản có nội dung "diện tích 1.992m2 là tài sản của công

ty, ông A chỉ là người đứng tên" chỉ là biên bản giả được các thành viêncông ty thoả thuận lập ra nhằm mục đích để Ngân hàng cho vay tiền (vì theoquy định người vay phải có tài sản thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo chokhoản vay) Tuy nhiên Ngân hàng đã không chấp nhận biên bản này mà yêucầu ông A đứng ra bảo lãnh cho khoản vay của Công ty (vì ông A là ngườiđứng tên quyền sử dụng đất) Yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp với quy

định của điều 366 Bộ luật dân sự cụ thể: "1 Bảo lãnh là việc người thứ ba

(gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ 2 Người bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình"

Việc Ngân hàng đã chấp nhận sự bảo lãnh của ông A (bằng tài sản1.992m2 đất do ông đứng tên) và cho Công ty của ông vay tiền là căn cứ đểchứng minh: biên bản do 3 thành viên của công ty lập chỉ là giao dịch dân sựgiả tạo còn giấy tờ đất đứng tên ông mới là giao dịch thật Căn cứ điều 138

Bộ luật dân sự quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo như sau: "Khi

các bên xác lập giao dịch dân sự 1 cách giả tạo nhằm che giấu 1 giao dịch khác, thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực"

Vì ông A đã sơ suất không huỷ biên bản giả này nên Công ty (cụ thể là

2 thành viên B và C còn lại sau khi ông A đã rút khỏi Công ty) đã sử dụng

để làm căn cứ kiện đòi ông phải giao đất Căn cứ khoản 2 điều 58 Bộ luật tố

Trang 6

tụng dân sự quyền của bị đơn khi tham gia tố tụng như sau: "a) Có quyềncung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình.b) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứcung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho toà án" Do đó ông có thểyêu cầu Ngân hàng cung cấp các tài liệu gồm: hồ sơ vay vốn ban đầu (có sửdụng biên bản giả) và hồ sơ vay vốn lần thứ hai (có giấy tờ của ông cam kếtbảo lãnh cho công ty vay tiền bằng tài sản của ông là quyền sử dụng1.992m2 đất) Các chứng cứ này sẽ giúp ông chứng minh quyền sở hữu củaông đối với diện tích 1.992m2.(căn cứ theo phần tư vấn pháp luật của báo Kinh tế và đô thị )

- Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ vớingười thứ ba:

Trong trường hợp này, giao dịch dân sự được xác lập có sự tự nguyệnkhi thể hiện ý chí, tuy nhiên sự thể hiện ý chí này lại nhằm mục đích trốntránh nghĩa vụ với một chủ thể khác Thông thường, việc trốn tránh nghĩa vụvới người thứ ba thường thể hiện ở hai trường hợp:

+ Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ vớimột chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đã xác giao dịchgiả tạo

+ Khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa

vụ nhất định đối với Nhà nước nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giảtạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệtđối (đương nhiên vô hiệu), hay nói cách khác, giao dịch dân sự vô hiệu dogiả tạo là giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa ántuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Khoản 2 Điều 136 BLDS 2005)

- Khái niệm nhầm lẫn trong giao dịch dân sự:

Theo nghĩa thông thường, nhầm lẫn được hiểu là hành vi thực hiện

hoặc nhận thức không đúng với ý định của người thực hiện hành vi hay nhậnthức Trong khoa học pháp lý, nhầm lẫn được hiểu là sự thể hiện khôngchính xác ý muốn đích thực của một bên hoặc các bên trong giao dịch dân

sự Hay nói theo cách khác, ở đó không có sự thống nhất giữa ý muốn thật

và ý chí bày tỏ ra bên ngoài của chủ thể Bên cạnh đó, cũng có cách hiểu chorằng nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà

Trang 7

tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Dù cách thểhiện ngôn từ có khác nhau, nhưng về cơ bản, nhầm lẫn chính là sự khôngphù hợp giữa việc thể hiện ý chí của chủ thể với thực tế của sự việc.

+) Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của pháp luật:

Điều 131 BLDS 2005 quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên

kia nhầm lẫn về nội dung của giao dich dân sự mà xác lập giao dịch thì bên

bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”.

Nhầm lẫn là việc mà các bên hình dung sai về nội dung của giao dịchdân sự mà tham gia xác lập giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bênkia Sự nhầm lẫn về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện ra rõràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được Nếu bên bịnhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch đó bị tuyên

bố vô hiệu

Theo Điều 131 BLDS 2005, pháp luật dân sự Việt Nam coi các nhầmlẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch dân sự là yếu tố đưa đến sự vô hiệucủa giao dịch dân sự Như vậy, các nhầm lẫn về nội dung không chủ yếu,cũng như những nhầm lẫn về chủ thể, nhầm lẫn về luật không được thừanhận là yếu tố đưa đến sự vô hiệu của giao dịch

Nếu một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung củagiao dịch thì sẽ thuộc trường hợp vô hiệu do lừa dối

Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là giao dịch bị hạn chế về thờihiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (khoản 1 Điều 136BLDS 2005) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

do nhầm lẫn là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

Vụ án cụ thể: Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á

Châu (bên mua) đã kiện Công ty TNHH Connell Bros (bên bán) để đòi bồithường thiệt hại do việc hàng hóa do Công ty TNHH Connell Bros cung cấpkhông đạt yêu cầu về chất lượng Cụ thể như sau: Ngày 7/7/2003, Công tyTNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu (Công ty Việt Á Châu) kýhợp đồng số 241/03-VU mua của Công ty TNHH Connell Bros (Công tyConnell Bros) sản phẩm Myflame 84527E, số lượng 16.080 kg (67 thùngống), đơn giá 2,9 USD/kg CIF HCMC, trị giá hợp đồng 46.632 USD, xuất

Trang 8

xứ hàng hóa: Vương quốc Anh Sau đó, ngày 11/7/2003 các bên lại ký tiếphợp đồng số 243/03-VU mua 10.080 kg sản phẩm trên, trị giá 29.232 USD

và 5.987,472 kg sản phẩm Performax TF 1133, trị giá 20.357,40 USD Điềukhoản chất lượng của hai hợp đồng này chỉ ghi “theo Bản đặc điểm kỹthuật” (same as Specifications)

Sau khi ký hợp đồng mua hàng với Công ty Connell Bros, bên mua đã

ký hợp đồng số 086/07-2003-VG-GCDI ngày 18/7/2003 gia công cán phủchất chống cháy lên vải Poly-oxford cho Xí nghiệp may Bình Thạnh thuộcCông ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Thạnh –GILIMEX Ngày 19/8/2003, bên mua đã giao lô hàng thành phẩm cho Xínghiệp may Bình Thạnh Đến giữa tháng 9/2003, Xí nghiệp Bình Thạnh pháthiện ra số hàng gia công không đạt yêu cầu do loại chất Myfame 84527E nóitrên: vải được gia công ra không khô, dẻo dính, bong tróc Vì thế, Xí nghiệpBình Thạnh đã từ chối thanh toán tiền gia công cho bên mua

Vụ kiện được xử sơ thẩm lần đầu tiên vào ngày 28/9/2004 và đã trảiqua bốn phiên xét xử với những kết luận khác nhau qua mỗi lần xét xử Lầnxét xử sơ thẩm thứ nhất vào ngày 28/9/2004, Tòa án nhân dân TP Hồ ChíMinh đã bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Công ty Việt Á Châu) đòi

bị đơn bồi thường thiệt hại do hàng hóa cung cấp không đúng chất lượng vàchấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (Công ty Connell Bros) về yêu cầuthanh toán tiền hàng còn thiếu của nguyên đơn đối với bị đơn1 Bản án sơthẩm đã bị kháng cáo và bị Tòa phúc thẩm hủy án để giao cho Tòa sơ thẩmgiải quyết lại2 Vụ kiện sau đó đã được Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh vàTòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm

và phúc thẩm lại vào các ngày 1/8/2006 và 12/7/2007 Cả hai Tòa này đềutuyên hai hợp đồng mua bán trên vô hiệu do nhầm lẫn và tranh chấp của cácbên được giải quyết theo quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế về xử lýhợp đồng vô hiệu: “Các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tất cả tài sản đãnhận được từ việc thực hiện hợp đồng Trong trường hợp không thể trả đượcbằng hiện vật thì phải trả bằng tiền… Thiệt hại phát sinh, các bên tự gánhchịu”3

(1) Xem Bản án số 245/KTST ngày 28/9/2004 của Tòa án nhân dân TP.HCM.

(2) Xem Bản án số 37/KTPT ngày 20/10/2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM.

Trang 9

(3) Xem Bản án số 380/2006/KDTM-ST ngày 01/8/2006 Tòa án nhân dân TP.HCM và Bản án phúc thẩm số 68/2007/KDTM-PT ngày 12/7/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM.

3.3 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối:

- Khái niệm lừa dối trong giao dịch dân sự:

Theo cách nói thông thường thì lừa dối là bằng thủ đoạn nói dối để

gian lận, để làm người khác lầm tưởng mà tin rằng đó là sự thật nên xác lậpgiao dịch Hay nói cách khác, lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai lệch

để người khác tin đó là sự thật mà xác lập giao dịch

Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối trong giao dịch dân sự là một xảo

thuật dùng để lừa gạt người khác Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóexảo trá dùng để khiến người khác xác lập giao dịch mà lẽ ra bình thường họ

không làm như vậy đều là lừa dối Điều 132 BLDS 2005 quy định: “Lừa dối

trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.

Lừa dối có điểm giống nhầm lẫn ở chỗ là cả hai đều liên quan đếnviệc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng

sự thật hay không tiết lộ một sự thật Lừa dối khác nhầm lẫn ở chỗ là sựnhầm lẫn vốn do một bên tự mình không tìm hiểu hoặc hiểu sai sự việc dolỗi vô ý của bên kia gây ra, còn sự lừa dối lại là sự hiểu sai do một bên hoặc

do người thứ ba cố ý gây ra

+) Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối theo quy định của pháp luật:

Theo Điều 132 BLDS 2005 thì khi một bên tham gia giao dịch dân sự

do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vôhiệu

Lừa dối ở đây được hiểu là hành vi cố ý của một bên hoặc của ngườithứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đốitượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự Như vậy, hành vi lừa dối có thể là

do một bên chủ thể xác lập giao dịch thực hiện mà cũng có thể là do ngườithứ ba gây ra Tuy nhiên, trong trường hợp người thứ ba gây ra thì cần phảihiểu là người thứ ba đó phải có mối quan hệ với một bên chủ thể xác lậpgiao dịch dân sự và bên chủ thể đó biết rõ hành vi lừa dối bên đối tác hiểusai lệch của người thứ ba Khi đó, giao dịch đã được xác lập mới bị coi là vôhiệu

Trang 10

Để đảm bảo quyền lợi của bên chủ thể bị lừa dối, pháp luật cũng quyđịnh chỉ có bên chủ thể bị lừa dối mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bốgiao dịch dân sự đó vô hiệu Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối là giao dịch

bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu(khoản 1 Điều 136 BLDS 2005) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giaodịch dân sự vô hiệu do lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự đượcxác lập

Vụ án cụ thể: Bà Huỳnh Kim Dung (sinh năm 1958, ở số 100/3C khu

phố Miễu Ba, thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ) Tháng 6/2005, bà Dung buôn bán nghêu bị thất bại nên lâm vào cảnh khó khăn

Bà Dung được một người quen giới thiệu gặp ông Nguyễn Trọng Hiếu (ở khu phố 2, phường Tân Quy, quận 7 tp HCM) để vay tiền Ông Hiếu yêu cầu để đảm bảo viêc trả nợ vay, bà Dung phải ký hợp đồng “giả cách” bán nhà đất cho ông Ông Hiếu nói : “đây chỉ là hợp đồng mang tính thủ tục, khi vay tiền ai cũng làm như vậy” Số tiền vay sẽ được ghi trong hợp đồng là khoản tiền đặt cọc để mua nhà đất Ông Hiếu hứa khi bà Dung trả nợ xong, ông sẽ trả lại giấy chủ quyền nhà đất và sẽ hủy hợp đồng Vì quá túng quẫn

và do cả tin lời ông Hiếu, bà Dung chấp nhận ký hợp đồng

Ngày 28/6/2005 ông Hiếu giao cho bà Dung 207,5 triệu đồng nhưng trong hợp đồng lại ghi là 250 triệu đồng trong đó có 10% (25 triệu đồng) phídịch vụ vay tiền và 7% (17,5 triệu đồng) tiền lãi suất tháng đầu tiên

Gần 4 tháng sau, do lãi suất quá cao, bà Dung không có tiền đóng lãi nên ông Hiếu đe dọa sẽ lấy đất Vì sợ chồng biết chuyện, bà Dung đồng ý vay thêm tiền của ông Hiếu để trả nợ trước đó Ông Hiếu bảo bà ký vào biênnhận bổ sung tiền đặt cọc 70 triệu đồng nhưng thực chất ông Hiếu chỉ đưa cho bà Dung 15,5 triệu đồng Số tiền còn lại ông Hiếu bảo trừ vào 3 tháng tiền lãi (số tiền vay 250 triệu đồng trước đó) hết 52,5 triệu đồng và 2 triệu tiền dịch vụ vay tiền Sau đó, bà Dung vay ông Hiếu 2 lần nữa để đóng lãi vay trước đó

Trong cả 4 lần vay, tổng cộng bà Dung đã nhận của ông Hiếu là 265 triệu đồng nhưng trên giấy tờ là 433 triệu đồng Đầu năm 2007 ông Hiếu đã kiện bà Dung ra Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, yêu cầu chuyển lô đất và nhà có diện tích 10.321m2, trị giá trên 8 tỷ đồng cho ông theo hợp đồng mà trước đó bà Dung đã ký với ông với giá là 400 triệu đồng

Giao dịch dân sự này vô hiệu do bị lừa dối Ở đây hợp đồng "giảcách" như ông Hiếu nói với bà Dung là nhằm lợi dụng sự kém hiểu biết của

Trang 11

bà Dung cũng như sự túng quẫn để bà Dung kí hợp đồng, "là hành vi cố ýcủa một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất củađối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó".

3.4 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe dọa:

- Khái niệm đe dọa trong giao dịch dân sự:

Đe dọa trong giao dịch là hành vi làm cho một người khiếp sợ, khiến

người này phải xác lập giao dịch ngoài ý muốn của họ Đe dọa trong giaodịch có thể thể hiện dưới hai hình thức: đe dọa về thể chất và đe dọa về tinhthần

Điều 132 BLDS 2005 quy định: “Đe dọa trong giao dịch là hành vi

cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín,nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình”.

Để xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe dọa, sự đe dọaphải đáp ứng được các yêu cầu:

Thứ nhất, bên đe dọa thực hiện hành vi đe dọa với lỗi cố ý, mục đích

là buộc chủ thể phía bên kia phải xác lập giao dịch dân sự với mình hoặc xáclập giao dịch dân sự với chủ thể mà bản thân bên đe dọa mong muốn;

Thứ hai, hành vi đe dọa nhằm làm cho bên kia “sợ hãi”, tức là bản

thân bên bị đe dọa hoàn toàn tê liệt ý chí mà không thể có một sự lựa chọnnào khác;

Thứ ba, chủ thể bị đe dọa có thể là một bên trong giao dịch nhưng

cũng có thể là người khác BLDS 2005 xác định những người này là cha,

mẹ, vợ, chồng, con;

Thứ tư, hành vi đe dọa chưa gây thiệt hại về đối tượng đe dọa mà

hành vi đó hướng tới, tức là bên bị đe dọa chỉ mới “sợ hãi” về hậu quả của

sự đe dọa có thể xảy ra

Ví dụ: Ông A do bị ông B (cậy thế, cậy quyền) đe dọa mà buộc phải xác

lập một giao dịch với ông B Sau khi xác lập giao dịch thì ông B tiếp tục đedọa làm cho ông A không dám khởi kiện ra Toàn cho đến khi hết 2 năm thìông B không đe dọa nữa lúc này ông A mớ làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bốgiao dịch vô hiệu

+) Giao dịch dân sự vô hiệu do đe dọa theo quy định của pháp luật:

Ngày đăng: 04/04/2013, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w