LỜI MỞ ĐẦUTừ những năm đầu thập kỷ 90 đến nay, ngành da giày Việt Nam bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh cùng với việc hình thành, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.. Gia công
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Từ những năm đầu thập kỷ 90 đến nay, ngành da giày Việt Nam bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh cùng với việc hình thành, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu Gia công giày Việt Nam có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước: chiếm 8,2% lực lượng lao động trong khu vực công nghiệp chế biến, chiếm 10,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.Việt nam có lợi thế để phát triển ngành giày đó là lực lượng lao động trẻ, giá nhân công thấp Thực chất giày Việt Nam chủ yếu là gia công cho nước ngoài.Thực hiện việc gia công xuất khẩu mặt hàng giày có lợi:
Trước tiên là giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho đất nước
Nó đảm bảo đời sống cho người lao động, góp phần làm ổn định trật tự an ninh xã hội
Việc gia công giày cho người nước ngoài giúp chúng ta có thể tiếp thu được khoa học kỹ thuật tiên tiến, kể cả mặt quản lý công nghiệp và đào tạo được đội ngũ công nhân có tay nghề cao, có kỹ thuật tiên tiến và tính tổ chức
kỷ luật tốt Và nhờ đó mà các doanh nghiệp luôn tự trang bị máy móc thiết bị mới và mẫu mã hợp thời trang theo yêu cầu của khách hàng nước ngoài
Gia công tuy không tạo được lợi nhuận lớn nhưng luôn tái tạo được ngoại
tệ và không bao giờ bị nợ nước ngoài, không sợ bị lỗ, bị ế vì khách hàng bao tiêu toàn bộ sản phẩm
Gia công xuất khẩu giày là cơ sở để mở rộng thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại.Thực hiện xuất khẩu có liên quan đến nhiều lĩnh vực như hoạt động ngân hàng quốc tế, vận tải quốc tế… vì vậy khi xuất khẩu phát triển, các quan
hệ này cũng phát triển theo
Trang 3Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì bước đi cần thiết do thiếu vốn, công nghệ, phương thức quản lý và chưa có thị trường.
Thị trường xuất khẩu của giày da ngày càng mở rộng ở các thị trường như: Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ Với những thuận lợi sẵn có ngành giày dép xuất khẩu ngày càng phát triển, kim ngạch xuất khẩu ngày càng cao chiếm một tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Trước những đóng góp của ngành giày dép đối với nền kinh tế quốc dân
nên em chọn để tài: Phân tích kim ngạch kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam giai đoạn năm 1999-2010 và dự báo năm 2011-2012 Mục đích
nghiên cứu đề tài này hiểu rõ hơn những biến động kim ngạch xuất khẩu giày dép trong giai đoạn 1999-2010 từ đó rút ra cần phát huy những mặt tốt và khắc phục những mặt còn thiếu sót của ngành trong những năm sau đó
Đề án này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Trần Hoài Nam Em xin chân thành cảm ơn thầy Tuy vậy do trình độ của em còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô và các bạn thông cảm
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Thu Trang
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM
1 Thuận lợi gia công xuất khẩu giày dép Việt Nam trong những năm gần đây (2001-2010).
Hiện tại, ngành da giày Việt Nam có khả năng sản xuất trên 360 triệu đôi giày dép các loại Từ chỗ chỉ gia công mũi giày đơn thuần cho các nước Đông
Âu và Liên Xô(cũ) với sự hợp tác đầu tư của nước ngoài, đến nay các doanh nghiệp ngành giày đã sản xuất được những đôi giày hoàn chỉnh với chủng loại phong phú Những nhãn hiệu giày nổi tiếng thế giới hiện đã được sản xuất tại Việt Nam như Nike, Reebok, Adidas, Diadora… Ngành da giày Việt Nam thực sự đã bước sang một thời kỳ phát triển mới, thay đổi lớn về qui mô, trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật có ý nghĩa, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động
Cả nước ta hiện có 233 doanh nghiệp sản xuất da giày,trong đó có 76 doanh nghiệp nhà nước, 80 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, và 77 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tổng năng lực sản xuất da giày hiên đạt khoảng 420 triệu đôi các loại Sản lượng giày dép đã tăng nhanh từ 206 triệu đôi năm 1997 lên khoảng 320 triệu đôi năm 2001 Sản lượng giày dép Việt Nam hiện đứng thứ 8 trên thế giới
Da giày là mặt hàng có tỉ lệ xuất khẩu khá cao, đạt tới 90% Kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ khá cao và liên tục Nếu như từ năm 1991 trở về trước, nước ta hầu như không xuất khẩu giày dép, năm 1992 mới đạt 5 triệu USD, thì năm 2000 đã đạt 530 triệu USD và năm 2001 đạt 978 triệu USD (năm 2001 gấp 195,6 lần năm 1992)
Trang 5Cho đến nay, da giày của Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 40 nước
và cùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó chủ yếu là sang Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản
Bên cạnh đó, sản phẩm da giày còn mở rộng hơn sang nhiều thị trường mới, ngành da giày nước ta có cơ hội tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu sang Anh, một thị trường có sức tiêu thụ lớn các sản phẩm giày dép Nếu các doanh nghiệp Việt Nam biết khai thác, xúc tiến thương mại có hiệu quả thì Anh sẽ trở thành thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành giày dép Việt Nam trong tương lai gần
2 Những khó khăn và thách thức của gia công giày Việt Nam.
Tuy đạt được những thành tựu về xuất khẩu trong giai đoạn 2001-2010, nhưng hoạt động gia công xuất khẩu giày của chúng ta vẫn còn có một số khó khăn và thách thức sau:
* Chỉ chú trọng đến việc mở rộng thị trường gia công mà chưa chú trọng đến những nhân tố quan trọng nội tại:
Trong công tác mở rộng thị trường gia công xuất khẩu nước ta đã đạt được nhiều kết quả (thâm nhập thị trường mới) tuy nhiên còn một số tồn tại sau: Song song với việc mở rộng tìm kiếm thị trường gia công mới thì các công ty gia công trong nước đã không củng cố thị trường gia công truyền thống, đã làm cho thị trường này mai một đi, thậm chí có những thị trường không còn kim ngạch xuất khẩu và hợp đồng gia công xuất khẩu ở một số thị trường Châu á như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore
Gia công xuất khẩu giày ở nước ta chủ yếu phục vụ xuất khẩu Hoạt động này đã có các thành công đáng kể như thu ngoại tệ về cho đất nước song lại
để lại khoảng trống phía sau lưng mình đó là thị trường nội địa Hiện nay, dân
Trang 6số Việt nam khoảng 80 triệu người, số người tiêu dùng đông đảo này đã tạo ra thị trường sức mua khoảng 750 triệu USD/năm Do vậy, một mặt các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường sản xuất hàng xuất khẩu, một mặt tăng cường sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, tránh bỏ phí thị trường này.
* Thiếu vốn và công nghệ làm cho hoạt động sản xuất bị ngừng trệ
* Bị lệ thuộc quá nhiều vào việc cung ứng nguyên vật liệu, phụ liệu, hoá chất, phụ tùng, máy móc từ nước ngoài
* Phần lớn các hợp đồng gia công vẫn ở dạng thuần tuý, những hợp đồng mua bán đứt đoạn chưa nhiều nên thực tế hiệu quả chưa cao, giá trị nhận được chỉ là thù lao gia công thuần tuý Chính vì thế, khả năng tích luỹ của doanh nghiệp chưa cao, khả năng huy động vốn còn nhiều hạn chế
* Thiếu đội ngũ nhân viên có kỹ thuật, tay nghề cao
3 Vân dụng dãy số thời gian để phân tích biến động kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
Khái niệm: Các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn luôn biến động qua thời gian Để nghiên cứu sự biến động này người ta dung phương pháp dãy số thời gian Dãy số thời gian là dãy các giá trị của chỉ tiêu kinh tế - xã hội biến động theo thời gian
Ý nghĩa của việc nghiên cứư dãy số thời gian: Phương pháp phân tích một dãy số thời gian dựa trên một giả định căn bản là: sự biến động trong tương lai của hiện tượng nói chung sẽ giống với sự biến động của hiện tượng trong quá khứ và hiện tại xét về mặt đặc điểm và cường độ biến động Nói một cách khác các yếu tố đã ảnh hưởng đến biến động của hiện tượng trong quá khứ và hiện tại được giả định trong tương lai sẽ tiếp tục tác động đến hiện tượng theo
xu hướng và cường độ giống hoặc gần giống như trước
Trang 7Do vậy, mục tiêu chính của phân tích dãy số thời gian là chỉ ra và tách biệt các yếu tố đã ảnh hưởng đến dãy số thời gian Điều đó có ý nghĩa trong việc
dự đoán cũng như nghiên cứu quy luật biến động của hiện tượng Tất nhiên, giả định nói trên có nhược điểm, nó thường bị phê bình là không sát thực và máy móc vì đã không xem xét đến sự thay đổi về kỹ thuật, thói quen, nhu cầu hoặc sự tích lũy kinh nghiệm trong kinh doanh Vì vậy phương pháp phân tích dãy số thời gian cung cấp những thông tin hữu ích các nhà quản lý trong việc dự đoán và xem xét chu kỳ biến động của hiện tượng Đây là công cụ đắc lực cho họ trong việc ra quyết định
Trang 8CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU DA GIÀY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010 VÀ DỰ BÁO 2011-2012
Tổng hợp từ số liệu theo nguồn Tổng cục thống kê ta có số liệu về giá trị kim ngạch xuất khẩu da giày giai đoạn 2001-2010 sau:
Bảng 1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu giày dép giai đoạn 2001-2010.
Đơn vị tính: Triệu USD
1.1 Đặc điểm biến động của giá trị kim ngạch xuất khẩu da giày giai đoạn 2001-2010.
Các chỉ tiêu đặc điểm biến động được tính qua bảng 2 sau đây:
Trang 9Bảng 2: Đặc điểm biến động của KNXK giày dép giai đoạn 2001-2010.
∆ I (tr USD)
t i (%)
Т i (%)
a i (%)
A i (%)
g i (tr USD)
*) Các chỉ tiêu bình quân giai đoạn 2001 – 2010:
+ Tổng sản lượng xuất khẩu bình quân
2 , 1991 10
89,2899
26091
Trang 10Qua bảng số liệu và kết quả tính toán trên ta thấy:
- Biến động của kim ngạch xuất khẩu da giày của Việt Nam (theo năm) giai đoạn 2001– 2010 nhìn chung tăng lên qua các năm Nhìn vào số liệu ở bảng 2 ta thấy: Kim ngạch xuất khẩu bình quân cả giai đoạn là 1991,2 triệu USD, lượng tăng bình quân giai đoạn là 289,89 triệu USD hàng năm, tốc độ phát triển bình quân mỗi năm là 115,83 % Từ năm 2001- 2010 kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng nhưng tăng không đều, thể hiện ở lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn của các thời gian là tương đối khác nhau, và thể hiện rõ qua tốc độ tăng từng năm (tốc độ tăng của năm 2003 tăng cao nhất là 33,66 %
số trung bình trượt, ngoại suy hàm xu thế Nhưng với số liệu của giai đoạn
2001 – 2010 dưới đây em sử dụng phương pháp ngoại suy hàm xu thế; từ đó
Trang 11đưa ra một số mô hình xác định xu hướng phát triển cơ bản của kim ngạch xuất khẩu da giày qua các năm.
2 Ngoại suy hàm xu thế của kim ngạch xuất da giày giai đoạn 2010.
2001-Để xác định đúng dạng của hàm xu thế, cần phải phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời gian, dựa vào các tiêu chuẩn như, SE nhưng trước hết nên đánh giá sự biến động qua đồ thị 1 để thấy được xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng Nó là cơ sở cho lựa chọn dạng hàm tối ưu
Đồ thị 1: KNXK giày dép giai đoạn 2001-2010.
Dựa trên cơ sở nguồn số liệu về giá trị kim ngạch xuất khẩu da giày giai đoạn 2001-2010 ta thấy được một số dạng hàm sau (phụ lục 1, 2, 3, 4, 5, 6):
Bảng 4: Một số dạng mô hình cơ bản
Trang 12b = 135,737
c = -1,1918
d = 1,603Hyperbol a = 2635,843
b = -2200,923Nhìn vào kết quả hồi qui được ta thấy, mô hình hồi qui theo hàm bậc 3 có SE
= 78,602 nhỏ nhất, R^2 = 0,995 lớn nhất tuy nhiên các hệ số không có ý nghĩa thống kê (theo dõi trong phụ lục) Tiếp đó hàm parabol cũng có SE và R^2 nhỏ (SE = 80,186; R^2 = 0,994) nhưng các hệ số cũng không có ý nghĩa thống kê (theo dõi phụ lục) Do đó, mô hình hồi qui theo hàm tuyến tính là tốt nhất
Hàm hồi qui
t
yˆt = 431 , 333 + 283 , 612
3 Dự báo kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam giai đoạn 2011-2012.
3.1 Dự đoán dựa vào lương tăng (giảm) tuyệt đối trung bình.
Mô hình dự đoán: (1)
(L = 1,2, chính là tầm xa của dự đoán)
Ta có: n = 10, δ = 289,89 triệu USD, 3596 triệu USD
Do đó ta dự đoán giá trị kim ngạch xuất khẩu da giày năm 2010 và 2011 là:
Trang 13Ŷ2011 = 3596 + 289,89.1 = 3885,89 triệu USD
3.2 Dự đoán dựa vào tốc độ phát triển bình quân.
Mô hình dự đoán: ŷn+1 =Υn(t)l với l= 1, 2, 3…… (2)
Trang 14(Nguồn số liệu : niên giám thống kê và tính toán của tác giả)
Ta thấy : SSE1 = 1214660,67 > SSE2 = 59413,43 Vậy mô hình dự đoán theo tốc độ phát triển bình quân có thể cho kết quả tốt hơn
3.3 Dự đoán dựa vào hàm xu thế
Dự đoán kim ngạch xuất khẩu da giày năm 2011, 2012 dựa vào hàm xu thế tuyến tính ( đã xây dựng ở phần hàm xu thế )
Trang 15Dự đoán dựa vào lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân có SSE = 1214660,67.
Dự đoán dựa vào tốc độ phát triển bình quân có SSE = 59413,43
Dự đoán dựa vào hàm xu thế tuyến tính có SSE = 212,962
Vậy dự đoán kim ngạch xuất da giày theo năm cho 2 năm 2011-2012 dựa vào hàm xu thế tuyến tính cho kết quả tốt hơn
4 Một số đề xuất để ngành xuất khẩu giày dép của Việt Nam phát triển hơn tới năm 2020.
Năm 2010 ngành da giày Việt Nam tổ chức kỷ niệm 20 năm thành lập Việc sản xuất và kinh doanh giày dép tại Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng phần lớn là sản xuất bằng phương pháp thủ công với những cơ xưởng vài mươi nhân công
Việc thành lập ngành da giày Việt Nam cách đây 20 năm là mốc đánh dấu
sự ra đời của ngành công nghiệp da giày sản xuất theo phương thức hiện đại trên dây chuyền công nghiệp, từ đó hình thành những nhà máy có quy mô từ vài trăm đến hàng chục ngàn lao động và tham gia vào việc xuất khẩu giày dép ra thế giới
Vào những năm đầu thập niên 1990, ngành giày Việt Nam chủ yếu gia công sản xuất mũ giày cho các nước Đông Âu theo Hiệp định 19/5, tuy nhiên việc gia công này đã sớm sút giảm do thị trường Đông Âu bị biến động mạnh
Vì vậy, vào giữa những năm 1990, các doanh nghiệp ngành da giày Việt Nam phải tự tìm kiếm thị trường và chuyển dần xuất khẩu sang các nước Tây Âu
Từ đầu những năm 2000 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước giúp cho các doanh
Trang 16nghiệp da giày trong nước cơ hội phát triển, cộng với đầu tư của nhiều doanh nghiệp sản xuất da giày từ Hàn Quốc, Đài Loan góp phần thay đổi nhanh chóng bộ mặt của ngành da giày Việt Nam.
Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu cùng tăng nhưng tăng không đáng kể (tăng 53 triệu USD) Tuy nhiên năm tiếp theo đó là năm 2003 thì kim ngạch xuất khẩu lại tăng mạnh đạt 1387 triệu USD (tăng 356 triệu USD so với năm 2002); năm 2004 kim ngạch xuất khẩu cũng vẫn tiếp tục tăng nhưng chỉ đạt ở mức 1471 triệu USD (tăng 84 triệu USD sơ với năm 2003)
Đã có nhiều lý do được đưa ra như: (1) Sự sút giảm chung của thị trường nhập khẩu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu; (2) Do tác động của việc đánh thuế chống bán phá giá giày mũ da của Việt Nam nhập khẩu vào
EU cũng như việc bãi bỏ chế độ ưu đãi thuế quan (GSP) đối với tất cả sản phẩm giày Việt Nam nhập vào thị trường này; (3) Sự vươn lên mạnh mẽ của một số nước sản xuất giày trong khu vực như Ấn Độ, Indonesia hoặc Bangladesh đã chia sẻ bớt thị trường xuất khẩu da giày của thế giới
Các lo ngại này là có cơ sở và dù có lý giải như thế nào, thực tế luôn đặt ra cho ngành da giày Việt Nam một câu hỏi lớn: Làm sao duy trì được sự phát triển cũng như vị thế của ngành da giày Việt Nam với nền kinh tế đất nước cũng như với thế giới? Đây là bài toán khó cho ngành da giày Việt Nam trong bối cảnh khó khăn của kinh tế thế giới và trong nước, cần đến một chiến lược phát triển và những giải pháp hiệu quả, đồng bộ
Trong nước, ngành da giày được xếp hàng thứ ba trong các ngành xuất khẩu lớn, chỉ đứng sau dệt may và dầu khí Bên ngoài, Việt Nam được xếp hàng thứ
tư trong số các nước xuất khẩu da giày lớn trên thế giới.Điều này cho thấy những chính sách đúng đắn đã có tác động tích cực vào ngành da giày
Trang 17Để ngành da giày nói chung, từng doanh nghiệp sản xuất da giày, phụ liệu trong nước nói riêng, có dịp rà soát, nhìn nhận những điểm mạnh, yếu, để từ
đó xây dựng nên một con đường phát triển bền vững với những giải pháp cụ thể là:
Đa dạng hóa thị trường và sản phẩm: từ chỗ lệ thuộc quá nhiều vào một thị trường là EU, ngay từ giữa những năm 2000, Mỹ là thị trường được các doanh nghiệp ngành da giày Việt Nam nhắm đến như một thị trường chiến lược với tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành, từ mức 20% của năm 2005 đã tăng lên 25,6% vào năm 2009
Bên cạnh đó, rất nhiều thị trường nhỏ như Đài Loan, Úc, Nam Mỹ, châu Phi, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ đã được mở ra trong chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm hóa giải tình trạng lệ thuộc vào một thị trường Nhóm thị trường nhỏ này đã chiếm đến gần một phần tư thị trường xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam.Bảng số liệu của Hiệp hội Da giày Việt Nam bên cạnh cho ta thấy được hình ảnh đó
Nâng dần tỷ lệ nguyên liệu nội địa: cuối những năm 1990, tỷ lệ này chỉ là con số rất khiêm tốn, chưa đến 20%, nhưng đến năm 2009 đã được các chuyên gia trong nước đánh giá là đã đạt những thành quả khá cao
Cụ thể, các loại nguyên liệu và mức độ mà ngành da giày Việt Nam đã chủ động được là: trên 30% các loại nguyên liệu da, giả da, nguyên liệu tổng hợp cho sản phẩm cấp trung; trên 50% các loại phụ liệu như nhãn mác, chỉ, ruy băng, giấy carton tăng cường, các loại keo, dung môi ; trên 70% các loại vải dùng cho các loại giày cấp trung và thấp như canvas, các loại đế giày, gót giày, form giày và bao bì các loại như thùng, hộp, bao PE, giấy lót, giấy gói Hiện nay, Việt Nam chỉ nhập khẩu các loại da, vải cao cấp, nguyên liệu tổng hợp cao cấp, các loại keo dán, hóa chất đặc biệt