Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã cố gắng tìmhiểu, nghiên cứu cách thức hoạt động của công ty và thực hiện bài chuyên đềthực tập với đề tài “Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Trang 1MỤC LỤCDANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 2của công ty Error: Reference source not found
Trang 3Bảng 2.12 : Bảng kết quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của công ty các năm 2008 – 2010 Error: Reference source not foundBảng 2.13 : Doanh thu và tỷ suất lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu Error: Reference source not found
của công ty trong các năm 2008 – 2010 Error: Reference source not found
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 : SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY TNHH Error: Reference source not found
TÁI CHẾ OTAL Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1 Quy trình kinh doanh nhập khẩu của công ty Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu thị trường Error: Reference source not found
Trang 6Biểu 2.6: Biểu đồ thực hiện kế hoạch nhập khẩu năm 2008 – 2010 : Error: Reference source not found
Biểu 2.7 : Biểu đồ so sánh doanh thu qua các năm từ năm 2007 – 2010 Error: Reference source not found
Biểu 2.13 : Doanh thu và tỷ suất lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu của công tytrong các năm 2008 – 2010 Error: Reference source not found
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang là xu thế chung của nhân loại,không một quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà vẫn cóthể phồn vinh được Trong bối cảnh đó thương mại quốc tế là một lĩnh vựchoạt động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập vớinền kinh tế thế giới, phát huy hết những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụngtiềm năng về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từbên ngoài, duy trì và phát triển văn hóa dân tộc, tiếp thu những tinh hóa củavăn hóa nhân loại
Hoạt động nhập khẩu đã và đang giúp cho người tiêu dùng trong nước
có điều kiện được tiếp cận với các chủng loại sản phẩm đa dạng, hiện đại vớigiá cả thấp Và đối với toàn bộ nền kinh tế, nhập khẩu làm tăng hiệu quả sửdụng các nguồn lực sản xuất, tập trung sản xuất những mặt hàng mà mình cólợi thế, tăng năng suất lao động thông qua nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật vàkhoa học sản xuất hiện đại Với xu hướng tăng cường hợp tác quốc tế, Nhànước đã cho phép các loại hình doanh nghiệp kể cả quốc doanh, liên doanh,hợp doanh và tư nhân tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu Do đó, việc nângcao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và kinh doanh nhập khẩuhàng hóa nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng
Công ty tái chế OTAL là một công ty TNHH hoạt động trong lĩnh vựckinh doanh nhập khẩu hàng hóa Là một công ty tư nhân hoạt động trong lĩnhvực kinh doanh nhập khẩu, công ty phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khiphải cạnh tranh với các công ty quốc doanh hay công ty liên doanh với nướcngoài cũng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu với số vốn lớn vànguồn tài trợ từ bên ngoài Tuy nhiên, trong những năm qua công ty đã khôngngừng vươn lên hoạt động có hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trườngtrong nước và là bạn hàng tin cậy với các đối tác nước ngoài
Trang 9Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tếnào, Công ty TNHH tái chế OTAL cũng rất quan tâm nâng cao hiệu quả kinhdoanh nhập khẩu Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã cố gắng tìmhiểu, nghiên cứu cách thức hoạt động của công ty và thực hiện bài chuyên đề
thực tập với đề tài “Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty TNHH tái chế OTAL Thực trạng và giải pháp”
Kết cấu của đề tài bao gồm các phần sau :
- Lời mở đầu
- Chương I : Tổng quan về Công ty TNHH tái chế OTAL
- Chương II : Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tạiCông ty TNHH tái chế OTAL
- Chương III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩuhàng hóa tại Công ty TNHH tái chế OTAL
- Kết luận
Để hoàn thành chuyên đề thực tập này, ngoài sự cố gắng của bản thân,tôi còn nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của cán bộ nhân viên trong Công tyOTAL và sự giúp đỡ trực tiếp của thạc sĩ Đặng Thị Thúy Hồng
Với hạn chế về thời gian thực tập và trình độ có hạn của một sinh viên,bài luận trên sẽ không tránh khỏi những sai sót rất mong được sự góp ý, chỉdẫn bổ sung của cô giáo và toàn thễ bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường đại học Kinh tế quốcdân, khoa Thương mại, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáoTHS.Đặng Thị Thúy Hồng và toàn thể cán bộ, nhân viên Công ty TNHH táichế OTAL đã giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thành bài luận văn này
Sinh viên thực hiện:
Vũ Tiến Thành
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH TÁI CHẾ OTAL
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty
Công ty TNHH tái chế OTAL được thành lập theo giấy CN ĐKKD số
0104003500, do phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nộicấp ngày 13/06/2005 Công ty chính thức đi vào hoạt động vào thời gian đóvới trụ sở được đặt tại phòng B7A, tầng 4, khách sạn Horrison, số 40 phố CátLinh, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội Theo giấy phép đăng ký kinhdoanh thì Công ty TNHH tái chế OTAL có những đặc điểm sau :
Tên giao dịch : CÔNG TY TNHH TÁI CHẾ OTAL
Tên giao dịch quốc tế : OTAL RECYCLING COMPANY LIMITED
Tên viết tắt : OTAL CO., LTD
Trụ sở giao dịch : phòng B7A, tầng 4, khách sạn Horrison, số 40 phố Cát Linh, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội
Vốn điều lệ : 2.000.000.000VNĐ, trong đó:
Tài sản lưu động : 1.600.000.000VNĐ (chiếm 80%)
Tài sản cố định : 400.000.000VNĐ
Email : windowfilm.jsc@gmail.com
Từ một Công ty nhỏ với nguồn lực tài chính hạn chế, nhưng với sự
nỗ lực của chính mình Công ty đang ngày một phát triển manh mẽ và tạođược uy tín lớn với đối tác Hiện nay, Công ty đã có hơn 30 đối tác trong
và ngoài nước
Trong quá trình hoạt động của mình Công ty luôn cố gắng mở rộng thịtrường phân phối trên phạm vi cả nước Khi mới thành lập, Công ty chỉ có
Trang 11một trụ sở duy nhất nằm tại khách sạn Horison nhưng từ năm 2006, Công ty
đã mở rộng thị trường hoạt động Tính đến đầu năm 2011, Công ty đã có 6 chinhánh đặt tại Hưng Yên, Hải Phòng, Nghệ An, Vinh, Nam Định và thành phố
Hồ Chí Minh
Cùng với sự mở rộng về thị trường, Công ty đã có sự đa dạng hóa vềmặt hàng kinh doanh Ban đầu, Công ty chỉ kinh doanh chủ yếu các mặt hàngkim loại phế liệu dưới dạng nhập khẩu trực tiếp Đến cuối năm 2005, Công ty
đã phát triển thêm trong việc nhập khẩu nguyên liệu nhựa và các sản phẩmphi kim loại khác phục vụ trong sản xuất Đầu năm 2007, Công ty là nhà đại
lý phân phối một số thiết bị vệ sinh cao cấp nhập khẩu từ Italia
Sau hơn 5 năm thành lập và phát triển Công ty TNHH tái chế OTAL đã
có rất nhiều bước phát triển về nguồn hàng kinh doanh, thị trường hoạt động,lao động… và đặc biệt đã một phần tự chủ được nguồn vốn
1.2 Mô hình tổ chức của công ty OTAL
1.2.1 Bộ máy tổ chức công ty
Bộ máy quản trị doanh nghiệp của Công ty TNHH tái chế OTAL được
tổ chức theo kiểu cơ cấu trực tuyến - chức năng Theo kiểu cơ cấu này giámđốc được sự giúp đỡ của các phòng ban chức năng, các chuyên gia trong việcsuy nghĩ, nghiên cứu bàn bạc, tìm những giải pháp tối ưu cho những vấn đềphức tạp Tuy nhiên, điều quyết định cuối cùng vẫn là ban giám đốc Cácphòng ban chức năng có trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống trựctuyến
Trang 12Sơ đồ 1.1 : SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY TNHH
TÁI CHẾ OTAL
`
Nguồn: Số liệu phòng hành chính công ty 1.2.1.1 Ban giám đốc
Ban giám đốc công ty bao gồm các thành viên :
Giám đốc Nguyễn Xuân Đảng : chủ sở hữu của Công ty, người chịutrách nhiệm trước các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công tytrong phạm vi vốn điều lệ
Hai phó giám đốc chức năng : phó giám đốc phụ trách kinh doanh vàphó giám đốc phụ trách tài chính
Chức năng chính của ban giám đốc là trực tiếp giám sát, điều hành toàn
bộ hoạt động của Công ty, là nơi đưa ra các kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêuthụ, ra những quyết định cuối cùng cho mọi hoạt động của doanh nghiệp
Phòng giao nhận
và vận chuyển
Trang 13Công ty TNHH tái chế OTAL là doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa.
Vì vậy phương thức kế toán áp dụng phải tuân thủ theo pháp lệnh kế toánthống kê quy định cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đó là phương thức chứng từghi sổ Từ các chứng từ, kế toán lập sổ nhật ký chung sau đó mở các sổ chitiết theo quy định của Công ty như: Sổ nhật ký mua hàng, nhật ký bán hàng,
sổ tổng hợp chi phí
b Chứng từ sử dụng :
Công ty sử dụng toàn bộ các chứng từ nhà nước quy định như : Hoáđơn GTGT, Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, Phiếu nhập kho, phiếuxuất kho, phiếu thu, phiếu chi, bảng chấm công, phiếu tạm ứng Ngoài ra,công ty còn nhập khẩu hàng hóa nên cũng sử dụng bộ chứng từ hàng nhậpkhẩu như: Tờ khai hàng hoá nhập khẩu, hợp đồng ngoại, CO, biên lai thuế,hoá đơn GTGT, thuế nhập khẩu, bảng tính giá trị hàng nhập khẩu Căn cứvào các chứng từ trên, kế toán tiến hành tính giá vốn hàng nhập khẩu vàhàng sản xuất
c Chức năng :
Tham mưu cho ban giám đốc về công tác tài chính doanh nghiệp, đảmbảo thực hiện đúng các nghĩa vụ chính sách Nhà nước về doanh nghiệp, vềcông tác tài chính, đầu tư, kết quả sản xuất kinh doanh, quản lý và sử dụng cóhiệu quả mọi nguồn vốn của doanh nghiệp để phát triển sản xuất kinh doanh
Tổ chức và thực hiện nghiệp vụ kế toán của doanh nghiệp theo đúng quyđịnh của Nhà nước và pháp lệnh kế toán thống kê, quản lý các quỹ bằng tiền
và quản lý nợ theo quy định
1.2.1.3 Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh của Công ty được chia thành hai nhóm theo lĩnh vựckinh doanh chính – thép nhựa phế liệu và thiết bị vệ sinh, mỗi nhân viên đượcphân công phụ trách một phân đoạn thị trường (chia theo vị trí địa lý) đối với
Trang 14ngành hàng kinh doanh của mình Các nhân viên kinh doanh này có tráchnhiệm bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua các giao dịch trực tiếp với kháchhàng trên các địa bàn được phân công Trên cơ sở các bản kế hoạch kinhdoanh chung do ban giám đốc đưa ra hàng năm (quý), phòng kinh doanh sẽ tự
đề ra kế hoạch và phương thức thực hiện cụ thể, phân chia sản lượng tiêu thụ
và doanh thu mục tiêu mà từng nhân viên phải hoàn thành Từng nhân viêncủa phòng kinh doanh phải thực hiện mọi hoạt động thị trường cần thiết để cóthể thực hiện mục tiêu từ việc tìm kiếm đầu mối tiêu thụ, thỏa thuận và ký kếthợp đồng, các hoạt động chăm sóc khách hàng, tổ chức phân phối hàng hóa
và các hoạt động liên quan khác
Kết quả hoạt động của phòng kinh doanh được báo cáo lên ban giámđốc theo từng tháng, báo cáo kinh doanh của kỳ này sẽ là cơ sở để lập kếhoạch kinh doanh, kế hoạch nhập khẩu cho kỳ sau
1.2.1.4 Phòng marketing
Chức năng
Xác định đúng đắn nhu cầu thị trường đối với từng loại hàng hóa củadoanh nghiệp về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa, thị trường tiêuthụ, cách thức phân phối…Những bản báo cáo thị trường hàng quý của phòngmarketing sẽ là cơ sở cho ban giám đốc lập các kế hoạch nhập hàng hay phâncông kế hoạch kinh doanh, đồng thời định hướng hoạt động cho phòng kinhdoanh về cách thức tiếp cận thị trường phù hợp
Tổ chức thực hiện các chương trình để xây dựng và quảng bá thươnghiệu hàng hóa mà doanh nghiệp làm đại lý như các chương trình khuyến mại,quảng cáo, hội nghị khách hàng…
1.2.1.5 Phòng xuất nhập khẩu
Phần lớn chủng loại và số lượng hàng hóa mà doanh nghiệp tiêu thụ làhàng nhập khẩu, do đó, phòng xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng tạo
Trang 15đầu vào về hàng hóa cho toàn doanh nghiệp Phòng xuất nhập khẩu thực hiệnchức năng tổ chức thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu (chủ yếu là hoạt độngnhập khẩu) theo kế hoạch và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ban giám đốc, từviệc tìm kiếm đối tác, thỏa thuận hợp đồng, tổ chức thực hiện hợp đồng…Các nhân viên của phòng xuất nhập khẩu được phân công theo chức năngtheo ba mảng chính là giao dịch - tìm kiếm đối tác nước ngoài, thực hiện cácnghiệp vụ ngân hàng và các nghiệp vụ hải quan
1.2.1.6 Phòng hành chính
Có nhiệm vụ lưu trữ các giấy tờ, thủ tục, hồ sơ, công văn, tổ chức nhân
sự, quản lý sắp xếp, quản lý tiền lương, tiền thưởng và các chế độ chính sáchnhư : bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… và một số công việc khác
1.2.1.7 Phòng giao nhận và vận chuyển
Có nhiệm vụ ký kết và giao nhận các mặt hàng tại cảng, lưu trữ và phânphối hàng hóa
Trang 161.3 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1.3.1 Lĩnh vực kinh doanh của Công ty
Lĩnh vực kinh doanh trên giấy phép kinh doanh của Công ty gồm có :
1 Tái chế phế liệu kim loại
2 Tái chế phế liệu phi kim loại
3 Bán buôn quặng kim loại
4 Bán buôn sắt, thép
5 Bán buôn kim loại khác
6 Bán buôn phế liệu, phế thải kim loại, phi kim loại
7 Bán buôn máy móc, thiết bị phụ tùng máy khai khoáng, xây dựng
8 Bán buôn máy móc, thiết bị điện, vật liệu điện (máy phát điện, động
cơ điện, dây điện, máy biến thế, mô tơ điện, ổn áp, vật lưu dẫn, bảngđiện, công tắc, aptomat, cầu chì và các loại bóng đèn điện)
9 Bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến
10 Bán lẻ đồ điện gia dụng, giường, tủ, bàn, ghế và đồ nội thất
11 Bán buôn xi măng
12 Bán buôn gạch xây, ngói, đá, cát, sỏi
13 Bán buôn kính xây dựng
14 Bán buôn sơn, vec ni
15 Bán buôn gạch ốp lát và thiết bị vệ sinh
16 Bán buôn đồ ngũ kim
17 Sản xuất sắt, thép, gang
18 Sản xuất kim loại màu và kim loại quý
19 Đúc sắt, thép
20 Đúc kim loại màu
21 Sản xuất thùng, bể chứa và dụng cụ chứa đựng bằng kim loại
22 Sản xuất dao, kéo, dụng cụ cầm tay và đồ kim loại thông dụng
23 Bán buôn thiết bị cấp thoát nước trong nhà, thiết bị nhiệt và phụ
tùng thay thế
24 Bán buôn, bán lẻ phụ tùng và các bộ phận phụ trợ môtô, xe máy
25 Bán buôn hóa chất (trừ loại Nhà nước cấm)
26 Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
27 Xuất nhập khẩu và môi giới xuất nhập khẩu các mặt hàng mà
Trang 17Công ty kinh doanh
Trên thưc tế Công ty kinh doanh các lĩnh vực : kinh doanh thép phế liệu,nhựa và các sản phẩm phi kim loại phục vụ sản xuất, các thiết bị vệ sinh caocấp Ngoài ra Công ty còn đứng ra môi giới các sản phẩm trên cho các Công
ty trong và ngoài nước
Kinh doanh nhập khẩu hàng hóa :
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa chỉ được thực hiện đối vớimột số ngành hàng nhất định và chủ yếu nhập khẩu hàng hóa từ các nướcTrung Quốc, Nam Phi, Italia Đây là hoạt động chính mang lại lợi nhuận caonhất của Công ty Đối với các sản phẩm thép phế liệu va nhựa phục vụ sảnxuất, Công ty là khách hàng chủ yếu của một số Công ty sản xuất trong nước.Còng đối với thiết bị vệ sinh, Công ty là nhà phân phối độc quyền tại thịtrường Việt Nam với các sản phẩm cung ứng từ Italia
Kinh doanh thương mại nội địa :
Công ty thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại nội địa đối với hầuhết các sản phẩm mà công ty kinh doanh Hiện nay, công ty đang chủ yếukinh doanh hàng hóa của các hãng như công ty kim khí Thăng Long, công tyViglacera, công ty điện cơ Thống Nhất Các mặt hàng này được công ty kinhdoanh với tư cách là một đại lý phân phối cấp một của các nhà sản xuất.Trong quá trình kinh, doanh nghiệp luôn luôn tìm kiếm các nguồn hàng mới
để đa dạng hóa chủng loại, đảm bảo tốt hơn nguồn cung ứng hàng hóa để hoạtđộng kinh doanh có thể tiến hành liên tục, thông suốt
1.3.2 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh
Công ty TNHH tái chế OTAL luôn có sự đa dạng hóa, mở rộng ngànhhàng kinh doanh, từ chỗ ban đầu chỉ kinh doanh các loại thép phế liệu, cho tới
Trang 18nay, Công ty đã mở rộng ra nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau, thuộc hainhóm sản phẩm chính :
PP : bao gồm PP và PPG là nguyên liệu dùng để sản xuất các loại baodệt, màng co chống thấm Hiện nay kim ngạch nhập khẩu PP ngày càng tăng
do nhu cầu của thị trường đối với nguyên liệu này tăng.Quạt
PE bao gồm LDPE, HDPE, LLDPE Nồi cơm điện
Nhóm sản phẩm thiết bị vệ sinh : bao gồm các sản phẩm :
Đặc điểm hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh :
+ Hàng hóa của doanh nghiệp được nhập từ hai nguồn : hàng nhập khẩu(đối với thép phế liệu, nguyên liệu nhựa và các thiết bị vệ sinh cao cấp vànguồn cung ứng trong nước (đối với các sản phẩm sứ vệ sinh, bồn tắm…)
Trang 19+ Đối với thép phế liệu và nhựa phục vụ sản xuất, Công ty thường nhậpkhẩu với khối lượng rất lớn và bằng đường biển Do Công ty còn thiếu khobãi nên hàng hóa này khi nhập về cảng sẽ được vận chuyển ngay cho đối tác.+ Các sản phẩm của công ty đều thuộc loại hàng hóa chất lượng cao vàtrung bình, chủ yếu phục vụ đối tượng khách hàng là những người có thunhập cao và trung bình.
1.3.3 Vốn, tình hình sử dụng vốn trong sản xuất – kinh doanh
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Khi mới được thành lập Công ty TNHH tái chế OTAL có số vốn điều lệ
là 2.000.000.000 VND trong đó 80% là tài sản lưu động chủ yếu dưới dạng tiềnmặt hoặc hàng hóa Sau hơn 5 năm hoạt động, số vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp đã tăng lên 9.649.526.568 VND (tăng khoảng 482,47%) Năm 2010,tổng nguồn vốn sử dụng cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp là 34.003.760.000 VND và được huy động từ ba nguồn chủ yếu sau :
Nguồn vốn chủ sở hữu : 9.649.526.568 VND , chiếm 28,38%
Nguồn vốn từ các khoản vay ngân hàng và một số tổ chức tư nhân, cánhân: 22.357.652.702 VND, chiếm 65,75%
Các khoản tín dụng của người bán : 587.276.227 VND, chiếm 1,73%
Các khoản khác (như nợ ngân sách Nhà nước, các khoản trả trước củangười mua, nợ công nhân viên…) : 1.409.250.503VND; chiếm 4,14%
Như vậy, trong tổng nguồn vốn của Công ty TNHH tái chế OTAL,nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 28,38%; còn lại 71,62% tổng nguồn vốn là vốnhuy động từ bên ngoài, trong đó 65,75% là vốn từ các khoản vay ngân hàng
và các tổ chưc tư nhân , cá nhân; 1,73% là từ các khoản tín dụng của ngườibán và 4,14% từ các khoản khác như nợ ngân sách Nhà nước, các khoản trảtrước của người mua, nợ công nhân viên… Do đó, chi phí sử dụng vốn củacông ty là khá lớn, chủ yếu là chi phí sử dụng vốn vay
Trang 20 Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp năm 2010 :
Các khoản phải thu đầu năm là 12.174.789.700VND, và đến cuối nămgiảm 8.988.690.860VND, chỉ còn 3.186.098.840VND, tỉ lệ giữa các khoảnphải thu trên tổng nguồn vốn đầu năm là 30,7% và cuối năm giảm xuống còn9,36% Như vậy nguồn vốn huy động không tham gia vào hoạt động sản xuất– kinh doanh đã giảm 21,34%, đây là một biểu hiện tích cực về khả năng thuhồi nợ của doanh nghiệp
Các khoản nợ phải trả giảm 4.857.081.900VND so với đầu năm, tỉ lệ
nợ trên tổng nguồn vốn đầu năm là 73,75% và cuối năm là 71,62%, giảm2,13% so với đầu năm Như vậy, trong tổng nguồn vốn của công ty, tỷ trọng
nợ giảm cả về tuyệt đối và tương đối Tuy nhiên, tổng nguồn vốn cuối nămgiảm 5.604.866.540VND so với đầu năm, các khoản nợ của công ty đều là nợngắn hạn, trong đó các khoản vay ngân hàng chiếm 91,7%, còn lại là cáckhoản nợ ngân sách Nhà nước, nợ công nhân viên và các khoản trả trước củangười mua
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành của công ty đầu năm là 1,08 vàcuối năm là 1,07; hệ số khả năng thanh toán nhanh đầu năm là 0,45 và cuốinăm là 0,16 Hệ số khả năng thanh toán hiện hành thấp và giảm 0,01, hệ sốkhả năng thanh toán nhanh thấp và giảm 0,29, điều này chứng tỏ khả năngthanh toán của công ty không cao, chủ yếu do khối lượng hàng tồn kho lớn,giá trị hàng hóa cao và lượng tồn kho tăng nhanh do mỗi lẫn nhập khẩu với sốlượng lớn Nếu công ty không có biện pháp giải quyết lượng hàng tồn kho thì
sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ
1.3.4 Hệ thống mạng lưới kinh doanh tại công ty OTAL
Mạng lưới kinh doanh tại công ty OTAL đươc chia làm hai mảng lớn làthương mại và môi giới
1.3.4.1 Mảng kinh doanh thương mại
Trang 21Với mảng này công ty kinh doanh theo ba hướng :
Nhập khẩu các sản phẩm thép, nhựa phế liệu nước ngoài và bán cho cácđối tác trong nước.Đây là phương thức truyền thống và là nguồn thu tài chínhchủ yếu tại Công ty
Nhập khẩu các sản phẩm thép, nhựa phế liệu nước ngoài và bán trực tiếpcho các đối tác nước ngoài.Phương pháp này được áp dụng là do khi nhậpkhẩu hàng hóa theo đường biển, hàng sẽ được tàu vận chuyển qua rất nhiềucảng biển trên thế giới rồi mới đến cảng Hải Phòng Do đó Công ty sẽ gửi lờimời chào hàng đến một số đối tác mà tàu vận chuyển đi qua nước của họ Nếu
họ đồng ý thì hàng sẽ được bốc dỡ tại cảng đó, Đây là một hình thức rất hay
vì lợi nhuận cao mà không phải lo thủ tục thông quan khá phức tạp và nhữngkhoản phí cho lô hàng Phương pháp này hiện nay đang được ban giám đốcCông ty rất chú trọng nghiên cứu và phát triển
Mảng này có hai hình thức thanh toán tiền được Công ty sử dụng là điệnchuyển tiền và thanh toán bằng LC Trong đó phương thức thanh toán bằngđiện chuyển tiền được sử dụng là phần lớn do ưu điểm là có thời gian huyđộng vốn Còn phương thức thanh toán bằng LC thường được sử dụng với cácđối tác lần đầu và ít có mối quan hệ hoặc trong trường hợp đối tác yêu cầuthanh toán bằng LC
Nhà đại lý phân phối các sản phẩm thiết bị vệ sinh cao cấp : Công ty lànhà đại diện nhập khẩu các sản phẩm này và bán buôn, bán lẻ cho thị trườngtrong nước
1.3.4.2 Mảng kinh doanh theo hình thức môi giới
Công ty OTAL là một công ty khá uy tín và có mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác nước ngoài Họ có những đối tác có những sản phẩm chất lượng rất cao và giá cả phải chăng Tuy nhiên nguồn vốn Công ty lại hạn hẹp Do đóCông ty thường môi giới sản phẩm của các đối tác nước ngoài với các đối tác
Trang 22trong nước và nhận tiền môi giới Phương pháp này thu lợi nhuận không cao nhưng an toàn và không phải huy động vốn
Trang 23CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY TNHH TÁI CHẾ OTAL
2.1.Vai trò kinh doanh nhập khẩu hàng hóa trong toàn bộ hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty
Công ty TNHH tái chế OTAL thực hiện kinh doanh trên hai lĩnh vực :
Kinh doanh thương mại nội địa
Kinh doanh nhập khẩu hàng hóa
Bảng 2.1 : cơ cấu doanh thu của công ty theo lĩnh vực hoạt động
DOYIN Doyinpumpin
dust
DOANH THU
(VND)
TỶ TRỌNG (%)
DOYIN Doyinpumpi
Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh của phòng kế toán
Trong hai lĩnh vực trên, lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu hàng hóa chiếm
tỷ trọng chủ yếu và có mức tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhất Năm
2010, doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa chiếm 81,1%,đạt mức doanh thu 105.707.096.700VND, doanh thu từ kinh doanh thươngmại nội địa chiếm 18,9% đạt 24.634.576.180VND Năm 2010, tỷ trọng vềdoanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tăng lên 82,3% (đạt115.988.488.200VND), trong khi tỷ trọng doanh thu từ kinh doanh thương
Trang 24mại nội địa lại giảm xuống còn 17,6%, song vẫn tăng lên về mặt giá trị tuyệtđối đạt 24.945.276.310VND
Biểu 2.1 : Biểu đồ so sánh doanh thu từ các lĩnh vực kinh doanh của công ty
Đơn vị : 1.000.000vnd
Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh của phòng kế toán
Trên thực tế, đối với hai lĩnh vực kinh doanh trên, công ty chú trọng đầu
tư vào mảng hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa nhiều hơn so với lĩnhvực kinh doanh thương mại nội địa Nguyên nhân chính là ngay từ khi mớithành lập, hướng đi chính của Công ty là tập trung nhập khẩu các mặt hàng vềnguyên liệu phuc vụ cho sản xuất Kinh doanh thương mại nội địa chỉ là mộtmảng nhỏ mà Công ty đang phát triển
Như vậy, trong hai loại hình kinh doanh thì kinh doanh nhập khẩu hànghóa là lĩnh vực hoạt động chủ đạo của công ty đồng thời cũng là lĩnh vựcđược công ty chú trọng đầu tư phát triển
Trang 252.2 Tổ chức kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của công ty tnhh tái chế OTAL
2.2.1 Loại hình kinh doanh nhập khẩu
Công ty TNHH tái chế OTAL đang áp dụng loại hình kinh doanh nhậpkhẩu theo phương thức đa dạng hóa với ba nhóm hàng chính là thép phế liệu,nguyên liệu nhựa và thiết bị vệ sinh cao cấp Với loại hình kinh doanh này,Công ty có một số lợi thế sau :
Các mặt hàng mà Công ty nhập khẩu đều là những mặt hàng thiết yếutrong nền kinh tế nước ta hiện nay Từ xưa đến nay, nagnhf công nghiệp thépluôn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhu cầu nhậpkhẩu thép ngày càng tăng lên do nhu cầu của thị trường và nhu cầu sản xuấtthép không ngừng tăng Nhựa cũng có một vị trí rất quan trọng Đây lànguyên liệu để sản xuất rất nhiều mặt hàng phục vụ xây dựng, tiêu dùng…Bên cạnh đó, do đời sống của nhân dân ngày càng tăng nên họ rất quan tâmđến nâng cao chất lượng cuộc sống, làm cho ngôi nhà của họ ngày càng trởnên đẹp đẽ, sang trọng hơn Do đó các thiết bị vệ sinh cao cấp cũng đượcngười tiêu dùng hết sức quan tâm và có những lợi thế riêng
Công ty có khả năng đào tạo được những cán bộ kinh doanh, nhân viênnhập khẩu giỏi, có chuyên môn cao, trình độ hiểu biết về hàng hóa kinh doanhchuyên sâu hơn, có thể trở thành các chuyên gia nghành hàng
Do có ba ngành hàng kinh doanh khác nhau với nhiều chủng loại hànghóa, nên có thể giảm một số rủi ro trong kinh doanh, giảm tình trạng ứ đọngvốn, có khả năng quay vòng nhanh
2.2.2 Đặc điểm mặt hàng kinh doanh nhập khẩu
Như đã nói ở trên, mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Công ty OTALhiện nay gồm có : phế liệu thép, nguyên liệu nhựa và thiết bị vệ sinh
Trang 26Đây là những mặt hàng thiết yếu đối với nền kinh tế nước ta hiện nay,
là nguyên liêụ để sản xuất nhựa và thép phục vụ cho rất nhiều ngành trongnước: từ thép xây dựng, làm đường ray, đến nhựa dùng để sản xuất đồ dùng,thiết bị… Tuy nhiên đây không phải là một lĩnh vực mới trong kinh doanh
Đã có rất nhiều doanh nghiệp lớn và nhỏ tham gia và cạnh tranh gay gắt.Thêm vào đó giá nguyên liệu lại rất dễ biến động tùy thuộc vào tình hình kinh
tế Những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nhạy bén linh hoạt và chiến lược kinhdoanh sáng tạo để có thể đứng vững trên thương trường Nắm rõ điều đó,Công ty đã cố gắng bám sát thị trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với cácđối tác nước ngoài để có những thông tin cần thiết về giá cả, nguồn hàng.Hiện nay Công ty đã có được nhiều nguồn hàng từ nhiều nước đối tác nhưNam Phi, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Singapo và một số nướcTây Âu khác với giá cả hợp lý, chất lượng tốt được các doanh nghiệp sản xuấttrong nước rất tin tưởng
Một đặc điểm nữa về mặt hàng của Công ty Hàn của Công ty được nhậpkhẩu qua đường biển với khối lượng hàng rất lớn Ngoài sản phẩm thiết bị vệsinh Công ty có kho bãi để chứa, còn lại các mặt hàng thép và nhựa thườngđược nhập về cảng và bán luôn cho đối tác
2.2.3 Quy trình kinh doanh nhập khẩu hàng hóa
Quá trình kinh doanh nhập khẩu của Công ty TNHH tái chế OTAL đượcthực hiện đồng thời trên cả hai thị trường trong nước và thị trường quốc tế.Trong khi tiến hành các nghiệp vụ thực hiện hợp đồng nhập khẩu, công tyđồng thời thực hiện các hoạt động tìm kiếm đầu mối tiêu thụ, quảng bá, giớithiệu sản phẩm tới người tiêu dùng tại thị trường nội địa
Trang 27Sơ đồ 2.1 Quy trỡnh kinh doanh nhập khẩu của cụng ty
Giao dịch,đàmphán, ký kếthợp đồngnhập khẩu
Tổ chứcthựchiện hợp
đồng nhập khẩu(mở L/C muabảo hiểm, nhậnhàng, kiểm trahàng hóa… )
Tổ chức đ ahàng đến nơitiêu thụ
Nhận đơn đặthàng củakhách hàng
Tìm kiếm đầumối tiêu thụhàng nhậpkhẩu
2.3 Kết quả hoạt động nhập khẩu hàng húa
2.3.1 Kim ngạch nhập khẩu qua cỏc năm
Kinh doanh nhập khẩu là hoạt động chủ yếu của Cụng ty TNHH tỏi chếOTAL Kim ngạch nhập khẩu của cụng ty khụng ngừng tăng lờn qua cỏc năm,
đú là kết quả của sự mở rộng ngành hàng kinh doanh, mở rộng quan hệ kinhdoanh với cỏc đối tỏc nước ngoài
Bảng 2.2 Kim ngạch nhập khẩu của cụng ty năm 2009 – 2010 :
Năm
Kim ngạch nhậpkhẩu thực tế(USD)
Mức tăng, giảm so với năm trướcGiỏ trị
(USD)
Tỷ lệ( % )
Nguồn : Bỏo cỏo kết quả kinh doanh của cụng ty qua cỏc năm.
Biểu 2.2 : Đồ thị thể hiện sự tăng trưởng trong kim ngạch nhập khẩu :
Trang 28Đơn vị : 1.000USD
Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty qua các năm.
Kim ngạch nhập khẩu của Công ty TNHH tái chế OTAL luôn có xuhướng tăng trong các năm qua : năm 2008 tổng kim ngạch nhập khẩu đạt3.381.766 USD (tăng 15,53% so với năm 2007, đây là tỷ lệ tăng trưởng caonhất trong bốn năm qua), năm 2009 tăng 442.267 USD tương đương với11,32% so với năm 2008, năm 2010 kim ngạch nhập khẩu đạt 4.942.456USD, tăng 593.234 USD (tương đương với 13,64%) so với năm 2009 Nhìnchung, tốc độ tăng trưởng trong kim ngạch nhập khẩu tương đối ổn định, mứctăng trưởng trung bình là khoảng 12%/năm Riêng năm 2008, mức tăng kimngạch nhập khẩu cao hơn hẳn so với các năm khác do có sự mở rộng ngànhhàng kinh doanh và sự gia tăng một số đối tác nước ngoài mới, thêm vào đó là
sự phục hồi của nền kinh tế thế giới sau thời kì khủng hoảng Năm 2009, mứctăng trưởng trong kim ngạch nhập khẩu giảm so với năm 2008 do mức tiêu
Trang 29thụ của các sản phẩm mới không cao, hàng tồn kho của năm 2008 lớn Phầntăng trường nhập khẩu chủ yếu do sự gia tăng nhập khẩu của các mặt hàngtruyền thống Năm 2010, mức tăng trưởng nhập khẩu được phục hồi, mộtphần do các sản phẩm mới đã có sự phát triển, mở rộng thị phần trong thịtrường nội địa, mặt khác, do có sự đầu tư bài bản vào một chiến lược kinhdoanh hoàn thiện theo một chương trình thực hiện xuyên suốt một năm đốivới tất cả các mặt hàng kinh doanh.
Hàng năm, công ty dựa vào sự tăng trưởng của sản lượng tiêu thụ trongnước, dự đoán xu hướng phát triển của thị trường trong nước và thế giới để đề
ra kế hoạch nhập khẩu về sản lượng, cơ cấu, thời gian nhập khẩu thích hợpnhất, sản lượng hàng hóa trong một lần nhập… Do đó, sự tăng trưởng trongkim ngạch nhập khẩu còn thể hiện sự tăng trưởng trong hoạt động tiêu thụhàng nhập khẩu trong nước và sự gia tăng trong hoạt động kinh doanh nhậpkhẩu hàng hóa nói chung của toàn doanh nghiệp
2.3.2 Phương thức nhập khẩu hàng hóa
Công ty TNHH tái chế OTAL thực hiện nhập khẩu hàng hóa dưới haihình thức chủ yếu là hình thức nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu đại lý
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà trong đó người mua(người nhập khẩu) và người bán (người xuất khẩu) thỏa thuận, bàn bạc, thảoluận trực tiếp (hoặc thông qua thư từ, điện tín…) về hàng hóa, giá cả, điềukiện giao dịch, phương thức thanh toán… Theo hình thức này, người nhậpkhẩu thường tiến hành giao dịch thỏa thuận theo một hợp đồng hay một lô sảnphẩm trong một thời kỳ nhập dài
Nhập khẩu đại lý là hình thức người nhập khẩu ký hợp đồng với cáchãng sản xuất để trở thành đại lý phân phối của hãng tại nước mình Tuynhiên, khác với hình thức đại lý phân phối cho các hãng trong nước, cácdoanh nghiệp nhập khẩu đại lý vẫn phải tiến hành các bước của tiến trình
Trang 30nhập khẩu như bình thường, nhưng điểm khác biệt là các điều khoản hợpđồng được thỏa thuận trong thời gian dài, nguồn cung cấp hàng khá ổn định,tính rủi ro thấp hơn so với các hình thức nhập khẩu thông thường.
Công ty TNHH tái chế OTAL thực hiện nhập khẩu chủ yếu dưới hìnhthức nhập khẩu trực tiếp với các mặt hàng chủ yếu từ phế liệu, nguyên liệukim loại và phi kim loại Tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu trực tiếp đang đượcCông ty coi trọng và là hình thức nhập khẩu chủ đạo Hình thức nhập khẩuđại lý cũng được Công ty rất chú trọng phát triển do có nhiều ưu điểm Tuynhiên, ở hình thức này, bạn hàng Công ty còn khá ít, vốn đầu tư còn nhỏ dophải tập trung vào nhập khẩu trực tiếp
Bảng 2.3 : Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu theo hình thức nhập khẩu
HÌNH THỨC
NHẬP KHẨU
GIÁ TRỊ (USD)
Tỷtrọng
GIÁ TRỊ (USD)
Tỷtrọng
GIÁ TRỊ (USD)
Tỷtrọng
NK đại lý 789.205 20,2% 478.414 11% 504.130 10,2%
NK trực tiếp 3.117.750 79,8% 3.780.807 89% 4.438.325 89,8%
TỔNG 3.906.955 100% 4.349.222 100% 4.942.456 100%
Nguồn : Báo cáo nội bộ công ty của phòng xuất nhập khẩu.
Từ bảng trên có thể thấy, tỷ trọng hàng hóa nhập theo hình thức nhậpkhẩu đại lý giảm từ 20,2% năm 2008 xuống còn 11% năm 2009, đồng thờigiảm cả về giá trị tuyệt đối xuống còn 478.414 USD so với 789.205 USD năm
2008 Năm 2010, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu theo hình thức đại lý giảm tỷtrọng xuống còn 10,2% nhưng tăng lên về giá trị tuyệt đối đạt 504.130 USD
Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu theo phương thức nhập khẩu trực tiếpluôn đạt mức cao nhất tăng từ 79,8% năm 2008 lên 89,8% vào năm 2010 Vềmặt giá trị tuyệt đối, kim ngạch nhập khẩu theo phương thức này tăng bìnhquân khoảng 5 – 6%/năm, từ 3.117.750 USD năm 2008 lên mức 4.438.325USD vào năm 2010
Biểu 2.3 : sơ đồ cơ cấu nhập khẩu theo phương thức nhập khẩu
Trang 31Đơn vị : 1.000USD
Nguồn : Báo cáo nội bộ công ty của phòng xuất nhập khẩu.
Sự thay đổi trong cơ cấu nhập khẩu theo hình thức nhập cho thấy xu hướngnhập khẩu của công ty là tăng cường nhập khẩu theo hình thức nhập khẩu trựctiếp và giảm tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu đại lý Vấn đề này do vấn đề vốn vàđối tác tác động lên Việc thiếu vốn buộc Công ty phải giảm bớt nhập khẩu đại
lý và dành nhiều hơn cho nhập khẩu trực tiếp, một thế mạnh của Công ty Thứhai, việc làm ăn với các nước Tây Âu, nơi nhập khẩu chính các sản phẩm thiết bị
vệ sinh cũng khiến Công ty bớt đầu tư trong lĩnh vực này hơn
2.3.3 Thị trường nhập khẩu hàng hóa
Trong quá trình hình thành và phát triển, Công ty TNHH tái chế OTALluôn tìm cách mở rộng mối quan hệ bạn hàng với các đối tác nước ngoài theohướng đa dạng hóa nguồn cung cấp hàng hóa cho doanh nghiệp Khả năng
mở rộng nguồn hàng nhập khẩu còn thể hiện uy tín của công ty trên thị trườngthế giới Hiện nay, thị trường nhập khẩu chủ yếu của doanh nghiệp là NamPhi,Trung Quốc và Italia
Bảng 2.4 : Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu theo từng thị trường :
Trang 32THỊ TRƯỜNG
GIÁ TRỊ (USD)
TỶ TRỌNG
(%)
GIÁ TRỊ (USD)
TỶ TRỌNG (%)
TRUNG QUỐC 2.953.122 65,53 3.238.791 67,9
Nguồn : Báo cáo nội bộ của phòng xuất nhập khẩu
Từ bảng trên có thể thấy kim ngạch nhập khẩu của công ty trên cả bakhu vực thị trường đều tăng lên : tại thị trường Nam Phi kim ngạch nhập khẩutăng 289.667 USD (khoảng 23,9%), tại thị trường Trung Quốc kim nghạchnhập khẩu tăng 285.670 USD (khoảng 9,76%) và tại thị trường Italia tăng17.897 USD (khoảng 10,1%)
Về khía cạnh tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu, ta thấy công ty chủ yếunhập khẩu từ hai thị trường là Nam Phi và Trung Quốc, thị trường Italiachiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của toàn công ty Đứngđầu trong tỷ trọng nhập khẩu của công ty là thị trường Trung Quốc, năm
2009, tỷ trọng nhập khẩu tại thị trường này là 65,53% và năm 2010 tăng lên67,9% Kim nghạch nhập khẩu tại thị trường Nam Phi tuy có sự tăng lên vềgiá trị song tỷ trọng năm 2010 lại giảm xuống 28% so với 30,5% năm 2009
Trang 33Biểu 2.4 Biểu đồ thể hiện cơ cấu nhập khẩu theo thị trường
Đơn vị : %
Nguồn : Báo cáo nội bộ của phòng xuất nhập khẩu.
Kim ngạch nhập khẩu tại thị trường Trung Quốc có xu hướng tăng lên
cả về giá trị và tỷ trọng Hiện nay, các sản phẩm kinh doanh tại Công ty chủyếu là sản phẩm nhập từ Trung Quốc, (có tới 3 trong số 5 chủng loại hàng hóa
là nhập từ Trung Quốc) Ngoài ra, do đã quen thuộc với khu vực thị trườngnày nên Công ty cũng thường xuyên có sự tìm kiếm bạn hàng mới, mở rộngngành hàng kinh doanh tại đây Tại thị trường Nam Phi, Công ty tập trungnhập khẩu mặt hàng nguyên liệu nhựa và một phần kim loại phế liệu Còn đốivới thị trường Italia, Công ty là đại lý phân phối các thiết bị vệ sinh nhưFaber, Sealand… Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc cũng do đây lànước rất gần với Việt Nam, thị trường rộng lớn, chủng loại đa dạng, giá nhậpkhẩu rẻ hơn so với các nước trên
Trang 342.3.4 Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu
Theo giấy phép đăng ký kinh doanh, ngành hàng kinh doanh của Công tyTNHH tái chế OTAL hết sức đa dạng Trên thực tế, ông ty tập trung kinh doanhvào ba nhóm hàng chính : thép phế liệu, nguyên liệu nhựa và thiết bị vệ sinh.Các sản phẩm thép phế liệu gồm có : phôi thép, thép có hàm lượngmangan cao, thép đầu tấm, gang, ray tàu hỏa, thép dạng ống và dạng băm.Các sản phẩm nguyên liệu nhựa gồm có : PP, PE, PVC…
Thiết bị vệ sinh bao gồm : sứ vệ sinh, bồn tắm, bình nóng lạnh
Bảng 2.5 : Tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu qua các năm
TÊN HÀNG
GIÁ TRỊ (USD)
TỶ TRỌNG
GIÁ TRỊ (USD)
TỶ TRỌNG
Nguồn : Báo cáo nội bộ của phòng xuất nhập khẩu
Theo bảng trên, sản phẩm thép phế liệu và nguyên liệu nhựa chiếm tỷtrọng chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của toàn Công ty Năm 2009,
tỷ trọng nhập khẩu của loại sản phẩm thép phế liệu là 49% và của nhựa là40% Năm 2010, tỷ trọng nhập khẩu của thép phế liệu là 43%, đạt giá trị2.125.256USD và của nhựa là 45%, đạt giá trị 2.224.105 USD Các sản phẩmthiết bị vệ sinh chỉ chiếm 12%, đạt giá trị 593.095 USD
Trang 35Biểu 2.5 : Sơ đồ thể hiện kim ngạch nhập khẩu theo cơ cấu hàng hóa :
Đơn vị : %
Nguồn : Báo cáo nội bộ của phòng xuất nhập khẩu
Trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu có sự tăng lên về tỷ trọng của sảnphẩm nhựa, tăng từ 40% lên 45% năm 2010, và tỷ trọng của sản phẩm thépphế liệu giảm từ 49% xuống 43%, đồng thời các sản phẩm thiết bị vệ sinhtăng từ 10% lên 12% Sự thay đổi trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu là do tìnhhình tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu trên thị trường trong nước và được thay đổitheo hướng tăng các sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao và giảm tỷ trọng hànghóa có tỷ suất lợi nhuận thấp Trong đó, thép phế liệu là sản phẩm có giá trịtrên một đơn vị sản phẩm cao, nên mặc dù đem lại doanh thu cao hơn so vớicác sản phẩm khác nhưng sản lượng tiêu thụ lại không cao Bên cạnh đó, sảnphẩm nhựa có tiềm năng tiêu thụ cao, đồng thời lại có tỷ suất lợi nhuận cao.Mặt khác, do nhu cầu của ngành thep trong năm 2010 giảm giá cả lại trồi sụt,nên kim ngạch nhập khẩu thép có phần giảm so với năm 2009 Trong khi đó,nhu cầu nhựa phục vụ sản xuất tăng nên nhập khẩu nhựa tăng so với năm
2009 và chiếm tỷ trọng cao nhất Các sản phẩm thiết bị vệ sinh mới chỉ ở giaiđoạn đầu kinh doanh và sẽ được tăng tỷ trọng vào các năm tới