Bài viết đi vào phân tích thực nghiệm thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp thông qua phân tích các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnhtranh, cụ thể tại: Công Ty Cổ Ph
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2TÓM TẮT
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế mạnh mẽ thì cạnh tranh cũng càng trở nên gay gắt hơn Việc nghiêncứu để hiểu biết một cách đầy đủ về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm có ý nghĩa rất quan trọng cho việc nâng caonăng lực cạnh tranh
Bài viết đi vào phân tích thực nghiệm thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp thông qua phân tích các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnhtranh, cụ thể tại: Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Sản Xuất Và Kinh Doanh Lâm Nghiệp
Hà Nội, từ đó giúp nhà quản lý Công Ty có cái nhìn bao quát về năng lực cạnhtranh tổng hợp của Công Ty mình, thông qua đó nhằm phát hiện và khắc phụcnhững mặt yếu kém đồng thời phát huy những lợi thế cạnh tranh của Công Ty, duytrì sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của Công Ty
Bài chuyên đề được xây dựng làm ba chương trong đó:
Chương I: Giới thiệu tổng quan về mặt lý thuyết của cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm: khái niệm, vai trò cạnh tranh, năng lực cạnhtranh, đưa ra những chỉ tiêu để đo lường và các nhân tố ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Đây là cơ sở để phân tích thực tiễn năng lực cạnhtranh ở chương tiếp theo
Chương II: Vận dụng lý thuyết đã nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh để phân tích năng lực cạnh tranh của một Công Ty, cụ thể: Công Ty CổPhần Dịch Vụ Sản Xuất Và Kinh Doanh Lâm Nghiệp Hà Nội,
Trong chương này được chia làm hai phần:
Phần 1: Giới thiệu tổng quan về Công Ty, gồm tên Công Ty, cơ cấu tổ chức
Công Ty, quá trình hình thành và phát triển, các lĩnh vực đăng ký kinh doanh
Phần 2: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công Ty gồm: Phân
tích các tiêu chí năng lực cạnh tranh qua đó so sánh với các doanh nghiệp để xácđịnh năng lực cạnh tranh và tìm ra điểm mạnh, điểm yếu trong năng lực cạnh tranhcủa Công Ty Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Công
Trang 3Ty Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công Ty thông qua tổng hợp đánhgiá về diểm mạnh điểm yếu, cơ hội và nguy cơ.
Chương III: Gợi ý những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công Ty
Dựa vào cơ sở lý thuyết và phân tích ở chương trước của Công Ty đã đưa ramột số giải pháp cụ thể nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 4
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khái lược lý thuyết và quan niệm
1.1.1 Khái lược về lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp
Cạnh tranh là một trong những đặc tưng cơ bản của kinh tế thị trường hiện nay
và đã thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế trên thế giới.Cạnh tranh có ý nghĩa quan trong đối với sự phát triển kinh tế ở các quốc gia, docách tiếp cận vấn đề khác nhau , nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau vềcạnh tranh, có các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyếtcạnh tranh tân cổ điển, lý thuyết cạnh tranh hiện đại Các trường phái trên ta chú ýtới trường phái hiện đại với nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh như sau:
Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bảntrong kinh tế thị trường
Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tiêu cực, cạnh tranh làđộng lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ
sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình.Tuy nhiên cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến tranh giành, giành giật, khống chếlẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn thâm chí đổ vỡ lớn Để phát huy được tích cực
và hạn chế tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểmsoát được độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinhdoanh
Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sangcạnh tranh trên cơ sở hợp tác, canh tranh không phải khi nào cũng đồng nghĩa vớiviệc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau
Thực tế cạnh tranh hiện đại trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã,giá cả và các dịch vụ hỗ trợ Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việctiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản
Chúng ta có thể hiểu cạnh tranh trong kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thểkinh tế nhằm giành được những điều kiện, nhân tố kinh doanh thuận lợi để đạt đượcmục tiêu kinh tế của mình, ví dụ như tăng doanh số, thị phần và tối đa hóa lợi nhuận
Trang 51.1.2 Tiến trình phát triển lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp
Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng
đã được nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách
hệ thống lại được bắt đầu khá muộn và mới từ cuối những năm 1980 đến nay
Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh củacác nhà kinh tế trên thế giới thì họ đều thống nhất rằng năng lực cạnh tranh vẫnchưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhậnmột cách thống nhất Có rất nhiều khuynh hướng nghiên cứu và nhiều trường pháivới những cách tiếp cận khác nhau về năng lực cạnh tranh
Khi tổng thuật tài liệu nghiên cứu năng lực cạnh tranh, một số tác giả nhưThorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005) chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm 1990đến nay , lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước sang thời kỳ “bùng nổ”với số lượng công trình nghiên cứu rất lớn Theo Thorne có 3 cách tiếp cận các lýthuyết năng lực cạnh tranh: lý thuyết thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chứccông nghiệp và trường phải quản lý chiến lược
Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới mặt cung, chủyếu quan tâm tới khâu “bán hàng”, của người sản xuất-kinh doanh Theo cách tiếpcận này tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả và do đó sự khác biệt vềgiá cả của hàng hóa, dịch vụ là tiêu chí chính để đo lường năng lực cạnh tranh Lýthuyết này chưa chú trọng đúng mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng như các yếu tố
về môi trường kinh doanh
Lý thuyết tổ chức công nghiệp nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên cơ sở xácđịnh các thông số tác động tới các hoạt động kinh doanh Cách tiếp cận chủ yếu dựatrên hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp nhấn mạnh tới mặt cầu của hàng hóa,dịch vụ, coi trọng các yếu tố ngoài giá hơn yếu tố giá cá Tuy nhiên cách tiếp cậnvẫn chưa chú trọng đúng mức về lý luận và chưa chú ý tới các yếu tố như vai tròcủa nhà nước hay chính sách
Trường phái quản lý chiến lược được coi là mô hình khá mạnh nghiên cứu vềnăng lực cạnh tranh trường phái này nghiên cứu và lý giải cơ sở lý thuyết về cạnhtranh, nghiên cứu nguồn lực bảo đảm cho năng lực cạnh tranh Theo công trìnhnghiên cứu của các tác giả Mỹ như Henricsson và các cộng sự (2004)…đã hệ thống,phân loại nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3 loại:
Trang 6nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên việc khaithác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh gắn quá trình.
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranhchú trọng vào các chỉ tiêu cơ bản gắn với các hoạt động kinh doanh trên thực tếnhư: thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v xu hướng nghiên cứu nàyđược chú trọng cho tới cuối những năm 1990 Theo xu hướng này thì doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu về hoạt động kinhdoanh hiệu quả như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp…Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản: Là xu hướng nghiên cứu nguồn hìnhthành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, côngnghệ, lao động Theo đó doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanhnghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả, đồng thời có lợi thế hơn khi tiếp cận nhữngnguồn lực này
Năng lực cạnh tranh theo quá trình: Là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnhtranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực này Bao gồm: quản lý chiếnlược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình công nghệ, các quá trình tác nghiệp xuhướng nghiên cứu này được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng và phát triển tới nay
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là phương thức hoạt độngcủa kinh tế thị trường Nếu coi kinh tế thị trưòng như một phạm trù kinh tế kháchquan, là tất yếu của lịch sử, thì cạnh tranh cũng như các đặc trưng khác của nó tồntại cũng là tất yếu cần phải nhận thức Thực ra, cạnh tranh có thể dẫn tới tăng lợicho người này và làm thiệt hại cho người khác nhưng trên phạm vi toàn xã hội cạnhtranh luôn có tác động tích cực
Cạnh tranh thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến:
Cạnh tranh hướng tới việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực khanhiếm:
Cạnh tranh làm cho hàng hóa trên thị trường ngày càng phong phú, thỏa mãnnhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người tiêu dùng:
Như vậy có thể nói rằng, cạnh tranh là một phương thức hoạt động của kinh tếthị trường, nó thúc đẩy sản xuất tăng trưởng, và đến lượt mình, tăng trưởng kinh tếnhanh và liên tục sẽ góp phần nâng cao đời sống và phúc lợi xã hội
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, kinh tế thị trường và cạnh tranh cũng có nhữngmặt hạn chế Vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp cạnh tranh với
Trang 7nhau, đổ xô vào những ngành, những nơi đầu tư có lợi, điều đó có thể dãn tới sựmất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế, đe dọa sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế bền vững, dẫn đến khủng hoảng sâu sắc Vì mục tiêu lợi nhuân nhiều doanhnghiệp có thể bất chấp thủ đoạn để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh hoặc lừa bịp ngườitiêu dùng bằng những sản phẩm kém phẩm chất hoặc chứa chất độc hai, ảnh hưởngtới sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường
1.1.4 Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Cho đến nay khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cáchthống nhất, có rất nhiều các quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh
Việc đưa ra một quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp cầnlưu ý những đặc thù của khái niệm này, theo như Henricsson và các cộng sự (2004)chỉ ra: đó là tính đa nghĩa, đa trị, đa cấp, phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tínhchất động và là một quá trình Ngoài ra còn một số vấn đề như:
Quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình
độ phát triển trong từng thời kỳ
Năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa cácdoanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khảnăng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm,khả năng sáng tạo sản phẩm mới
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnhtranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả phương thức hiệnđại, không chỉ dựa vào lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quychế Một vài khái niệm:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thịphần, thu lợi nhuận cao trong môi trường cạnh tranh cả ở trong nước và ở nướcngoài
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thếcạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sửdụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững
1.2 Đo lường và các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Tổng quan về đo lường và xác định tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Do chưa có khái niệm thống nhất nên việc đo lường và các tiêu chí đo lườngnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chưa có sự thống nhất
Trang 8Theo Wangwe (1995), Biggs và saturi (1997), chỉ tiêu đo lường năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp là hiệu quả kỹ thuật và năng suất; theo Cockburn (1997) đó
là hiệu quả tài chính theo nghĩa hẹp (lợi nhuận); theo Porter (1990), đó là khả năngduy trì lợi thế cạnh tranh (chi phí thấp và sự khác biệt về sản phẩm); theo Salinger(2001) đó là năng suất lao động năng lực vốn con người v v
Nhóm nghiên cứu của Flanagan (2005) đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu
và đo lường năng lực cạnh tranh ở nhiều nước với nhiều giác độ: quốc gia, ngành vàdoanh nghiệp Theo đó ở cấp độ doanh nghiệp có hai nhóm chỉ tiêu đo lường nănglực cạnh tranh là: mức thu lãi và năng suất Trong đó, mức thu lãi được tính bằngcác chỉ số như: tiền lãi trên doanh số, tiền lãi trên tổng vốn,…còn năng suất đượctính theo năng suất yếu tố (kết quả đầu ra trên mỗi yếu tố đầu vào) và năng suấttổng thể (tổng đầu ra trên tổng đầu vào)
Nghiên cứu của Momaya (2004) đã hệ thống hóa các tiêu chí đo lường nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp theo từng nhóm năng lực:
Khả năng khai thác và sử dụng tài sản gồm các chỉ tiêu liên quan tới; nguồnnhân lực, cơ cấu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, công nghệ
Năng lực vận hành các quá trình: quá trình quản lý chiến lược (năng lực quản
lý, chiến lược cạnh tranh, khả năng linh hoạt và thích ứng); quá trình sử dụng nguồnnhân lực (tài năng thiết kế và cải tiến); các quá trình công nghệ (đổi mới, các hệthống công nghệ, công nghệ thông tin); các quá trình tác nghiệp (sản xuất, chấtlượng…); các quá trình marketing (marketing, quản lý các mối quan hệ, năng lựcthuyết phục…)
Năng lực cạnh tranh hoạt động gồm các chỉ tiêu: năng suất, thị phần tài chính,
sự khác biệt, mức sinh lời, chi phí, giá cả, sự đa dạng sản phẩm, hiệu quả, tạo ra giátrị, đáp ứng nhu cầu khách hàng, phát triển sản phẩm mới
1.2.2 Các yếu tố cấu thành và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2.1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu tổng hợp, quan trọng, phản ánh năng lực cạnh tranh theo kết
quả đầu ra của doanh nghiệp Tiêu chí này gồm hai thành phần là thị phần và tốc độtăng thị phần của doanh nghiệp
Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, nếu doanhnghiệp có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác thì có nghĩa là năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp đó lớn hơn Tiêu chí này thường được đo bằng tỷ lệ doanh
Trang 9thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định
so với tổng doanh thu hay số lượng tiêu thụ trên thị trường
Trong một số trường hợp không tính được thị phần và tốc độ tăng trưởng thịphần người ta có thể sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh thu để thay thế Chỉtiêu này phản ánh sự thay đổi đầu ra của doanh nghiệp theo thời gian
1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp Do nhiệm vụ cơ bảncủa doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh nên nếu sản phẩm của doanh nghiệp cósức cạnh tranh thấp thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp không thể cao được nănglực cạnh tranh của sản phẩm dựa trên các yếu tố cơ bản như: chất lượng sản phẩmcao, giá cả hợp lý, mẫu mã hợp thời, đáp ứng nhu cầu khách hàng
Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp gồm các chỉ tiêu: chỉ tiêu kinh
tế (chi phí sản xuất, chi phí bảo đảm chất lượng, chi phí sử dụng, chi phí môitrường) và các chỉ tiêu kỹ thuật (công dụng, thẩm mỹ, an toàn vệ sinh, tiện dụng).Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh với tiêu chuẩn của ngành, của quốc gia, củaquốc tế Với các hàng hóa khác nhau thì các chỉ tiêu cụ thể của chúng cũng khácnhau Một số chỉ tiêu định tính như thẩm mỹ, tiện dụng thường được xác định thôngqua điều tra khách hàng
Giá cả sản phẩm: cho đến nay, đây vẫn là rất quan trọng cấu thành năng lựccạnh tranh của sản phẩm Nếu có cùng chất lượng như nhau thì hàng hóa có giá cảthấp hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn Còn khi có sự khác biệt về chất lượng thìgiá cả luôn được đặt trong sự so sánh với ích lợi do hàng hóa mang lại, độ bền, thẩmmỹ…
Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là chỉ tiêu thể hiện việc cung cấp chokhách hàng đúng hàng hóa, đúng thời điểm với giá cả hợp lý Đây là một chỉ tiêuđịnh tính, phản ánh khả năng kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp Để cung cấp
“đúng” đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt, bảo đảm các nguồn lực (nguyênnhiên liệu, thiết bị vốn…) ổn định, kiểm soát chất lượng tốt…Chỉ tiêu này được xácđịnh thông qua điều tra khách hàng
Dịch vụ đi kèm: bao gồm việc hướng dẫn sử dụng, theo dõi sử dụng, bảo trì,bảo hành Dịch vụ sau bán hàng là một yếu tố quan trọng tạo niềm tin cho kháchhàng, củng cố và phát triển quan hệ với khách hàng, nhờ vậy để nâng cao năng lựccạnh tranh của hàng hóa
Trang 101.2.2.3 Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tiêu chí này được thể hiện qua một số chỉ tiêu như: tỷ suất lợi nhuận, chi phítrên đơn vị sản phẩm v.v
Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp, được tính bằngtrị số tuyệt đối (chẳng hạn, bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị đầu vào) hoặc
số tương đối (tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận trung bìnhcủa ngành hoặc thị trường) Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận không phải là mục tiêuchủ yếu mà còn là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển Do vậy, đây là tiêu chí thểhiện mức độ đạt được mục tiêu hoạt động, phản ánh mặt chất lượng của năng lựccạnh tranh
Chi phí đơn vị sản phẩm: Chỉ tiêu này phản ánh lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp Chi phí đơn vị sản phẩm thấp hơn phản ánh năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp cao hơn
Chỉ số hiệu quả kỹ thuật: Là chỉ số đo mức độ sử dụng, khai thác các yếu tốsản xuất của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ sản lượng thực tế củadoanh nghiệp so với sản lượng tiềm năng hay sản lượng tối đa khi doanh nghiệp sửdụng hết các yếu tố đầu vào Chỉ tiêu này của doanh nghiệp càng cao thì tương ứngvới năng lực cạnh tranh càng cao, tức thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào(kỹ thuật) tốt hơn, hiệu quả hơn
1.2.2.4 Năng suât các yếu tố sản xuất
Các chỉ tiêu năng suất thường được sử dụng bao gồm: năng suất lao động,hiệu suất sử dụng vốn, năng suất yếu tố tổng hợp,…Năng suất phản ánh lượng sảnphẩm đầu ra so với đơn vị yếu tố đầu vào, là chỉ tiêu phản ánh năng lực khai thác,
sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp Đồng thời chỉ tiêu này còn phản ánhnăng lực đáp ứng nhu cầu của khách hàng, chi phí trên đơn vị sản phẩm và đơn vịthời gian Do đó, năng suất phản ánh mặt lượng của năng lực cạnh tranh doanhnghiệp Năng suất các yếu tố thể hiện bằng các chỉ tiêu sau đây:
Năng suất lao động: chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức sản xuất kinhdoanh, năng suất lao động được đo bằng tỷ số giữa doanh thu thuần và số lao độngtrung bình trong kỳ Đây là chỉ tiêu quan trọng để đán giá năng lực cạnh tranh, chỉtiêu này càng cao phản ánh năng lực cạnh tranh càng cao
Hiệu suất sử dụng vốn là tỷ lệ doanh thu thuần trên vốn kinh doanh (hoặc vốn
cố định và đầu tư dài hạn) của doanh nghiệp
Trang 11Năng suất sử dụng toàn bộ tài sản là tỷ số giữa doanh thu thuần trên tổng tàisản hay tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Năng suất yếu tố tổng hợp: là năng suất của các yếu tố ngoài vốn và lao động,thường được hiểu là năng suất của yếu tố khoa học, công nghệ Chỉ số này phản ánhtrình độ công nghệ, hàm lượng chất xám trong sản phẩm của doanh nghiệp Trongnền kinh tế hiện đại, đây là chỉ tiêu rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
1.2.2.5 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp
Kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế với nhiều biến động đòi hỏi doanh nghiệp có khả năngthích ứng cao và đổi mới nhanh chóng Đây là một chỉ tiêu đánh giả năng lực cạnhtranh “động”của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của thịtrường trong nước và quốc tế (sở thích, nhu cầu, giá cả, chất lượng, mẫu mã…) và
sự thay đổi trong môi trường kinh doanh như chính sách nhà nước, sự thay đổi củacác đối thủ kinh doanh, đối thủ cạnh tranh…Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phảiphản ứng linh hoạt và hiệu quả Đây được coi là tiền đề cho sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp, do đó đây cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất tạo
ra lợi thế cạnh tranh và phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điềukiện hiện nay Chỉ tiêu này được xác định bởi một số chỉ tiêu thành phần như: sốlượng cải tiến, sáng tạo sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất, tái cơ cấu doanhnghiệp, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật…
1.2.2.6 Khả năng thu hút nguồn lực
Khả năng thu hút nguồn lực không chỉ nhằm đảm bảo điều kiện cho hoạt độngsản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường, mà còn thể hiện năng lực cạnhtranh thu hút đầu vào của doanh nghiệp Nhờ việc thu hút các đầu vào có chất lượngcao như nguồn nhân lực có trình độ , tay nghề cao, công nghệ hiện đại, vật tưnguyên liệu, nguồn vốn…mà doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng, năng suất
và hiệu quả sản xuất kinh doanh Đây là một tiền đề nhằm đảm bảo nâng cao nănglực cạnh tranh trong dài hạn
1.2.2.7 Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp
Cạnh tranh trong điều kiện hiện nay không hoàn toàn đồng nghĩa với tiêu diệtlẫn nhau mà đặt trong sự liên kết và hợp tác để cạnh tranh cao hơn Do vậy, khảnăng liên kết, hợp tác được coi là tiền đề cho hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồngthời đây cũng là một tiêu chí định tính của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 12Tiêu chí này thể hiện qua số lượng và chất lượng các mối quan hệ với các đối tác,các liên doanh, hệ thống mạng lưới kinh doanh theo lãnh thổ.
1.2.2.8 Chỉ tiêu tổng hợp về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Để có thể so sánh năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, người ta thườngtính chỉ tiêu tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việc tính toán và sosánh chỉ tiêu này có nhiều cách tiếp cận, có thể lập bảng hoặc mô hình hóa các chỉtiêu
1.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố có tính quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như năng lực cạnh tranh Trình độ tổchức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện trên các mặt:
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện bằng những kiến thức cầnthiết để quản lý và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối ngoại củadoanh nghiệp Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn màcòn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực liên quantới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thịtrường, ngành hàng,…đến kiến thức về xã hội, nhân văn Ở nhiều nước, trình độ vànăng lực của giám đốc doanh nghiệp nói riêng và đội ngũ cán bộ quản lý doanhnghiệp nói chung không chỉ được đo bằng bằng cấp của các trường quản lý danhtiếng, mà còn thể hiện ở tính chuyên nghiệp, ở tầm nhìn xa trông rộng, cố óc quansát, phân tích, nắm bắt cơ hội kinh doanh, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn
đề thực tiễn đặt ra Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý tác động trực tiếp và toàndiện tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thông qua việc hoạch định
và thực hiện chiến lược, lựa chọn phương pháp quản lý, tạo động lực trong doanhnghiệp…Tất cả các việc đó không chỉ tạo ra không gian sinh tồn và phát triển củasản phẩm, mà còn tác động đến năng suất, chất lượng, giá thành, sản phẩm và uy tíncủa doanh nghiệp v.v
Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu
tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việchình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệulực cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra quyết
Trang 13định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý doanhnghiệp.Nhờ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạchđịnh chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp…Điều này có ýnghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cả trong ngắnhạn và dài hạn, do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị cộng nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tớinăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thờigian sản xuất, giảm tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm,nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế quan trọng đối với sản phẩm của doanhnghiệp.Công nghệ còn tác động tới tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng caotrình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp Để có công nghệ phù hợp,doanh nghiệp cần có thông tin về công nghệ, chuyển giao công nghệ, tăng cườngnghiên cứu cải tiến công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tăng cường ứng dụng công nghệthông tin, đầu tư đổi mới công nghệ Đồng thời, doanh nghiệp cần đào tạo nâng caotrình độ tay nghề để sử dụng có hiệu quả công nghệ hiện đại
Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Lao động là một yếu tố có tính quyết định của lực lượng sản xuất, có vai tròrất quan trọng trong sản xuất xã hội nói chung và trong cạnh tranh kinh tế hiện nay.Một trong những nhà kinh tế học hàng đầu của Mỹ là L.Thurow cho rằng vũ khícạnh tranh quyết định trong thế kỷ XXI là giáo dục và kỹ năng của người lao động.Trong doanh nghiệp lao động vừa là yếu tố đầu vào, vừa là lực lượng trực tiếp
sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Laođộng còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóaquá trình sản xuất và thậm chí còn góp sức vào những phát kiến, sáng chế…Do vậy,trình độ của lực lượng lao độngtác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo củasản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng xuất và chi phí của doanh nghiệp Đây là mộtyếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao sứccạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo dảm cả chất lượng lẫn số lượng laođộng, nâng cao tay nghề của người lao động Doanh nghiệp cần chú trọng công tácđào tạo, nâng cao tay nghề dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thỏa đáng, khuyếnkhích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế và cải tiến…
Trang 14Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả nănghuy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính…trong doanhnghiệp Trước hết năng lực tài chính gắn với vốn là một yếu tố sản xuất cơ bản và làmột đầu vào của doanh nghiệp Do đó, việc sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòngvốn nhanh…có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sảnphẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác Việc huyđộng vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhân công, mua sắm thiết
bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ…Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sứcmạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu doanhnghiệp muốn thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh củamình
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triểnnguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức Đồng thời, điểmquan trong là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hoạt động kinhdoanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, với ngân hàng, và những ngườicho vay vốn
Năng lực marketing của doanh nghiệp
Là khả năng lắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P(product, place, price, promotion) trong hoạt động marketing, trình độ nguồn nhânlực marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêuthụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quantrọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu phát triển doanh nghiệp
Là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiếu
bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, khả năng đổi mới sản phẩmcủa doanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cảitiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năngsuất, hợp lý hóa sản xuất Do vậy, năng lực nghiên cứu và phát triển của doanhnghiệp là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng mạnh tới năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Năng lực này càng quan trọng trong điều kiện cách mạng khoa học côngnghệ diễn ra mạnh mẽ trên thế giới hiện nay
Trang 15Ngoài ra, một số yếu tố khác như lợi thế vị trí địa lý, ngành nghề kinh doanhcủa doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp…có ảnh hưởng năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Trên cơ sở khai thác tốt các yếu tố bên trong doanh nghiệp sẽ gópphần tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.2.Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Thị trường
Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng đối với doanh nghiệp Thịtrường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm các đầu vào thông qua hoạt động muabán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường còn là công cụ địnhhướng, hướng dẫn các hoạt động của doanh nghiệp, thông qua mức cầu, giá cả , lợinhuận…để định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh Như vậy, sự ổn định củathị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung
và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Để phát huy vai trò của cácyếu tố thị trường đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp của nhà nước vào thịtrường nhằm ổn định thị trường (hạn chế những biến động lớn của thị trường), tạolập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực và hiệu quả, chống gian lận thươngmại, hạn chế độc quyền kinh doanh,…Điều quan trọng là tạo lập môi trường thịtrường cạnh tranh tích cực, tăng sức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất,ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm,…tạođộng lực để cho doanh nghiệp vươn lên
Để tạo lập và duy trì môi trường thị trường ổn định và hiệu quả, Nhà nước cầnxây dựng và thực hiện tốt pháp luật nhằm khuyến khích cạnh tranh tích cực, chốngđộc quyền, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xử lý nghiêm các hành vi gian lận thươngmại…Trong điều kiện thị trường cạnh tranh lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệpmới cố điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Ngoài ra cầntạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũngnhư nhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp
Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp.Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháphạn chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngànhnghề, địa bàn,…Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tàichính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường,…nghĩa là các biện pháp điều tiết cảđầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Do vậy,
Trang 16đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạtđộng của doanh nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nói riêng.
Thể chế, chính sách về đầu tư nhằm tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi và antoàn, kích thích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào ngành, lĩnhvực, địa bàn, sản phẩm mới Thể chế, chính sách đầu tư có tác dụng nâng cao hiệuquả sử dụng vốn đầu tư, tiết kiệm thời gian, nguồn lực, giảm chi phí đầu tư củadoanh nghiệp …
Thể chế, chính sách về đất đai, vốn, công nghệ, lao động v.v nhằm tạo điềukiện cho doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi các yếu tố đầu vào, kích thích và điều tiếtviệc sử dụng chúng hiệu quả hơn, đồng thời tạo tiền đề cho các doanh nghiệp giảmchi phí sử dụng các đầu vào
Thể chế, chính sách về thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo môitrường bình đẳng đối với các doanh nghiệp
Các thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp có thể được đánh giá theo từngchính sách hoặc bằng chỉ tiêu tổng hợp với nhiều cách tiếp cận khác nhau chẳnghạn, để đánh giá việc thực hiện thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp ở ViệtNam, Quỹ châu Á và Phòng Thương mại, Công nghiệp Việt Nam đã tiến hànhnghiên cứu, đánh giá môi trường kinh doanh với 9 chỉ tiêu thành phần; về đăng kýkinh doanh, chính sách đất đai, tình hình thanh tra kiểm tra, chính sách phát triển,tính minh bạch, chi phí giao dịch, tính năng động của chính quyền
Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm
hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục đàotạo…Đây là tiền đề quan trọng tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnhhưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Diễn đàn kinh tế thế giới đã sử dụngtới 8 tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong số 56 tiêu chí đánh giá về môi trườngkinh doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranh của quốc gia
Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lựccạnh tranh , cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt Điều đó đòihỏi sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tàng kinh tế xã hội
Trình độ nguồn nhân lực
Trình độ nguồn nhân lực của quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đốivới sự phát triển của doanh nghiệp Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong xu
Trang 17hướng chuển sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực của quốc giahay vùng lãnh thổ là yếu tố được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu
tư Trình độ và các điều kiện về nguồn lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn nhân lực,mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và an toàn, đầu tư cho đàotạo, vai trò của công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần chú trọnggiáo dục và đào tạo, tạo mọi điều kiện để các cơ sở đào tạo, các hoạt động đào tạophát triển thông qua cơ chế, chính sách và các biện pháp khác của Nhà nước
Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
Trong nền sản xuất hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì sựliên kết, hợp tác cũng phát triển mạnh mẽ Thực tế chỉ ra rằng, khi trình độ sản xuấtcàng hiện đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn, sự chuyên môn hóa càng cao Cácngành công nghiệp phụ trợ không những tác động đến thời gian sản xuất, năng suất,chất lượng mà còn ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm của nhiều doanh nghiệp Đểphát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ cần tạo điều kiện cho sự ra đời vàphát triển ngành này
Trang 18CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN DỊCH VỤ, SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH
LÂM NGHIỆP HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Công Ty
2.1.1 Tên và địa chỉ công ty
Công ty Với tên Giao dịch: Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Sản Xuất Và KinhDoanh Lâm Nghiệp Hà Nội
Tên quốc tế: Ha Noi Forestry Service, Production And trading Joint StockCompany
Địa chỉ: số nhà 78, khu tập thể Nông Lâm, Xã Đông Ngạc, Huyện Từ Liêm,
Hà Nội
Điện thoại: 048 384 726 Fax 042249321
Văn phòng Giao dịch: Phòng 1601 – Tầng 16 – Tòa nhà Công Ty Lắp MáyĐiện Nước – Số 198 Nguyễn Tuân – Thanh Xuân – Hà Nội
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103013399 cấp ngày 07 tháng 08năm 2004 của Sở Kế Hoạch và Đầu Tư thành phố Hà Nội
2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh
Công ty kinh doanh những ngành nghề sau:
Trồng rừng;
Thi công các công trình lâm nghiệp, cây xanh đô thị;
Đào tạo chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật lâmnghiệp;
Sản xuất, buôn bán hàng lâm sản (trừ lâm sản nhà nước cấm);
Sản xuất, mua bán và nghiên cứu các loại giống cây trồng lâm nghiệp;
Dịch vụ vận tải hành khách và vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ;
Buôn bán vật tư thiết bị ngành lâm nghiệp;
Xây dựng công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, các công trình điện;
Kinh doanh và khai thác các mặt hàng kim loại, khoáng sản theo quyđịnh của pháp luật
Kinh doanh thiết bị, vật liệu xây dựng;
Kinh doanh bất động sản;
Trang 192.1.3 Sự hình thành và phát triển của công ty
Vốn điều lệ của công ty: 19.800.000.000 đồng (Mười chín tỷ tám trămtriệu đồng)
Chi nhánh của công ty:
Hiện tại công ty có 3 chi nhánh đang hoạt động và hạch toán độc lập:
Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Sản Xuất Và Kinh Doanh Lâm Nghiệp HàNội – Chi Nhánh Quảng Nam
Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Sản Xuất Và Kinh Doanh Lâm Nghiệp HàNội – Chi Nhánh Yên Bái
Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Sản Xuất Và Kinh Doanh Lâm Nghiệp HàNội – Chi Nhánh KonTum
2.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công Ty
2.2.1 Đặc điểm và triển vọng thị trường các lĩnh vực Công Ty đang kinh doanh
Hiện tại Công Ty đang tham gia kinh doanh vào các lĩnh vực: Lĩnh vực Xâydựng, Lâm nghiệp và khai thác khoáng sản Trong đó lĩnh vực xây dựng và khaithác khoáng sản là hai ngành đem lại doanh thu chủ yếu cho Công Ty trong nhữngnăm qua, còn lại là doanh thu từ lĩnh vực Lâm nghiệp và một số hoạt động khác Cơcấu doanh thu thể hiện bảng dưới đây:
Biểu 2.1: Bảng cơ cấu doanh thu từ các lĩnh vực kinh doanh chính tại công ty
Bảng 2.2.1 ngNg uồn tổng hợp từ phòng kế toán
Trang 20 Thời gian xây dựng công trình thường kéo dài, chi phí lớn: Điều này làmcho vốn đầu tư xây dựng của chủ đầu tư và vốn sản xuất của doanhnghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại công trình Vì vậy việc tổ chức,quản lý sản xuất tốt đẩy mạnh tiến độ thi công, sớm đưa công trình vào sửdựng là biện pháp quan trọng để hạn chế tác động ngẫu nhiên như củathiên tai, biến động giá cả…
Sản phẩm thường phải qua một quá trình lao động lâu dài mới có thể đưavào sử dụng
Sản phẩm xây dựng được bán theo giá dự toán, giá tính toán với chủ đầu
tư được xác định trên dự toán công trình
Sản xuất xây dựng được cố định tại một vị trí nhất định, quá trình xâydựng được sản xuất ngoài trời: Do vậy các điều kiện sản xuất phục vụcông trình đều phải di chuyển theo công trình
Triển vọng về thị trường:
Hiện nay, chỉ tính riêng nhu cầu cho đầu tư cơ sở hạ tầng của việt nam làkhoảng 16 tỷ USD/ năm Từ nay đến năm 2020, vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạtầng sẽ vẫn tiếp tục tăng và chiếm khoảng 10-11% GDP, điều này cho thấy nhu cầuthị trường là rất lớn chưa kể đến các dự án đầu tư của doanh nghiệp Như năm 2009
cả nước đã đầu tư 60 nghìn tỷ đồng để đầu tư vào hạ tầng nhưng so với nhu cầu thịtrường thì vẫn còn rất hạn chế Tuy vậy cạnh tranh trong ngành này cũng rất lớntrong đó có thể kể đến những Công Ty đầu ngành chiếm thị phần lớn như các tổngcông ty của khối doanh nghiệp nhà nước được nhiều ưu ái như: Vinaconex, Dầukhí, Lilama, Sông Đà, các tổng công ty của Quốc phòng, hay những tổng Công ty
Trang 21của tư nhân và Công ty cổ phần và còn rất nhiều các Công ty vừa và nhỏ khác thamgia vào thị trường Việc cạnh tranh những dự án có quy mô vốn lớn và đòi hỏi kỹthuật khó trong thi công của Công Ty hiện nay là rất khó thực hiện, tuy nhiên vớinhững dự án trung bình, vừa và nhỏ hoặc tham gia thầu phụ lại có nhiều triển vọngcạnh tranh cho Công Ty phát triển tốt.
2.2.1.2 Lĩnh vực khai thác tài nguyên
Tài nguyên là dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình hình thành
và phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và con người Các dạng vật chất nàycung cấp nguyên – nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh
tế, xã hội của con người
Công ty hiện nay đã và đang đầu tư các dự án khai thác vật liệu xây dựng nhưcát, sỏi… Khai thác khoáng sản vàng như dự án: tại Hòa Bình, Đà Nẵng, Kon Tum
Về thị trường:
Thị trường vật lệu xây dựng: Cùng với nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầngtăng lên thì nhu cầu vật liệu xây dựng trên thị trường như: cát, sỏi… cũng tăng theo.Mặt khác nhu cầu trong Công Ty cũng ngày càng tăng lên, vì vậy một phần khaithác được phục vụ cho chính nhu cầu của Công Ty, phần còn lại bán ra thị trường
Thị trường vàng: Những năm gần đây thị trường vàng trong nước cũng nhưquốc tế biến động rất lớn, trong nước việc khai thác diễn ra tự phát, khai thác manhmún, lãng phí Việc buôn lậu trái phép diễn ra phức tạp, Công Ty đã khảo sát và đầu
tư công nghệ hiện đại khai thác, nộp đơn và đã được cấp phép khai thác một số mỏvàng khoáng tại Kon tum, Đà Nẵng, Hòa Bình….những dự án này đã đem lại lợiích kinh tế cao cho Công Ty
2.2.1.3 Lĩnh vực lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân, cónhiệm vụ trồng cây, gâp rừng, chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng, khai thác, vậnchuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng Đồng thời duy trì tác dụng phòng hộnhiều mặt của rừng Các đặc điểm sau:
Ngành có chu kỳ sản xuất dài, đối tượng sản xuất là những cơ thể sống: Tính
từ khi trồng cây cho tới khi thu hoạch có khi tới hàng chục năm, ngắn ngàycũng ít nhất từ 5 đến 10 năm (keo, tre ) Vì vậy đầu tư là lớn và thu hồi vốnchậm
Sản xuất lâm nghiệp có tính thời vụ: Do quy luật sinh trưởng và phát triểncủa cây trồng vật nuôi quyết định, tùy từng nơi, tùy từng loại cây trồng mà
Trang 22có thời vụ trồng, sinh trưởng khác nhau Điều này dẫn tới trong chu kỳ sảnxuất của cây trồng có những lúc đòi hởi nhiều lao động và ngược lại.
Sản xuất lâm nghiệp vừa có tính chất nông nghiệp vừa có tính chất côngnghiệp: Tính nông nghiệp ở khâu như trồng cây, chăm sóc, bảo vệ…tínhcông nghiệp ở khâu như thu hoạch, chế biến…
Sản xuất lâm nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ giữa tái sinh rừng và khai thácrừng: Trồng rừng là điều kiện để khai thác rừng
Sản xuất lâm nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng lớn, ở những vùng có điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khó khăn:
Triển vọng thị trường:
Hiện nay Công Ty đang triển khai dự án trồng 1000 ha tại xã Xuân Long, huyệnYên Bình, tỉnh Yên Bái, làm vùng nguyên liệu cho nhà máy sản xuất và chế biến gỗđang xây dựng gần dự án và hợp đồng liên doanh hợp tác, mua bán sản phẩm từrừng đã được ký kết giữa Công Ty và đối tác
2.2.2 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu Năng lực cạnh tranh tại Công ty
2.2.2.1 Thị phần và năng lực chiếm lĩnh thị phần
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, do Công Ty thamgia nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh khác nhau mà thị phần lại nhỏ, vì vậychỉ tiêu này được đánh giá thông qua chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh thu Quansát bảng sau:
Bảng 2.1 Bảng chỉ tiêu doanh thu của cCông ty
Bảng chỉ tiêu doanh thu của công ty
2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Doanh thu
Nguồn tính toán theo số liệu Phòng kế toán
Bảng tăng trưởng doanh thu so sánhchung của doanh nghiệp
Chỉ tiêu Trung bình một DN Việt Nam Trung bình một DNCP ngoài
Trang 23Bảng 2.2.Bảng tăng trưởng doanh thu chung của doanh nghiệp
2.1a Nguồn tính toán theo số liệu Phòng kế toán
Nguồn: Bảng 2.2.2.1b Tổng hợp từ tổng cục thống kê
Từ bảng trên ta có thể thấy Doanh thu của Công Ty liên tục tăng qua các năm
từ năm 2005 tới nay, nếu lấy năm 2006 và năm 2007 để so sánh về năng lực chiếmlĩnh thị phần của Công Ty với năng lực chiếm lĩnh thị phần của trung bình mộtdoanh nghiệp Việt Nam thì rõ ràng Công Ty có năng lực chiếm lĩnh thị cao hơn.Nếu so sánh với mức trung bình của một doanh nghiệp cổ phần không có vốn nhànước ta thấy năm 2006 Công Ty tăng trưởng doanh thu đạt mức khá cao 19%, năm
2007 đạt 23% nhưng lại thấp hơn so với 41.7% khối công ty cổ phần không vốn nhànước Sang năm 2008 tăng trưởng doanh thu của Công Ty lại rất ấn tượng đạt 53%,năm 2009 là 21%
Nhìn chung trong giai đoạn từ năm 2005 – 2009 Công ty đã liên tục mở rộngthị phần của mình với mức cao 2 con số Điều này cho thấy Công Ty có thể tồn tại
và phát triển tốt, có chỗ đứng trên thị trường
2.2.2.2 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phản ánh kết quả thu được của doanhnghiệp so với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra Chỉ tiêu hiệu quả quan trọng nhất làlợi nhuận hay suất lợi nhuận trên vốn và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Các chỉtiêu này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2.2.a 3: Bảng hiệu quả kinh doanh của Công tyTổng hợp theo số liệu
phòng kế toán
Trang 24Bảng hiệu quả kinh doanh của Công ty Chỉ tiêu
Đơn vị
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Nguồn: Tổng hợp theo số liệu phòng kế toán
Bảng 2.4: Bảng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt nam
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam Loại doanh
Bảng 2.2.2.b Nguồn theo TS Nguyễn Hữu Thắng tổng hợp
Từ bảng 2.3 2.2.2a trên ta thấy lợi nhuận trên vốn của Công Ty có xu hướngtăng trong giai đoạn 2004 – 2007, từ mức 2.4 đồng/100 đồng vốn lên 6.2 đồng/100đồng vốn Tương ứng lợi nhuận trên doanh thu cũng vậy từ 2.4 đồng/100 đồngdoanh thu tăng lên 2.9 đồng/100 đồng doanh thu Nhưng trong giai đoạn 2007 –
2009 hai chỉ tiêu trên lại có xu hướng giảm
Trang 25Ta so sánh hai chỉ tiêu trên với các doanh nghiệp việt nam trong năm 2004 và
2005 ở bảng 2.42.2.b thì thấy: Công Ty có hiệu quả hoạt động cao hơn so với nhómcông ty cổ phần không có vốn nhà nước Năm 2005 chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn củaCông Ty là 4.8% cao hơn mức chung cả nước 4.42% và cao hơn hẳn khối doanhnghiệp cổ phần không vốn nhà nước 1.57% và có vốn nhà nước 3.32%, điều nàycho thấy Công ty hoạt động kinh doanh tương đối hiệu quả
Nhìn bảng trên ta thấy xu hướng giảm dần các chỉ tiêu trên điều này cho thấymức độ cạnh tranh ngày càng tăng đã làm lợi nhuận giảm đáng kể trong giai đoạnhiện nay
Bảng hiệu quả kinh doanh của Công ty Chỉ tiêu
Đơn vị
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
2.2.2.3 Năng suất các yếu tố
Bảng 2.5: Bảng hiệu quả kinh doanh của Công ty
Nguồn: Bảng 2.2.2.3.a Tổng hợp từ phòng kế toán
Bảng 2.6: Bảng So Sánh với cả nước
Bảng So Sánh với cả nước Chỉ tiêu
Trang 26ngày càng sử dụng tốt tài sản của mình Về năng suất lao động, không tính năm
2004 vì Công Ty mới thành lập nên chưa có nhiều doanh thu vì vậy công việc ít, do
đó năng suất lao động chỉ đạt 158 triệu đồng, kể từ năm 2005 trở đi chỉ tiêu này củaCông Ty luôn đạt mức trên 300 triệu như năm 2008 đạt 404 triệu, năm 2009 đạt 399triệu
Quan sát bảng 2.62.2.3.b trên ta thấy: Từ năm 2004-2007 có thể thấy trungbình một doanh nghiệp Việt Nam tỷ lệ doanh thu trên tài sản là thấp chỉ từ 0.8 đồngdoanh thu trên 1đồng tài sản, chỉ bằng chưa tới một nửa Của Công Ty Vơi Doanhnghiệp Cổ Phần Thì Cũng tương tự Vì vậy Với chỉ tiêu này Công ty đang ở mứckhá cao so với mặt bằng chung Điều này có thể tốt trong những năm đầu tuy nhiênđiều này cũng cho thấy rằng Công Ty trong thời gian qua là chú trọng nhiều vàocông nghệ sử dụng nhiều lao động, suất đầu tư thấp và chưa chú trọng vào đầu tưchiều sâu công nghệ hiện đại, vì vậy trong dài hạn điều này cũng sẽ ảnh hưởng tớinăng lực cạnh tranh, dài hạn nguy cơ lạc hậu về công nghệ của công ty là rất caonếu không cải thiện
Về năng suất lao động: Thì ta thấy chỉ tiêu này của Công Ty lại thấp hơn sovới mức trung bình cả nước trong giai đoạn 2004-2007, nhưng lại cao hơn trungbình của công ty cổ phần không vốn nhà nước, chỉ thấp hơn trong năm 2007 Điềunày cho ta thấy rằng chất lượng người lao động của Công Ty là khá tốt so với nhómCông Ty cổ phần tư nhân, tuy vậy so với chung của cả nước thì vẫn còn thấp
2.2.2.4 Khả năng thu hút các nguồn lực
Khả năng thu hút các nguồn lực có vai trò quan trọng thể hiện năng lực cạnhtranh chiếm lĩnh đầu vào của doanh nghiệp đồng thời cũng thể hiện năng lực cạnhtranh giữa các doanh nghiệp với nhau Hai chỉ tiêu quan trọng đó là chỉ tiêu thu hútvốn tín dụng của doanh nghiệp và chỉ tiêu thu hút lao động chất lượng của doanhnghiệp