Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp: Theo Fafchams: Khả năng cạnh tranh của một doa
Trang 1MỤC LỤC
Th ph n c a doanh nghi p/ th ph n c a các ị ầ ủ ệ ị ầ ủ đối th c nh tranhủ ạ 9
Doanh thu/ doanh thu c a các ủ đối th m nh nh tủ ạ ấ 10
T l chi phí marketing/ t ng doanh thuỷ ệ ổ 10
T su t l i nhu nỷ ấ ợ ậ 10
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý hoạt động bán hàng của công ty cổ phần dịch vụ máy văn phòng A&D 18Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Công ty A&D trong các năm 2009, 2010 và 2011 Error: Reference source not foundBiểu 2.2: Mẫu danh mục hàng hoá Error: Reference source not foundBiểu 2.3: Mẫu danh mục khách hang Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ hình thức bán hàng tại Công ty A&D Error: Reference sourcenot found
Bảng 3.1: Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2012 Error: Reference source notfound
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam từ khi xóa bỏ cơ chế kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Trong điều kiện đó, một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, nếu muốn đứng vững và tồn tại trên thị trường thì cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi Doanh nghiệp chỉ có thể chiến thắng được các đối thủ trên thị trường khi không ngừng hoàn thiện và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Vì vậy, việc nâng cao khả năng cạnh tranh dã trở thành một vấn đề quan trọng hàng đầu mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm
Công ty cổ phần dịch vụ máy văn phòng A&D là một công ty tư nhân, tuy thành lập chưa được lâu, nhưng bằng nhiều biện pháp hiệu quả, công ty đã đạt được nhiều thành công đáng kể trong thời gian qua Và hiện nay, công ty vẫn đang tiếp tục tìm ra được hướng đi đúng đắn cho mình để ngày càng phát triển cao hơn nữa
Qua một thời gian thực tập tại công ty cổ phần dịch vụ máy văn phòng
A&D, tôi dã quyết định chon đề tài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của công
ty cổ phần dịch vụ máy văn phòng A&D” để viết chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những cơ sở nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cố phần dịch vụ máy văn phòng A&D
Chương 2: Thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty cố phần dịch vụ máy văn phòng A&D
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cố phần dịch vụ máy văn phòng A&D
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ MÁY VĂN PHÒNG A&D
1.1 KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1.1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp:
Theo Fafchams: Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường theo cách hiểu này doanh nghiệp nào sản xuất ra các sản phẩm tương tự như của các doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh
Randall lại cho rằng: Khả năng cạnh tranh là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định
Theo Dunning: Khả năng cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó
Một quan niệm khác cho rằng: Khả năng cạnh tranh là trình độ công nghệ sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường đồng thời duy trì được thu nhập của mình
Có thể thấy rằng các quan niệm đứng trên các góc độ khác nhau nhưng chung quy lại đều nói tới việc chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận Từ các quan điểm nêu trên, có thể tổng quát lại một quan niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra
Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn để tồn tại và phát triển được, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là quá trình lâu dài và liên tục Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó
Trang 51.1.2 Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế cạnh tranh của nó Ưu thế mạnh được hiểu là những đặc tính hoặc những thông
số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có được ưu việt, sự vượt trội hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:
Uy tín của doanh nghiệp: Đây là một yếu tố rất quan trọng, nó đánh giá sự tin tưởng của khách hàng vào doanh nghiệp Việc tạo được uy tín tốt đối với khách hàng là cơ sở tạo nên sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Từ đó giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng về phía mình hơn
Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu: Ảnh hưởng đến một loại sản phẩm với nhãn hiệu cụ thể của doanh nghiệp Nhãn hiệu càng nổi tiếng thì khách hàng càng tin tưởng hơn đối với sản phẩm của doanh nghiệp Vì thế việc xây xựng hình ảnh, nhãn hiệu là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp
Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển
Sự linh hoạt, nhạy bén của những người quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy bén của những người quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển trên thị trường.Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường: Bao gồm những phương pháp chiến thuật, chiến lược trong kinh doanh Đây là một tài sản vô hình tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Vị thế của doanh nghiệp trên thương trường: Được đánh giá trên cơ sở uy tín, hình ảnh, thị phần… Những doanh nghiệp có vị thế cao trên thương trường rất thuận lợi trong cạnh tranh Những công ty này có khả năng đa dạng hoá sản phẩm, phát triển thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh
Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Tiêu chuẩn chất lượng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lượng sản phẩm của mình Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ làm cho khách hàng tin tưởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ
Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường là tương đối đồng nhất thì việc giảm giá bán là một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 61.1.3 Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép
từ các đối thủ cạnh tranh Để tồn tại và phát triển được trong điều kiện như vậy, mỗi doanh nghiệp đều có những công cụ riêng của mình để tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường Các công cụ thường được sử dụng là: giá cả, sản phẩm, hệ thống phân phối, các hoạt động xúc tiến
•Cạnh tranh bằng đặc tính sản phẩm và chất lượng sản phẩm:
Khi nói về sản phẩm, người ta thường quy nó về một hình thức tồn tại vật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể quan sát được Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm - hàng hoá ở một phạm vi rộng lớn hơn Cụ thể là:
Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách hàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo
Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng Theo ISO 8402, chất lượng là tập hợp các tính chất, đặc trưng của một sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn
Sản phẩm và chất lượng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường, bởi vì khách hàng luôn có xu hướng
so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất Người tiêu dùng thường quan tâm trước tiên đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiều lúc họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao để có được sản phẩm tốt hơn
Sản phẩm được doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tăng khả năng cạnh tranh bằng cách làm ra các sản phẩm có chất lượng cao nhằm phục vụ một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, hoặc là tạo ra sự khác biệt để thu hút khách hàng Mặt khác doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng càng cao thì uy tín và hình ảnh của nó trên thị trường cũng càng cao Đồng thời chất lượng sản phẩm tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với các nhãn hiệu của doanh nghiệp Vì vậy nó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn và lâu dài cho doanh nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh
Chính vì vậy việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là rất cần thiết Tuy nhiên
để có căn cứ đánh giá chất lượng, doanh nghiệp phải xác định các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: chỉ tiêu về hình dáng màu sắc kích thước, trọng lượng,
Trang 7Thực tế cho thấy các doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh đều có thái
độ tích cực như nhau trong quản lý chất lượng sản phẩm Nguyên tắc chung của
họ là đảm bảo chất lượng tuyệt đối với độ tin cậy cao khi sử dụng và tính trung thực trong quan hệ mua bán Chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảo không thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp Do
đó, để tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải đảm bảo chất lượng sản phẩm
•Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm:
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá Nó thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán Đối với các doanh nghiệp, giá cả trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế Còn đối với người mua, giá hàng hoá luôn được coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần “được” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá Vì vậy, những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các chiến lược cạnh tranh của mình
Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá bán cũng là công cụ cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp Giá cả tác động rất lớn đến cạnh tranh, chúng thường được sử dụng khi doanh nghiệp mới ra thị trường hoặc khi muốn thâm nhập vào một thị trường mới hoặc muốn tiêu diệt một đối thủ cạnh tranh khác Cạnh tranh
về giá sẽ có ưu thế hơn đối với các doanh nghiệp có vốn và sản lượng lớn hơn nhiều so với các đối thủ khác
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện thông qua chính sách định giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với các loại thị trường của mình trên
cơ sở kết hợp một số chính sách, điều kiện khác Định giá là việc ấn định có hệ thống giá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng Có các chính sách định giá sau:
Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị trường để
thu hút khách hàng về phía mình Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện nó phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro Nếu thành công nó sẽ giúp cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường
cũ, thâm nhập vào thị trường mới và bán được khối lượng sản phẩm lớn
Chính sách định giá ngang thị trường: Đây là chính sách định giá phổ biến,
doanh nghiệp sẽ định giá bán sản phẩm của mình xoay quanh mức giá bán trên thị trường của các đối thủ khác Với chính sách này, doanh nghiệp phải tăng cường công tác tiếp thị, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đứng vững trên thị trường
Trang 8Chính sách định giá cao: Là chính sách giá bán sản phẩm cao hơn giá
thống trị trên thị trường, cao hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm Chính sách này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ độc quyền hoặc với doanh nghiệp có chất lượng cao hơn hẳn Chính sách này giúp cho các doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch
Chính sách định giá phân biệt: Nếu đối thủ cạnh tranh chưa có chính sách
phân biệt thì đây là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh nghiệp Chính sách này được thể hiện là với cùng một loại sản phẩm nhưng có nhiều mức giá khác nhau và các mức giá đó được phân biệt theo nhiều tiêu thức khác nhau Ví dụ người mua nhiều được ưu đãi giá hơn so với người mua ít (phân biệt theo lượng mua), người thanh toán ngay được ưu đãi giá hơn so với người trả chậm (phân biệt theo phương thức thanh toán) Ngoài ra còn có phân biệt theo lượng mua, theo phương thức thanh toán, theo thời gian…
Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường, thậm
chí còn thấp hơn cả giá thành Doanh nghiệp sử dụng chính sách này nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường Nhưng để làm được điều này doanh nghiệp phải có thế mạnh về tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ và uy tín trên thương trường Việc bán phá giá chỉ thực hiện trong thời gian nhất định để có thể loại bỏ được những đối thủ nhỏ, khó loại bỏ được những đối thủ lớn Tuy nhiên trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không được sử dụng chính sách này
do luật chống bán phá giá mà nhà nước quy định
•Xúc tiến bán hang:
Theo quan niệm của marketing, đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của marketing - mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Xúc tiến bán hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung ứng dịch
vụ Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các nội dung chủ yếu: quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng
Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường Thông qua xúc tiến, các doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường tiềm năng của mình, cung cấp cho khách hàng tiềm năng những thông tin cần thiết, những dịch vụ ưu đãi để tiếp tục chinh phục khách hàng của doanh nghiệp và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh Hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt của khách hàng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ thế mà không ngừng tăng lên
Trang 9Thêm vào đó, xúc tiến bán hàng còn kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, thu hút được các khách hàng tiềm năng từ đó làm tăng khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp, doanh nghiệp ngày càng được khách hàng ưa chuộng hơn Vì vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh, một vấn
đề quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phải tổ chức tốt xúc tiến bán hàng
•Cạnh tranh bằng nghệ thuật phân phối, tiêu thụ sản phẩm:
Hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối như là biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường Hoạt động phân phối giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa như thế nào đến người tiêu dùng Vì vậy, doanh nghiệp nào có cách thức tổ chức hệ thống phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình tốt, tạo ra sự thuận tiện nhanh chóng cho người tiêu dùng thì việc đó sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường lên khá nhiều Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt động phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ Các kênh phân phối phải thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thị trường, thu thập các thông tin cần thiết
- Xúc tiến khuyếch trương: Cho những sản phẩm họ bán Soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng hoá
- Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá
- Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm năng
Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau để phân phối hàng hoá tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có hai loại kênh phân phối
cơ bản đó là:
- Kênh trực tiếp: Là loại kênh phân phối trong đó hàng hoá được chuyển
đưa thẳng từ người sản xuất tới người tiêu dùng
- Kênh gián tiếp: Là loại kênh trong đó có sự tham gia của các trung gian
phân phối
Căn cứ vào ưu nhược điểm của từng loại kênh phân phối, tình hình thị trường và đặc điểm hàng hoá của mình mà doanh nghiệp ra quyết lựa chọn loại kênh nào hoặc là sử dụng kết hợp với nhau
Việc tổ chức mạng lưới cửa hàng để đưa hàng hoá đến người tiêu dùng
Trang 10nghiệp Mạng lưới cửa hàng rộng rãi trên nhiều khu vực, có vị trí ở những nơi giao thông thuận tiện sẽ tạo ra sự tiện lợi khi mua sắm của khách hàng Các cửa hàng có không gian rộng, nội thất trang trí đẹp, hàng hoá bày biện nhiều, đa dạng, đẹp mắt sẽ thu hút được khách hàng vào mua Nhờ đó, nó góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp lên.
Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh hoạt động tiếp thị quảng cáo, yểm trợ bán hàng để thu hút khách hàng Hoạt động tiếp thị bao gồm các hoạt động chiêu thị và hội trợ Chiêu thị bao gồm chào hàng, quảng cáo khuyến mại và chiêu hàng
Chào hàng: Là một phương pháp chiêu thị thông qua các nhân viên của
doanh nghiệp để tìm kiếm khách hàng và bán hàng Qua việc chào hàng cần hiểu
rõ được ưu điểm của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, tìm hiểu sở thích và nhu cầu của khách hàng để thoả mãn nhu cầu đó Trong việc chào hàng nhân viên chào hàng đóng vai trò rất lớn nên doanh nghiệp phải biết tuyển chọn, bồi dưỡng và đãi ngộ nhân viên chào hàng
Quảng cáo: Là nghệ thuật sử dụng các phương tiện truyền tin về hàng hoá,
dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng, nhằm làm cho khách hàng chú ý đến sự hiện diện của doanh nghiệp cũng như sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung cấp ra thị trường Quảng cáo giúp cho việc khác biệt hoá sản phẩm được rõ nét hơn và thúc đẩy tăng doanh số bán một cách có hiệu quả, không làm tổn thương đến lợi nhuận của doanh nghiệp và tất nhiên đó phải là một quảng cáo có hiệu quả Khi thực hiện các hoạt động quảng cáo như một công cụ cạnh tranh cần tính được doanh nghiệp sẽ tăng lên bao nhiêu doanh số tính cho một đơn vị quảng cáo, phải định lượng được những thay đổi của thị trường để đảm bảo được hiệu quả của quảng cáo
Khuyến mại: Có tác dụng kích thích người tiêu dùng sản phẩm, khuyến mại
thường áp dụng ở khâu thứ 3 của chu kỳ sản phẩm khi mà thị trường mục tiêu đã
ở trạng thái bão hòa Khuyến mại làm tăng doanh số bán, nó đánh vào lợi ích kinh tế của cá nhân làm cho việc quyết định mua sản phẩm tăng lên đặc biệt là trong trường hợp phân vân giữa các đối thủ Khuyến mại thường thích hợp cho việc hấp dẫn khách hàng hiện tại làm cho việc thâm nhập sâu vào thị trường được nhanh hơn
Chiêu hàng: Là biện pháp được các doanh nghiệp sử dụng để khuyến khích
tiêu thụ sản phẩm, hình thức chiêu hàng thường được sử dụng như: Tặng quà cho khách hàng khi mua hàng, trưng bày hàng hoá để khách hàng nhìn thấy và
có điều kiện tìm hiểu, hỏi han về hàng hoá đó, gửi mẫu hàng đến khách hàng dùng thử
Trang 11Bên cạnh các công tác chiêu thị thì hoạt động tham gia hội trợ cũng rất quan trọng Hội trợ là nơi doanh nghiệp có thể trưng bày giới thiệu các sản phẩm của mình, gặp gỡ bạn hàng, tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh.
Khi chọn phương pháp tiếp thị bằng việc tham gia hội trợ, doanh nghiệp cần cân nhắc lựa chọn tham gia đúng hội trợ cần tham gia Các yếu tố cần lựa chọn là thị trường thâm nhập, địa điểm và uy tín của hội trợ, các doanh nghiệp tham gia, chủng loại sản phẩm, lệ phí tham gia Việc tham gia hội trợ giúp cho các doanh nghiệp mở rộng mạng lưới tiêu thụ trong và ngoài nước
•Các dịch vụ kèm theo
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính cạnh tranh cao như hiện nay, vai trò của các dịch vụ kèm theo hàng hoá ngày càng quan trọng Nó bao gồm các hoạt động trong và sau bán hàng như vận chuyển, bao gói, lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hành, tư vấn Cải tiến dịch vụ cũng chính là nâng cao chất lượng hàng hoá của doanh nghiệp Do đó phát triển hoạt động dịch vụ là rất cần thiết,
nó đáp ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo ra sự tín nhiệm, sự gắn bó của khách hàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữ gìn uy tín của doanh nghiệp
Từ đó doanh nghiệp có thể thu hút được khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của mình trên thị trường
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau:
•Thị phần của doanh nghiệp/ thị phần của các đối thủ cạnh tranh
Là một chỉ tiêu hay được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Người ta thường xem xét các loại thị phần sau:
- Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trường: Đó chính là tỷ lệ % giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn ngành
- Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ: Đó là tỷ lệ % giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn khúc
- Thị phần tương đối: Đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất nó cho biết vị thế của sản phẩm trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí nào, và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào
Ưu điểm: Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính
Nhược điểm: Khó đảm bảo tính chính xác do khó thu thập được doanh số chính xác của doanh nghiệp
Trang 12•Doanh thu/ doanh thu của các đối thủ mạnh nhất
Nếu sử dụng chỉ tiêu này người ta có thể chọn từ 2 đến 5 doanh nghiệp mạnh nhất tuỳ theo lĩnh vực cạnh tranh khác nhau mà chọn khác nhau
Chỉ tiêu này có ưu điểm đơn giản, dễ tính nhưng có nhược điểm là khó chính xác vì mỗi lĩnh vực có doanh nghiệp đứng đầu khác nhau
•Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu
Đây là chỉ tiêu hiện nay được sử dụng nhiều để đánh giá khả năng cạnh tranh cũng như hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu này mà doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của mình nếu chỉ tiêu này cao có ý nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiêu vào chi phí cho công tác marketing mà hiệu quả không cao
•Xem xét tỷ lệ: chi phí marketing/ tổng chi phí ta thấy: Tỷ lệ này cao chứng tỏ việc đầu tư cho khâu marketing là tương đôí lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét lại cơ cấu chi tiêu có thê thay vì quảng cáo rầm rộ công ty có thể đầu tư cho nghiên cứu và phát triển
•Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ấy Đó chính là: Chênh lệch (giá bán - giá thành)/giá bán Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường là rất gay gắt Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đang kinh doanh rất thuận lợi
1.2 TẦM QUAN TRỌNG VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANHCUAR DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.2.1 Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty tập đoàn xuyên quốc gia để giành giật khách hàng, để bán được hàng hóa Đối với các doanh nghiệp , cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng trong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và yếu tố kích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, hàng hóa bán ra nhiều, số lượng cung ứng ngày càng dông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, kết quả cạnh tranh
Trang 13là loại bỏ những hoanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của những doanh nghiệp làm ăn tốt Do vậy, muốn tồn tại và phát triển trên thị trường, doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Có như thế, hàng hóa bán ra của doanh nghiệp mới ngày một nhiều.
Mặt khác, mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu bước vào kinh doanh đều có những nguồn lực nhất định Để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp phải không ngừng phát huy mọi tiềm lực, mọi thế mạnh để có thể tạo lợi thế hơn so với các doanh nghiệp khác Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nỏ đều đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải tìm mọi cách để bán được sản phẩm của mình một cách nhiều nhất trên cơ sở tối đa hóa lợi nhuận Để thực hiện được mục tiêu này buộc doanh nghiệp đó phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Đối với Việt nam, khi chuyển từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp Nhà nước không còn tính độc quyền và được Nhà nước bao cấp như trước nữa mà phải tự quyết định lấy các vấn đề quan trọng mang tính sống còn của doanh nghiệp (sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, bao nhiêu…) Các doanh nghiệp Nhà nước buộc phải làm quen với điều này cũng như phải thích nghi với môi trường kinh doanh mới của cơ chế thị trường, chấp nhận các quy luật của thị trường cũng như là phải chấp nhận cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường đa hình thức sở hữu, khi mà quan điểm, chính sách của Nhà nước về vai trò của các thành phần kinh tế khác đi, các doanh nghiệp Nhà nước nếu không tự đổi mới sẽ không thể chạy đua nổi Bởi các hãng nổi tiếng trên thế giới đầu tư vào Việt nam ngày càng nhiều và có ưu thế hơn hẳn về tiềm lực tài chính cũng như là trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý Bên cạnh đó là khu vực kinh tế tư nhân đầy năng động và hiệu quả đang vươn lên mạnh mẽ
Tóm lại, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam và sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Trong
xu thế hội nhập và mở cửa của nước ta,.nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam đã là thách thức lớn nhất đối với quá trình hội nhập của nước ta Mỗi chủ thể kinh tế phải tự vận hành, tự quyết định tất cả mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, từ hoạt động thăm dò thị trường, quyết định đầu tư máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, đầu tư cho lực lượng lao động,
Trang 14đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm Trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải làm gì và làm như thế nào để có thể phát huy được lợi thế cạnh tranh của mình, tận dụng có hiệu quả các cơ hội, giảm thiểu những thách thức do cạnh tranh mang lại chính là vấn đề đặt ra để các doanh nghiệp tìm ra hướng đi đúng trên con đường phát triển của doanh nghiệp mình, khẳng định vị trí của mình trên thị trường.
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm các nhân tố vĩ mô, các nhân tố thuộc môi trường ngành và các nhân tố bên trong doanh nghiệp
•Các nhân tố vĩ mô:
- Các yếu tố về mặt kinh tế :
Trong môi trường kinh doanh các yếu tố kinh tế dù ở bất kỳ cấp độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu Các yếu tố kinh tế cần phải được nghiên cứu, phân tích và dự báo bao gồm :
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao sẽ làm cho thu nhập của dân cư tăng lên Thu nhập của dân cư có ảnh hưởng đến việc quyết định khả năng thanh toán của họ Nếu như thu nhập của họ tăng lên có nghĩa là họ có thể tiêu dùng những sản phẩm dịch vụ với chất lượng và yêu cầu cao hơn, đây là một cơ hội tốt cho các nhà doanh nghiệp có khả năng sản xuất những hàng hoá cao cấp.+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng nội tệ : Có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế mở như hiện nay Nếu đồng nội tệ mà bị mất giá thì nó cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường Đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu nhập nhiều nguyên liệu nước ngoài thì đây là khó khăn vì nó làm cho giá thực tế của hàng hoá nhập khẩu tăng lên, làm ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và khả năng cạnh ttranh của công ty
+ Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp hạn chế về vốn phải vay của ngân hàng Nếu tỉ lệ lãi suất cao, chi phí của doanh nghiệp tăng lên do trả lãi tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là so với các đối thủ có tiềm lực mạnh về vốn
+ Các nhân tố kinh tế trong môi trường kinh tế quốc dân tương đối rộng có ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, do
đó doanh nghiệp cần chọn lọc các ảnh hưởng ( ở dạng cơ hội và đe dọa )
- Các nhân tố về chính trị – pháp luật :
Trang 15Các nhân tố về chính trị pháp luật là nền tảng qui định các yếu tố khác của môi trường kinh doanh Có thể nói quan điểm đường lối chính trị nào, hệ thống pháp luật và chính sách nào sẽ có môi trường kinh doanh đó Nói cách khác không có môi trường kinh doanh thoát ly quan điểm chính trị và nền tảng pháp luật.
Cơ chế chính trị ổn định, một hệ thống pháp luật rõ ràng, nghiêm minh sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm tiến hành sản xuất kinh doanh Đặc biệt là các đạo luật liên quan đến doanh nghiệp như luật thuế, những quy định về nhập khẩu của nhà nước đã đảm bảo cho sự công bằng giữa các doanh nghiệp, ngăn chặn hành vi gian lận gây mất ổn định : Ví dụ như việc chốn lậu thuế cũng làm ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Các nhân tố khoa học công nghệ :
Trong môi trường kinh doanh các nhân tố về khoa học công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng Nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học công nghệ trên thế giới có sự phát triển mạnh mẽ Nó đóng vai trò quan trọng đến khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Thông qua hai công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp là chất lượng và giá bán sản phẩm Qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của mỗi loại sản phẩm, vị trí địa lý và việc phân bố dân cư, phân bổ địa lý các tổ chức kinh doanh Các nhân tố này tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi cũng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường
•Các nhân tố thuộc môi trường ngành
- Khách hàng :
Là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh, sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đạt được do biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng
so với đối thủ cạnh tranh Khách hàng luôn là đối tượng phục vụ của các doanh nghiệp Thông qua sự tiêu dùng của khách hàng mà doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận Các doanh nghiệp luôn tìm những biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt nhất so với đối thủ cạnh trạnh
Khách hàng có thể gây ảnh hưởng của mình tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua thị hiếu và thu nhập
- Các đối thủ cạnh tranh hiện có và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Các đối thủ cạnh tranh hiện có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhất là các doanh nghiệp có quy mô năng lực sản xuất và mức độ cạnh tranh trong ngành
Trang 16Mỗi đối thủ khi tham gia vào thị trường đều muốn huy động mọi khả năng của mình nhằm thoả mãn đến mức cao nhất mọi yêu cầu của người tiêu dùng Bởi vậy nếu muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏ doanh nghiệp phải không ngừng củng cố, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để có thể theo kịp và vượt lên trên đôi thủ cạnh tranh khác.
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành sẽ tác động đến mức độ cạnh tranh của ngành trong tương lai
- Các đơn vị cung ứng đầu vào :
Đối với một doanh nghiệp thương mại thì việc cung ứng hàng hoá đầu vào
có ảnh hưởng tới chất lượng hàng hoá bán ra Do vậy các nhà cung ứng đầu vào đóng vai trò rất quan trọng Các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp có thể gây khó khăn làm giảm khả năng cạnh tranh trong các trường hợp sau :
+ Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp.+ Họ là nhà cung cấp độc quyền của doanh nghiệp
+ Loại vật tư của nhà cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng nhất đối với doanh nghiệp, có thể quyết định đến quá trình sản xuất hoặc quyết định sản phẩm của doanh nghiệp
Trong những trường hợp trên, nhà cung cấp có thể ép doanh nghiệp qua việc tăng giá bán, chì hoãn cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất làm cho doanh nghiệp không còn sản phẩm để bán
Do đó doanh nghiệp nên có những mối quan hệ tốt với họ hoặc tìm cho mình các nhà cung cấp khác để tự chủ cho nguồn nguyên liệu đầu vào
- Các sản phẩm thay thế :
Sự ra đời của sản phẩm thay thế luôn luôn là một tất yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu của thị trường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú và đòi hỏi ngày càng cao, số lượng sản phẩm thay thế gia tăng cũng làm tăng mức độ cạnh tranh và thu hẹp quy mô thị trường của sản phẩm trong ngành
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và mạnh
mẽ nếu như sản phẩm của doanh nghiệp thuộc loại sản phẩm bị thay thế Chẳng hạn như một hàng bếp điện sẽ bị thay thế bởi hàng bếp ga, quạt điện có thể thay thế bằng điều hoà nhiệt độ Sự ảnh hưởng này có thể do giá bán của sản phẩm quá cao khiến người tiêu dùng thay thế bằng việc mua sản phẩm khác có mức giá thấp hơn hoặc nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và đòi hỏi cao hơn
•Các nhân tố bên trong Doanh nghiệp:
- Hê thống máy móc thiết bị công nghệ
Trang 17Tình trạng, trình độ của hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ của doanh nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó Nó
là yếu tố quan trọng thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm
Một doanh nghiệp có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến thì doanh nghiệp đó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công làm cho doanh nghiệp có lợi thế trong việc sử dụng giá cả làm công cụ cạnh tranh trên thị trường
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Năng lực về tài chính luôn luôn là yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như khả năng cạnh tranh nói riêng của mỗi doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm bảo sẽ có ưu thế trong việc đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, tiến hành các hoạt động khác nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh Doanh nghiệp có khó khăn về vốn sẽ rất khó khăn để tạo lập, duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường
- Quy mô và năng lực sản xuất
Doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có lợi thế trong cạnh tranh Đối với doanh nghiệp nhỏ như :
Số lượng sản phẩm lớn sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thoả mãn được nhiều hơn nhu cầu khách hàng, qua đó chiếm được thị phần lớn hơn
Doanh nghiệp có quy mô và năng lực sẽ có ảnh hưởng lớn hơn đối với người tiêu dùng so với các doanh nghiệp nhỏ
- Đội ngũ lao động
Con người luôn là yếu tố quan trọng và quyết định nhất đối với yếu tố hoạt động của mọi doanh nghiệp Yếu tố con người bao trùm lên trên mọi hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua khả năng, trình độ ý thức của đội ngũ quản lý và những người lao động
Đội ngũ lao động tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố về năng suất lao động, ý thức của người lao động trong sản xuất, sự sáng tạo Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất
- Bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp tác động một các tổng hợp tới hiệu quả hoạt động sản xuất nói chung cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Bộ máy quản lý doanh nghiệp cũng có tầm quan trọng như bộ óc con
Trang 18người, muốn chiến thắng được đối thủ trong cuộc cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén, chủ động trước tình huống thị trường, phải đi trước các đối thủ trong việc đáp ứng các nhu cầu mới
Tất cả những hoạt động đó đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp
- Vị trí địa lý
Việc lựa chọn mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là điều cần thiết quan trọng, nó có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào và quá trình tiêu thụ sản phẩm
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ MÁY VĂN PHÒNG A&D
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Tên công ty : Công ty Cổ phần dịch vụ máy văn phòng A & D
Tên giao dịch tiếng anh : A&D office machine service join stock company.Tên công ty viết tắt : A& D OMA., JSC
Địa chỉ trụ sở chính : Tập thể Bệnh viện Nông Nghiệp I – Xã Ngọc Hồi – Huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội
Trụ sở giao dịch: Số 11 – Ngõ 15 – Đường Ngọc Hồi – Hoàng Liệt – Hoàng Mai – Hà Nội
Số giấy phép đăng ký kinh doanh/ Mã số thuế: 0102641108
Điện thoại : 04.36815184/04.36815878
Ngành nghề đăng ký kinh doanh:
- Mua bán, sửa chữa lắp đặt, bảo hành, bảo trì máy văn phòng, máy tính, thiết bị mạng Internet, thiết bị văn phòng
- Mua bán, sửa chữa, lắp đặt, bảo hành, bảo trì đồ điện, điện tử, điện lạnh, điện dân dụng
- Sản xuất, đóng gói mực, từ dùng cho máy photo, máy in, máy fax
- Dịch vụ khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực máy móc, thiết bị văn phòng
- Sản xuất, buôn bán thiết bị bảo vệ, phòng chống đột nhập
- Buôn bán vật tư máy móc, trang thiết bị ngành bưu chính viễn thông
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá
Công ty Cổ phần dịch vụ máy văn phòng A & D được thành lập vào cuối năm 2007 bởi những người bạn có chung niềm đam mê về công nghệ Ban đầu đây là một công ty nhỏ với số vốn ban đầu hạn chế nên trụ sở của công ty là một văn phòng khá chật hẹp Công ty lấy bán hàng trực tiếp và cung cấp dịch vụ làm phương thức kinh doanh Mặt hàng chính của công ty là các loại máy văn phòng, linh kiện máy tính Dịch vụ mà công ty cung cấp là sửa chữa, bảo trì máy văn phòng cho các doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư nhân, trường học trên
Trang 19địa bàn Do chủ yếu là bán hàng trực tiếp nên thị trường chính của công ty là thị trường bán lẻ truyền thống Bán hàng trực tiếp cho phép người tiêu dùng có được những lời khuyên từ những người mà họ quen biết và tin tưởng Mua hàng trực tiếp rất đáng tin cậy và thuận tiện nhưng cũng có hạn chế là thị trường hẹp
và doanh số thấp Trong thời gian từ cuối năm 2007 đến hết năm 2009, lợi nhuận của Công ty A&D thu được từ thị trường bán lẻ và cung cấp dịch vụ chỉ
đủ để duy trì sự tồn tại và tích lũy kinh nghiệm cho các bước phát triển sau này
Từ công ty quy mô nhỏ ban đầu, với bầu nhiệt huyết và lòng quyết tâm, các thành viên sáng lập của Công ty A&D đã đưa công ty có những bước phát triển mạnh mẽ Cuối năm 2009, thị trường của Công ty A&D đã được mở rộng hơn, không chỉ bán lẻ nữa mà công ty bắt đầu bán buôn cho các công ty và đại lý ở một
số tỉnh như Ninh Bình, Nghệ An, Hà Nam, Hải Dương với các mặt hàng chính vẫn là các loại máy văn phòng, linh kiện máy tính, máy in Nhận thấy tiềm năng của thị trường cùng với những kinh nghiệm quý báu tích lũy được trong những năm đầu kinh doanh, các cổ đông sáng lập đồng thời là ban lãnh đạo của Công ty A&D quyết định tăng vốn kinh doanh của công ty bằng các khoản vay ngân hàng
và tăng vốn điều lệ từ lên từ 500.000.000 đồng lên 4.900.000.000 đồng
Do nhu cầu phát triển, đầu năm 2011, Công ty A&D đã chuyển sang trụ
sở kinh doanh mới là số 11 – Ngõ 15 – Đường Ngọc Hồi – Hoàng Liệt – Hoàng Mai – Hà Nội Trụ sở mới có nhiều ưu điểm là rộng rãi, đáp ứng đủ như cầu về diện tích của các phòng ban nhất là bộ phận kho, thuận tiện về giao thông cho việc phân phối, vận chuyển hàng bán buôn đi các tỉnh trên cả nước Công ty A&D cũng tuyển thêm một đội ngũ nhân viện chuyên nghiệp, chia thành các phòng ban phụ trách riêng phù hợp với đặc thù kinh doanh Với phương châm
“chất lượng và dịch vụ hoàn hảo” cán bộ công nhân viên công ty A&D luôn nỗ lực không ngừng để tạo nên uy tín, sự chuyên nghiệp và chỗ đứng vững chắc trên thị trường
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy công ty
1.3.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty
•Chức năng
Công ty Cổ phần Dịch vụ Máy văn phòng A&D hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh máy văn phòng với 2 chức năng chính:
- Bán buôn, bán lẻ các loại máy, linh kiện máy văn phòng
- Tổ chức phân phối các sản phẩm tin học ứng dụng, sản phẩm tin học công nghệ cao
Bên cạnh hoạt động kinh doanh chính, công ty cũng quan tâm phát triển mảng dịch vụ: sửa chữa, bảo trì máy tính, máy in, xây dựng các phần mềm tin học bảo vệ cho mạng máy tính của các công ty trên địa bàn
•Nhiệm vụ
Trang 20Để thực hiện các chức năng đề ra, Công ty Cổ phần Dịch vụ Máy văn phòng A&D đã đặt ra cho mình những nhiệm vụ chủ yếu:
- Phân phối các sản phẩm tin học
- Cung cấp các giải pháp tin học
- Cung ứng các thiết bị công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin.Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn về vốn và một số vướng mắc khách quan khác, nhưng với sự nhạy bén và nỗ lực không ngừng, Công ty A&D đã ngày càng tạo được nhiều uy tín, sự tin tưởng của các bạn hàng trong nước
1.3.2.2 Tổ chức bộ máy công ty
Công ty Cổ phần Dịch vụ Máy văn phòng A&D hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực thương mại Chính vì vậy, Công ty đã xây dựng cho mình một cơ cấu phòng ban hợp lý nhằm đảm bảo cho việc tổ chức quản lý hoạt động bán hàng đạt hiệu quả cao nhất Có thể khái quát mô hình tổ chức quản lý hoạt động bán hàng của Công ty A & D qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý hoạt động bán hàng của công ty cổ phần
dịch vụ máy văn phòng A&D
Bộ máy quản lý bao gồm:
Ban giám đốc: gồm 01 Giám đốc và 02 Phó giám đốc
- Giám đốc: là người chỉ huy cao nhất, có nhiệm vụ chỉ đạo và quản lý điều hành toàn bộ hoạt động của công ty nói chung và hoạt động bán hàng nói riêng Giám đốc có thể điều hành trực tiếp các phòng ban hoặc có thể điều hành gián tiếp qua các phó giám đốc
Giám đốc
Phó Giám đốc (Phụ Trách Nhập hàng)
Phó Giám đốc (Phụ Trách Xuất hàng)
Phòng Kinh
doanh
Phòng Kế toán Bộ phận Kho
Bộ phận Giao vận
Bộ phận Kĩ thuật và Bảo hành
Trang 21- Phó giám đốc phụ trách nhập hàng: chịu trách nhiệm nhập hàng chính cho công ty, là người theo dõi, dự đoán trước những biến động về giá cả, nhu cầu của thị trường để lên kế hoạch, tham mưu cho giám đốc về những mặt hàng chiến lược Phó giám đốc phụ trách nhập hàng làm việc trực tiếp với nhà cung cấp, đảm bảo những lô hàng nhập về chất lượng chính hãng, giá cả hợp lý Đối với những mặt hàng do nhân viên kinh doanh đề nghị nhập thì phải được Phó giám đốc ký duyệt về số lượng và giá cả Phó giám đốc cũng phải theo dõi thường xuyên, nắm được số lượng hàng hóa trong kho để có kế hoạch nhập hàng hợp lý, đảm bảo lượng hàng hóa trong kho cho kinh doanh bán hàng Phó giám đốc phụ trách nhập hàng là người lên các chính sách chiết khấu, chương trình khuyến mại.
- Phó giám đốc phụ trách xuất hàng: theo dõi hàng hóa xuất ra từ kho Tất
cả những đơn hàng do nhân viên kinh doanh xuất ra đều phải do phó giám đốc
ký duyệt sau đó mới chuyển sang kho để xuất hàng Việc này hạn chế sự thất thoát hàng hóa và những sai sót về giá cả gây thiệt hại cho công ty Phó giám đốc phụ trách xuất hàng theo dõi số lượng hàng hóa xuất ra cho các khách hàng đăng ký tham gia chương trình chiết khấu, cuối tháng tổng kết và ký duyệt chiết khấu lại cho khách hàng nhập đủ số lượng hàng theo chương trình chiết khấu
Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ chính là bán hàng Nhân viên kinh doanh
của Công ty A&D bán hàng trực tuyến qua mạng hoặc nhận đơn đặt hàng của khách qua điện thoại Những đơn hàng do nhân viên kinh doanh xuất ra phải đảm bảo tính chính xác về chủng loại, số lượng cũng như giá cả của mặt hàng Đối với một số mặt hàng khách hàng đặt hàng mà trong kho không có hoặc không còn hàng, nhân viên kinh doanh có thể viết phiếu đề nghị nhập hàng để phó giám đốc phụ trách nhập hàng ký duyệt
Phòng kế toán: có nhiệm vụ theo dõi, phản ánh, giám sát chặt chẽ quá trình
bán hàng, sự biến động của từng loại hàng hóa, tình hình xuất nhập hàng hóa, tình hình thanh toán của khách hàng, chi phí bán hàng, doanh thu bán hàng và thu nhập từ các hoạt động khác, đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Cung cấp thông tin kế toán cần thiết và chính xác cho các bộ phận bán hàng Tổ chức lập, luân chuyển, lưu trữ chứng từ và sổ sách kế toán hợp lý
Phòng kỹ thuật và bảo hành: Hàng hóa mà công ty A&D cung cấp toàn bộ
là hàng điện tử chính vì vậy khi mua hàng điều khách hàng quan tâm ngoài chất lượng và giá cả còn là dịch vụ bảo hành sau bán hàng Dịch vụ bảo hành tốt mới tạo được uy tín và sự an tâm của khách hàng đối với các mặt hàng mà A&D cung cấp Nhiệm vụ của phòng kỹ thuật và bảo hành là tiếp nhận hàng bảo hành
và trả bảo hành cho khách hàng trong thời gian ngắn nhất Phương châm của phòng kỹ thuật và bảo hành là đáp ứng nhanh nhất và tốt nhất những nhu cầu về
kỹ thuật của khách hàng
Trang 22Bộ phận kho: có nhiệm vụ nhập hàng và xuất hàng theo phiếu đề nghị nhập
hàng, hóa đơn bán hàng chính xác về chủng loại mặt hàng, số lượng, đầy đủ giấy tờ, tem phiếu bảo hành gốc Sắp xếp và quản lý hàng trong kho hợp lý đảm bảo an toàn, đủ số lượng Những trường hợp mất mát, thiệt hại trong quá trình quản lý kho, nhập, xuất hàng do lỗi của bộ phận kho thì bộ phận này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm Bộ phận kho cũng có trách nhiệm đóng gói hàng cẩn thận, bảo đảm an toàn tránh va đập, rơi vỡ, dán đầy đủ thông tin khách hàng trên những mặt hàng gửi tỉnh
Bộ phận giao vận: có nhiệm vụ nhận bàn giao đầy đủ hàng hóa và giấy tờ
đi kèm từ kho, giao hàng theo điều vận của người quản lý, giao hàng đúng địa điểm, nhà xe theo yêu cầu của khách hàng Khi giao phải có ký nhận của khách hàng hoặc nhà xe trên phiếu giao hàng
Các phòng ban của Công ty A&D đều có chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng điều có mối liên quan ảnh hưởng chặt chẽ đến nhau để đảm bảo cho công việc đạt hiệu quả cao nhất Phòng ban nào không hoàn thành nhiệm vụ của mình
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phòng ban khác và công việc chung Ví dụ như kinh doanh xuất hàng sai mặt hàng sẽ dẫn đến kho xuất sai hàng, kế toán viết sai hóa đơn… Một loạt công việc phải khắc phục gây tốn kém về thời gian và chi phí Chính vì vậy, A&D luôn đòi hỏi các nhân viên sự chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc