Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm trở thành hoạt động vô cùng quan trọng, đó là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp.. T
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm trở thành hoạt động vô cùng quan trọng, đó là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì sản phẩm của nó sản xuất ra phải tiêu thụ được, và chỉ khi sản phẩm của doanh nghiệp được bán, được tiêu thụ thì doanh nghiệp mới có thể bù đắp nổi những chi phí đã bỏ
ra để sản xuất sản phẩm, đồng thời thu được lợi nhuận để tiếp tục duy trì và mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp
Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, thị trường của doanh nghiệp không còn bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà đó là thị trường khu vực, thị trường thế giới Đây vừa là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp tự khẳng định mình không chỉ ở trong nước mà còn vươn ra thị trường khu vực, thị trường thế giới đồng thời nó cũng là thách thức, đe dọa đối với các doanh nghiệp: toàn cầu hóa sẽ tạo
ra những khu vực thương mại, mậu dịch tự do, tức là hàng hóa của các nước có thể tự
do tham gia cạnh tranh mà không còn bị các rào cản thuế quan ngăn cản giống như khu vực ASEAN hay là EU Đây chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa của mình ra nước ngoài và sân chơi của các doanh nghiệp không còn bị bó hẹp trong phạm vi quốc gia, mặt khác toàn cầu hóa cũng đòi hỏi các doanh nghiệp của chúng ta phải có các chính sách chiến lược thích hợp để có thể cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ trong khu vực cũng như trên toàn thế giới, toàn cầu hóa cũng có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ không hoặc ít được nhà nước bảo hộ Đây là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp của nước ta
Đối với Công ty cổ phần xi măng Sông Cầu, một công ty có bề dày lịch sử nhưng mới đi vào sản xuất xi măng trong vài năm trở lại đây với lượng vốn rất nhỏ so với đặc điểm của một doanh nghiệp xi măng đòi hỏi một lượng vốn rất lớn Vì vậy, để
Trang 3đưa được sản phẩm cũng như hình ảnh của công ty ra ngoài thị trường thì đòi hỏi rất lớn vào hiệu quả của các hoạt động tiêu thụ Trong khi đó các hoạt động nhằm đẩy mạnh tiêu thụ tại công ty lại chưa được chú trọng.
Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần xi măng Sông Cầu kết hợp với những kiến thức đã lĩnh hội được ở trường, ở các thầy cô, là một sinh viên khoa Quản trị kinh doanh với hy vọng có thể đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung và hoàn thiện các hoạt động tiêu thụ nói riêng của công ty cổ phần xi măng Sông Cầu, em mạnh dạn nghiên cứu và viết về đề tài:
“Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở công ty
cổ phần xi măng Sông cầu” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Đánh giá tình hình hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần xi măng Sông Cầu
Đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm cho công ty cổ phần xi măng Sông Cầu
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động tiêu thụ của công ty cổ phần xi măng Sông Cầu, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh hiệu quả hoạt động tiêu thụ của công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 46 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần xi măng Sông Cầu
Chương 2: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần xi măng Sông Cầu
Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần xi măng Sông Cầu
Trang 5CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG SÔNG CẦU
1.1 Thông tin chung về công ty
Tên giao dịch: Công Ty Cổ Phần Xi Măng Sông Cầu
Tên tiếng anh: Song Cau Joint Stock Company
Số cổ phần cổ đông đăng kí mua: 89.196,8 cổ phần
Số cổ phần được quyền chào bán: 10.803,2 cổ phần
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tiền thân của Công ty CP xi măng Sông Cầu là Nhà Máy Phân Lân Hà
Trang 6Tháng 12/ 2002, được sự chỉ đạo của Sở công nghiệp Bắc Giang nhà máy phân lân Bắc Giang đã được cổ phần hóa trên giấy tờ giao dịch Khi chuyển đổi cổ phần hóa được đổi tên thành Công ty cổ phần phân bón hóa chất Bắc Giang.
Ngày 14/ 03/ 2003, Công ty cổ phần phân bón hóa chất Bắc Giang được thành lập và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón hóa chất
Do kết quả sản xuất kinh doanh mặt hàng phân bón không mang lại hiệu quả kinh tế cao, để xác định chiến lược mới trong kinh doanh, doanh nghiệp
đã tiến hành tìm hiểu nghiên cứu thị trường và ngày 16/02/2004 lãnh đạo công ty đã quyết định chuyển đổi sản phẩm sản xuất của mình thành xi măng
và đổi tên công ty thành Công ty cổ phần xi măng Sông Cầu Sau khi thành lập, công ty đã đi vào hoạt động sản xuất và bước đầu thu được kết quả rất khả quan
Công ty có số vốn đăng ký là 6.894 tỷ đồng Trong đó số vốn của công ty 5.560 tỷ đồng, vốn vay là 1.334 tỷ đồng Hàng năm, nguồn vốn được bổ sung
từ kết quả kinh doanh, đóng góp của các cổ động, từ nguồn vốn đi vay các tổ chức tín dụng và các nguồn khác
1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
1.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
1.3.1.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty
- Ban lãnh đạo:
+ Chủ tịch HĐQT và 4 thành viên HĐQT: Điều này cho thấy cơ cấu bộ máy quản lý của công ty không có ban kiểm soát (Theo điều 95, Luật doanh nghiệp năm 2005)
+ Giám đốc và Phó Giám đốc
Trang 7- Phòng ban, phân xưởng:
+ Phòng kinh doanh và vật tư
+ Tổ công nghệ (KCS) – Trực thuộc phòng kĩ thuật
+ Tổ điện nước - trực thuộc phòng kĩ thuật
Trang 8Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy quản trị, hành chính
Ghi chú: Chỉ đạo trực tuyến
Mối quan hệ phối hợp công tác
Chỉ đạo gián tiếp
(Bộ máy quản trị điều hành đồng nhất với Hệ thống quản lý chất lượng)
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
xi măng
Phân xưởng gạch
Phòng công nghệ kĩ thuật
Phòng kinh doanh –
Vật tư
Phòng
tổ chức hành chính
Tổ KCS
Tổ điện nước
Kho Nhà
cân
Bảo vệ
Nhà ăn
Trang 91.3.1.2 Chức năng của từng bộ phận
Hội đồng quản trị (HĐQT): Là cơ quan quản lý của công ty có toàn quyền
nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quá trình hoạt động, quyền lợi của công ty
Chủ tịch HĐQT:
- Là người đại diện theo pháp luật của công ty, chịu trách nhiệm toàn bộ khâu quản lý tài chính, giám sát và kí kết hợp đồng mua bán vật tư, nguyên liệu, thiết bị và tiêu thụ sản phẩm
- Ký các quyết định về phương hướng, kế hoạch, dự án sản xuất kinh doanh và các chủ trương lớn của công ty
- Ký các quyết định về hợp tác đầu tư, liên doanh kinh tế
- Phê duyết phương án tổ chức bộ máy điều hành, phê duyệt quyết toán của các đơn vị trực thuộc và duyệt tổng quyết toán của công ty
- Ký các quyết định phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ
- Ký các quyết định xác nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng cổ phiếu, mua bán cầm cố các loại tài sản chung của công ty theo quy định của pháp luật
- Quyết định bổ nhiệm, bãi miễn các chức danh trong HĐQT, bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng, quản đốc và tất cả các chức danh khác Ký các quyết định điều động, cho thôi việc, chuyển công tác, cho nghỉ hưu, nâng lương, nâng bậc, khen thưởng, kỷ luật cho CBCNV
Trang 10- Trực tiếp quản lý các bản gốc giấy tờ: Danh sách cổ đông, toàn bộ văn kiện Đại hội đồng cổ đông, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép kinh doanh.
- Ký phiếu thu, chi tiền mặt, séc chuyển khoản, các văn bản chứng từ giao dịch với ngân hàng, ký các quyết toán tài chính tháng, quý, năm Ký các phiếu xuất nhập vật tư nguyên liệu
- Ký các quyết định thuộc thẩm quyền của HĐQT như: Điều lệ công ty, nội quy công ty, bảng phân công, phân cấp và chế độ làm việc, các quyết định hướng dẫn thực hiện các chức năng nhiệm vụ của các bộ phận, ký các văn bản nghiệm vụ khác do phòng, phân xưởng trình lên để phê duyệt Ký các quyết định thành lập các hội đồng, các ban và tiểu ban để thực hiện các nhiệm vụ sản xuất, xây dựng cơ bản và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng…
- Ký các văn bản liên quan đến người đại diện theo pháp luật của công ty
Giám đốc:
- Là người do HĐQT bổ nhiệm có vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm chung về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Quyết định kế hoạch tác nghiệp sản xuất hàng ngày, tháng, quý và tiến
độ sản xuất từng loại sản phẩm, thực hiện giao ban, hội ý công tác đầu giờ hàng ngày với phòng kĩ thuật và phân xưởng
- Trực tiếp chỉ đạo và kiểm tra đôn đốc phân xưởng sản xuất
- Trực tiếp chỉ đạo phòng công nghệ kĩ thuật thực hiện nhiệm vụ chuyên môn
- Quản lý các định mức tiêu hao nguyên liệu, điện năng Phê duyệt kế hoạch bảo dưỡng, phương án sửa chữa máy móc thiết bị đồng thời chỉ đạo phòng kĩ thuật và phân xưởng tổ chức thực hiện
Trang 11- Điều động các phương tiện vận tải, vật tư, nguyên liệu SXKD Trực tiếp chỉ đạo xử lý các sự cố xảy ra trong sản xuất.
- Chỉ đạo công tác an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp và phòng chống cháy nổ, chỉ đạo công tác kiểm kê tài sản, vật tư hàng hóa theo định kì hoặc đột xuất
- Thống nhất với chủ tịch HĐQT quyết định xử lý các trường hợp sản phẩm không phù hợp (nguyên liệu, thành phẩm chưa đạt chuẩn)
- Quyết định điều chỉnh, thay đổi đơn phối liệu sản xuất các loại sản phẩm
- Ký duyệt các văn bản chứng từ sau: Phiếu xuất kho bán hàng, kế hoạch sản xuất Ký các quyết định tuyển dụng chuyển công tác, cho thôi việc, nghỉ chế độ, nâng lương, nâng bậc, điều động các chức danh từ phó phòng, phó quản đốc trở xuống khi được chủ tịch HĐQT ủy quyền
- Ký thủ tục giao dịch với ngân hàng, các hợp đồng kinh tế khi được ủy quyền
Phó giám đốc kiêm trưởng phòng kinh doanh:
- Giúp chủ tịch HĐQT và Giám đốc tổ chức thực hiện nhiệm vụ cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm Trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn của phòng kinh doanh và phòng vật tư
- Tổ chức tiếp thị, phát triển thị trường, lựa chọn và thiết lập các đại lý bán hàng, các kênh phân phối sản phẩm
- Quản lý và chăm sóc khách hàng (trước, trong và sau bán hàng) Tham mưu, đề xuất phương thức tiêu thụ và chính sách bán hàng
Trang 12- Chỉ đạo việc đánh giá lựa chọn nhà cung ứng, xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư nguyên liệu Phục vụ sản xuất và xây dựng cơ bản, Chỉ đạo phòng vật tư chủ trì có sự phối hợp với phân xưởng, phòng kĩ thuật thực hiện nhiệm
vụ tiếp nhận, kiểm tra bảo quản dự trữ
- Theo dõi tổng hợp tình hình nhập vật tư nguyên liệu của từng nhà cung cấp tổ chức việc đánh giá tình hình thực hiện của của nhà cung cấp
- Phân tích các số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản lý của công ty
- Cung cấp thông tin kế toán theo quy định của pháp luật
- Ký các báo cáo tài chính, phiếu thu, chi, phiếu xuất, nhập vật tư hàng hóa Ký các văn bản quỹ lương và công nợ Ký các chứng từ giao dịch với ngân hàng theo quy định
- Theo dõi hàng hóa xuất nhập, phối hợp với phó Giám đốc kinh doanh
và phòng vật tư, trao đổi thông tin, đối chiếu xác nhận và thu hồi công nợ, kiểm kê tiền mặt, tài sản, vật tư hàng hóa theo định kì
Phòng kinh doanh - vật tư:
- Tham mưu cho chủ tịch HĐQT và lãnh đạo công ty mọi công việc liên quan đến công tác cung ứng vật tư, nguyên liệu cho sản xuất và xây dựng cơ bản Trực tiếp quản lý và chỉ đạo nhà cân và thủ kho Thực hiện mọi hoạt động kinh doanh tiêu thụ sản phẩm cùng với phó giám đốc kiêm trưởng phòng kinh doanh
Trang 13- Tổ chức mua sắm vật tư nguyên liệu theo kế hoạch dự kiến, kế hoạch sản xuất sản phẩm và các nhu cầu đột xuất khác phục vụ cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản.
- Phối hợp với phòng kĩ thuật (KCS) lấy mẫu nguyên liệu để phân tích chất lượng theo từng lô hàng, xe hàng
- Chỉ đạo bộ phận kho và nhà cân tiếp nhận vật tư nguyên liệu, kiểm tra hướng dẫn việc ghi chép sổ sách của nhà cân và thủ kho, phối hợp với KCS
và phân xưởng bố trí kho bãi để bảo quản, dự trữ nguyên liệu
- Chủ trì và phối hợp với phòng KCS, phòng kế toán tổ chức kiểm kê vật
tư nguyên liệu định kì và đột xuất Đề xuất phương án thanh lý vật tư thiết bị không cần dùng
- Phối hợp với phòng kế toán theo dõi tình hình thực hiện hợp đồng của các nhà cung cấp
- Căn cứ báo cáo định kì của nhà cân, mở sổ theo dõi tổng hợp tình hình nhập nguyên liệu theo từng lô của từng nhà cung ứng
Phòng tổ chức hành chính:
- Tham mưu cho chủ tịch HĐQT và giám đốc thực hiện các mặt công tác quản lý nhân sự, hành chính, an ninh trật tự Trực tiếp quản lý tổ bảo vệ và nhà ăn
- Quản lý hồ sơ nhân sự và sổ BHXH, giải quyết các thủ tục về: Tuyển dụng, đào tạo cho thôi việc, thuyên chuyển, nghỉ chế độ, điều động, bổ nhiệm, bãi miễn, khen thưởng…
Trang 14- Phối hợp với các phòng ban phân xưởng thực hiện công tác an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp và phòng chống cháy nổ.
- Thực hiện nhiệm vụ hành chính, lễ tân và các công việc khác khi được phân công
Phân xưởng gạch xi măng:
- Tổ chức quản lý hoạt động sản xuất gạch xi măng theo đúng kế hoạch sản xuất của công ty
- Theo dõi quá trình sản xuất của phân xưởng để đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của phân xưởng
Phân xưởng xi măng:
- Có nhiệm vụ quản lý tổ chức hoạt động sản xuất xi măng theo đúng kế hoạch của công ty
- Theo dõi tình hình hoạt động của thiết bị để có biện pháp xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của thiết bị
Tổ nhà ăn:
- Có nhiệm vụ tổ chức nấu ăn cho cán bộ công nhân viên của công ty đảm bảo
về chất lượng và số lượng giúp cho công nhân viên tái tạo lại năng lượng sau những giờ làm việc
Tổ bảo vệ:
- Có nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ tài sản của công ty, không để kẻ gian vào công
ty trộm cắp tài sản của công ty
- Khi phát hiện dấu hiệu có sự mất mát tài sản phải báo ngay cho ban lãnh đạo công ty để tìm biện pháp giải quyết
- Thu hồi phiếu xuất kho để đưa lại cho phòng kế toán sau mỗi lần xuất kho
Trang 151.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 2008 – 2010
1.3.2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 2 năm
Lợi nhuận gộp về bán hàng và
cung cấp dịch vụ 20 2.658.795.000 3.203.498.615 544.703.615 20,49
4 Doanh thu hoạt động tài chính 21 208.832.000 141.433.946 (67.398.054) (32,27)
5 Chi phí tài chính 22 556.072.600 463.881.048 (92.191.552) (16,58) 6
Chi phí bán hàng & quản lý
doanh nghiệp 25 668.733.000 636.745.900 (31.987.100) (4,78) 7
Lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh 30 1.642.821.400 2.244.305.613 601.484.213 36,61
8 Thu nhập khác 31 864.524.300 340.748.500 (523.775.800) (60,59)
9 Chi phí khác 32 404.588.400 338.599.013 (65.989.387) (16,31)
10 Lợi nhuận khác 40 459.935.900 2.149.487 (457.786.413) (99,53) 11
Tổng lợi nhuận kế toán
trước thuế 50 2.102.757.300 2.246.455.100 143.697.800 6,83
12 Chi phí thuế TNDN hiện hành 51 588.772.044 629.007.428 40.235.384 6,83
13 Lợi nhuận sau thuế TNDN 60 1513985256 1.617.447.672 103.462.416 6,83
(Nguồn: Phòng kế toán)
Trang 16Qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy:
- Tổng lợi nhuận sau thuế tăng 103.642.416 đồng với tỷ lệ giảm tăng 6,83 % so với năm 2008, cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2009 có hiệu quả và mang xu hướng phát triển tốt đồng thời nó cũng thể hiện sự cố gắng của công ty trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận Trong đó: + Tổng lợi nhuận gộp năm 2009 so với năm 2008 tăng 544.703.615 đồng với tỷ lệ tăng 20,49 % Kết quả đó có được là nhờ: sự thay đổi trong mặt hàng sản xuất và tiêu thụ của công ty (đi vào sản xuất gạch xi măng, bỏ sản xuất tấm lợp) và do giá bán đơn vị tăng hơn so với kỳ trước
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 6.014.843.213 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 36,61 % Đây là dấu hiệu tốt cho việc duy trì hoạt động của công ty được liên tục từ đó kéo theo các hoạt động khác như đầu tư, tài trợ, Mặt khác thể hiện tính linh hoạt cao hơn của tài sản
+ Lợi nhuận khác giảm 457.786.413 đồng với tỷ lệ giảm là 99,53 %
- Xem xét các chỉ tiêu phản ánh doanh thu và chi phí, ta thấy:
+ Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 2.810.031.462 đồng với tỷ lệ tăng 12,56 %, điều này cho thấy sự cố gắng của công ty trong việc tiêu thụ sản phẩm đồng thời tạo điều kiện gia tăng lợi nhuận kinh doanh cùng với việc giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn, gia tăng thị phần tiêu thụsản phẩm Tuy nhiên, doanh thu năm 2009 tăng phần nhiều là do sự tăng giá của sản phẩm để phù hợp với chi phí tăng cao khi gặp khủng hoảng tài chính vào năm 2008, trong khi đó lượng hàng tồn kho chiếm khá nhiều
+ Giá vốn hàng bán tăng 2.265.327.847 đồng với tỷ lệ tăng là 11,49 %
Đó là do lượng hàng tiêu thụ tăng cùng với sự tăng của giá nguyên vật liệu đầu vào những tháng cuối năm tăng
Trang 17+ Doanh thu hoạt động tài chính giảm 67.398.054 đồng với tỷ lệ giảm 32,27 % Điều này là do công ty thu hẹp quy mô cho vay tài chính của mình, tập trung đầu tư vào TSCĐ và hoàn thành xây dựng cơ bản dở dang đang thực hiện trong kỳ.
+ Chi phí tài chính giảm 92.191.552 đồng với tỷ lệ giảm là 16,58 % so với năm 2008 điều này làm cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng Toàn bộ chi phí tài chính là lãi vay phải trả điều đó cho thấy trong kỳ doanh nghiệp đã dùng vốn vay thấp hơn so với kỳ trước điều này cũng có thể do công ty hiện nay đang phát triển và trả được nợ nhiều hơn đi vay
+ Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp giảm 31.987.100 đồng với
tỷ lệ giảm 4,87 % so với năm 2008, cho thấy công tác tổ chức và quản lý của công ty có hiệu quả
+ Chi phí khác và thu nhập khác đều giảm nhưng giá trị giảm của thu nhập nhỏ hơn chi phí nên vẫn có được lợi nhuận nên làm tăng tổng lợi nhuận cho công ty ở cuối kỳ
Trang 181.3.2.2 Bảng cân đối kế toán
Bảng 1.2: Bảng cân đối kế toán của công ty năm 2009
(ĐVT: Đồng)
Khoản mục
Mã số
Số đầu năm 2009
Số cuối năm 2009 TÀI SẢN
1 Vốn đầu tư của chủ sở hữu 411 10,260,000,000 10,260,000,000
2 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 420 1,115,700,000 1,085,650,000
Tổng cộng nguồn vốn (440=300+400) 440 19,265,500,000 19,689,930,000
(Nguồn: Phòng kế toán)
1.3.3 Phân tích kết quả kinh doanh
Trang 19Để phân tích được tình hình tài chính của công ty, ta cần thông qua hai báo cáo tài chính cơ bản là “ Bảng cân đối kế toán” và “ Bảng báo cáo kết quả kinh doanh”, trên cơ sở phân tích những chỉ tiêu tổng thể trên các bảng ta có thể thấy được sự vận động của tài sản và nguồn vốn, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cũng như kiểm tra được tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển của công ty qua các thời kỳ.
Qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy:
- Tổng lợi nhuận sau thuế tăng 103.642.416 đồng với tỷ lệ giảm tăng 6,83 % so với năm 2008, cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2009 có hiệu quả và mang xu hướng phát triển tốt đồng thời nó cũng thể hiện sự cố gắng của công ty trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận Trong đó: + Tổng lợi nhuận gộp năm 2009 so với năm 2008 tăng 544.703.615 đồng với tỷ lệ tăng 20,49 % Kết quả đó có được là nhờ: sự thay đổi trong mặt hàng sản xuất và tiêu thụ của công ty (đi vào sản xuất gạch xi măng, bỏ sản xuất tấm lợp) và do giá bán đơn vị tăng hơn so với kỳ trước
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 6.014.843.213 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 36,61 % Đây là dấu hiệu tốt cho việc duy trì hoạt động của công ty được liên tục từ đó kéo theo các hoạt động khác như đầu tư, tài trợ, Mặt khác thể hiện tính linh hoạt cao hơn của tài sản
+ Lợi nhuận khác giảm 457.786.413 đồng với tỷ lệ giảm là 99,53 %
- Xem xét các chỉ tiêu phản ánh doanh thu và chi phí, ta thấy:
Trang 20+ Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 2.810.031.462 đồng với tỷ lệ tăng 12,56 %, điều này cho thấy sự cố gắng của công ty trong việc tiêu thụ sản phẩm đồng thời tạo điều kiện gia tăng lợi nhuận kinh doanh cùng với việc giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn, gia tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, doanh thu năm 2009 tăng phần nhiều là do sự tăng giá của sản phẩm để phù hợp với chi phí tăng cao khi gặp khủng hoảng tài chính vào năm 2008, trong khi đó lượng hàng tồn kho chiếm khá nhiều.
+ Giá vốn hàng bán tăng 2.265.327.847 đồng với tỷ lệ tăng là 11,49 %
Đó là do lượng hàng tiêu thụ tăng cùng với sự tăng của giá nguyên vật liệu đầu vào những tháng cuối năm tăng
+ Doanh thu hoạt động tài chính giảm 67.398.054 đồng với tỷ lệ giảm 32,27 % Điều này là do công ty thu hẹp quy mô cho vay tài chính của mình, tập trung đầu tư vào TSCĐ và hoàn thành xây dựng cơ bản dở dang đang thực hiện trong kỳ
+ Chi phí tài chính giảm 92.191.552 đồng với tỷ lệ giảm là 16,58 % so với năm 2008 điều này làm cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng Toàn bộ chi phí tài chính là lãi vay phải trả điều đó cho thấy trong kỳ doanh nghiệp đã dùng vốn vay thấp hơn so với kỳ trước điều này cũng có thể do công ty hiện nay đang phát triển và trả được nợ nhiều hơn đi vay
+ Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp giảm 31.987.100 đồng với
tỷ lệ giảm 4,87 % so với năm 2008, cho thấy công tác tổ chức và quản lý của công ty có hiệu quả
+ Chi phí khác và thu nhập khác đều giảm nhưng giá trị giảm của thu nhập nhỏ hơn chi phí nên vẫn có được lợi nhuận nên làm tăng tổng lợi nhuận cho công ty ở cuối kỳ
Trang 21CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG CẦU
2.1 Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm của công ty
2.1.1 Về đặc điểm sản phẩm
Công ty ra đời từ khá lâu song các mặt hàng mà công ty hiện đang sản xuất thì còn khá mới và thay đổi theo từng giai đoạn
Trước năm 2004, công ty sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chính là phân lân
Từ năm 2004 đến năm 2008, công ty sản xuất và tiêu thụ 2 sản phẩm chính là xi măng và tấm lợp xi măng, không sản xuất sản phẩm phân lân nữa
do tình hình tiêu thụ kém Đồng thời, năm 2008 công ty cũng bắt đầu đi vào sản xuất sản phẩm gạch Block xi măng
Từ năm 2009, công ty không sản xuất sản phẩm tấm lợp xi măng và bắt đầu tiến hành tiêu thụ sản phẩm gạch xi măng cùng với sản phẩm chính khác
là xi măng
Chính vì sự thay đổi liên tục trong mặt hàng sản xuất nên doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn tìm kiếm thị trường và đỏi hỏi rất lớn vào hoạt động tiêu thụ sản phẩm Với sản phẩm xi măng của công ty người tiêu dùng trong khu vực đã được biết đến song với sản phẩm gạch xi măng, một loại gạch
Trang 222.1.2 Đặc điểm thị trường tiêu thụ
Hiện nay trên thị trường Bắc Giang có rất nhiều loại xi măng của các công ty khác nhau, từ công ty đã có thương hiệu đến nhưng công ty mới đi vào sản xuất và tiêu thụ Bản thân Công ty cổ phần xi măng Sông Cầu cũng là một công ty mới trong lĩnh vực sản xuất xi măng, do đó công ty cũng đang gặp phải rất nhiều khó khăn, như: chưa tạo được thị phần ổn định, tên tuổi công ty hầu như chưa được biết đến, có quá nhiều đối thủ cạnh tranh trên một thị trường không lớn Công ty chủ yếu cung cấp cho những người tiêu dùng nhỏ lẻ, thuộc khách hàng thân cận như nhu cầu của hộ gia đình các công nhân viên trong công ty, mối quan hệ có được từ các nhân viên trong công ty Trong khi đó lượng khách hàng từ khu vực ngoài còn khá hạn chế Hiện nay công ty cũng đang cố gắng mở rộng thêm mạng lưới tiêu thụ của mình để có thể cung cấp được sản phẩm của công ty đến với người tiêu dùng ở các vùng phụ cận
2.1.3 Đặc điểm tài chính
Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn Nguồn vốn chủ yếu của công ty khi thành lập là do ngân sách nhà nước cấp, khi chuyển đổi sang loại hình công ty cổ phần thì nguồn vốn này được tăng lên và đảm bảo bởi số lượng vốn đóng góp của các
cổ đông, bán cổ tức và hoạt động kinh doanh có lãi của công ty đem lại Nguồn vốn của công ty không ngừng tăng lên, cũng như bao công ty khác việc thiếu vốn cũng hay diễn ra, đặc biệt trong tình hình kinh tế biến động cùng những chính sách thắt chặt của Nhà nước làm cho công ty gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động vay vốn Tuy nhiên, do công ty có mối quan hệ tốt với ngân hàng, kinh doanh có lãi qua mấy năm gần đây càng tạo được niềm tin từ giới ngân và việc huy động vốn để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động
Trang 23sản xuất kinh doanh được thực hiện đa dạng hóa các nguồn cung ứng nhằm có thể thu hút tối đa các nguồn khác nhau Thực tế, việc đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị luôn được công ty quan tâm chú ý Nhìn chung, tình hình tài chính của công ty mấy năm gần đây là ổn định và lành mạnh.
2.1.4 Đặc điểm về nhân sự
Tình hình sử dụng lao động:
Lao động là một trong những yếu tố quyết định tới năng suất, chất lượng sản phẩm Nhận thức được điều này công ty đã chú trọng tới công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho công nhân viên để đáp ứng được được yêu cầu kĩ thuật của công việc, tạo cơ sở cho việc nâng cao năng suất lao động.Đến nay, công ty đã đào tạo được một đội ngũ lao động lành nghề với số lượng ổn định Tình hình sử dụng lao động của công ty ngày một hợp lý hơn, công tác tuyển dụng nhân lực của công ty được thực hiện một cách nghiêm túc nhằm tuyển chọn những lao động thực sự có năng lực vào những vị trí chủ chốt của công ty
Bảng 2.1: Tình hình biến động của lao động trong công ty
(ĐVT: Người)
2005200620072008
60103117130
Trang 24Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động của lao động trong công ty
Tổng số lao động trong công ty năm 2009 là 145 người, trong đó:
+ Lao động trực tiếp: 120 người
+ Lao động gián tiếp: 25 người
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã có lợi nhuận nên công ty có điều kiện nâng cao chất lượng đời sống vật chất tinh thần cho người lao động, do đó người lao động ngày càng gắn kết với công ty
Cụ thể:
- Đối với công nhân trực tiếp sản xuất: Các phân xưởng sản xuất chính và phòng
kỹ thuật công nghệ,thời gian làm việc 3 ca liên tục vào các ngày trong tuần kể
Trang 25Do ảnh hưởng cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường cùng với chiến lược kinh doanh của công ty nên công nhân sản xuất trong công ty chủ yếu làm việc vào
ca 3, tận dụng giá điện giờ thấp điểm, giảm giá thành sản xuất, tăng sức cạnh tranh
Lượng công nhân trực tiếp sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của công ty, sản xuất kịp tiến độ, có thời điểm hoàn thành xong trước lượng sản xuất xi măng định mức cho mỗi ngày
- Đối với công nhân phục vụ quản lý: Thời gian làm việc theo quy định của nhà nước ban hành 40 giờ/ tuần, được nghỉ vào thứ bảy và chủ nhật Nhưng do đặc thù hoạt động kinh doanh nhằm đắp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng nên bộ phận quản lý làm từ thứ hai đến thứ bảy, đôi khi phải làm thêm ngày chủ nhật nhưng sau
đó được nghỉ bù vào các ngày kế tiếp trong tuần
Cơ cấu lao động của công ty:
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động của công ty
Số lượng (người)
Trang 26Biểu đồ 2.2: Cơ cấu lao động phân theo trình độ lao động của 2 năm
2008 – 2009
- Kể từ khi thành lập cho đến nay, theo thời gian và yêu cầu sản xuất, lao động của công ty luôn biến động nhưng từ năm 2007 trở lại đây thì lượng lao động biến động không nhiều Đến năm 2009 tổng số lao động trong công ty là
145 người, do đặc thù của công ty nên tỷ lệ lao động là nữ không đáng kể chiếm 21,38 % còn chủ yếu là lao động nam với tỷ lệ chiếm đến 78,62 %
- Phân loại theo trình độ chuyên môn thì ta thấy, lượng lao động có trình
độ học vấn cao rất hạn chế, số lượng này chủ yếu là những người có vai trò quản lý và lãnh đạo trong công ty, cụ thể năm 2009:
+ Số lao động có trình độ đại học chiếm 3,45 % tăng 25 % so với năm
2008, lao động có trình độ cao đẳng chiếm 5,52 % tăng 14,29 % so với năm
2008, lao động có trình độ trung cấp chiếm 6,21 % tăng 28,57 % so với năm
2008, trong khi đó lao động là công nhân nhân kỹ thuật chiếm đến 84,83 % tăng 9,82 % so với năm 2008
- Đồng thời, do đặc thù của một công ty sản xuất nên lao động trong doanh nghiệp cũng được chia thành 2 loại: lao động trực tiếp và lao động gián
Trang 27tiếp, trong đó lao động trực tiếp chiếm đa số Và 2 loại lao động này cũng có
sự tăng lên qua 2 năm do nhu cầu sản xuất của công ty Lao động trực tiếp tăng 10,09 % còn lao động gián tiếp tăng 19,05 %
2.2 Đánh giá thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm tại Công ty CP xi măng Sông Cầu
2.2.1 Phân tích chính sách giá cả của công ty
Do tình hình cung - cầu và diễn biến phức tạp của thị trường, để tạo điều kiện cho các đại lý đẩy mạnh tiêu thụ và đảm bảo lợi ích, công ty đã áp dụng mọi biện pháp tiết kiệm chi phí để ổn định và giảm giá bán so với năm
2008 Năm 2009, công ty đã có 9 lần giảm giá vào các tháng:
Trang 28Biểu đồ 2.3: Sự biến động của giá bán xi măng năm 2009
2.2.2 Phân tích hiệu quả tiêu thụ tại công ty CP xi măng Sông Cầu
2.2.2.1 Kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty