1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh Thực trạng và giải pháp

71 275 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 473,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUTrong quá trình thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đạt hóa nền kinh tế quốc dân và thực hiện chính sách mở cửa, chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KCN : Khu công nghiệp KCX : Khu chế xuất TNHH : Trách nhiệm hữu hạn VĐT : Vốn đầu tư

ĐTNN : Đầu tư nước ngoài FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài ODA : Đầu tư gián tiếp nước ngoài BVMT : Bảo vệ môi trường

Trang 3

Bảng 1.6.Dự án chia theo khu vực Error: Reference source not foundBảng 1.7.Một số chỉ tiêu kết quả khu vực FDI tỉnh Bắc Ninh 1997 – 2005 Error:Reference source not found

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đạt hóa nền kinh tế quốc dân và thực hiện chính sách mở cửa, chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp ở Việt Nam nói chung cũng như các tỉnh phía Bắc nói riêng có vai trò hết sức quan trọng,

sự phát triển này không những nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài mà còn nhằm nhanh chóng tạo nên một khu vực công nghiệp năng động có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế quốc dân và nâng cao hiệu quả kinh tế -

xã hội

Thực tế cho thấy có rất nhiều vấn để nảy sinh trong quá trình đầu tư phát triển Khu công nghiệp Bắc Ninh Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu mang tính thực tế cao về những thành công và hạn chế còn tồn tại trong suốt qua để từ đó tìm ra giải pháp tăng cường đầu tư phát triển Khu công nghiệp

Với tầm quan trọng của những vấn đề có liên quan đến đầu tư phát triển

khu công nghiệp phía Bắc, em xin phép được lựa chọn đề tài: “ Đầu tư phát triển tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh: Thực trạng và giải pháp” làm đề

tài nghiên cứu thực tập Kết cấu của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 2 chương:

Chương I : Thực trạng đầu tư phát triển tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh Chương II: Một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh

Trang 5

CHƯƠNG I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ BẮC NINH

1 Khái quát tình hình đầu tư phát triển KCN thành phố Bắc Ninh 1.1 Đầu tư phát triển Kinh tế - xã hội của Bắc ninh có ảnh hưởng đến đầu tư phát triển KCN

1.1.1 Tổng quan tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh

1.1.1.1 Kinh tế

Bước vào năm 2012, tỉnh Bắc Ninh vừa tròn 5 năm tái lập, nhìn lại chặng đường 5 năm xây dựng và phát triển, mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, song tỉnh Bắc Ninh đã nỗ lực phấn đấu giành được những thành tựu quan trọng: Nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức độ cao; bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 13,5% trong đó khu vực nông nghiệp tăng 6%; khu vực công nghiệp xây dựng cơ bản tăng 22%; khu vực dịch vụ tăng 12,5 mỗi năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá: Tỷ trọng công nghiệp xây dựng cơ bản tăng nhanh

từ 23,7% năm 1997 lên 47,8% năm 2011; Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 45% năm 2008 xuống còn 23,6% năm 2012

Trang 6

Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Bắc Ninh

Nhìn lại năm 2008, nền kinh tế của tỉnh lúc đó chủ yếu dựa vào sản xuât nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể, nhưng đến nay sau 5 năm tái lập tỉnh Bắc Ninh đã có 4 khu công nghiệp tập trung, hơn 20 cụm công nghiệp vừa và nhỏ với hàng trăm nhà máy có công nghiệ hiện đại; bộ mặt đô thị và nông thôn đổi mới rõ rệt; đặc biệt là đô thị hoá phát triển với tốc độ khá nhanh Tỉnh lỵ Bắc Ninh từ một thị xã nhỏ bé đã trở thành thành phố đô thị loại III

Vốn đầu tư phát tiển sản xuất - kinh doanh từ nguồn vốn nước ngoài năm

2009 9,4 tỷ USD tăng hơn gấp 4 lần so với năm 2005 và từ nguồn vốn trong nước hơn 76 nghìn tỷ đồng gấp gần 7 lần so với năm 2009 Đây là thời gian nhiều KCN hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và bắt đầu đi vào quá trình sản xuất - kinh doanh

Việc đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh trong các KCN bao gồm cả sản xuất công nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho việc sản xuất công nghiệp Các

Trang 7

ngành công nghiệp được đầu tư chủ yếu hiện này là điện tử, cơ khí,…chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp trong KCN.

Các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia và KCN với mục đích được thụ hưởng những cơ chế, chính sách ưu đãi và các điều kiện hoàn hảo về

hạ tầng, kỹ thuật nhằm phát triển thị trường cho sản phẩm của doanh nghiệp mình, đặc biệt là vươn ra thị trường thế giới Những ưu đãi và điều kiện này chỉ là điều kiện cần, sự phát triển thị trường còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ công nghệ sản xuất cho xuất khẩu

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN phát triển ngày càng cao, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, có sức cạnh tranh lớn với các sản phẩm

từ nước ngoài Hơn nữa, các sản phẩm sản xuất trong KCN đều là những sản phẩm tinh chế (đã qua quá trình chế biến) nên đóng góp không nhỏ vào việc sản xuất khẩu hàng hóa thô

Cơ sở hạ tầng được đầu tư cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ bao gồm: điện, đường, trường, trạm và các cơ sở phúc lợi xã hội khác

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở cả nông thôn và thành thị được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người một năm tăng từ 250 USD (1997) lên 630 USD (năm 2008); trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; đặc biệt thành tựu năm 2012 vừa qua đã ghi đậm dấu ấn về một chặng đường phát triển 5 năm của tỉnh, cùng cả nước vững bước trên con đường hội nhập và thực hiện tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trong một tương lai không xa, Bắc Ninh sẽ trở thành một tỉnh công nghiệp Trong đó, có một khu công nghiệp chế biến lớn và hiện đại, một vùng nông sản hàng hoá chất lượng cao Một trung tâm thương mại sầm uất; Một

hệ thống giáo dục đào tạo từ mầm non đến cao đẳng, đại học tiên tiến; Một thành phố giàu đẹp, văn minh đậm đà bản sắc văn hoá quan họ sẽ toả sáng và

Trang 8

vững bước trong thế kỷ 21.

Có rất nhiều yếu tố tác động tới sự hình thành và phát triển các KCN song tiêu biểu là một số yếu tố: luật pháp, định hướng, quy hoạch phát triển các KCN, phương hướng đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN, các vấn đề về lao động, về cơ sở hạ tầng xã hội ngoài hàng rào Nên nếu những yếu tố trên được quan tâm và quản lý tốt, hướng chúng theo chiều hướng tích cực sẽ có tác dụng lớn trong việc phát triển KCN

Thành phố Bắc Ninh với vị trí thuận lợi là đầu mối giao thông của các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, có các tuyến giao thông huyết mạch: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, có hệ thống núi đồi tạo nên vị trí quốc phòng quan trọng, là lá chắn bảo vệ cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội Với vị trí cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 Km, nằm trong quy hoạch vùng thủ đô, cách thành phố Bắc Giang 20 km về phía Đông Bắc, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45 km và cách Hải Phòng 110 km Phía Bắc giáp huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; phía Đông giáp huyện Quế Võ, phía Nam giáp huyện Tiên Du, phía Tây giáp huyện Yên Phong, là đầu mối giao thông của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có tiềm năng về thương mại dịch vụ, công nghiệp - TTCN và truyền thống văn hoá lâu đời Một trong những nét văn hiến đặc sắc của xứ Kinh Bắc - Bắc Ninh đó là truyền thống khoa bảng nổi danh và có nhiều đình chùa, lễ hội dân gian Văn miếu Bắc Ninh tại phường Đại Phúc được biết đến là một di tích lịch sử quan trọng của thành phố, của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, vinh danh 677 vị tiến sĩ từ thời

Lý đến hết thời Nguyễn, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước Người dân thành phố vẫn còn lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc, các lễ hội giàu truyền thống như hội Đền Bà Chúa Kho (phường Vũ Ninh), hội thi hát Quan họ (làng Viêm Xá, xã Hoà Long), hội Đền Thánh Tổ (Bồ Tát)

Trang 9

ở Đại Phúc, hội rước nước làng Thị Cầu (phường Thị Cầu), hội hát Quan họ làng Ó (khu Xuân ổ), Khả Lễ, Bồ Sơn (phường Võ Cường)

Là một thành phố trẻ nhưng giàu truyền thống văn hoá, thành phố Bắc Ninh có điều kiện quy hoạch, xây dựng đô thị bài bản theo hướng hiện đại, phát triển tiềm năng về thương mại dịch vụ, công nghiệp – TTCN Những năm gần đây, thành phố Bắc Ninh đã có những bước phát triển vượt bậc, hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ theo cấu trúc của một đô thị hiện đại, đời sống nhân dân, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao Phấn đấu đến năm 2015 thành phố Bắc Ninh trở thành

đô loại I

Bên cạnh các điều kiện thuận lợi về kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách để khuyến khích thu hút đầu tư Đây đều là những chính sách thông thoáng tạo nhiều điều kiện ưu đã khi đầu tư vào các tỉnh phía Bắc như:

- Đối với các dự án khuyến khích đầu tư và đặc biệt khuyến khích đầu

tư, có quy mô lớn (từ 50 triệu USD trở lên) và sử dụng nhiều diện tích đất (từ

5 ha trở lên) miễn tiền thuê đất từ 07 năm đầu (không tính thời gian xây dựng

cơ bản) và giảm 50% trong 03 năm tiếp theo

- Miễn tiền thuê đất trong thời gian dài đối với dự án khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực đang cần để tạo nên những bước đột phá làm động lực phát triển nền kinh tế- xã hội của khu vực

- Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài ứng tiến đền bù, giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình dự án, thành phố cho phép trừ số tiền chi phí ứng trước đó vào tiền thuê đất, tương ứng giữa tổng số tiền chi phí với thời gian thuê đất (trên cơ sở giá thuê đất cơ bản)

- Hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào được chính quyền hỗ trợ đầu tư

Trang 10

- Hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo công nhân, cán bộ ở các ngành nghề trình độ cao, công nghệ hiện đại, các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư ( nếu nhà đầu tư yêu cầu)

Quy trình về xét duyệt thẩm định cấp giấy phép đầu tư cũng đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực như :

* Thời hạn:

- Rút ngắn thời gian cấp giấy phép đầu tư( đối với dự án đăng ký cấp giấy phép đầu tư: 10 ngày, đối với dự án thẩm định cấp giấy phép đầu tư: 20 ngày)

- Rút ngắn thủ tục xin xúc tiến; phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư từ 26 đầu mối xuống còn 5 đầu mối chính đối với các dự án có quy mô vốn lớn, sử dụng đất rộng gồm: cung cấp thông tin, tiếp nhận dự án, thẩm định cấp giấy phép đầu tư( Sở kế hoạch đầu tư); giới thiệu đất, hướng dẫn về quy hoạch (kiến trúc sư trưởng); ký hợp đồng thuê đất (Sở địa chính - nhà đất); đền bù

và giải phóng mặt bằng (Ban giải phóng mặt bằng); thẩm định thiết kế và cấp phép xây dựng (Sở xây dựng)

- Rút ngắn thủ túc xúc tiến, phê duyệt và cấp giáy phép đầu tư từ 26 đầu mối xuống còn 1 đầu mối đối với các dự án có quy mô nhỏ, sử dụng đất hẹp (chủ đầu tư nước ngoài nộp hồ sơ dự án đến Sở kế hoạch đầu tư và được xem xét phê duyệt cấp giấy phép đầu tư, sau khi đã xin ý kiến các Bộ chuyên ngành và trình UBND tỉnh, thành phố phê chuẩn)

* Nội dung thẩm định

- Rút ngắn quy trình thẩm định dự án đầu tư nước ngoài từ 22 nội dung xem xét đánh giá xuống còn 5 nội dung cơ bản: tư cách pháp lý, năng lực tài chính của chủ đầu tư, mức độ phù hợp của dự án với quy hoạch ; lợi ích kinh tế- xã hội ; trình độ khoa học và công nghệ; tính hợp lý của việc sử dụng đất

Trang 11

Một trong những cơ chế đáng lưu ý, được các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài hoan nghênh đó chính là cơ chế “một cửa” Cơ chế này

đã giảm bớt được những thủ tục phiền hà, cồng kềnh cũng như rút ngắn được thời gian xin cho phép đầu tư Từ sau khi ban hành cơ chế “một cửa” số dự án đầu tư cũng như giá trị đầu tư không ngừng tăng lên tạo điều kiện cho sự phát triển của các KCN

1.1.1.2 Văn hóa - Xã hội

Từ cuối năm 2008 và đặc biệt năm 2009 tình hình đầu tư hạ tầng KCN vào Bắc Ninh rất khởi sắc UBND tỉnh đã có văn bản giao các chủ đầu tư các KCN như: Tập đoàn ORIX (Nhật Bản) làm chủ đầu tư hạ tầng KCN Yên Phong 2; Tập đoàn Foxconn (Hon Hai) làm chủ đầu tư KCN Đại Kim; Tổng Công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị - HUD (Bộ Xây dựng) làm chủ đầu tư KCN Thuận Thành 1; Công ty Cổ phần đầu tư Trung Quý - Ninh Thuận và Công ty Khai Sơn chủ đầu tư KCN Thuận Thành 3 Công ty TNHH liên doanh KCN Việt Nam - Singapore chủ đầu tư KCN VSIP Bắc Ninh Đặc biệt đầu tháng 12/2008 sẽ diễn ra Lễ khởi công KCN VSIP Bắc Ninh với sự chứng kiến của Lãnh đạo Chính phủ Việt Nam và Singapore

Ngoài ra còn có rất nhiều nhà đầu tư khác đăng ký đầu tư hạ tầng vào các KCN Bắc Ninh dự kiến phát triển

Nếu như trước năm 2008 đầu tư hạ tầng là các doanh nghiệp trong nước thì đến năm 2008 Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã hướng vào các nhà đầu tư nước ngoài là những tập đoàn lớn Điều này mở ra cơ hội mới trong việc thu hút đầu tư các dự án thứ cấp vào các KCN Bắc Ninh

Năm 2007 Ban quản lý các KCN Bắc Ninh đã cấp Giấy chứng nhận đầu

tư cho 05 dự án đầu tư hạ tầng KCN với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.065 tỷ đồng và 80 triệu USD Đó là: KCN Quế Võ 2 (490 tỷ đồng), KCN Quế Võ

Trang 12

mở rộng (583 tỷ đồng), KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn (553 tỷ đồng), KCN Thuận Thành 3 (438 tỷ đồng), KCN, đô thị và dịch vụ VSIP Bắc Ninh (80 triệu USD).

Công tác quy hoạch các KCN Bắc Ninh luôn được điều chỉnh, bổ sung

để đáp ứng với tình hình mới Hiện nay Bắc Ninh đã quy hoạch 17 KCN,

đô thị với tổng diện tích hơn 10.000 ha đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua

Như vậy với việc Việt Nam ra nhập WTO, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tăng nhanh, với vị trí địa lý thuận lợi và chiến lược phát triển đúng đắn cùng với sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh có thể coi là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015

Với những giải pháp thu hút đầu tư đúng đắn trong 2 năm 2008 - 2009 các dự án đầu tư vào các Khu công nghiệp đã tăng vọt Đến ngày 30/11/2007, Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 261 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư 1,36 tỷ USD (179 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký đầu tư 10.148 tỷ đồng và 82 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký đầu tư 723,0 triệu USD)

Triển khai Khu Công Nghiệp và Đô thị VSIP tại Bắc Ninh, với quy mô

700 ha Đồng thời đã chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận đầu tư của 10 dự án với tổng số vốn đầu tư 185 triệu USD trên diện tích đất 95 ha tại Khu Công Nghiệp VSIP

Tỉnh Bắc Ninh được tái lập ngày 01/01/1997, đúng sau một thập kỷ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời và có hiệu lực Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp một phần quan trọng vào sự phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh nhà Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 tỉnh Bắc Ninh cơ bản trở

Trang 13

thành một tỉnh công nghiệp, Bắc Ninh chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu

tư trong đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn vốn quan trọng Nhằm thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư vào tìm hiểu cơ hội, đầu tư tại tỉnh Bắc Ninh Trong gần 10 năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định như sau:

Thời kỳ 2005 ÷ 2010, tỉnh Bắc Ninh đã thu hút được 45 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 332.447.903 USD (bảng

1) Trong đó đầu tư vào các Khu công nghiệp tập trung có 34 dự án, với tổng

số vốn đầu tư đăng ký đạt 170.662.403 USD Còn lại 11 dự án FDI ngoài Khu công nghiệp, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 161.785.500 USD

Bắc Ninh là miền quê của chùa, tháp, lăng miếu, đền đài, quê hương của

lễ hội và sinh hoạt văn hoá dân gian nổi tiếng Nét nổi bật trong truyền thống văn hiến của người Kinh Bắc là truyền thống hiếu học và khoa bảng Trong thời phong kiến, suốt hơn 800 năm khoa cử chữ Hán, Bắc Ninh là nơi sản sinh ra hơn 600 vị tiến sỹ Trong đó có rất nhiều người đã thành các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá như Lê Văn Thịnh, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Cao, Họ không chỉ là những nhà chính trị, quân sự, ngoại giao và còn là những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu cho nền văn hiến Kinh Bắc

Trang 14

1.2 Tăng quy mô hình thành đầu tư phát triển KCN

Bảng 1.1Tổng vốn đầu tư phát triển các KCN phía Bắc 2008-2012

Nguồn: Vụ Quản lý các Khu kinh tể - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Biểu đồ 1.1Tổng vốn đầu tư phát triển các KCN phía Bắc 2005-2009

(tỷ USD)

Tính đến hết năm 2012, tổng vốn đăng ký đầu tư vào các KCN phía Bắc đạt 13 tỷ USD với 699 dự án Vốn đầu tư phát triển của các KCN Bắc Ninh luôn đạt tỷ lệ tăng khá cao Tốc độ tăng của giai đoạn năm 2008-2012 trung bình đạt 35% Trong đó vốn đầu tư tăng nhanh nhất vào năm 2010 (74%) Đây là giai đoạn bùng nổ các KCN ở phía Bắc với nhiều dự án lớn Vốn đầu tư trung bình của một dự án ngày càng cao, từ 3.18 triệu USD/dự án năm 2008 lên 7.37 triệu năm 2012 Điều đó chứng tỏ việc đầu tư vào các KCN không chỉ tăng về số dự án mà cả về quy mô của một dự án

Trang 15

1.3 Tình hình đầu tư phát triển KCN

1.3.1 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN

1.3.1.1 Đầu tư phát trển cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp

Để thu hút đầu tư vào KCN, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong việc

triển khai nhanh các dự án, ngoài những thành tựu về tài chính và quản lý thuận lợi, việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật các KCN đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng.Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo ra môi trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư có thể tiến hành xây dựng ngay nhà máy để sản xuất, tiết kiệm thời gian, tiền bạc, tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình Hoạt động đầu tư cơ

sở hạ tầng bao gồm các giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, xây dựng nhà xưởng, hệ thống giao thông, liên lạc,…Thông thường thời gian dành cho đầu tư xây dựng các KCN có quy mô diện tích 50-100 ha kéo dài từ 2-

3 năm, quy mô diện tích trên 100 ha kéo dài 4-5 năm Nói chung, các dự án đầu

tư xây dựng KCN đạt được tiến độ như đã được phê duyệt của Chính phủ

Bảng 1.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN Bắc Ninh

phân theo nguồn vốn giai đoạn 2008 - 2012

Nguồn: Vụ Quản lý các Khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bảng 1.3Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Bắc Ninh phân

theo nguồn vốn giai đoạn 2008 - 2012

Trang 16

2008 2009 2010 2011 2012

Nguồn: Phòng Kinh Tế Xã Hội - Sở Kế hoạch và Đầu tư

Biểu đồ 1.2Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN Bắc Ninh phân

theo nguồn vốn giai đoạn 2008 - 2012 (Tỷ USD)

Nguồn: Phòng Kinh Tế Xã Hội – Sở Kế hoạch và Đầu tư

Trong năm 2009, 34.153,48 tỷ đồng đã được đầu tư vào việc xây dựng

cơ sở hạ tầng Vốn đầu tư này chủ yếu vẫn là từ nguồn vốn của các nhà đầu tư nước ngoài (1,35 tỷ USD năm 2009) Năm 2009, do phần lớn các KCN đã gần như hoàn thành giai đoạn xây lắp và bắt đầu đi vào giai đoạn khai thác, các KCN mới hình thành cũng không nhiều, vì vậy vốn đầu tư cho xây dựng

hạ tầng đã giảm hơn so với các năm trước

* Đầu tư cho bảo vệ môi trường trong KCN:

Trang 17

Đây là một trong những hạng mục quan trọng của đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng, nhưng hiện nay vấn đề này chưa được quan tâm một cách thích đáng

Phần lớn các trạm xử lý nước thải được xây dựng trong vòng từ 1-2 năm với nguồn vốn chủ yếu là từ nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc hỗ trợ từ nguồn vốn ODA của chính phủ các nước

Vấn đề bảo vệ môi trường không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các trạm

xử lý nước thải mà còn cả về việc xử lý chất thải rắn, khí, bụi và tiếng ồn Những gần như tất cả các KCN trong vùng hoàn toàn không tính đến trong quá trình xây dựng dự án Chính vì vậy vấn đề ô nhiễm trong các KCN ngày càng trở nên nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ của lực lượng lao đông trong khu công nghiệp mà còn ảnh hưởng đến cả dân cư của các khu vực lân cận

Bảng 1.4 Giá trị xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN

phía Bắc giai đoạn 2008 - 2012 (tr USD)

Nguồn: Phòng Kinh Tế Xã Hội – Sở Kế hoạch và Đầu tư

Biều đồ 1.3Kim ngạch xuất nhập khẩu của các KCN phía Bắc (triệu

USD) giai đoạn 2008 - 2012

Trang 18

Nguồn: Phòng Kinh Tế Xã Hội – Sở Kế hoạch và Đầu tư

Như biểu đồ trên ta có thể thấy kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng cao trong khi có kim ngạch xuất khẩu có xu hướng tăng chậm dần và bắt đầu giảm Đặc biệt năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của các KCN phía Bắc đạt 3.651 triệu USD cao hơn gần 50% so với kim ngạch nhập khẩu (2.496 triệu USD) Đây là dấu hiệu rất đáng mừng cho các sản phẩm sản xuất của các KCN

Khu công nghiệp Yên Phong thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, là một phần của dự án Tổ hợp Khu công nghiệp – Đô thị Yên Phong, với quy

mô của đô thị loại V, dân số khoảng 45.000 người Đây là Khu công nghiệp tập trung đa nghành, tiếp nhận các dự án đầu tư cơ sở sản xuất kinh doanh không gây ô nhiễm môi trường, bao gồm các nghành nghề sau: Dược phẩm, thuốc thú y, thức ăn gia súc, công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp vật liệu xây dựng và cơ khí

Đây là dự án do Tổng công ty thủy tinh và gốm xây dựng (Viglacera)

(Bộ xây dựng) làm chủ đầu tư theo văn bản số 303/TTg-CN ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ cho phép thành lập và đầu tư KCN được xây dựng hiện đại, đồng bộ, đảm bảo điều kiện về phát triển công nghiệp và

Trang 19

bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, sản xuất công nghiệp và kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Ninh phù hợp với chủ trương Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và nhà nước Tạo tiền đề cho sự phát triển các khu đô thị mới, góp phần đẩy nhanh tiến tình đô thị hóa của tỉnh Bắc Ninh.

Diện tích quy hoạch tổng thể Khu công nghiệp khoảng 761ha, trong đó:+Giai đoạn 1 là 351.33ha

+ Giai đoạn 2 là 410ha (dự kiến khởi công xây dựng vào Q4/2008)

Cơ cấu sử dụng đất giai đoạn 1

1 Đất khu điều hành và dịch vụ công cộng 15.16 4.32

2 Đất các xí nghiệp công nghiệp, kho tàng 220.57 62.78

5 Đất các công trình đầu mối giao thông, hạ tầng

Khu công nghiệp Yên Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là một trong số ít các Khu công nghiệp có vị trí địa lý tự nhiên và hệ thống giao thông cực kỳ ưu thế và thuận tiện cho lưu thong, nằm trên giao điểm giữa 2 tuyến giao thông: hành lang Bắc - Nam là các Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B nối

Hà Nội với Lạng Sơn; hành lang Đông - Tây là Quốc lộ 18 (mới) có mặt cắt gấp đôi Quốc lộ 18 A (cũ) và nối Sân bay Quốc tế Nội Bài với Cảng biển nước sâu Cái Lân, Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng, giáp tuyến đường sắt quốc tế từ Miền Nam qua cửa khẩu Hữu Nghị - Lạng Sơn

Trang 20

sang Trung Quốc; và tuyến đường sắt cao tốc Yên Viên - Cái Lân nằm gần cảng Sông Cầu, một trong các tuyến đường thuỷ quan trọng của hệ thống đường sông các tỉnh phía Bắc.

* Khu công nghiệp Thuận Thành II – Bắc Ninh:

Khu công nghiệp, đô thị Thuận Thành II thuộc địa phận các xã: An Bình, Mão Điền, Hoài Thượng, và thị trấn Hồ - Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Vị trí cụ thể như sau:

+ Phía Bắc giáp kênh Bắc và tỉnh lộ 280

+ Phía Tây quốc lộ 38

Tổng diện tích trong ranh giới quy hoạch khoảng 304,405 ha trong đó: Đất xây dựng Khu công nghiệp khoảng 252,184 ha: đất xây dựng đô thị khoảng 52,2206 ha Lối chính vào Khu công nghiệp từ đường QL.38, mở trục giao thông từ Đông sang Tây chạy qua Khu đô thị và là trục giao thông chính qua Khu công nghiệp Đô thị

Đây là Khu công nghiệp tập trung gồm các ngành sản xuất công nghiệp

ít gây ô nhiễm độc hại:Công nghiệp công nghệ cao: máy tính và các sản phẩm linh kiện đi kèm; công nghiệp thông tin nối mạng truyền dẫn; công nghiệp điện tử, tiêu dùng cao cấp…

Khu công nghiệp, được chia thành hai khu chức năng riêng biệt:

- Khu công nghiệp: Bố trí ở phía Đông với diện tích 252,184 ha và có dải cây xanh cách ly với khu đô thị và dân cư lân cận

+ Đất xây dựng các xí nghiệp công nghiệp và kho tàng: Chiếm khoảng 59,9 % diện tích Khu công nghệp

+ Đất công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật: Các công trình trạm biến thế 110/22KV; trạm sử lý nước ngầm: trạm sử lý nước thải được bố trí thuận tiện

Trang 21

cho việc đáp ứng các nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật, tiếp cận thuận tiện ccác nguồn cung cấp và nguồn xả, đảm bảo về điều kiện môi trường.

+ Đất công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật: Các công trình trạm biến thế 110/22 KV: trạm khai thác và sử lý nước ngầm: trạm sử lý nước thải đực bố trí thuận tiện cho việc đáp ứng các nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật, tiếp cận thuận tiện các nguồn cung cấp và nguồn xả, đảm bảo về điều kiện môi trường

+ Đất cây xanh có diện tích tối thiểu 16.6% Diện tích cây xanh trong khu vực được bố trí tập trung và phân tán các dải cây xanh cách ly

+ Đất giao thông: các tuyến giao thông trong Khu công nghiệp được bố trí theo dạng ô cờ với trục giao thông chính từ tây sang đông Đảm bảo cho việc tiếp cận thuận lợi các ô đất xây dựng Hệ thống giao thông trong khu công nghiệp không những đáp ứng nhu cầu về vận chuyển mà còn có ý nghĩa

là các trục tổ hợp không gian, đảm bảo cho không gian kiến trúc cảnh quan của Khu công nghiệp trật tự và thống nhất

Trang 22

Cơ cấu sử dụng đất KCN

1 Trung tâm điều hành, nghiên cứu 5,4 2,1

2 Đất thương mại DV và giới thiệu sản

1.3.1.2 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ngoài khu công nghiệp

Thực hiện Luật ĐTNN tại Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 12/11/1996 và Luật sửa đổi, bổ sung, một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2002/QH10 và nhiệm vụ phát triển kinh tế đối ngoại trong thời gian tới; tỉnh Bắc Ninh đã chuẩn bị các điều kiện về đất đai, lao động, cơ

sở hạ tầng kỹ thuật, cải cách các thủ tục hành chính về đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu

Trang 23

tư tại Bắc Ninh.

- Hình thành và phát triển mạnh hai khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn

và Quế Võ với tổng diện tích 796ha (khu công nghiệp Tiên Sơn 600 ha; Khu công nghiệp Quế Võ 196 ha), đã có 46 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký là 174,5 triệu USD và 1.264,2 tỷ VNĐ Một số dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tỉnh đã quy hoạch 18 cụm công nghiệp làng nghề và đa nghề, trong đó 4 cụm công nghiệp chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật, sẵn sàng mời đón các nhà đầu tư vào thực hiện đầu tư

Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 2588924 triệu đồng, tăng hơn 23% so với năm 2000 Số doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh là 47, trong đó doanh nghiệp trung ương: 16, doanh nghiệp địa phương: 31 Doanh thu của các doanh nghiệp nhà nước (năm 2001) là 2594447 triệu đồng Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh 525 (bao gồm công ty TNHH: 327, công ty

cổ phần: 19, doanh nghiệp tư nhân: 179) Vốn đăng ký của các doanh nghiệp: 1.235.626 triệu đồng Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 12 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư đăng ký theo giấy phép cấp là 154.138.000 USD.Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các hợp tác xã thương mại và hộ kinh doanh cá thể Về kinh doanh nội địa: Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ trên thị trường xã hội tăng bình quân 13,5% từ năm 1997-2001, năm 2001 đạt 1.765

tỷ đồng, ước năm 2002 đạt 2,100 tỷ đồng Về kinh doanh xuất nhập khẩu: năm 1997 kim ngạch xuất khẩu địa phương đạt 11,7 triệu USD; năm 1998 đạt

31 triệu USD; năm 1999 đạt 29,6 triệu USD; năm 2000 đạt 49,8 triệu USD;

Trang 24

năm 2001 đạt 38,8 triệu USD; năm 2002 ước đạt 39,3 triệu USD Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 23% năm (1997 - 2001), năm 2002 ước đạt 55 tr iệu USD.

Tỉnh Bắc Ninh thực hiện cơ chế "Một cửa" trong quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo quy định của Nhà nước Sở Kế hoạch và Đầu tư và Ban Quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh là cơ quan đầu mối giúp UBND tỉnh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu

tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Tại các cơ quan đầu mối, các nhà đầu tư sẽ được giúp đỡ, cung cấp các thông tin, giải quyết công việc có liên quan với thủ tục đơn giản và thời gian nhanh nhất

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, UBND tỉnh Bắc Ninh

đã có Quyết định số 60/2001/QĐ-UB ngày 26/6/2001 ban hành Quy định ưu đãi khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Quyết định số 104/2002/QĐ-UB ngày 30/8/2002 của UBND tỉnh Bắc Ninh bổ sung một số điều của Quy định ưu đãi, khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tại Quyết định 60/2001/QĐ-UB Ngoài các chế độ chính sách ưu đãi quy định tại Luật khuyến khích đầu tư đến Bắc Ninh thực hiện đầu tư còn được hưởng các chế độ ưu đãi của tỉnh quy định

Các KCN đóng góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nước Chỉ tính riêng năm 2009 các KCN trên toàn lãnh thổ đã thu hút được 6.802 dự án đầu tư trong đó bao gồm 3.223 dự án đầu tư nước ngoài với tổng

số vốn đăng ký là 42.264,5 triệu USD và 3.579 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký 251.101,9 tỷ đồng Các dự án đầu tư vào KCN chiếm 30% về số dự án và 25% về vồn đầu tư vào nước ta Tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN cả nước năm 2009 đạt 361.210,4 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 14.325,76 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 8,8 tỷ USD tăng so

Trang 25

48% so với năm 2005, giá trị nhập khẩu 7,9 tỷ USD giảm 0,3% so với năm 2005.Tổng số lao động làm trong các doanh nghiệp tại các KCN là 1.319 nghìn người.

Căn cứ quy mô đầu tư, vị trí, địa điểm đầu tư, loại hình đầu tư, các nhà đầu tư được hưởng các chế độ ưu đãi về:

- Ưu đãi về giá cho thuê đất; miễn, giảm và thời hạn nộp tiền thuê đất

- Được hỗ trợ tiền đền bù thiệt hại về đất khi giải phóng mặt bằng

- Hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp

- Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động địa phương

Ngoài những ưu đãi trên, UBND tỉnh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để đầu tư; ưu đãi cho thành lập doanh nghiệp chế xuất trong KCN; ưu đãi cho các doanh nghiệp thành lập mới và di dời vào khu công nghiệp; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp về xúc tiến thương mại, khai thác thị trường

- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, phát huy những ưu điểm, lợi thế, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại

- Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng vào một số vùng trọng điểm cần định hướng đầu tư

- Đẩy mạnh tuyên truyền về môi trường và cơ hội đầu tư tại tỉnh Bắc Ninh tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài nắm bắt các thông tin cần thiết và tiếp súc trao đổi về dự án đầu tư

- Có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công tác theo dõi, quản lý dự án Tăng cường mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương trong việc xúc tiến các dự án đầu tư vào tỉnh

- Hoàn thiện về thể chế và có những hướng dẫn cụ thể liên quan đến

Trang 26

công tác tổ chức theo dõi các dự án.

- Xây dựng và công bố danh mục dự án gọi vốn ĐTNN tỉnh Bắc Ninh là bước cụ thể hoá và là một phần của công tác quy hoạch thu hút đầu tư nước ngoài Chuẩn bị đầy đủ và chu đáo các thông tin về đối tác của tỉnh và dự án kêu gọi đầu tư

- Đã thành lập trung tâm thông tin - tư vấn xúc tiến đầu tư giúp các doanh nghiệp trong giai đoạn chuẩn bị dự án như xác định dự án, nghiên cứu khả thi, thẩm định và phê duyệt Có hướng dẫn rõ ràng và cụ thể giúp cho quá trình sàng lọc các nghiên cứu khả thi và các báo cáo thẩm định

- Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư trên các diễn đàn trong nước

và nước ngoài dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng các phương tiện tuyên truyền khác nhau như: đài, báo, sách hướng dẫn, internet Đẩy mạnh vận động đầu tư một cách chủ động theo các chương trình, dự án

Khai thác triệt để những tiềm năng và lợi thế sẵn có, kết hợp với việc vận dụng những chính sách và cơ chế khuyến khích đầu tư của tỉnh; Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước đang thực hiện trên địa bàn tỉnh đã khẳng định cơ chế chính sách của tỉnh ban hành là đúng đắn Hai khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn và Quế Võ cùng các cụm công nghiệp làng nghề đã, đang được xây dựng và tiếp tục kêu gọi đầu tư sẽ làm cho quá trình thu hút đầu tư trở nên sôi động, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh

Tạo nguồn lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động:

Hiện nay, trên toàn tỉnh có 10 cơ sở đào tạo nghề (5 trường, 4 trung tâm

dịch vụ việc làm, 1 trung tâm dạy nghề cấp huyện).Các cơ sở dạy nghề ngày

càng dược củng cố cả về quy mô, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên Trong

Trang 27

đó, Trường Công nhân Kỹ thuật Bắc Ninh đã được Tỉnh và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hột đầu tư và được công nhận là trường trọng điểm của khu vực Có thể nói, trong những năm qua quy mô đào tạo của các cơ sở đào tạo công lập ngày càng tăng, chất lượng đào tạo được nâng lên, các hình thức đào tạo, ngành nghề đào tạo ngày càng đa dạng, phong phú, nhưng chương trình đào tạo chưa được cải tiến sát với thực tế, để đáp ứng nhu cầu thị trường

về lao động

Công tác dạy nghề.

Trong những năm qua, công tác dạy nghề đã được xã hội hoá mạnh và được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo với nhiều hình thức như: đào tạo

nghề dài hạn, ngắn hạn, tập huấn truyền nghề, kèm cặp… Tỉnh cũng đã có

những chính sách về công tác đào tạo nghề như: Khuyến khích các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo nghề; khuyến khích các doanh nghiệp tuyển lao động vào để đào tạo trước khi sử dụng Tỉnh đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho trường CNKT và một số cơ sở dạy nghề của tỉnh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đồng thời xây dựng qui hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề giai đoạn 2001-2010 để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Tỉnh cũng đã bước đầu triển khai công tác dạy nghề cho nông dân trong tỉnh để có nguồn lao động đi trước, đón đầu cung ứng cho các doanh nghiệp

Các cơ sở đào tạo ngày càng được đầu tư cả về số lượng và chất lượng, các hình thức đào tạo ngày càng được đa dạng, phong phú Tuy nhiên quy mô đào tạo còn nhỏ, chủ yếu đào tạo theo chỉ tiêu được giao, không căn cứ vào nhu cầu thực tế, chưa đa dạng hoá các nội dung và chương trình đào tạo để thích ứng với nhu cầu và cấp độ khác nhau của người lao động

Thời gian qua, việc đào tạo đang chưa theo kịp thực tế phát triển của các

Trang 28

KCN, đặc biệt là đào tạo công nhân kỹ thuật Trong số lao động của địa phương chỉ có 21% đã qua các trường đào tạo nghề, còn lại là các lao động do chính các doanh nghiệp tự đào tạo Có một thực tế là có công nhân được đào tạo qua các trường nghề không đáp ứng được trình độ đòi hỏi của KCN bởi các trang thiết bị của nhà trường nghề đã quá lạc hậu không theo kịp quá trình phát triển Hiện nay, vẫn còn có những Trung tâm, Trường tiến hành việc đào tạo các chuyên ngành không phù hợp với các chuyên ngành trong KCN như Trường công nhân xây dựng, Trường công nhân hoá chất-mỏ, dẫn đến phải đào tạo lại tại các doanh nghiệp trong KCN

Tính phù hợp với KCN

Thực tế tuyển dụng tại các doanh nghiệp cho thấy: thừa các chuyên ngành kinh tế, khoa học xã hội và lao động phổ thông trong khi đó lại thiếu lực lượng công nhân lành nghề như cơ điện, cơ khí, điện tử; m?t số ngành nghề như: chế tạo khuôn mẫu, tự động hoá, hàn nâng cao, sơn … các cơ sở chưa đào tạo được nên doanh nghiệp phải tìm lao động tại các trường đào tạo nghề ở tỉnh khác hoặc phải tự đào tạo

Đối với lao động phổ thông: Đây là lực lượng chiếm số đông tới 60% chưa được quan tâm chăm sóc và đào tạo Do tỉnh quản lý công tác đào tạo; tỉnh có thể giao cho đơn vị tham mưu, giúp tỉnh quản lý về lao động (Sở LĐ TB&XH, Ban quản lý các KCN) tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn Mô hình này hiện nay đã và đang được áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh, là kết quả triển khai

của đề tài khoa học "Các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo việc làm cho dân cư các vùng Nhà nước thu hồi đất phát triển các KCN tập trung và

Đô thị tại tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới” do BQL KCN chủ trì đã mở các lớp “đào tạo cơ bản về Pháp luật lao động và kỹ năng trả lời phỏng vấn tuyển dụng”, bước đầu đã đào tạo cho hơn 1.000 lao động và đạt được những

Trang 29

kết quả khả quan tỷ lệ trúng tuyển cao Mặt khác nên gắn vào công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh PTTH Nội dung, chương trình linh hoạt cho từng tỉnh hoặc khu vực để sau khi tốt nghiệp có thể tham gia lao động ngay tại các KCN của địa phương.

- Đối với lao động kỹ thuật: Cần đa dạng hoá các loại hình đào tạo, nâng cấp các cơ sở đào tạo cả về số lượng nhưng phải yêu cầu cao hơn và thực tế hơn về chất lượng Các chương trình dạy học áp dụng thực hành nhiều hơn để các lao động quen dần với các dây truyền công nghệ hiện đại Từ định hướng phát triển các ngành nghề ưu tiên của tỉnh, mà đặt hàng với các trường đào tạo nghề để ưu tiên đào tạo các ngành đó

- Lao động có trình độ (cao đẳng, đại học trở lên): do trung ương quản

lý, có những kiến nghị để các trường đại học, cao đẳng nâng cao trình độ của sinh viên trong thời kỳ hội nhập, đặc biệt là khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng giao tiếp, đàm phán đặc biệt là kỹ năng mô tả công việc để thực hiện mục tiêu Kỹ năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm

Điểm chung cho cả 03 nhóm trên là phải chú trọng vào kỹ năng lao động; có trình độ chưa hẳn đã giỏi về kỹ năng; kỹ năng giỏi chỉ khi được thực hành, tiếp xúc nhiều với công việc thực hành Đây cũng là điểm yếu của nền giáo dục nước ta khi chỉ chú trọng về lý thuyết, không đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, thiếu cơ hội cho sinh viên được thực hành nhiều

Mô hình đào tạo: thực hiện mô hình Trường - Nhà đầu tư - Nhà nước.

+ Trường học đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp;

+ Nhà nước định hướng ưu tiên lao động chuyển đổi và tạo lập hành lang pháp lý;

+ Doanh nghiệp cam kết sử dụng lao động và trợ giúp công tác thực hành

Trang 30

Để cụ thể hoá một mô hình, có thể thí điểm việc giao cho Ban quản lý các Khu công nghiệp thành lập Trung tâm đào tạo nghề với sự tham gia của các doanh nghiệp dưới dạng góp vốn bằng tiền và cơ sở vật chất kỹ thuật Các

kỹ sư, chuyên viên giỏi của các Doanh nghiệp thuộc Khu công nghiệp có thể tham gia giảng dạy để đào tạo chuyên gia, công nhân lành nghề theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp

Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp nhất là nguồn lực đất đai, vốn Để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc phát triển các Khu công nghiệp tập chung là một trong những nhân tố quan trọng Các Khu công nghiệp có lợi thế trong việc tạo ra điều kiện, thể chế và môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư, sử dụng vốn, công nghệ, trình độ quản lý cao, vừa phát huy tốt nội lực vừa huy động ngoại lực có hiệu quả, gia tăng xuất khẩu và giải quyết việc làm cho người lao động đem lại hiệu quả kinh tế -xã hội cao Tuy nhiên, các KCN phát triển là nơi tập trung đông người, vấn đề nhà ở cho người lao động làn việc trong các KCN theo đó cũng ngày càng trở nên bức xúc

Tính đến 31/12/2006 Tỉnh Bắc Ninh có 04 khu công nghiệp tập trung đã vận hành (KCN Tiên Sơn; KCN Quế Võ; KCN Đại Đồng Hoàn Sơn; KCN Yên Phong) và khu liền kề KCNQuế Võ, khu phát triển Quế Võ, khu Tân Hồng Hoàn Sơn với tổng diện tích 1512, 63ha Ngày 21/8/2006 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt quy hoạch các KCN ở Việt Nam đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020 trong đó có các KCN Bắc Ninh bao gồm: KCN Lam Sơn -Hạp Lĩnh 200 ha; KCN Yên PhongII 300ha KCN Quế Võ II

200 ha các khu đều đã có chủ đầu tư hạ tầng đăng ký Tiếp tục mở rộng(Quế

Võ 300ha; Tiên Sơn 100ha; Đại Đồng-Hoàn Sơn 300 ha Các KCN ở Bắc Ninh có đóng góp to lớn trong việc thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, tính đến hết năm 2006 các KCN Bắc Ninh đã cấp giấy phép đầu tư cho

Trang 31

207 dự án với tổng số vốn đăng ký quy đổi 926, 65 triệu USD, trong đó có 59

dự án đẩu tư nước ngoài, thu hút hơn 12 ngàn lao động làm việc tại các khu công nghiệp trong đó lao động là nữ chiếm 65% Do vậy vấn đề nhà ở cho người lao động làm việc trong các KCN tập trung ở Bắc Ninh phải được đặt gia cần được quan tâm trong phát triển bền vững các KCN

Hiện nay, khi quy hoạch các khu công nghiệp Bắc Ninh có chủ trương đồng thời cho quy hoạch khu chung cư, dịch vụ hoặc khu đô thị mới phục vụ khu công nghiệp cụ thể: (KCN Tiên Sơn có 28 ha, KCN Quế Võ 120 ha, KCN Yên phong 200 ha làm khu đô thị) Song việc triển khai xây dựng các khu đô thị rất chậm, hiện tại chỉ có khu công nghiệp Tiên Sơn đang triển khai xây dựng bao gồm khu nhà vườn, khu nhà liền kề, khu chung cư và các khu dịch vụ khác Qua khảo sát khu đô thị Tiên Sơn về cơ bản không có người lao động thuê với nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân giá cho thuê căn

hộ cao so với thu nhập của người lao động Một căn hộ chung cư tại khu công nghiệp Tiên Sơn diện tích 24m2 giá từ 500 000 đến 600 000đ/ tháng Trong khi giá thuê nhà tại các khu vực xung quanh KCN do người dân dựng lên bình quân 50 000đ/người/tháng nhưng một thực trạng cho thấy:

- Nhà ở cho người lao động thuê là những dãy nhà, phòng trọ do người dân dựng lên một cách tự phát, tạm bợ Hầu hết các phòng trọ có diện tích rộng khoảng từ10-15m2, cho 3-5 người ở Mái lợp fibro-xi măng cao khoảng

2, 5-3m trời nắng thì như lò nung, trời mưa thì dột ẩm thấp, có những căn nhà không có giường chỉ có tấm phản trải ra nền nhà làm nơi ngủ nghỉ, điện nước sinh hoạt thiếu thốn không đảm bảo tiện nghi sinh hoạt tối thiểu, ở và đi lại chật hẹp, không hợp vệ sinh, giá cả và thời gian thuê không ổn định Việc ở, sinh hoạt và đi lại trong các khu nhà này gây rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng dến chất lượng làm việc và khả năng tái sản suất sức lao động của công nhân

Trang 32

- Tốc độ phát triển các khu công nghiệp tỷ lệ thuận gia tăng lao động tại các khu vực nay, thì các khu nhà trọ tạm bợ trên cũng đang gia tăng rất mạnh Song cũng không đáp ứng được nhu cầu thuê nhà với giá rẻ của công nhân mỗi khi có các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động và tiếp tục tuyển dụng thêm lao động mới Vì quỹ đất của các hộ dân quanh khu công nghiệp cũng

có hạn, không thể xây thêm mãi được Đây là một bài toán khó đối với các khu công nghiệp nói riêng, các cấp chính quyền tỉnh Bắc Ninh nói chung

Từ các nguyên nhân do cung không đủ cầu, đã nẩy sinh mâu thuẫn chủ nhà cho thuê ép giá, nếp sống sinh hoạt của làng quê thay đổi, tệ nạn xã hội gia tăng, công nhân đến thuê nhà không đăng ký tạm chú với chính quyền địa phương nơi có khu công nghiệp dẫn đến khó kiểm soát Sự va chạm giữa công nhân với thanh niên địa phương làm mất an ninh trật tự trong khu vực

- Tiền thuê nhà luôn là gánh nặng đối với công nhân trong KCN nhất là lao động trẻ ngoài tỉnh Với mức thu nhập nói trên họ chỉ có thể dành ra 10-15% để thuê nhà Để có việc làm, có thu nhập đảm bảo cho các chi phí khác cho cuộc sống và còn lại một phần tiết kiệm, buộc họ phải chấp nhận ở tại các căn nhà tồi tàn, tạm bợ thiếu điều kiện sống tối thiểu, thiếu thông tin, không có sách, báo, ti vi, thiếu cả thời gian nghỉ ngơi bởi vì thơi gian làm việc của các doanh nghiệp bình quân từ10-12h/ca trừ các đơn vị làm theo giờ hành chính

Có thể nói, thị trường nhà ở cho công nhân trong các khu công nghiệp đang bị thả nổi, do cầu đang gia tăng mà cung không đáp ứng đủ cả số lượng và chất lượng Nếu tình trạng trên cứ để kéo dài không sớm được cải thiện rất có thể gây nên những vẫn đề phức tạp gây mất an ninh trật tự tại các KCN và xung quanh KCN, làm giảm uy tín môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trang 33

Tình hình lấp đầy, loại hình sản xuất và loại hình dân cư xung quanh các khu công nghiệp.

STT Diện tích quy

hoạch

Đất xây dựng công nghiệp

Mức độ lấp đầy (%)

Các loại hình sản xuất công nghiệp

Loại hình dân

cư xung quanh KCN

Vật liệu XD, chế biến thực phẩm, cơ khí, điện, điện tử, may và các loại hình tương tự

Nông thôn

600 336 61,15 Vật liệu XD, chế biến

thực phẩm, cơ khí, điện, điện tử, may và các loại hình tương tự

Nông thôn

300 283,98 57,0 Cơ khí, điện, điện tử, chế

biến nông sản thực phẩm, dược, đồ gia dụng và các loại hình tương tự

Nông thôn

4 Khu liền kề, khu phát triển KCN Quế Võ

141,56 107,44 100 Nhà xưởng cho thuê, cơ

khí, bao bì, nông sản,

dược, gỗ

Nông thôn

61,36 44,44 100 Nhà xưởng cho thuê, cơ

khí, bao bì, nông sản,

Nông thôn

Trang 34

dược, gỗ

6 KCN Yên Phong

340,73 206,07 - Vật liệu XD, chế biến

thực phẩm, cơ khí, điện, điện tử, may và các loại hình tương tự

Nông thôn

Tỷ lệ lấp đầy bình

quân chung

54%

1.3.2 Tình hình thu hút đầu tư vào phát triển KCN

Lao động làm việc trong KCN liên tục tăng qua các năm, đặc biệt là trong 5 năm đầu, tốc độ tăng hàng năm đều đạt trên 100% Những năm kế tiếp, tốc độ lao động giảm hơn trước Nguyên nhân là do giai đoạn này hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp đã dần ổn định Trong giai đoạn 2007-

2009 mức tăng lao động lại bắt đầu tăng cao do đây là giai đoạn bùng nổ các KCN phía Bắc Tính đến hết năm 2009, tổng số lao động làm việc trong các KCN 313.040 người

Thực tế, nếu so sánh với khả năng tạo việc làm của các KCN thì đây chưa phải là con số lớn và chưa tương xứng với tiềm năng Nhưng điều quan trọng hơn đó là số lao động này được tiếp cận với công nghệ sản xuất hiện đại, phương thức quản lý tiên tiến, có bài bản Đây là diều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ lao động mới có kỷ luật, có kỹ thuật và có năng suất cho công cuộc CNH, HĐH đất nước ta

Tạo việc làm đồng nghĩa với tạo thu nhập cho người lao động, vì phần lớn lao động được thu hút vào làm việc trong KCN là lao động chưa qua đào tạo và một bộ phận không nhỏ là từ các khu vực nông thôn Theo điều tra thì hiện nay có khoảng 40% số lao động làm việc trong KCN là những người nghèo tư các địa phương Do đó, việt tạo ra chỗ làm việc trong KCN đã tác

Trang 35

động tích cực đến việc xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư, đồng thời góp phần giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên.

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho

sự phát triển kinh tế của các nước như thu hút vốn đầu tư, tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại Trong thực tế Việt Nam là nước đang phát triển và đang gặp phải những khó khăn như thiếu hụt vốn để nâng cấp hạ tầng cơ sở, chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý và tay nghề kỹ thuật Sự hình thành

và phát triển KCN đã tạo ra một môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư Các KCN đều là những nơi có điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và còn là những nơi được áp dụng chính sách ưu đãi

về cơ chế quản lý tài chính, thuế nên càng thu hút được nhiều các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài

Cùng với việc thu hút vồn đầu tư, việc tiếp thu công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến cũng sẽ được thực hiện Khi các nhà đầu tư các nước tiến hành đầu tư vào các KCN thì đồng thời cũng mang theo các công nghệ tiên tiến, hiện đại đặc biệt là các nước có trình độ phát triển cao như Nhật Bản, Mỹ, các nước từ khối liên minh EU Trong bối cảnh công nghệ nước ta còn lạc hậu, việc chuyển giao công nghệ tiên tiến góp phần đẩy nhanh CNH, HĐH nước ta Một số ngành nhờ thu hút công nghệ tiên tiến của nước ngoài đã có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường khu vực và quốc tế

Bảng 1.5 FDI chia theo năm từ 2008 – 2012

Ngày đăng: 17/04/2015, 22:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt, TS. Từ Quang Phương, giáo trình “Kinh tế đầu tư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình "“Kinh tế đầu tư
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư, “Báo cáo tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển các KCN - thành phố Bắc Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển các KCN - thành phố Bắc Ninh
4. Báo cáo của Sở Tài nguyên môi trường Bắc Ninh Khác
5. Báo cáo Ban quản lý khu công nghiệp thành phố Bắc Ninh 6. Website: www.bacninh.Gov.vn Khác
7. Website: www. Izabacninh.Gov.vn 8. Một số tài liệu khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4 Giá trị xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN - Đầu tư phát triển tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh Thực trạng và giải pháp
Bảng 1.4 Giá trị xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN (Trang 17)
Bảng 1.5. FDI chia theo năm từ 2008 – 2012 - Đầu tư phát triển tại các Khu công nghiệp Bắc Ninh Thực trạng và giải pháp
Bảng 1.5. FDI chia theo năm từ 2008 – 2012 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w