1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp

71 469 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 565,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đầu tư phát triển kinh tế, Vai trò của ĐTPT đối với phát triển kinh tế của một tỉnh 1.1.1 Khái niệm hoạt động đầu tư phát triển kinh tế của một tỉnh Đầu tư phát triển là bộ phậ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng của nền kinh tế quốc dân, với chứcnăng góp phần tái sản xuất tài sản cố định và tạo ra năng lực sản xuất mới cho

xã hội Hoạt động đầu tư phát triển có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp,nhiều lĩnh vực, phụ thuộc vào yếu tố kinh tế, kỹ thuật và điều kiện tự nhiên, xãhội Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển có ảnh hưởng lớn đến sự phát triểncủa các ngành kinh tế

Đối với nước ta nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng, sau 22 năm đổimới đã đạt được kết quả đáng phấn khởi trong lĩnh vực đầu từ phát triển Quy

mô vốn đầu tư hàng năm ngày càng tăng, hình thức đầu tư ngày càng phongphú, hiệu quả sử dụng vốn ngày càng cao, cơ chế đầu tư càng ngày càng đượchoàn thiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được của hoạt động đầu tưphát triển, trong thực tế hoạt động đầu tư phát triển đã bộc lộ nhiều yếu kém,hạn chế về huy động và sử dụng vốn đầu tư Khối lượng vốn đầu tư huy động từcác nguồn còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng thực tế của mỗi nguồn Cơcấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế, theo vùng kinh tế vẫn còn bất hợp lý Mặtkhác, hoạt động quản lý đầu tư còn bộc lộ nhiều yếu kém như: cơ chế quản lýthiếu đồng bộ, hiệu quả quản lý chưa cao còn thất thoát và lãng phí vốn đầu tư

Do vậy, chú trọng và quan tâm tới hoạt động đầu tư phát triển đang là công việccủa nhiều ngành, nhiều cấp

Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có dân số đông và diện tích khá lớn, bị tàn pháqua hai cuộc chiến tranh, lại là một tỉnh nghèo, chậm phát triển và còn nhiều khókhăn Do đó, hoạt động đầu tư phát triển kinh tế mang đầy đủ những yếu tố đadạng phong phú và phức tạp, và có những điểm riêng biệt do đặc thù kinh tế - xãhội của địa phương Những hạn chế tồn tại trong công tác huy động và sử dụngvốn cho hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp đểtăng cường huy động và nâng cao hiệu quả của công tác huy động và sử dụng

Trang 2

vốn đầu tư phát triển Xuất phát từ thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài: “Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa Thực trạng và giải pháp.”

Kết cấu luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Tổng quan về Đầu tư phát triển kinh tế trong nền kinh tế

Chương 2 : Thực trạng về hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở Thanh

Hoá giai đoạn 2005 – 2008.

Chương 3: Một số giải pháp về đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh

Thanh Hoá thời gian tới.

2 Muc đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn

đề lý luận chung về đầu tư phát triển kinh tế chung và đối với một tỉnh nói riêng,

từ nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đưa ra cácnhận định chung về tình hình đầu tư và tìm ra các hạn chế của hiệu quả đầu tưphát triển kinh tế ở Thanh Hóa, tìm ra các nguyên nhân và đưa ra các địnhhướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế ở ThanhHóa trong thời gian sắp tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hoạt động đầu tư ở tỉnh Thanh Hóa

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, logic, phươngpháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, mô hình hóa, phương pháptiếp cận, hệ thống

Trang 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Từ luận văn này em được tìm hiểu thêm về tình hình kinh tế- xã hội của tỉnhThanh Hóa nói chung, cũng như tình hình đầu tư phát triển kinh tế ở Thanh hóa,Luận văn cho tác giả hiểu thêm về quê hương mình, cũng như cho mọi người thêmmột lần hiểu về Thanh hóa, tiếp cận các cơ hội đầu tư ở Thanh Hóa Luận văn chỉtìm hiểu và đưa ra các định hướng và một số giải pháp phát triển công tác đầu tưphát triển trong lĩnh vực kinh tế

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG

1.1 Khái niệm đầu tư phát triển kinh tế, Vai trò của ĐTPT đối với phát triển kinh tế của một tỉnh

1.1.1 Khái niệm hoạt động đầu tư phát triển kinh tế của một tỉnh

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn tronghiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tàisản vật chất ( nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kỹ năng…), giatăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển

Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều các nguồn lực khác nhau Theo nghĩahẹp nguồn lực được sử dụng cho đầu tư phát triển gọi là tiền vốn Theo một cáchkhác thì nguồn lực còn được hiểu bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máymóc, thiết bị, tài nguyên Bởi vậy khi xem xét hiệu quả một dự án đầu tư pháttriển cần tính đúng đủ các nguồn lực tham gia

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phâncông lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành

và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tích chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu

tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình philợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành:Loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại bịcấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư được chia thành: những tài sảnvật chất và tài sản vô hình Tài sản vật chất đây là những tài sản được sử dụngcho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động.Tài sản vô hình như phát minh sáng chế, uy tín và thương hiệu…

Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất ( nhàxưởng, máy móc thiết bị… ), tài sản trí tuệ( trình độ văn hóa, chuyên môn, khoahọc, kỹ thuật…) và tài sản vô hình ( phát minh, sáng chế, bản quyền ) Các kếtquả của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất xã hội.Hiệu quả củađầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được

Trang 5

cần được xem xét trên cả phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hàihòa giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vaitrò quản lý nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trựctiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanhnhư đầu tư cho y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo… nhưng lại rất quan trọng đểnâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem

là đầu tư phát triển

Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốcgia, cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăngtrưởng, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đờisống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của các doanh nghiệp nhằm tốithiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượngnguồn nhân lực…

Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định.Chủ đầu tư là người sở hữu vốn, ra quyết định đầu tư quản lý quá trình thực hiện

và vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi từ thành quả đầu tư đó Chủđầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư và chịu trách nhiệm toàn diện

về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến việc nâng cao hiệuquả hoạt động đầu tư

Trong một vùng kinh tế, đầu tư phát triển làm gia tăng tài sản cho cả vùngkinh tế chứ không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các đơn vị Ví dụviệc mua bán tài sản cố định giữa các đơn vị, vẫn được xem là hoạt động đầu tưcủa các đơn vị này, nhưng trên phương diện nền kinh tế của một vùng, không

có đầu tư tăng thêm mà chỉ chuyển quyền sở hữu từ đơn vị này sang đơn vịkhác

1.1.2 Vai trò của đầu tư đối với phát triển kinh tế của tỉnh

1.1.2.1Vấn đề có bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế của một tỉnh

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu trong đường lối, chiến lược vàchính sách kinh tế của một đất nước đang phát triển nói chung và một tỉnh nóiriêng Tăng trưởng là sự tăng thêm về quy mô sản lượng của nền kinh tế Chỉtiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế và các quốc gia thừa nhận là tổng sản phẩmquốc nội (GDP) thực tế, tổng thu nhập quốc dân (GNP), thu nhập bình quân đầungười, có thể tính mức tăng hàng năm, hoặc tăng mức bình quân năm của thời

Trang 6

kỳ Như vậy có thể định nghĩa tăng trưỏng kinh tế là sự mở rộng GDP TheoKuznets cho rằng, tăng trưởng kinh tế là khả năng cung cấp ngày càng tăng vàlâu dài các hàng hóa đa dạng cho nhân dân Ông nêu ra 6 đặc điểm của tăngtrưởng hiện đại: tỷ lệ tăng trưởng cao của sản lượng bình quân đầu người, tốc độtăng năng suất lao động cao, tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế cao, sự chuyểnbiến tư tưởng, thái độ xã hội, công nghệ được tăng cường, và sự lan rộng tăngtrưởng kinh tế cũng có giới hạn Những đặc điểm này vừa cho biết các nhân tốmới ảnh hưởng đến tăng trưởng liên tục, vừa đặt ra những câu hỏi để có sự tăngtrưởng liên tục trong thời gian dài.

Phát triển kinh tế là quá trình tăng thêm về mọi mặt của nền kinh tế trongmột thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm sự tăng thêm quy mô sản lượng và sựtiến bộ cơ cấu xã hội.Ngày nay, phát triển kinh tế cần đạt yêu cầu về phát triểnbền vững Theo quan điểm của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển,phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại nhưngkhông làm tổn thương đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai.Goulet cho rằng, có ba giá trị cốt lõi bên trong của sự phát triển là phương tiệnsống, lòng tự trọng và quyền tự do, đại diện cho những mục tiêu chung mà tất cảcác cá nhân và xã hội tìm kiếm

Để đánh giá về mức độ phát triển có thể sử dụng bổ sung các chỉ tiêu vềphúc lợi của con người theo nhu cầu cơ bản là: các chỉ tiêu phản ánh mức sống,tuổi thọ bình quân, chăm sóc sức khỏe, các chỉ tiêu phản ánh trình độ văn hóa,giáo dục, dân số, việc làm, HDI `

Các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến sự tăng trưởng và phát triển là yếu tốđầu vào của sản xuất Đó chính là nguồn tài nguyên, vốn sản xuất, kỹ thuật,công nghệ Các yếu tố đầu vào vừa ảnh hưởng đến mức cung, vừa ảnh hưởngđến mức cầu và sự cân bằng quan hệ cung cầu tác động ngược trở lại dẫn đếnthay đổi sản lượng đầu ra

Chất lượng đầu vào của lao động ( sức khỏe, kỹ năng, kiến thức, kỹ luật )

là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến tăng trưởng kinh tế Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng có vai trò quan trọng trong tăngtrưởng kinh tế Tuy nhiên trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, việc sở hữunguồn tài nguyên không quyết định một nước có thành công hay không Nhật

Trang 7

Bản là một ví dụ điển hình, là một nước nghèo tài nguyên nhưng đã trở nênhùng mạnh về kinh tế, với sự phát triển thần kỳ

Vốn sản xuất, ở đây là vốn tạo tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc,kết cấu hạ tầng Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP và hiệu quả đầu tư, chiến lược đầu

tư đúng hướng tạo ra tốc độ tăng trưởng cao Như trường hợp tăng trưởng bứcphá của con rồng châu Á nhờ đầu tư có hiệu quả Công nghệ là yếu tố thứ tưcùng ba yếu tố trên có vai trò rất lớn với tăng trưởng kinh tế

Ngoài các yếu tố phi kinh tế cũng tác động đến tăng trưởng theo hướngcùng chiều hoặc ngược chiều Các yếu tố này có ảnh hưởng lâu dài và phức tạp.Một số yếu tố có thể kể đến là : dân tộc, tôn giáo, đặc điểm, văn hóa, xã hội, thểchế, thể chế chính trị

1.1.2.2 Tác động của hoạt động đầu tư đến tăng trưởng và phát triển kinh

tế của tỉnh

Trong ngắn hạn, đầu tư tăng làm cho tổng cầu tăng lên trong khi tổngcung chưa thay đổi, dẫn tới thay đổi điểm cân bằng theo hướng tăng sản lượngcho nền kinh tế Khi thành quả đầu tư phát huy tác dụng, các yếu tố năng lựcmới đi vào hoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên thì tổng cung trong dài hạntăng lên, sản lượng tiềm năng cũng tăng lên đồng thời giá cả giảm xuống Khigiá cả giảm xuống sẽ kích thích tiêu dùng, cầu tăng thì cung sẽ tăng Như vậysản xuất phát triển là nguồn gốc để tích lũy tư bản và phát triển kinh tế, nâng caođời sống của nhân dân

Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư với tồng cầu vàtổng cung của nền kinh tế, sự thay đổi của đầu tư dù tăng hay giảm, vừa là sựduy trì ổn định vừa là yếu tố phá vỡ ổn định của nền kinh tế Khi đầu tư tăng thìcầu về các yếu tố tăng, làm cho giá của hàng hóa liên quan tăng đến mức độ nào

đó dẫn đến tình trạng lạm phát Lạm phát làm đình trệ các yếu tố sản xuất, đờisống người lao động gặp khó khăn, thâm hụt ngân sách, giảm tốc độ tăng trưởngkinh tế

Để làm sáng tỏ vai trò của hoạt động đầu tư đến sự ổn định của nền kinh tế,

có thể xem xét đánh giá cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á vừa qua Cácchuyên gia kinh tế đều cho rằng, hoạt động đầu tư sai lầm, hiệu quả thấp, mangtính “ cơn sốt” trong điều kiện hệ thống tài chính, tiền tệ yếu kém là một trongnhững nguyên nhân quan trọng nhất gây ra cuộc khủng hoảng tài chính Theo

Trang 8

đánh giá của ngân hàng thế giới, đó không chỉ là kết quả của những sai lầmtrong quản lý kinh tế vĩ mô ngắn hạn mà có nguyên nhân: tăng trưởng nhanhtrong điều kiện thiếu thị trường tài chính, thị trường vốn đủ mạnh và sự tham giarộng rãi của Chính phủ làm cho các khu vực tài chính và doanh nghiệp phải đầu

tư dài hạn bằng nguồn vốn vay ngắn hạn Điều đó dẫn đến khủng hoảng nợ củakhu vực tư nhân

Cả ba khía cạnh: cơ cấu vốn vay, cơ cấu đầu tư, kỹ năng thích ứng thịtrường đều không đạt được yêu cầu lành mạnh cho phát triển kinh tế Các doanhnghiệp đã mạo hiểm vay vốn ngắn hạn để đầu tư dẫn đến nợ của nhiều doanhnghiệp có khi vượt quá tổng số vốn của mình tới 200%-400% Việc làm này dẫntới tăng nhanh khối lượng nợ nước ngoài Nợ nước ngoài của Thái Lan đã tăng

từ 28 tỷ USD năm 1990 lên 98 tỷ năm 1997 bằng 97% GDP, của Inđônêxiabằng 198% GDP, trong đó nợ ngắn hạn phải thanh toán trong năm chiếm tới70% tổng số nợ Đầu tư của các doanh nghiệp cũng mắc sai lầm, đầu tư nhiềuvào bất động sản, các công trình kém hiệu quả, dẫn đến mất khả năng thanhtoán, ảnh hưởng dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế Các doanh nghiệp lúngtúng trong các quyết định đầu tư mới, bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh

Cuộc khủng hoảng này đã gây thiệt hại cho các nước châu Á khoảng 300

tỷ USD, bằng 20% GDP của các nước bị khủng hoảng trong vòng một năm vàlàm thiệt hại chung cho thế giới khoảng 500 tỷ USD, làm cho các nhà đầu tưnước ngoài giảm sút lòng tin Ảnh hưởng đến các lĩnh vực xã hội cũng rất nặng

nề Năm 1998, tỷ lệ thất nghiệp tăng gấp đôi ở Thái Lan, tăng gấp ba ở HànQuốc, tình trạng nghèo khổ tăng nhanh do thất nghiệp và lạm phát: Inđônêxiatăng thêm 20%, Hàn Quốc và Thái Lan tăng nhanh thêm 12% dân số so vớitrước khi diễn ra khủng hoảng Trong những ưu tiên cho phục hồi sau khủnghoảng, Ngân hàng Thế Giới đã lựa chọn nhiều giải pháp, trong đó giải pháp vềđầu tư lại đóng vai trò quan trọng thông qua biện pháp tăng tổng cầu; cải tổ cơcấu, huy động các nguồn lực và nâng cao chất lượng tăng trưởng

Ở Việt Nam hoạt động đầu tư cũng góp phần quan trọng vào việc đưanước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội vào những năm đầu thập kỷ 90.Các chỉ tiêu về đầu tư đặt trong kế hoạch 5 năm 1991-1995 đã thực hiện được

và nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, nhịp độ tăng trưởng bìnhquân là 8,2% / năm

Trang 9

Tuy nhiên, những hạn chế trong chính sách đầu tư, hiệu quả đầu tư thấp,môi trường đầu tư thiếu hấp dẫn và an toàn đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới tốc

độ tăng trưởng của nền kinh tế trong các năm 1998, 1999, nền kinh tế đã rơi vào

“ điểm đáy” của sự tăng trưởng Chính phủ nhận định: đầu tư của những nămgần đây chưa thực sự gắn với thị trường; khuynh hướng đầu tư còn dựa vàohàng rào bảo hộ, có phần nặng thay thế nhập khẩu; ở một số lĩnh vực, đầu tưphát triển năng lực sản xuất không cân đối với khả năng tiêu thụ, sản phẩm làm

ra không đủ sức cạnh tranh

Như vậy hoạt động đầu tư vừa tạo ra sự ổn định, thúc đẩy tăng trưởng,vừa là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, suy thoái kinh tế của các nước,đồng thời các biện pháp khắc phục tình trạng này cũng bao gồm những biệnpháp về đầu tư Hoạt động đầu tư cũng góp phần làm ổn định xã hội thông quatạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, giảm đói nghèo Xã hội ổn định sẽ tạomôi trường thuận lợi cho dân cư, doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư, đem lại sự tăngtrưởng và phát triển cho nền kinh tế

Mô hình tăng trưởng kinh tế của Harrod-Domar đã chứng minh có sựquan hệ tỷ lệ thuận giữa tỷ lệ vốn đầu tư và tỷ lệ tăng trưởng thu nhập quốcnội (GDP) Quan hệ giữa mức tăng vốn đầu tư và tăng trưởng đã được xác lậpbằng phương trình kinh tế:

Mức tăng GDP = Mức tăng vốn đầu tư / ICOR

Trong đó: ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là hệ số tăngtrưởng vốn-đầu ra, biểu thị hiệu qủa của việc sử dụng vốn đầu tư

Như vậy, bên cạnh việc sử dụng vốn đầu tư một cách hiệu quả thì việcgia tăng tỷ lệ vốn đầu tư sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng tăng và ngược lại

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chỉ là một điều kiện tiền đề để tạo ra sựphát triển Phát triển kinh tế là cả một quá trình làm biến đổi sâu sắc về mọimặt kinh tế xã hội của một đất nước cả về số lượng và chất lượng trong dàihạn Phát triển kinh tế đòi hỏi sự tăng trưởng phải được duy trì liên tục trongdài hạn, tạo nên những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế và cấu trúc xã hội theohướng hiện đại, nền kinh tế hoạt động với năng suất và hiệu quả cao, hang hóa

có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, môi trường được bảo vệ, đờisống vật chất và văn hóa của người dân được cải thiện rõ rệt

Trang 10

Ngoài những tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc duy trì ổnđịnh lâu dài nguồn cung cấp vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng để đạt đượcnhững mục tiêu phát triển kinh tế Điều này thể hiện trước hết ở tác động củavốn đầu tư đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tếnhanh và bền vững Việc kiến tạo cơ sở hạ tầng luôn phải đi trước một bước để

mở đường cho nền kinh tế phát triển Ngân hàng thế giới đã nhận định rằng sựgia tăng tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng với sự gia tăng vốn đầu tưvào cơ sở hạ tầng Vì vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải có một lượng vốnlớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng Mặt khác, để đạt được mục đích phát triểnkinh tế nhanh và bền vững, cần phải tạo cơ cấu kinh tế tối ưu phù hợp với đặcđiểm tình hình của mỗi nước Một kinh tế cơ cấu tối ưu luôn bảo đảm sự pháttriển cân đối, hài hòa cả về cơ cấu ngành, vùng và lãnh thổ Ở đây vốn đầu tưđóng vai trò quan trọng trong việc khai thác hiệu qủa các nguồn lực, tiềm năngtạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tối ưu, từ đó tạo ra

sự phát triển nhanh và bền vững

Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế còn thể hiện qua việc vốn bảođảm sự kết hợp cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư Tiết kiệm chính là nguồn gốccủa đầu tư nhưng việc tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể khácnhau, do đó dễ dẫn đến tình trạng kinh tế bị thừa hoặc thiếu vốn làm cho sựphát triển không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp tăng

Trong tình trạng thừa vốn, nhà nước phải khuyến khích đầu tư và kíchcầu tiêu dung để tiêu hóa tốt lượng vốn từ tiết kiệm Trong trường hợp thiếuvốn, nhà nước phải có chính sách thu hút vốn từ bên ngoài, kiểm soát và nângcao hiệu qủa hấp thụ vốn của nền kinh tế, đồng thời phải thực hành tiết kiệm

để nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trong nước Sự chu chuyển vốn sẽ tạo nên sựcân bằng vĩ mô giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần ổn định và phát triển kinh tế

Vốn còn là điều kiện không thể thiếu trong việc tạo ra việc làm, qua đónâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho người dân Vốn đầu tưgóp phần quan trọng trong việc phát triển giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, thúcđẩy phát triển xã hội theo hướng công bằng, văn minh

1.1.2.3 Hoạt động đầu tư đối với phát triển khoa học công nghệ của một tỉnh

Trang 11

Khoa học công nghệ, kỹ thuật không chỉ là nhân tố quyết định đến sựtăng trưởng liên tục mà còn là nền tảng lâu dài thể hiện sức mạnh kinh tế củamột đất nước nói chung, của một tỉnh nói riêng Khi nghiên cứu về các “chu kỳdài” trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các nhà kinh tế nhận thấy, trongthời kỳ đi xuống, những khu vực mới tiếp nhận sự chuyển dịch của khu vựctrọng tâm kinh tế cũ, hình thành trọng tâm tăng trưởng mới trong giai đoạn đilên của chu kỳ dài sau Nhưng không thể có các trọng tâm, cường quốc kinh tếmới, nếu chỉ thực hiện quá trình tiếp nhận đơn thuần và “ cách mạng khoa học

kỹ thuật là động lực chủ yếu thúc đẩy sự chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh

tế thế giới Như vậy khoa học công nghệ không chỉ là nguồn lực quan trọng nhấtcho sự phát triển của một đất nước nói chung và của tỉnh nói riêng mà còn tạo

ra một diện mạo mới cho một quốc gia, một tỉnh

Những thành tựu của khoa học, kỹ thuật được nhanh chóng ứng dụng vàosản xuất với thời gian ngắn, thiết bị đổi mới nhanh, sản phẩm luôn được thayđổi Hoạt động đầu tư diễn ra vào thời kỳ cách mạng khoa học công nghệ có sựthay đổi lớn Lúc bình thường, thiết bị kỹ thuật có thể mới nhưng vẫn dựa trên

cơ sở công nghệ có sự thay đổi lớn Lúc bình thường, thiết bị kỹ thuật có thểmới nhưng vẫn dựa trên cơ sở công nghệ hiện có thì trong thời kỳ cách mạngkhoa học, công nghệ, tạo chuyển biến mạnh mẽ về năng suất lao động Trên cơ

sở này, tích lũy tư bản nhanh và tăng cường khả năng đầu tư mới Đầu tư mới lạithúc đẩy tốc độ đổi mới công nghệ

Đối với một số tỉnh đang phát triển, mặc dù tích lũy vốn và công nghệ thấpnhưng cũng có lợi thế của người đi sau, tiếp thu, thích nghi và làm chủ côngnghệ sẵn có, rút ngắn thời gian và giảm những rủi ro trong áp dụng công nghệmới Mặt khác, điều kiện kinh tế cũng tạo ra khả năng đi tắt, đón đầu nhữngcông nghệ hiện tại Nhưng thực tế không phải tỉnh nào, vùng kinh tế nào cũngtận dụng được những lợi thế trên mà tiếp tục “an bài” với vòng “luẩn quẩn”.Việc tăng cường đầu tư nâng cao tiềm lực khoa học, kỹ thuật, công nghệ khôngchỉ thu hút một lượng vốn đầu tư của nền kinh tế cho có hiệu quả hơn mà còn là

sự cổ vũ mang tính đạo lý nhằm chống lại sự thất thoát, lãng phí của nguồn vốncủa ngân sách Nhà nước cũng như của toàn Xã hội

1.1.2.4 Vai trò của hoạt động đầu tư đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế.

Trang 12

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫnđến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối tương quangiữa chúng so với một thời điểm trước đó Nếu cơ cấu kinh tế hướng vào mụcđích cần đạt được của nền kinh tế thì đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho

cơ cấu kinh tế đó được hình thành hợp lý theo mục đích hướng tới của nó Tỷvốn đầu tư của các ngành khác nhau sẽ mang lại hiệu quả khác nhau, ảnh hưởngtrực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và ảnh hưởng chung đến tăngtrưởng kinh tế của toàn bộ nền kinh tế

Kinh nghiệm cho thấy con đường tất yếu để có thể tăng trưởng nhanh vớitốc độ mong muốn là tăng đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực côngnghiệp dịch vụ Đối với các ngành nông lâm ngư nghiệp, do hạn chế về mặt đấtđai, khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao là rất khó khăn, nhưvậy chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của từngquốc gia, vùng lãnh thổ Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết nhữngvấn đề như mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ đưa những vùngphát triển thoát khỏi đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địathế, kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bànđạp thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển

Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư gópphần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lược pháttriển kinh tế xã hội cua quốc gia trong từng thời kì, tạo ra sự cân đối mới trênphạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nềnkinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấu ngành, đầu tưvốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tùy từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụngvốn hiệu quả cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năngtăng cường cơ sở vật chất của từng ngành tạo tiền đề vật chất để phát triển cácngành mới…do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành

Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tìnhtrạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,kinh tế, chính trị…của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bànđạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

Trang 13

Có thể sử dụng các chỉ tiêu dưới đây để đánh giá vai trò của đầu tư tác độngđến chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Hệ số co dãn

giữa việc thay

đổi cơ cấu đầu

tư với thay đổi

cơ cấu kinh tế

việc thay đổi cơ cấu

đầu tư ngành với

% thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP giữa

kỳ nghiên cứu so với kỳ trước

Chỉ tiêu này cho biết: để góp phần đưa tăng trưởng kinh tế (GDP) lên 1% thì

tỉ trọng đầu tư vào một ngành nào đó tăng bao nhiêu?

1.2 Một số nội dung của chính sách đầu tư phát triển kinh tế Vùng

1.2.1 Chính sách đầu tư trong hệ thống phát triển kinh tế

1.2.1.1 Chính sách kinh tế- sản phẩm và công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà

nước.

Nhà nước thực hiện kiểm soát xã hội thông qua các công cụ pháp luật, cácchính sách công Đó là tất cả những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làmhay là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp cóảnh hưởng đến cuộc sống của công dân Trong hệ thống chính sách công, chính

Trang 14

sách kinh tế được coi là cốt lõi, có tính quyết định đến các chính sách công khác.Chính sách không có định nghĩa duy nhất Theo France Ellis, chính sách làđường lối hoạt động của Chính Phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh

tế nhằm đạt được mục tiêu đã xác định Mục tiêu của chính sách xét trên phạm

vi của nền kinh tế, nhằm đạt được mục đích cuối cùng là:ổn định, phát triển củanền kinh tế một cách hiệu quả bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân, tạo đàtiếp tục cho phát triển

Có thể phân loại chính sách kinh tế theo lĩnh vực hoạt động của nền kinh

tế, theo phạm vi ảnh hưởng của chính sách ; theo thời gian phát huy hiệu lực vàtheo cấp độ của chính sách Mỗi chính sách có mục tiêu riêng, tác động vào cáclĩnh vực cụ thể của nền kinh tế, song đều ảnh hưởng đến lĩnh vực khác, do vậy

để đem lại hiệu quả cao cần đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ và thực tiễntrong hoạch định chính sách kinh tế nhằm “cộng hưởng”các tác động đồnghướng, hạn chế các tác động ngược chiều giữa các chính sách Mô hình thể hiệnquá trình hoạch định và thực hiện chính sách công bao gồm các hoạt động:hoạch định, thể chế hóa, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra thực hiện

1.2.1.2 Chính sách đầu tư

Các tài nguyên chuyên ngành về chính sách và quản lý nền kinh tế quốcdân nêu ra cách phân loại về chính sách kinh tế, bao gồm chính sách tài chính,chính sách tiền tệ, tín dụng, chính sách phân phối, chính sách đối ngoại, chínhsách cơ cấu, chính sách thị trường

Để ổn định và tăng trưởng kinh tế, không những phải tăng cường tích lũy,huy động vốn mà cần có những công cụ, biện pháp của Nhà nước tác động vàocác lĩnh vực đầu tư và toàn bộ hoạt động đầu tư của nền kinh tế Điều này baohàm các yếu tố của chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực động vào các lĩnhvực đầu tư và điều tiết hoạt động đầu tư, đó là chính sách đầu tư

Chính sách đầu tư là hệ thống các nguyên tắc, công cụ, biện pháp do Nhànước sử dụng để tác động, điều tiết các mối quan hệ trong lĩnh vực đầu tư nhằmđạt được các mục tiêu về đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu về tăng trưởng vàphát triển kinh tế- xã hội của một đất nước nói chung, của vùng kinh tế nóiriêng

Trang 15

Hoạt động đầu tư vừa tác động đến tổng cầu, vừa tác động đến tổng cung,nâng cao sức sản xuất của các ngành, vùng, các lĩnh vực, từng doanh nghiệp nênphạm vi tác động của chính sách tư rộng và phức tạp.

Thứ nhất, chính sách đầu tư tác động đến toàn bộ nền kinh tế: tạo sự ổn

định vĩ mô thông qua điều tiết cầu, giá, cung vốn ( lãi suất), cán cân thương mại( thu hút vốn đầu tư nước ngoài và chính sách đầu tư thay thế nhập khẩu hayhướng về xuất khẩu Chính sách đầu tư còn tác động đến từng ngành, vùng nênliên quan đến chính sách, mục tiêu, chiến lược phát triển của ngành, vùng

Thứ hai, Chính sách đâu tư tác động đến nền kinh tế cả trong ngắn hạn và

dài hạn Trong ngắn hạn, chính sách đầu tư tác động đến tổng cầu Chính sáchđầu tư tác động đến cung khi các kết quả đầu tư của Nhà nước có ảnh hưởngtrong khoảng thời gian dài sau đó Chính sách đầu tư sai lầm có thể gây hậu quảtrầm trọng, làm cho nền kinh tế mất ổn định, trì trệ, suy thoái mà việc khắc phụctrở nên khó khăn

Ngoài ra, đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển cũng ảnh hưởng đếnthời gian tồn tại của bản thân của một chính sách đầu tư cụ thể Hoạt động đầu

tư thường được tiến hành trong thời gian dài, gắn với rủi ro, kết quả tồn tại trongnhiều năm, nên nhìn chung, chính sách đầu tư thường được áp dụng trong thờigian dài và cần có tính ổn định cao Do vậy, khi hoạch định chính sách đầu tưphải nghiên cứu kỹ và đảm bảo quá trình thực thi kiên định Điều này khôngmâu thuẫn với sự quyết định mau chóng mang tính cơ hội cho một công cuộcđầu tư.Nhà đầu tư cũng chỉ có thể quyết định việc đầu tư mau chóng khi Nhànước có chính sách, môi trường đầu tư ổn định

Tuy nhiên, những chính sách đầu tư chỉ có thể tồn tại trong thời gianngắn, chẳng hạn như chính sách huy động vốn có thể thay đổi để đảm bảo đượcmục tiêu huy động

Chính sách đầu tư có mối quan hệ liên quan đến nhiều chính sách kinh tếkhác, xét trên mối quan hệ tác động định hướng tới nền kinh tế, mối quan hệnhân quả hay trên giác độ sử dụng công cụ của chính sách kinh tế Quan hệ củachính sách đầu tư bao giờ cũng mang tính chất hai chiều Chính sách đầu tư làmột bộ phận hợp thành của hệ thống chính sách vĩ mô, đồng thời chịu sự chiphối của các chính sách đó Chẳng hạn, chính sách tài khóa với mục tiêu giảmthâm hụt ngân sách có thể được thực hiện trên hai hướng: Tăng thuế hoặc giảm

Trang 16

chi tiêu công cộng ( Trong đó có đầu tư công cộng của Chính phủ) đều ảnhhưởng đến hoạt động đầu tư Đầu tư công cộng của Chính phủ trong nhiềutrường hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu sử dụng với “ liềulượng” không phù hợp có thể gây giảm sút đầu tư tư nhân và kết quả lại làm suygiảm tốc độ và hiệu quả tăng trưởng.

Đối với các nước đang phát triển, chính sách thuế là một trong nhữngnguyên nhân của công cuộc đầu tư Ở các nước này, do cân đối ngân sách bấpbênh và năng lực quản lý, điều hành hạn chế, nên nhiều khi xảy ra tình trạng lạmdụng công cụ thuế, gây hậu quả bất lợi cho hoạt động đầu tư Ngoài ra, giả sửtoàn bộ số thuế huy động tăng thêm của ngân sách Nhà nước đều sử dung chođầu tư phát triển thì hiệu quả đầu tư của xã hội vẫn còn có thể giảm đi do các cơquan Nhà nước lựa chọn dự án đầu tư không hợp lý, quản lý vốn đầu tư khôngchặt chẽ, làm lãng phí, thất thoát Đó là “căn bệnh “ trong sử dụng vốn ngânsách Nhà nước ở nhiều quốc gia

Chính sách đầu tư có liên quan đến chính sách phát triển ngành, vùngthông qua định hướng về khuyến khích hay hạn chế đầu tư, huy động vốn đầu tư

và phân bổ cơ cấu đầu tư của Nhà nước cho phát triển ngành, vùng Khi xemxét bản thân chính sách đầu tư của cả nước là một hệ thống thì chính sách đầu tưphát triển ngành, vùng trở thành phân hệ của nó

Chính sách đầu tư có mối quan hệ với công cụ kế hoạch hóa trên phạm vitoàn bộ nền kinh tế quốc dân Chính sách đầu tư có vai trò tác động, điều tiết cáccân đối kinh tế vĩ mô của nền kinh tế và thực hiện các mục tiêu của chiến lượckinh tế- xã hội Bên cạnh sử dụng công cụ kế hoạch hóa nguồn vốn đầu tư củangân sách, Nhà nước cần khơi dậy, khai thác, phát huy, thu hút các nguồn lựcđầu tư theo định hướng chiến lược, trên cơ sở nhu cầu thị trường

Chính sách đầu tư cùng với các chính sách kinh tế khác đều nhằm đạtđược những mục tiêu chung của nền kinh tế trong từng giai đoạn Nhưng mụctiêu cụ thể của chính sách đầu tư có khi lại mâu thuẫn với mục tiêu của cácchính sách khác, nhất là trong ngắn hạn Do đó, yêu cầu phối hợp đồng bộ tronghoạch định và triển khai các chính sách kinh tế là hết sức cần thiết Tính đồng bộkhông chỉ thể hiện ở sự phối hợp giữa các chính sách trong cùng một giai đoạn

mà còn là sự xác định đúng mục tiêu trong từng khoảng thời gian thực hiện

Trang 17

chính sách kinh tế trọng tâm, để trong dài hạn có mức tăng trưởng kinh tế cao,bền vững

Mối quan hệ giữa chính sách đầu tư và các chính sách kinh tế khác, công cụ

kế hoạch hóa đã đặt ra yêu cầu cho sự phối hợp đồng bộ trong hoạch định chínhsách vĩ mô Muốn thực hiện được như vậy cần lập ma trận thể hiện quan hệ giữachính sách đầu tư với một hay nhiều chính sách kinh tế khác và lựa chọn tổ hợpnhững quyết định chính sách thích hợp Đối với Việt Nam, Chủ tịch Ngân hàngThế Giới khuyến nghị Việt Nam cần thiết lập một khuân khổ phát triển toàn diện,nghĩa là “tìm kiếm sự cân bằng trong hoạch định chính sách, chú trọng sự phụthuộc của mọi yếu tố phát triển xã hội, cơ cấu kinh tế, tài chính”

1.2.2 Hoạch định và triển khai chính sách đầu tư

Vai trò năng động của các chính sách kinh tế với sự tăng trưởng và pháttriển của nền kinh tế là rất lớn Chính sách kinh tế tốt sẽ nâng cao được hiệu quả

sử dụng các nguồn lực vật chất khan hiếm Ngân hàng Thế giới đặc biệt nhấnmạnh đến vấn đề hoạch định chính sách tốt, ngay cả trong trường hợp quốc gia

đó nhận viện trợ từ nước ngoài Lượng viện trợ tương đương 1% GDP trong môitrường chính sách tốt sẽ giảm 0,9 % tỷ lệ tử vong sơ sinh, làm đầu tư tư nhântăng thêm 1,9% và tác nhân cận biên của việc viện trợ tăng thêm 1 % GDP sẽlàm kinh tế tăng trưởng 0,3%; còn đối với chính sách trung bình thì các chỉ sốtương ứng là: 0,4%; 0,5% và 0%, đối với chính sách kinh tế kém thì chỉ sốtương đương là 0%; -0,5% và -0,3% Do vậy, cần coi trọng công tác hoạch định

và triển khai chính sách kinh tế, trong đó có chính sách đầu tư

1.2.2.1 Hoạch định chính sách đầu tư

Nội dung cơ bản của hệ thống chính sách đầu tư bao gồm các chính sách

và công cụ như: lãi suất, thuế, huy động và sử dụng vốn đầu tư…

Sự đa dạng của lĩnh vực đầu tư và sự liên quan giữa chính sách đầu tư vàchính sách kinh tế khác với một hệ thống các “chính sách con”đã tạo cho quátrình hoạch định và triển khai chính sách đầu tư thêm phức tạp; đồng thời sửdụng các công cụ đồng bộ, biện pháp của chính sách đầu tư càng trở nên thânthiết Việc hoạch định chính sách đầu tư có thể dựa vào các yếu tố sau:

Trang 18

Thứ nhất, các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, chính

sách tiền tề đã chứa đựng những nội dung tiến hành hoạch định, triển khaichính sách đầu tư

Thứ hai, từ việc xác định mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, các

chính sách có liên quan, xuất hiện các vấn đề hoạch định chính sách đầu tư

Thứ ba, từ các chính sách phát triển ngành, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặt ra hướng điều chỉnh cơcấu đầu tư thông qua chương trình đầu tư công cộng của Nhà nước và chínhsách thu hút ưu đãi đầu tư trong và ngoài nước

Thứ tư, chính sách đầu tư ra đời nhằm khắc phục những khó khăn của nền

kinh tế và những yếu kém trong hoạt động đầu tư của toàn bộ nền kinh tế như:huy động vốn hạn chế, sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả, cơ cấu sử dụng vốnchưa hợp lý, quản lý đầu tư sơ hở, thất thoát

Thứ năm, chính sách đầu tư ra đời nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế

cao hơn do có những thời cơ thuận lợi

Việc hoạch định chính sách đầu tư cần tuân thủ các bước của quá trìnhhoạch định chính sách chung như: xuất phát từ đường lối, tiến hành nghiên cứu,

dự báo xác định được vấn đề chính sách cần hoạch định Sau đó tiến hành xácđịnh mục tiêu, xây dựng phương án chính sách và lựa chọn phương án tối ưuhoặc hợp lý nhất, thông qua và quyết định chính sách Mối quan hệ trong hoạchđịnh chính sách đầu tư được thể hiện như hình sau:

Trang 19

1.2.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách đầu tư

Tổ chức thực hiện chính sách đầu tư là một công đoạn quan trọng nhằmđảm bảo cho sự thành công chính sách này, góp phần đạt được các mục tiêu

của nền kinh tế Đây là giai đoạn biến chính sách đầu tư thành những kết quảtrên thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của bộ máy Nhà nước nhằm thựchiện các mục tiêu đã xác định Tổ chức thực hiện chính sách là điều kiện đủ đểchính sách thành công

Tổ chức thực hiện chính sách đầu tư là quá trình liên tục bao gồm ba giaiđoạn chính: chuẩn bị triển khai chính sách; chỉ đạo thực thi chính sách; kiểm tra

Chính sách

sử dụng vốn đầu tư

Chính sách phát triển ngành vùng, khoa học công nghệ

Đường lối, chiến lược

phát triển kinh tế- xã hội

Nghiên cứu, dự báo Môi trường chính trị,

Chính sách tiền tề

Chính sách kinh tế đối ngoại

Các nguồn lực KT- XH

Các chính sách xã hội

Chính sách đầu tư

Chính sách nâng cao hiệu quả đầu tư

Các công cụ, biện pháp hỗ trợ

Trang 20

thực hiện chính sách Đối với các nước đang phát triển, việc tổ chức triển khaithực hiện chính sách thường yếu kém và không triệt để Chính sách đầu tư liênquan nhiều đến chính sách kinh tế và việc thực hiện liên quan đến nhiều cấphành chính, nên quá trình tổ chức triển khai cần được lưu ý.

Việc thực hiện kiên quyết chính sách đầu tư mới có thể cho biết chínhsách đặt ra ban đầu có đúng không để điều chỉnh Ở nhiều lĩnh vực khac nhau thìbằng cách tuyên truyền có thể làm cho chủ doanh nghiệp, nhân dân hiểu rõ, songđối với chính sách đầu tự, “ bài toán” đầu tư cho mỗi người chỉ “có nghiệm” khi

“bài toán” tương đương là lợi ích – chi phí “có nghiêm” Nên biện pháp tuyêntruyền là không đủ, cần có những giải pháp thiết thực liên quan đến lợi ích củacác nhà đầu tư

Để chuyển chính sách đầu tư hấp dẫn thành hiện thực về môi trường đầu

tư an toàn, hấp dẫn cho các doanh nghiệp thì việc tổ chức thực hiện chính sách

có ý nghĩa quyết định

1.2.2.3 Phân tích chính sách đầu tư

Phân tích chính sách đầu tư là một yêu cầu khách quan để có những chínhsách tốt cho một quốc gia Ngày nay phân tích chính sách đã trở thành một lĩnhvực tương đối độc lập trong bộ máy Nhà nước, có thể được thực hiện bởi mộthiệp hội, thậm chí do các công ty tiến hành

Những yêu cầu để phân tích chính sách một cách khách quan là ngườiphân tích không phụ thuộc vào quyền quản lý và lợi ích của người ban hànhchính sách Trong xu hướng của xã hội hiện đại, các doanh nghiệp, hiệp hội vànhân dân là những người có tiếng nói quan trọng trong phân tích chính sách Đối với lĩnh vực đầu tư, chính sách có liên quan trực tiếp đến giới doanhnghiệp, nên khi phân tích chính sách đầu tư phải lắng nghe ý kiến của đối tượngnày Trong đầu tư, sự sai sót về chính sách phải trả giá rất cao về tài sản, tiềnbạc của Nhà nước cũng như của tư nhân, do đó dễ hình thành xu hướng che dấuhoặc làm sai lệch thông tin trong đánh giá, phân tích Cho nên việc đánh giá,phân tích chính sách đầu tư được coi là một trong những bộ phận quan trọngnhất của toàn bộ quá trình hoạch định, thực thi chính sách đầu tư và phải cónhững cơ chế, nguyên tắc để thực hiện

Trang 21

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư phát triển kinh tế Vùng

Hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế và phi kinh tế.

Trong nền kinh tế, hàm số đầu tư chịu ảnh hưởng của các biến số kinh tế chủyếu như:lãi suất, tiết kiệm, thu nhập, Trong đó những biến này lại là hàm sốcủa các biến khác

Bên cạnh đó, đầu tư còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố phi kinh tế như môitrường chính trị, thể chế, phong tục tập quán, văn hóa Các yếu tố ảnh hưởngđến hoạt động đầu tư một cách đan xen nhau, có khi ngược chiều nhau, làm choviệc thực hiện chiến lược, chính sách đầu tư thêm phức tạp

1.3.1 Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư

Keynes đã cho rằng, điều kiện của đầu tư là hiệu suất biên của vốn đầu tưlớn hoặc bằng lãi suất thị trường Hiệu suất biên của vốn được xác định theo dựkiến về lợi tức và giá cung hiện tại của Tài sản cố định ( 42, tr178-179)

Ngoài ảnh hưởng của những dự tính trong tương lai, điều quan trọng cần xemxét ảnh hưởng của các yếu tố thực tế đến hoạt động đầu tư trên phạm vi nềnkinh tế

Thứ nhất, ảnh hưởng của lãi suất đến đầu tư Khi xem xét ảnh hưởng của

lãi suất đến đầu tư cần đề cập đến lãi suất thực tế Lãi suất thực tế đã được điềuchỉnh loại trừ yếu tố thực tế Lãi suất thực tế đã được điều đỉnh loại trừ yếu tốlạm phát bằng cách lấy lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát ( 66, 204- 208).Lãi suất vừa ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư, vừa ảnh hưởng thôngqua thực hiện chính sách huy động vốn đầu tư Lãi suất tăng kích thích người

ta gửi tiền tiết kiệm, trong khi có xu hướng làm giảm đầu tư Ngược lại , lãi suấtthấp kích thích đầu tư nhưng hạn chế đến việc huy động vốn Trong nền kinh tế

mở, lãi suất chịu ảnh hưởng của thị trường vốn quốc tế Với quan điểm về tự dohóa tài chính và thương mại, trường phái tự do mới cho rằng, đối với các nướcđang phát triển, “giá cả thị trường tự do thích hợp là giá cả xác định của thịtrường thế giới” Lãi suất là giá cả của vốn cũng tuân theo nguyên tắc này Điều đáng lưu ý, lãi suất được hình thành trên cơ sở cung cầu về vốn, nhưngtrong nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh, chỉ có một phần được dành chođầu tư phát triển Do vậy, tùy theo mục đích, chiến lược phát triển, các nước đã

Trang 22

áp dụng những chính sách lãi suất khác nhau trong vận hành nền kinh tế Vớiquan điểm của trường phái cấu trúc, lãi suất được duy trì ở mức thấp, kích thíchđầu tư và Nhà nước sử dụng những tín dụng bao cấp để thúc đẩy những ngànhcông nghiệp đặc biệt Nhật bản cũng đã sử dụng các hình thức bao cấp, tài trợtrực tiếp và sau đó chuyển sang hình thức tài trợ gián tiếp cho các ngành côngnghiệp đã được lựa chọn thông qua chính sách ưa đãi tín dụng đầu tư, nhất làgiai đoạn 1950-1960 ( 96, tr76-118) Trường phái tự do mới lại cho rằng, vấn đềtrung tâm ở các nước đang phát triển là phải khắc phục tình trạng “méo mó” vềgiá cả- một trong những nguyên nhân chủ yếu là gây ra “ tính phi hiệu quả”trong hoạt động của nền kinh tế Do vậy, “ lãi suất cần được giữ tích cực xét vềthực tế để kích thích tiết kiệm”.Trong điều kiện nền kinh tế còn khan hiếm vốnthì lãi suất cao không nhất thiết làm giảm đầu tư và có tác dụng điều tiết vốn “chảy “ vào các ngành cần ít vốn, nhiều lao động và tăng hiệu quả đầu tư Ngoài

ra, thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất theo cung cầu vốn còn có tác dụngloại bỏ tình trạng bao cấp vốn, tức là không tính đầy đủ chi phí về vốn trongthực hiện các dự án đầu tư Sự định giá thấp về chi phí, trong đó có lãi suất sẽgây bất lợi đối với phát triển kinh tế

Thực ra những trường phái trên đã đề cập đến ảnh hưởng của chính sách lãisuất ở những thời kỳ khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế của nhiều nướctrên thế giới

Thực ra những trường phái đã đề cập đến ảnh hưởng của chính sách lãi suất ởnhững thời kỳ khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế của nhiều nước trênthế giới Trường phái cấu trúc đươc áp dụng vào những năm 1950 với nhữngquan điểm công nghiệp hóa hướng nội đã đẩy một số nước vào khó khăn Vàonhững năm 1970, trường phái tự do mới đã đưa ra một số yếu tố hợp lý trongđổi mới chính sách tài chính, tiền tệ ở các nước đang phát triển với nội dungquan trọng là tự do hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế Do đó,trong giai đoạn hiện nay, các nước đang phát triển cần áp dụng linh hoạt cơ chế,chính sách về lãi suất Một mặt, cần tự do hóa lãi suất và cạnh tranh tín dụng đểtạo ra sự thông thoáng cho nền kinh tế, và làm cho nhà đầu tư và người tiết kiệmtrong nước sẽ nhận ra giá trị thực của đồng vốn còn khan hiếm Mặt khác, cần

có sự tài trợ thông qua chính sách tín dụng ưu đãi để khuyến khích đầu tư, thựchiện chính sách công nghiệp như Nhật Bản và các nền kinh tế mới công nghiệp

Trang 23

hóa đã tiến hành trước đây Không nên có sự cực đoan trong lựa chọn, áp dụngcác trường phái thực hiện chính sách lãi suất nêu trên.

Như vậy, lãi suất có ý nghĩa rất quan trọng trong thực hiện chiến lược chínhsách đầu tư phát triển của một đất nước Ngay cả khi các nhà đầu tư sử dụng vốn

thì họ vẫn phải tính đến chi phí cơ hội của đồng vốn đó

Thứ hai, ảnh hưởng của thu nhập và tiết kiệm đến đầu tư Tiết kiệm

trong nước là nguồn tài trợ quan trọng cho đầu tư Trong trường hợp có thể huyđộng vốn nước ngoài thì theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta : Vốn trongnước là nội lực chính và là yếu tố quyết định, vốn nước ngoài chỉ là yếu tố ngoạilực Chúng ta phải phát huy nội lực, để có thể tận dụng được nội lực Bất cứquốc gia nào cũng quan tâm đến cơ chế, chính sách làm tăng tiết kiệm trongnước và huy động vốn cho đầu tư phát triển “ Chính mối liên hệ giữa tiết kiệm

và vốn sản xuất mà tiết kiệm được coi là vật làm tốt đẹp và mang lại lợi ích tốtđẹp và mang lại lợi ích cho xã hội”

Tiết kiệm trong nước được cấu thành bởi hai bộ phận là tiết kiệm củachính phủ và tiết kiệm của doanh nghiệp và khu vực tư nhân Để có tiết kiệmcủa chính phủ thì ngân sách phải thặng dư Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngânsách chính phủ Đối với các nước đang phát triển, thuế tăng làm cho tiết kiệmcủa xã hội tăng, làm cho tiêu dùng tăng thêm của chính phủ nhỏ hơn tiêu dùngtăng thêm của khu vực tư nhân nếu tư nhân không phải nộp thêm các khoản thuế

đó Nhưng thực tế chi tiêu thường xuyên của chính phủ có thể tăng cao hơn sovới khoản thuế thu tăng thêm nên tiết kiệm của toàn xã hội giảm đi

Tiết kiệm của khu vực tư nhân chịu ảnh hưởng các yếu tố lãi suất tiềngửi, thu nhập, bảo hiểm xã hội, sự ổn định vĩ mô và các chính sách của chínhphủ Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến gia đình và hộ cá nhân là vấn đề phứctạp Xu hướng tiêu dùng liên quan đến thu nhập ngắn hạn và dài hạn TheoKeynes, có 8 yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng mà ảnhhưởng đến tiết kiệm “Quy luật tâm lý cơ bản” đã làm cho mức tăng của thunhập làm cho con người sẵn sàng tiêu dùng nhưng mức tăng của tiêu dùng luônnhỏ hơn mức tăng của thu nhập Tuy nhiên khuynh hướng này chỉ đúng trongngắn hạn, theo một số ý kiến của Ftiedman thì khuynh hướng tiêu dùng phụthuộc vào tỷ lệ thu nhập thường xuyên so với thu nhập hiện tại Mức tiêu dùng

Trang 24

tăng tương ứng với mức thu nhập thường xuyên của hộ gia đình, nhưng ít chịuảnh hưởng của mức thu nhập tạm thời.

Tiết kiệm tạo nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, nhưng không phải tiếtkiệm càng nhiều thì càng tăng đầu tư và thu nhập Thực ra tiết kiệm quá mứclàm giảm tổng cầu và cũng không tăng đầu tư Bởi vậy mà mọi người cố tiếtkiệm thì đầu tư lại giảm

Theo những nghiên cứu của các nhà kinh tế cũng chỉ ra rằng, trong ngắnhạn, sự thiếu hụt tiết kiệm trong nước cũng không làm giảm tương ứng đầu tư

do được bù đắp bằng nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nhưng trong dài hạn, tỷ lệtiết kiệm trong nước có quan hệ mật thiết với tỷ lệ vốn đầu tư, đúng ngay cả vớicác nước công nghiệp Do đó, các nước đang phát triển cần có các chính sáchthúc đẩy tiết kiệm và khơi thông các luồng vốn, chuyển tiết kiệm thành đầu tư Mối quan hệ giữa lãi suất và thu nhập, tiết kiệm và đầu tư rất chặt chẽ vàmỗi yếu tố đều ảnh hưởng đến yếu tố khác Khi đánh giá mức độ ảnh hưởng đếnhoạt động đầu tư xem xét tất cả các khía cạnh, đưa ra các chính sách góp phầnnâng cao hiệu quả đầu tư, giúp cho nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, trì trệ,đưa nền kinh tế tăng trưởng, phát triển

Thứ ba là ảnh hưởng của chi tiêu công cộng của chính phủ và chính sách

thuế tới đầu tư Chính phủ cung cấp hàng hóa công cộng và tạo ra điều kiện cầnthiết, thúc đẩy, dẫn dắt đầu tư tư nhân Trong trường hợp khác, Chính phủ đặthàng các hàng hóa, dịch vụ của khu vực tư nhân đã kích thích doanh nghiệp đầu

tư sản xuất hàng hóa, dịch vụ đó Chính sách thuế có ảnh hưởng lớn đến hoạtđộng đầu tư Thuế có liên quan đến chi phí và yếu tố rủi ro trong đầu tư Vàonhững năm 1970, nền kinh tế của một số nước công nghiệp rơi vào suy thoái.Một trog những giải pháp chấn hưng nền kinh tế là chính sách thuế, có ý nghĩaquan trọng, đem lại tác dụng linh hoạt, thúc đẩy đầu tư phát triển ngành mới,ứng dụng công nghệ hiện đại, thúc đẩy đầu tư tư nhân

Thứ tư là, ảnh hưởng của thị trường tài chính đến hoạt động đầu tư Nhà kinh

tế Tobin đã đưa ra lý thuyết xác định ảnh hưởng của thị trường chứng khoánđến hoạt động đầu tư Hàm số đầu tư trong trường hợp này xác định: It= qt *Kt

với It là vốn đầu tư thời kỳ t, qt là tỷ lệ thị trường của tư bản lắp đặt so với chiphí thay thế của tư bản lắp đặt thời kỳ t Tobin cho rằng đầu tư ròng phụ thuộc

Trang 25

bản lắp đặt cao hơn chi phí thay thế, doanh nghiệp sẽ mua thêm hàng đầu tư,làmtăng giá trị cổ phiếu của thị trường chứng khoán Ngược lại, nếu qt <1 thị trườngchứng khoán đánh giá tư bản thấp hơn chi phí thay thế, nên doanh nghiệp khôngthay thế tư bản khi nó bị hao mòn Doanh nghiệp có thể huy động vốn trên thịtrường chứng khoán Tuy nhiên doanh nghiệp gặp phải giới hạn tài chính, doanhnghiệp phải phụ thuộc vào khả năng tài chính hiện tại của mình Nên giới hạn tàichính làm tăng tính nhạy cảm của đầu tư trong điều kiện kinh tế hiện tại.

Khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư cần phân loại các yếu tố ảnhhưởng đến ngắn hạn và dài hạn Thông thường các yếu tố đều có ảnh hưởng đến

cả ngắn hạn và dài hạn, trong đó, có ưu thế hơn đối với ngắn hạn hoặc dài dạn

1.3.2 Ảnh hưởng của môi trường, thể chế, phong tục, tập quán, văn hóa đến hoạt động đầu tư

Thứ nhất, sự ổn định về chính trị có tính quyết định đến sự hấp dẫn đầu tư.

Mức độ rủi ro của đầu tư phụ thuộc vào sự ổn định chính trị của quốc gia mànhà đầu tư bỏ vốn

Thứ hai, sự ổn định, hoàn thiện và minh bạch của hệ thống pháp luật có vai

trò quan trọng trong việc khai thác vốn đầu tư trong nước và thu hút vốn đầu tưnước ngoài, nâng cao hiệu quả đầu tư.Vì vậy ở nhiều nước đều có quy định làtrong trường hợp thay đổi luật pháp mà gây thiệt hại cho nhà đầu tư thì phải cóbiện pháp đền bu thiệt hại

Thứ ba là năng lực quản lý Nhà nước, thủ tục hành chính và sự trong sạch

của bộ máy công quyền Năng lực quản lý của bộ máy Nhà nước thể hiện trênhai giác độ: Hoạch định chính sách yếu kém sẽ gây những định hướng sai lệch

và lãng phí nguồn nhân lực đầu tư Hoạt động đầu tư rất nhạy cảm với hoạchđịnh chính sách, định hướng phát triển chung Sự trong sạch của bộ máy côngquyền, giảm nhẹ chi phí hành chính, làm cho quá trình đầu tư nhanh và hiệu quả

Thứ tư là yếu tố phong tục tập quán, văn hóa cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt

động đầu tư Phong tục, tập quán, văn hóa lạc hậu là lực cản trở hoạt động đầu

tư Song đầu tư vẫn phải đảm nhận vai trò đưa nền kinh tế của các quốc gia pháttriển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và quá trình này cũng tác độngđồng hướng của các yếu tố nói trên đến sự thành công của các công cuộc đầu tư,thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trang 26

Một số yếu tố nêu trên đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tưtrên phạm vi toàn xã hội Còn đối với doanh nghiêp, hiệu quả của đầu tư phụthuộc vào một số yếu tố như: thu nhập, chi phí, nhu cầu thị trường và môitrường đầu tư Trong đó, thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng hộinhập đang diễn ra mạnh mẽ Từ những ảnh hưởng của hoạt động đầu tư củadoanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến đầu tư của ngành, vùng trên phạm vi toàn ngànhkinh tế- xã hội Do đó, tác động của cá yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư của doanhnghiệp cũng được Nhà nước quan tâm và có chính sách điều chỉnh kịp thời

Để đánh giá về mức độ phát triển có thể sử dụng bổ sung các chỉ tiêu vềphúc lợi của con người theo các nhu cầu cơ bản là: các chỉ tiêu phản ánh mứcsống, tuổi thọ bình quân, chăm sóc sức khỏe, các chỉ tiêu phản ánh trình độ vănhóa, giáo dục, dân số, việc làm, chỉ số phát triển con người HDI Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ IX

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2006-2008 2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và tình hình Kinh tế -XH Thanh Hóa 2.1.1 Các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển.

Do vị trí địa lý, Thanh Hóa là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tácđộng từ khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - QuảngNinh) và những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ (thành phố Hồ ChíMinh – Biên Hòa – Bà Rịa – Vũng Tàu) Với những tác động tổng hợp của cácvùng trên, Thanh Hóa có vị trí địa lý rất thuận lợi cho giao lưu với các tỉnh,thành phố trong cả nước và giao lưu quốc tế, có thể huy động tốt các nguồn lựccho các nhu cầu của cả vùng Bắc Bộ, các tỉnh phía Nam và nước bạn Lào

Vùng đồng bằng được bồi tụ bởi các hệ thống sông (sông Mã, sông Chu, sôngYên, sông Hoạt ) bao gồm 8 huyện, 1 thị xã, 1 thành phố có độ cao trung bình

từ 5 – 15 m, xen kẽ có các đồi núi thấp và núi đá vôi Đồng bằng sông Mã códiện tích lớn thứ 3 sau đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.Vùng ven biển có 5 huyện và 1 thị xã chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sìnhlầy Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Bạng Vùng đấtcát ven biển có độ cao trung bình 3 - 6 m

2.1.1.3 Tài nguyên

Trang 28

 Tài nguyên đất: với diện tích tự nhiên 11.106 km2 bao gồm nhiều nhómđất chính như: nhóm đất xám, nhóm đất đỏ, nhóm đất phù sa bồi tụ thuận lợicho phát triển nông, lâm nghiệp như: trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, trồnglúa, hoa màu

 Tài nguyên rừng.

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất

có rừng là: 436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu m3 gỗ, hàng năm có thểkhai thác 35.000 – 40.000 m3 Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có

hệ thực vật phong phú đa dạng về họ, loài Thanh Hóa là tỉnh có diện tích rừngluồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 50.000 ha

 Tài nguyên biển.

Thanh Hóa có trên 100 km bờ biển hình cánh cung và vùng lãnh hải rộng lớn23.000km2, chịu ảnh hưởng chi phối bởi các dòng hải lưu nóng và lạnh tạo thànhbãi cá, tôm có trữ lượng lớn Ở vùng cửa lạch là những bãi bồi bùn cát rộnghàng ngàn ha để nuôi trồng hải sản, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuấtmuối Diện tích nước mặn ở vùng biển đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song,ngọc trai, tôm hùm và hàng chục ngàn ha nước mặn ven bờ để nuôi nhuyễn thể

vỏ cứng

 Tài nguyên khoáng sản.

Thanh Hóa là một trong số ít các tỉnh ở Việt Nam có nguồn tài nguyênkhoáng sản phong phú và đa dạng có tới 250 điểm, 42 loại và nhiều loại có trữlượng lớn như: đá ốp lát (trữ lượng 2 – 3 tỷ m3), đá vôi làm xi măng với trữlượng trên 370 triệu tấn, crôm với trữ lượng khoảng 22 triệu tấn Khoáng sảnkim loại: kim loại đen đã phát hiện ra 23 điểm có quặng sắt trong đó có 5 mỏ đãđược thăm dò và được đánh giá có trữ lượng lớn khoảng trên 3 triệu tấn; vàng và

đá quý phân bố ở hầu hết các huyện miền núi chủ yếu ở Cẩm Thủy, Bá Thước

2.1.1.4 Nguồn nhân lực.

- Dân số trong độ tuổi lao động tính đến năm 2008 người chiếm 54,6% dân

số toàn tỉnh Lao động xã hội đang làm việc trong các ngành nông, lâm ngưnghiệp chiếm 81,43%

- Nguồn lao động của Thanh Hóa tương đối trẻ, có trình độ học vấn khá, laođộng dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao (50%) Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị đã giảm từ6,3% năm 2000 xuống còn dưới 5% Lực lượng lao động đã qua đào tạo tính đếnnăm 2005 là 27%, trong đó có trình độ cao đẳng đại học trở lên chiếm 5,54%; trung

Trang 29

2.1 2 Vài nét về tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa thời gian qua.

 Tăng trưởng kinh tế: Trong thời gian qua, nền kinh tế của Thanh Hóa

tiếp tục phát triển với tốc độ khá và tương đối toàn diện Các ngành, các thànhphần kinh tế tích cực tham gia sản xuất Tốc độ tăng GDP bình quân thời kỳ

2005 – 2008 là 10.6% (TK 2001-2005 tăng 9.1%) Cơ cấu các ngành kinh tếtính đến năm 2008 là: nông, lâm, ngư nghiệp 29.9% tăng 1.3 %; công nghiệp vàxây dựng là 34.4% giảm 2.2 % và dịch vụ là 35.7% tăng 0.9 % so với năm 2007.GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 574 USD, gấp 1,3 lần so với 2005.Tổng giá trị xuất khẩu năm 2008 đạt 155 triệu USD tăng 41,1 % so với năm

2007 và tăng 47.6 % so với năm 2005

 Sản xuất lương thực: Từ một tỉnh khó khăn về lương thực, đến năm

2005 vấn đề thiếu lương thực đã được giải quyết một cách cơ bản và đã cólượng lương thực dự trữ đáng kể Giá trị lương thực có hạt năm năm 2008 đạt1,65 triệu tấn tăng 11,4 % so với 2005, nâng mức bình quân đầu người thời kỳ2005-2008 lên 450 kg/người (trong khi bình quân thời kỳ 2001 - 2005 là 400kg/người)

 Văn hóa – xã hội.

Về y tế và giáo dục: Giáo dục tiếp tục phát triển quy mô, mở rộng mạnglưới trường lớp Quy mô dạy nghề được mở rộng, số người được đào tạo nghềtăng từ 19% năm 2000 lên 27% năm 2005 Tình trạng sức khỏe của nhân dântiếp tục được cải thiện, y tế cơ sở từng bước được củng cố; từng bước nâng caochất lượng chuyên môn, y đức, tinh thần phục vụ bệnh nhân

Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Công tác xóa đói giảm nghèo đãđược quan tâm, cơ bản xóa hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo đói năm 2005 giảm xuống còn10,6%; thực hiện tốt các chính sách xã hội; tuổi thọ trung bình người dân đượcnâng lên

2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở Thanh Hóa giai đoạn 2006-2008

2.2.1 Tình hình thực hiện tổng mức đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn

Sau khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nền kinh tếđất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề trọng đại của đất nước cần được

ưu tiên phát triển, phát triển kinh tế đối với vùng kinh tế trọng điểm, những tỉnh

có vị trí chiến lược đặt lên hàng đầu, do đó vấn đề định hướng phát triển kinh tếnhư Ninh Bình còn nhiều lúng túng, dẫn đến nhiều khó khăn trong sản xuất các

Trang 30

ngành kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đầu tư phát triển còn nghèo nàn,thiếu đồng bộ, các cơ chế chính sách, chủ trương đầu tư thiếu sự quy hoạch vàquan tâm đúng mức nên hiệu quả đầu tư chưa cao.

Nhưng đến giai đoạn 1995-2000 đã ghi dấu mốc quan trọng trong côngcuộc 20 năm đổi mới đất nước, đạt nhiều thành tựu cả về mặt kinh tế và xã hội.Vấn đề phát triển đồng bộ giữa các vùng miền, mối quan hệ tác động qua lạichặt chẽ giữa phát triển kinh tế các tỉnh, địa phương chưa được quan tâm hơnbao giờ hết Cơ chế chính sách của nhà nước mặc dù chưa hoàn thiện nhưngđang dần dần phù hợp với xu thế của tình hình mới, thúc đẩy mạnh mẽ các thànhphần kinh tế mạnh dạn đầu tư, thu hút mọi nguồn lực cho phát triển

Với việc nhận thức sâu sắc vai trò chiến lược đầu tư phát triển đối với

sự vững mạnh của kinh tế địa phương, Đảng, Nhà nước ta nói chung và chínhquyền nhân dân tỉnh Thanh Hóa luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho việc

huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh luôn là một con số đáng kể và không ngừng tăng lên qua các năm \

Thực hiện chủ trương phát huy nội lực, đa dạng hóa các nguồn vốn chohoạt động đầu tư và xây dựng, trong những năm qua công tác huy động vốncho đầu tư phát triển đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo,ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, huy động tối đacác nguồn lực cho đầu tư phát triển

Bảng 2.1: Tình hình thu hút vốn đầu tư phát triển tỉnh

Thanh Hóa giai 2005-2008

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa)

Trang 31

Đồ thị 2.1: Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2005-2008

Nếu như trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư phát triển trên toàn lãnhthổ Thanh Hóa chỉ tăng từ 3000,9 tỷ đồng lên 6095 tỷ đồng ở năm 2005 Đây làcon số kỷ lục trong 5 năm trở lại đây Vốn đầu tư trong giai đoạn này tăng là xuthế tất yếu của tỉnh đông dân, nhiều tiềm năng Trong 4 năm (2005-2008), cónhiều ảnh hưởng xấu về thời tiết như hạn hán, bão lụt, rét đậm, rét hại kéo dài;dịch bệnh gia súc, gia cầm, giá cả nguyên vật liệu tăng cao làm cho nhiều ngànhsản xuất gặp khó khăn, nhưng dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự nổlực của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt những năm gần đâytỉnh đã có nhiều giải pháp kêu gọi thu hút nguồn lực cho đầu tư phát triển, gópphần đẩy nhanh tốc độ tăng nguồn vốn Do đó, kết quả thực hiện vốn đầu tư pháttriên trên địa bàn ngày càng tăng Tổng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2005 –

2008 đạt trên 39.808,5 tỷ đồng Vốn đầu tư phát triển qua các năm có sự giatăng không đồng đều Nếu năm 2005 vốn đầu tư đạt 6095 tỷ; năm 2006 vốn đầu

tư thực hiện là 7794,0 tỷ đồng, tăng 27,88% so với năm 2005; năm 2007 là10641,30 tỷ đồng, tăng 36,53% so với năm 2006; năm 2008 là 15404,5 tỷ đồng,tăng 44,77% so với năm 2007; gấp 2,5 lần so với năm 2005 Bình quân thời ký2005-2008 là 9952 tỷ đồng Những con số tuyệt đối ở trên chính là kết quả củatỉnh Thanh Hóa trong việc nỗ lực cải tạo môi trường đầu tư Vốn đầu tư tronggiai đoạn này tăng là một xu thế tất yếu đối với một tỉnh đông dân và có nhiềutiềm năng chưa được khai thác hợp lý như Thanh Hóa.Vốn đầu tư tăng cũng gópphần cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ này là 10.6% Đây là mức

Trang 32

tăng trưởng rất đáng khích lệ với điều kiện một tỉnh còn nghèo nàn, nhiều hạnhán như tỉnh Thanh Hóa.

Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư và đã có những bước cảithiện đáng kể Các tuyến đường giao thông chính ở miền núi như Lang Chánh –Yên Khương, Hồi Xuân – Tén Tần bên cạnh đó là sự nâng cấp các quốc 217,quốc lộ 47 Đặc biệt đối với một cảng nước sâu như Nghi Sơn thì việc khởi côngtuyến đường nối ngang cảng Nghi Sơn với đường Hồ Chí Minh đóng vai trò rấtquan trọng trong việc phát huy được thế mạnh của cảng Nghi Sơn và tạo thuậntiện cho việc chuyên chở hàng hóa ra vào cảng nước sâu này, tạo tiền đề choviệc xây dựng khu kinh tế động lực của tỉnh

Nhiều cơ sở sản xuất và dịch vụ lớn được đưa vào sử dụng góp phần tăngthêm năng lực sản xuất của nền kinh tế như: nhà máy đường Nông Cống, nhàmáy bao bì PP, nhà máy chế biến tinh bột sắn Như Xuân, khách sạn 4 sao SaoMai của công ty xây dựng Sông Mã, trung tâm thương mại Vinaconex, bệnhviện đa khoa Hợp Lực, khu công nghiệp Lễ Môn với nhiều nhà máy đã hoạtđộng tốt như nhà máy gạch Ceramic, nhà máy tầm lợp mạ màu, nhà máy thủytinh, sữa Milas

Nhờ có sự gia tăng của vốn đầu tư trong các năm trở lại đây, với mức tăngcủa năm sau cao hơn năm trước đã mang lại những thay đổi rõ rệt trên các lĩnh vực:xây dựng, sản xuất, các công trình xây dựng mới như: Thanh Hóa Plaza, cầu vượtHoàng Long thuộc địa phận phường Hàm Rồng, đại lộ Lê Lợi, nhà thi đấu thể thaotỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, khai thác, các chương trình trọng điểm củatỉnh (xoá đói giảm nghèo, phát triển vùng kinh tế mới ) được giải quyết tốt, sốdoanh nghiệp mới thành lập nhanh chóng gia tăng Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tưtăng qua các năm là yếu tố rất quan trong cho việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh, gópphần rất lớn trong việc tăng tỷ lệ đầu tư trong GDP của tỉnh

2.2.2 Tình hình đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh theo nguồn vốn huy động giai đoạn 2006-2008

Xem xét, đánh giá các nguồn tài trợ cho đầu tư phát triển kinh tế củaViệt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng trong giai đoạn công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là một vấn đề cấpthiết hiện nay.Chúng ta cần nắm được vai trò vị trí của từng nguồn vốn trongtổng vốn đầu tư để có thể phát huy được vai trò của chúng để phục vụ cho côngcuộc phát triển kinh tế của tỉnh một cách hiệu quả và chủ động

Trang 33

Dưới đây là quy mô và cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế tỉnhThanh Hóa trong giai đoạn 2005-2008:

Bảng 2.2: Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa phân theo nguồn vốn giai đoạn 2005-2008

Đồ thị 2.2:Cơ cấu vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Tỉnh Thanh Hoá

Từ bảng số liệu và đồ thị ta thấy vốn và cơ cấu vốn đầu tư phát triển kinh

tế của tỉnh Thanh Hóa được huy động từ các nguồn khá đa dạng bao gồm cả

Trang 34

trong nước và nước ngoài Nguồn vốn trong nước phong phú gồm ngân sách nhànước, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp,vốn của dân cư và tư nhân Trong đó:

+ Trong sự gia tăng về quy mô vốn đầu tư phải nói tới sự gia tăng đáng

kể và vai trò chủ đạo của nguồn vốn thu hút từ ngân sách, chiếm 30 % tổng vốn

đầu tư phát triển Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là nguồn vốn cơ bản quyếtđịnh quá trình phát triển kinh tế của tỉnh, đồng thời cũng thể hiện chính sách củanhà nước quyết tâm xây dựng và phát triển đồng đều tất cả các tỉnh, thành phốtrên cả nước, chú trọng khai thác tiềm năng của Thanh Hóa, cải thiện đời sốngnhân dân địa phương

+ Các nguồn vốn khác cũng gia tăng rất nhanh, đặc biệt là nguồn vốn từ

dân cư, trong khi đó nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước lại giảm, không

ổn định Nhưng nhìn chung, các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cũng tăngkhá nhanh thể hiện sự thu hút đúng hướng và khả năng tiềm tàng về mở rộngnguồn vốn thu hút của Thanh Hóa

+ Về quy mô nguồn vốn ngoài ngân sách chiếm tỷ trọng rất lớn, đặc biệt

là vốn ngoài nhà nước là các nguồn huy động từ dân cư và của các doanh nghiệpchiếm 48% tổng vốn đầu tư phát triển Mặc dù thành phần Vốn huy động từ đầu

tư nước ngoài chiếm tỷ trọng chưa cao, khoảng 7%, nhưng tăng dần qua cácnăm, Đây là điều rất hợp lý trong xu thế phát triển đa dạng hóa các thành phầnkinh tế hiện nay Điều này góp phần nâng cao kết quả hoạt động đầu tư pháttriển của tỉnh Thanh Hóa

2.2.2.1 Vốn trong nước

- Vốn ngân sách nhà nước

Nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tưphát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là nguồn vốn đầu tư quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Các chương trìnhxóa đói giảm nghèo và việc làm, chương trình gia đình, chương trình nước sạch vàcác dự án kết cấu hạ tầng, an ninh quốc phòng có vốn đầu tư từ ngân sách nhànước Nhà nước tiến hành thu phí, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất đóng gópvào ngân sách nhà nước và từ đó tiến hành chi ngân sách cho các địa phương.Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ở Thanh hóa chiếm tỷ trọng khá cao.Dưới đây là bảng số liệu thể hiện vốn ngân sách nhà nước:

Trang 35

Bảng 2.3: Vốn ngân sách đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa 2008

Đồ thị 2.3: Vốn ngân sách nhà nước tỉnh Thanh Hóa giai đoạn2005-2008

Trong giai đoạn từ năm 2005-2008 vốn ngân sách nhà nước tăng khôngđều qua các năm, tăng mạnh nhất là năm 2007 tăng 47 % so với năm 2006, đạt

3580 tỷ đồng, chiếm 33,64 % trong tổng vốn đầu tư phát triển Đến năm 2008vốn ngân sách vẫn tăng nhưng tỷ trọng trong vốn đầu tư phát triển giảm chỉ còn

25 % và chỉ tăng 9% so với năm 2007 Nhìn vào đồ thị vốn ngân sách ta thấyvốn ngân sách nhà nước tăng giảm không đồng đều và tỷ trọng trong vốn đầu tưphát triển không đồng đều

3910 3580

1913,2

2431,5

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500

Ngày đăng: 17/04/2015, 22:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình thu hút vốn đầu tư phát triển tỉnh  Thanh Hóa giai 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư phát triển tỉnh Thanh Hóa giai 2005-2008 (Trang 30)
Đồ thị 2.1: Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
th ị 2.1: Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2005-2008 (Trang 31)
Đồ thị 2.2:Cơ cấu vốn đầu tư phát  triển trên địa bàn Tỉnh Thanh  Hoá - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
th ị 2.2:Cơ cấu vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Tỉnh Thanh Hoá (Trang 33)
Bảng 2.2: Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa phân theo nguồn vốn giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2 Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa phân theo nguồn vốn giai đoạn 2005-2008 (Trang 33)
Đồ thị 2.3: Vốn ngân sách nhà nước tỉnh Thanh Hóa giai đoạn2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
th ị 2.3: Vốn ngân sách nhà nước tỉnh Thanh Hóa giai đoạn2005-2008 (Trang 35)
Bảng 2.3: Vốn ngân sách đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn  tỉnh Thanh Hóa - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3 Vốn ngân sách đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (Trang 35)
Bảng 2.4: Tình hình thu chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4 Tình hình thu chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2008 (Trang 36)
Bảng 2.5 : Vốn tín dụng đầu tư trên địa bàn tỉnh  trong giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5 Vốn tín dụng đầu tư trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2005-2008 (Trang 37)
Bảng 2.7: Vốn của dân cư và TPKT khác trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7 Vốn của dân cư và TPKT khác trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2005-2008 (Trang 40)
Bảng 2.9 Vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Thanh Hóa Năm Số dự án được cấp - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9 Vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Thanh Hóa Năm Số dự án được cấp (Trang 42)
Bảng 2.8: Vốn Đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8 Vốn Đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2008 (Trang 42)
Bảng 2.10: Cơ cấu đầu tư phân theo ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.10 Cơ cấu đầu tư phân theo ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2008 (Trang 44)
Bảng 2.12 Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn theo tiểu vùng kinh tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2008 - Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.12 Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn theo tiểu vùng kinh tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2008 (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w