LỜI MỞ ĐẦU* * * Thị trường chứng khoánTTCK la một kênh huy động vốn rất có hiệu quả.Những khoản lợi nhuận mà nó đem lại là vô cùng to lớn nên nó cũng vô cùng rủi ro.Trong bối cảnh nền ki
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I 5
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 5
1.Tổng quan thị trường chứng khoán 5
1.1.Khái niệm và đặc điểm chứng khoán: 5
1.1.1.Khái niệm: 5
1.1.2.Đặc điểm: 5
1.1.3.Cổ phiếu: 6
1.2.Tổng quan thị trường chứng khoán(TTCK): 7
1.2.1.Khái niệm : 7
1.2.2.Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán : 7
1.2.3.Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán : 8
1.2.4.Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán : .9 1.2.5.Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán : 9
2.Thị trường chứng khoán Việt Nam 10
CHƯƠNG II 14
DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ 14
1.Danh mục đầu tư chứng khoán: 14
1.1 Khái niệm danh mục đầu tư chứng khoán: 14
1.2.Sự cần thiết đầu tư chứng khoán theo danh mục: 14
1.2.1.Đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 14
1.2.2.Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán 15
Chuyên đề thực tập
Trang 21.3.Một số đặc trưng cơ bản của danh mục đầu tư: 15
1.4.Lý thuyết về thiết lập danh mục đầu tư : 16
1.4.1.Lý thuyết về lựa chọn tài sản: 16
1.4.2.Lý thuyết về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro: 16
1.4.3.Lý thuyết về đa dạng hóa danh mục đầu tư: 17
1.4.4.Lý thuyết về thị trường hiệu quả: 17
1.5.Lý thuyết lựu chọn danh mục đầu tư theo mô hình của Markowitz:.18 1.5.1.Giả thiết mô hình: 18
1.5.2.Mô hình với danh mục chỉ gồm những tài sản rủi ro: 19
2.MỘT SỐ MÔ HÌNH LẬP VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ: 22
2.1 Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM): 22
2.1.1 Các giả thiết của mô hình: 22
2.1.2.Mô hình: 23
2.1.3.Ý nghĩa của mô hình: 25
2.2.Mô hình chỉ số đơn SIM 25
2.2.1.Các giả thiết của mô hình: 25
2.2.2.Mô hình sim 26
2.2.3.Ý nghĩa mô hình SIM: 26
2.3.Thuật toán EGP xác định danh mục tối ưu: 26
3.Đánh giá và quản lý danh mục đầu tư: 28
3.1.Đánh giá khả năng đa dạng hóa của danh mục đầu tư: 28
3.2.Đánh giá việc thực thi danh mục đầu tư: 29
3.2.1.Chỉ số Sharpe: 29
3.2.2.Chỉ số Treynor: 29
3.2.3.Phương pháp Jensen: 30
3.3.Tổng quan về quản lý danh mục đầu tư: 31
3.4.Quy trình quản lý danh mục đầu tư: 32
3.5.Những yêu cầu đặt ra cho người quản lý danh mục đầu tư: 33
Trang 34.Xây dựng tiêu chí lựa chọn chứng khoán cho danh mục đầu tư: 34
4.1 Nhóm chỉ tiêu về quy mô 34
4.1.1 Tổng tài sản 34
4.1.2 Vốn chủ sở hữu (Equity) 34
4.2 Nhóm chỉ tiêu tăng trưởng 35
4.2.1 Doanh thu thuần 35
4.2.2 Lợi nhuận sau thuế 35
4.2.3 Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần (Hệ số lợi nhuận ròng) 35
4.3 Hệ số khả năng sinh lời 35
4.3.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng TS (ROA) 35
4.3.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn tự có (ROE) 36
4.4 Các chỉ số định giá 36
4.4.1 Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) 36
4.4.2 Giá trên thu nhập của cổ phiếu (P/E) 36
CHƯƠNG III 38
XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH GIÁO DỤC 38
1.Lập danh mục tối ưu: 38
1.1.Số liệu và nguồn gốc số liệu: 38
1.2.Xây dựng danh mục đầu tư tối ưu 39
1.3 Xác định các tham số cho thuật toán EGP 39
1.4 Xây dựng danh mục tối ưu bằng thuật toán EGP 40
2 Đánh giá danh mục 44
2.1 Đánh giá việc thực thi danh mục 44
2.1.1 Chỉ số Treynor 44
2.1.2 Chỉ số Sharpe 44
2.1.3 Chỉ số α-JensenJensen 44
Trang 42.2 Đánh giá khả năng đa dạng hóa danh mục 45
KẾT LUẬN 46
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 48
Phụ lục 1: Bảng kiểm định tính dừng của chuỗi lợi 48
Phụ lục 2: Kết quả hồi quy lợi suất các chứng khoán theo mô hình SIM 50
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
* * *
Thị trường chứng khoán(TTCK) la một kênh huy động vốn rất có hiệu quả.Những khoản lợi nhuận mà nó đem lại là vô cùng to lớn nên nó cũng vô cùng rủi ro.Trong bối cảnh nền kinh tế Thế Giới đang rơi vào cuộc suy thoái, các tổ chức tàichính, ngân hàng sụp đổ… thì TTCK cũng đang chịu sự tác động không nhỏ đếnhoạt động của mình, các nhà đầu tư có tâm lý trở nên e dè, mong muốn tránh saocho khoản đầu tư của mình không bị tổn thất quá lớn; các tổ chức giao dịch chứngkhoán có vẻ như không sôi nổi người mua kẻ bán gây ảnh hưởng lớn đến doanh thucủa họ…Vậy làm thế nào để có thể phòng ngừa, có thể giảm thiểu và tránh được rủiro? Một trong những phương pháp nhằm tối thiểu hóa rủi ro đó chính là nguyên tắc
đa dạng hóa Đa dạng hóa được thể hiện thông qua việc đầu tư danh mục, ngày nayvấn đề xây dựng và quản lý danh mục đầu tư là một vấn đề mà các công ty đầu tư tàichính quan tâm Trước hết nhà đầu tư lựa chọn một danh mục cổ phiếu mà phù hợptheo khả năng tài chính, theo mục đích, yêu cầu của bản thân họ; đồng thời cần phảixác định tỷ trọng tối ưu của từng cổ phiếu đó Sau khi đã xác định được tỷ trọng củatài sản thì tiến tới nhà đầu tư phải có chiến lược quản lý danh mục, việc làm này cóthể dẫn tới việc thay đổi tỷ trọng của danh mục ban đầu sao cho phù hợp với hoàncảnh thị trường lúc đó nhằm đạt được hiệu quả như mong muốn
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần đầu tư tài chính Giáo Dục , em
đã tìm hiểu được những thông tin , kiến thức và những kinh nghiệm thực tiễn của
ban đầu tư Vì thế em đã quyết định chọn đề tài “Xây dựng danh mục đầu tư tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Tài Chính Giáo Dục” làm đề tài chuyên đề thực tập
của mình
Chuyên đề thực tập gồm 3 chương :
Chương 1 : Tổng quan thị trường chứng khoán
Chương 2 : Danh mục đầu tư và một số mô hình quản lý danh mục đầu tư
Trang 6Chuong 3 : Xây dựng danh mục đầu tư tại công ty cổ phần đầu tư tài chính Giáo Dục.
Trong quá trình thực tập tại công ty, nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các anhchị trong công ty, em đã tìm hiểu được nhiều kiến thức và kinh nghiệm đầu tư thực
tế của công ty Từ đó em đó cơ sơ thực tiễn để hoàn thành chuyên đề này Vì vậy emxin chân thành cảm ơn các anh chị trong công ty đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thờigian qua
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Toán Kinh Tế đãgiúp đỡ em trong thời gian học tập và thực tập vừa qua Đặc biệt , em xin chânthành cảm ơn thầy Trần Trọng Nguyên đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp đỡ để
em hoàn thành chuyên đề thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.Tổng quan thị trường chứng khoán
1.1.Khái niệm và đặc điểm chứng khoán:
1.1.1.Khái niệm:
Theo Điều 6, Luật Chứng khoán 2006, chứng khoán là bằng chứng xác
nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốncủa tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, búttoán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán,hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán
1.1.2.Đặc điểm:
- Tính thanh khoản (Tính lỏng)
Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt Khảnăng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian và phí cần thiết cho việcchuyển đổi và rủi ro của việc giám sát giá trị của tài sản đó do chuyển đổi Chứngkhoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyểnnhượng cao trên thị trường và nói chung các chứng khoán khác nhau có khả năngchuyển đổi khác nhau
- Tính rủi ro
Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớncủa rủi ro Điều này thể hiện ở sự sai biệt giữa thu nhập thực tế và mức sinh lời kìvọng
- Tính sinh lợi
Vì là tài sản tài chính nên khi sở hữu nó nhà đầu tư mong muốn nhận đượcmột thu nhập lớn hơn trong tương lai Thu nhập này được đảm bảo bằng lợi tứcđược phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường Khả năng
Trang 8sinh lời bao giờ cũng quan hệ chặt với rủi ro của tài sản, thể hiện trong nguyên lý– mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng càng lớn.
- Hình thức của chứng khoán
Hình thức của các loại chứng khoán có thu nhập (cố định hoặc biến đổi)thường bao gồm phần bìa và phần bên trong Ngoài bìa ghi rõ quyền đòi nợ hoặcquyền tham gia góp vốn Số tiền ghi trên chứng khoán được gọi là mệnh giá củachứng khoán Đối với giấy tờ có giá có lãi suất cố định bên trong có phiếu ghi lợitức (Coupon) - ghi rõ lãi suất hoặc lợi tức sẽ được hưởng
Đối với giấy tờ có giá mang lại cổ tức (cổ phiếu) bên trong chỉ ghi phầnthu nhập nhưng bên trong không ghi xác định số tiền được hưởng, nó chỉ đảm bảocho người sở hữu quyền yêu cầu về thu nhập do kết quả kinh doanh của công ty
và được phân phối theo nghị quyết đại hội cổ đông Ngoài phiếu ghi lợi tức cònkèm theo phiếu ghi phần thu nhập bổ sung (xác nhận phần đóng góp lũy kế)
1.1.3.Cổ phiếu:
a Khái niệm
Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần trong một công ty, thể hiện sự sở hữumột phần công ty đó Người sở hữu cổ phiếu được gọi là cổ đông của công ty, sẽđược phân chia phần lợi nhuận cũng như gánh chịu phần thua lỗ của công ty theo
tỷ lệ cổ phần mà mình nắm giữ Giá trị cổ phần của công ty được phản ánh thôngqua giá cổ phiếu trên TTCK Thông thường, giá cổ phiếu sẽ đi lên khi công ty làm
ăn phát đạt và ngược lại Cổ phiếu trên sàn là cổ phiếu đã được niêm yết và giaodịch trên TTCK Cổ phiếu ngoài sàn (OTC) là cổ phiếu không đủ điều kiện đểniêm yết hoặc đủ điều kiện nhưng chưa niêm yết trên TTCK Cổ phiếu trên sànthường đã qua chọn lọc, các thông tin tương đối minh bạch và đầy đủ hơn so với
cổ phiếu ngoài sàn Nếu so với tiền gửi tiết kiệm và trái phiếu, đầu tư vào cổphiếu có lợi nhuận tiềm năng cao hơn hẳn, nhưng bù lại mức độ rủi ro cũng caohơn
b Rủi ro của cổ phiếu
Cổ phiếu gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống
Trang 9Rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động đến toàn bộhoặc hầu hết các tài sản Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tếchung như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất …
Rủi ro không hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặcmột nhóm các tài sản Loại rủi ro này thường liên quan tới điều kiện của nhà pháthành (rủi ro doanh nghiệp) Các nhà đầu tư thường quan tâm tới việc xem xét,đánh giá các rủi ro liên quan, trên cơ sở đó đề ra các quyết định lựa chọn, nắm giữhay bán chứng khoán Điều này phản ánh mối quan hệ giữa lợi tức và rủi ro hay
sự cân bằng về lợi tức – người ta sẽ không chịu rủi ro tăng thêm trừ khi người ta
kì vọng được bù đắp bằng lợi tức tăng thêm Tuy nhiên, rủi ro không hệ thống cóthể giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư
1.2.Tổng quan thị trường chứng khoán(TTCK):
1.2.1.Khái niệm :
TTCK trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại được quan niệm là nơi diễn
ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bánnày được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lầnđầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bánlại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp
1.2.2.Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán :
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
1.2.3.Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán :
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể đượcchia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quanđến chứng khoán
a) Nhà phát hành
Trang 10Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trườngchứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá củathị trường chứng khoán.
-Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếuChính phủ và trái phiếu địa phương
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các tráiphiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
b)Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trườngchứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhàđầu tư có tổ chức
-Các nhà đầu tư cá nhân
- Các nhà đầu tư có tổ chức
c)Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
d) Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
1.2.4.Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán :
TTCK hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc công khai
Trang 11Nguyên tắc trung gian
Nguyên tắc đấu giá
1.2.5.Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán :
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sảnphẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1năm) Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
a)Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứcấp
Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thôngqua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trênthị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
b)Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịchchứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC)
c)Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thịtrường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán pháisinh
· Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và
mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
· Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và
mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các tráiphiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
Trang 12· Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đibán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợpđồng quyền chọn
2.Thị trường chứng khoán Việt Nam
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11/7/1998 chính phủ đã kí nghịđịnh 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK , chính thức khai sinh cho thịtrường chứng khoán Việt Nam ra đời, cùng ngày chính phủ cũng kí quyết địnhthành lập trung tâm giao dịch chứng khoán đặt tại 2 thành phố là Hà Nội và TPHCM
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM (TTGDCK TP.HCM) bắt đầuhoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã chính thức bắt đầu vào ngày8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch chứngkhoán của các công ty lớn) , TTGDCK Hà Nội sẽ là sân chơi cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sựquan tâm của đông đảo công chúng , các diễn biến tăng giảm của thị trường chưatạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh
tế , cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Năm 2006, TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc , chỉ số Vn-index tạisàn giao dịch thành phố HCM (HOSTC)tăng 144% , tại sàn Hà Nội (HASTC) tăng152,4% TTCK Việt Nam năm 2006 : Vn-index cuối năm tăng 2,5 lần so với đầu
năm Năm 2008, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam có diễn biến xấu
nhất trong suốt hơn 8 năm đi vào hoạt động Chỉ số giá chứng khoán của cả haisàn liên tục giảm mạnh: HaSTC-Index có thời điểm giảm xuống dưới mức 100điểm (ngày 27-11) So với thời điểm đầu năm 2008, HaSTC-Index và VN-Indexgiảm tương ứng 67,2% và 66,9%, việc huy động vốn qua TTCK giảm tới 75-80%
và cả 3 kênh: phát hành tăng vốn của doanh nghiệp, cổ phần hóa, phát hành trái
Trang 13phiếu đều sụt giảm mạnh so với năm trước; tính thanh khoản - khối lượng giaodịch giảm khoảng 70% so với năm trước Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng thị trường chứng khoán thế giới nói chung vàTTCK VN nói riêng đã nhanh chóng tăng trưởng trở lại theo đà phục hồi kinh tế.Tại VN, chỉ số VN-Index xác lập được những đỉnh cao trên 600 trong năm từ mốcthấp nhất 235 điểm tại thời điểm cuối tháng 2/2009 Tính đến tháng 11/2009, đã có
430 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TPHCM và Hà Nội, trong đó tại sở giao dịch chứng khoán TP HCM là 184 loại cổphiếu, chứng chỉ quỹ, trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội là 226 Tổng giá trịvốn hóa thi trường niêm yết tại hai sàn lên tới hơn 669 nghìn tỷ đồng (39 tỷ USD),tương đương 55% GDP của năm 2008 Mức vốn hoá này đã tăng gần gấp 3 lần sovới thời điểm cuối năm 2008.Hiện thị trường đã có 105 Cty chứng khoán, 46 Ctyquản lý quỹ, 382 quỹ đầu tư nước ngoài, 8 ngân hàng lưu ký Số lượng Cty chứngkhoán đi vào hoạt động tăng không nhiều so với thời điểm đầu năm (đầu năm
2009 số lượng Cty chứng khoán là 102 Cty) do tình hình TTCK trong năm 2009suy giảm sâu Tuy nhiên, số lượng Cty chứng khoán hiện nay cũng đã tăng hơn50% so với thời điểm cuối năm 2006 Số lượng tài khoản giao dịch đã có sự tăngtrưởng đáng kể Đến hết tháng 11/2009, số lượng tài khoản giao dịch đạt khoảng
730 nghìn tài khoản trong đó số lượng tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài là 13nghìn tài khoản, chiếm khoảng 2%, tăng gấp hơn 2 lần so với thời điểm cuối năm
2007 và gấp hơn 7 lần so với cuối năm 2006, tăng 41% so với thời điểm đầu năm
2009 Tổng giá trị giao dịch trên cả hai sàn đến hết tháng 10/2009 là 490 nghìn tỷ(sàn HoSe là 329 nghìn tỷ và sàn HNX là 161 nghìn tỷ) tăng gấp 2,7 lần so vớitổng giá trị giao dịch của năm 2008 và gấp 1,75 lần so với cả năm 2007 Để cóđược những thành tựu trên, ngoài sự phản ánh sự hồi phục của nền kinh tế trongnước, tác động của TTCK thế giới và chính sách điều tiết thị trường của chínhphủ, thì sự tích cực tham gia của các thành viên trên thị trường cũng đóng góp mộtphần quan trọng cho sự phát triển bền vững của TTCK Mặc dù gặp khá nhiều khókhăn trong năm 2010, song TTCK Việt Nam vẫn để lại nhiều kỉ lục Đó là giá trị
Trang 14huy động vốn gấp 3 lần năm 2009, tổng giá trị giao dịch ròng của nhà đầu tư nướcngoài đạt 15000 tỉ đồng, hiện tượng “đội lái” cùng những kỹ xảo điều khiển giá cổphiếu và sử dụng dịch vụ tài chính tràn lan, nở rộ các cuộc thâu tóm doanh nghiệp.
Trang 15CHƯƠNG II
DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ
1.Danh mục đầu tư chứng khoán:
1.1 Khái niệm danh mục đầu tư chứng khoán:
Danh mục đầu tư chứng khoán là các khoản đầu tư của một cá nhân , một tổchức vào việc sở hữu một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hoá, đầu tưbất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc là các tài sản khác nhằm giảm thiểurủi ro bằng việc đa dạng hoá danh mục đầu tư
Nói một cách khác, danh mục đầu tư là một tập hợp gồm ít nhất hai loạichứng khoán trở nên nhằm mục đích cơ bản là đa dạng hoá nhằm tránh những rủi
ro lớn và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính
1.2.Sự cần thiết đầu tư chứng khoán theo danh mục:
1.2.1.Đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Đối với các nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạtđộng đầu tư mang lại lợi nhuận cao Tuy nhiên, điều đầu tiên họ phải biết chấpnhận là không bao giờ có sự đầu tư nào đem lại lợi nhuận mà không có kèm rủi ro.Nói cách khác khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, họ không thể chắc chắn vềlợi nhuận thu được; mặt khác khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư đơn lẻ vào một loại
cổ phiếu thì rủi ro mà cổ phiếu đó mang đến là rất lớn Do đó, nhà đầu tư cần thiếtphải xác định một danh mục đầu tư cho phù hợp với mức chấp nhận rủi ro củamình Và việc đầu tư theo danh mục mang lại những lợi ích sau:
- Thứ nhất, đầu tư chứng khoán theo danh mục vẫn đảm bảo được các yêu cầu củanhà đầu tư về lợi suất đầu tư, bên cạnh đó nhà đầu tư có thể điều chỉnh danh mụcphù hợp với lợi suất yêu cầu
- Thứ hai, đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp nhà đầu tư có thể đa dạng hóa các rủi
ro Khi đầu tư chỉ duy nhất một cổ phiếu, nếu cổ phiếu đó biến động tốt thì tấtnhiên nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận tương đối cao; nhưng ngược lại trong
Trang 16trường hợp cổ phiếu đó mất giá hoặc doanh nghiệp phát hành bị phá sản, nhà đầu
tư sẽ thua lỗ khá lớn Do đó nếu nhà đầu tư thực hiện đầu tư theo danh mục, cácrủi ro riêng của chứng khoán đã được đa dạng hóa, và họ sẽ xác định được danhmục đầu tư hiệu quả, phù hợp với nhu cầu lợi nhuận của bản thân mình
- Thứ ba, với hình thức đầu tư bằng danh mục, các nhà đầu tư có thể đầu tư vốncủa mình vào chứng khoán bằng cách đầu tư thông qua các tổ chức chuyên nghiệp(đầu tư gián tiếp) Với hình thức này, nhà đầu tư sẽ uỷ thác cho các công ty tàichính hoặc quỹ đầu tư Họ sẽ không phải bỏ ra quá nhiều chi phí giám sát đối vớicác chứng khoán Với khoản phí uỷ thác,các công ty được uỷ thác sẽ quản lý danhmục đầu tư cho nhà đầu tư
1.2.2.Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên TTCK nhằm mục đích thu đượcnguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán Đó là phần doanh thu từ hoạtđộng tài chính của công ty Khi TTCK ngày càng phát triển và hoàn thiện, đầu tưchứng khoán là một kênh quan trọng giúp các tổ chức kinh doanh gia tăng nguồnlợi nhuận của mình Nhờ vào việc đa dạng hóa danh mục đầu tư mà các tổ chứckinh doanh chứng khoán vừa tạo ra khoản lợi nhuận cao, vừa đáp ứng được cácyêu cầu về an toàn vốn đầu tư
Đối với công ty đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán mở rộng phạm vi hoạtđộng bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Ngoài ra, công ty đầu tư tàichính cũng có thể tăng doanh thu từ việc thu phí tư vấn đầu tư, quản lý danh mụcđầu tư…
1.3.Một số đặc trưng cơ bản của danh mục đầu tư:
Trang 17b.Lợi suất kì vọng của danh mục P:
Lợi suất kì vọng của danh mục P :
1.4.Lý thuyết về thiết lập danh mục đầu tư :
1.4.1.Lý thuyết về lựa chọn tài sản:
Lựa chọn danh mục đầu tư được dựa trên cơ sở lý thuyết về sự lựa chọn tài sảnđầu tư Lý thuyết này giải thích vì sao nhà đầu tư lại lựa chọn đầu tư vào loại tàisản này mà không lựa chọn loại tài sản khác Các loại tài sản có thể lựa chọn như:tiền, chứng khoán, tác phẩm nghệ thuật, bất động sản
Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, trước khi quyết định đầu tư các nhà đầu tưthường xem xét 5 tiêu chí trọng điểm:
-Của cải hay tiềm lực kinh tế hiện có của nhà đầu tư;
-Lợi suất (hay lợi tức) kỳ vọng trên một tài sản so với lợi tức mong đợi trên nhữngtài sản khác;
-mức độ rủi ro đi liền với lợi tức mong đợi trên những tài sản khác;
-tính lỏng của một tài sản so với những tài sản khác;
-chi phí của việc thu thập thông tin về một tài sản so với chi phí thông tin đi liềnvới những tài sản khác
1.4.2.Lý thuyết về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro:
Rủi ro của các danh mục đầu tư phụ thuộc vào từng nhà đầu tư Tương ứngvới mức chấp nhận rủi ro khác nhau, lợi suất kỳ vọng của danh mục của từng nhàđầu tư cũng khác nhau Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro chấp nhận một mức rủi ro
Trang 18cao nhưng cũng yêu cầu một mức lợi nhuận kỳ vọng cao, ngược lại với những nhàđầu tư e ngại rủi ro có mức chấp nhận rủi ro thấp tương ứng với lợi suất kỳ vọngthấp
Loại rủi ro không thể triệt tiêu được gọi là rủi ro hệ thống, phần lợi nhuận
kỳ vọng ứng với rủi ro hệ thống chính là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro Tỷ suất sinh lợicủa chứng khoán chịu tác động rất nhiều của yếu tố rủi ro, những yếu tố này có thể
bị triệt tiêu hoàn toàn thông qua việc kết hợp danh mục đầu tư hiệu quả của nhiềuchứng khoán được gọi là rủi ro không hệ thống, phần lợi nhuận kỳ vọng để bù đắpcho loại rủi ro này chính là phần bù rủi ro chứng khoán
1.4.3.Lý thuyết về đa dạng hóa danh mục đầu tư:
Ở phần trước, chúng ta đã chỉ ra rằng mỗi một chứng khoán đều tiềm ẩn hailoại rủi ro: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống (còn gọi là rủi ro riêng) Rủi ro hệthống là rủi ro do thị trường gây ra và ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán trênthị trường Do vậy, rủi ro hệ thống là rủi ro không thể tránh được bằng hình thức
đa dạng hoá Ngược lại, rủi ro phi hệ thống của một chứng khoán có nguyên nhân
từ chính tổ chức phát hành do đó có thể hạn chế được bằng biện pháp đa dạng hoáđầu tư Điều này là do nguyên lý khi hai hoặc nhiều chứng khoán tham gia tạothành một danh mục đầu tư thì mỗi cặp chứng khoán sẽ có tương tác qua lại vớinhau tạo ra một kết quả chung cho cả danh mục Tức là, mức độ chấp nhận rủi rocao hay thấp của danh mục sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác giữa cácchứng khoán đưa vào danh mục với các chứng khoán khác Nếu danh mục càng đadạng thì khả năng giảm thiểu rủi ro phi hệ thống càng thấp, các chứng khoán bùđắp rủi ro cho nhau
1.4.4.Lý thuyết về thị trường hiệu quả:
Thị trường hiệu quả (EMH) là thị trường mà giá cả của chứng khoán đãphản ánh đầy đủ, tức thời tất cả các thông tin hiện có trên thị trường Điều đó tức
là giá cả chứng khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên do ảnh hưởng của nhữngthông tin không thể dự đoán được
Trang 19Có 3 hình thái của thị trường đạt hiệu quả đó là hình thái yếu, hình tháitrung bình cuối cùng là hình thái mạnh.
EMH hình thái yếu của thị trường: Trong hình thái này thì giá cả củachứng khoán đã phản ánh đầy đủ và kịp thời những thông tin trong quá khứ vềgiao dịch của thị trường như giá cả giao dịch, khối lượng, động thái, Khi hìnhthái yếu của thị trường tồn tại, các nhà phân tích kỹ thuật sẽ bị “vô hiệu hoá”
EMH cấp trung - hình thái trung bình của thị trường: Trong hình tháitrung bình giá cả của chứng khoán đã phản ánh tất cả các thông tin liên quan đếncông ty đã được công bố công khai bên cạnh các thông tin trong quá khứ Khi hìnhthái trung bình tồn tại thì không có hình thức phân tích nào kể cả phân tích cơ bản
và phân tích kỹ thuật có thể đem lại siêu lợi nhuận cho nhà đầu tư nếu việc phântích chỉ dựa trên các thông tin trên thị trường
EMH cấp cao - hình thái mạnh của thị trường: Trong hình thái nàygiá cả của chứng khoán phản ánh tất cả những thông tin cần thiết liên quan đến tổchức phát hành thậm chí đó là những thông tin nội gián, thông tin mật (của mãchứng khoán muốn đầu tư…) Điều này có nghĩa là thị trường sẽ phản ánh hết sứcnhanh trước những thông tin Và vì vậy, trong hình thái này không thể thực hiệnbất kỳ một hình thức phân tích nào
1.5.Lý thuyết lựu chọn danh mục đầu tư theo mô hình của Markowitz:
1.5.1.Giả thiết mô hình:
- Giả thiết các nhà đầu tư e ngại rủi ro
- Các nhà đầu tư đánh giá rủi ro danh mục dựa vào phương sai của danh mục
- Các nhà đầu tư ra quyết định dựa trên đường biên hữu dụng, đường thể hiệnmối tương quan giữa lợi suất kỳ vọng và phương sai của tỷ suất lợi nhuận
- Với cùng một mức rủi ro nhà đầu tư sẽ lựa chọn tài sản (danh mục) có lợisuất kỳ vọng lớn hơn ngược lại với cùng một mức lợi suất kỳ vọng nhà đầu tư sẽchọn tài sản (Danh mục) có rủi ro thấp hơn
Thiết lập mô hình:
Trang 20Giả sử danh mục P có n tài sản:
' 1
1
n i i
Với wi : là tỉ trọng của tài sản thứ i trong danh mục P
W’ : là ma trận (dòng) của tỉ trọng tài sản trong danh mục
U : là ma trận (cột) đơn vị
1 1
Trong danh mục không có bán khống tức là wi 0
Lợi suất của tài sản i: r i ~ ( ,N r với i i2) i 1,n
Hiệp phương sai của tài lợi suất tài sản i, j là:
là phương sai của lợi suất tài sản i
Do V là ma trận đối xứng không âm nên tồn tại ma trận nghịch đảo V 1 là
1.5.2.Mô hình với danh mục chỉ gồm những tài sản rủi ro:
Mô hình : Tìm W sao cho 2P Min
Hay : Min(W’VW)
Trang 21Điều kiện:
n
' i
1 ' i 1
i n
Danh mục này gọi là danh mục biên duyên Tập các danh mục biên duyên
sẽ cho ta một đường biên hiệu quả
Lời giải:
Giải bài toán largrange:
Tìm cực tiểu hàm: L(w, 1, 2)= W'VW + 21(r P - W'r) + 22(1 - W'U)Điều kiện cần: 2VW - 21r - 22U =0 (1)
Trang 22a a
Hình 1 : Tập danh mục biên duyên
Từ các dữ kiện trên ta có nhận xét: danh mục MVP là danh mục có phươngsai nhỏ nhất Những nhà đầu tư có mức e ngại rủi ro lớn thường chọn danh mụcđầu tư xung quanh MVP
Đường MVP-A là đường biên hiệu quả, đây là đường tập hợp các danh mụchiệu quả Tùy theo mức độ chấp nhận rủi ro mà các nhà đầu tư xác định danh mụcđầu tư của mình trên đường này: Rủi ro càng lớn thì mức lợi suất kỳ vọng càngcao Xác định đường bàng quan giữa lợi suất và rủi ro của từng nhà đầu tư, điểm
A
MVP
B E(Ri)
M
Trang 23tiếp xúc giữa đường bàng quan và đường biên hiệu quả chính là danh mục tối ưucủa nhà đầu tư đó.
Đường MVP-B là đường biên phi hiệu quả đây là đường tập hợp nhữngdanh mục phi hiệu quả danh mục mà lợi suất sẽ thấp hơn khi rủi ro tăng
Mặt khác ta có thể giải thích đường tập hợp các danh mục biên duyên thôngqua nguyên lý đa dạng hoá đầu tư Đường biên hiệu quả thể hiện sự kết hợp củanhững tài sản có biến động ngược chiều với nhau
Trên thực tế, khi cho phép bán không tức có nghĩa là wi<0 thì đường cong
sẽ dịch chuyển vào bên trong tức là với mức rủi ro bán đầu thì lợi suất kỳ vọng sẽgiảm, Mặt khác giả thiết lợi suất của các tài sản là tuân theo quy luật phân phốichuẩn, trong khi đó trên thực tế chuỗi lợi suất các tài sản có thể không tuân theoquy luật phân phối chuẩn, do vậy ta phải điều chỉnh chúng
2.MỘT SỐ MÔ HÌNH LẬP VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ:
2.1 Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM):
Mô hình định giá tài sản vốn ( Capital asset pricing model _ CAPM) doWilliam Sharpe phát triển từ những năm 1960 và đã có được nhiều ứng dụng từ đóđến nay, là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kì vọng Trong môhình này, lợi nhuận kì vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận không rủi ro(risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thốngcủa chứng khoán đó Còn rủi ro không hệ thống không được xem xét trong môhình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hóa để loại bỏrủi ro này
2.1.1 Các giả thiết của mô hình:
-Thị trường vốn là hiệu quả ở chỗ NĐT được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phígiao dịch không đáng kể coi như bằng 0, không bị những hạn chế đầu tư (về khốilượng tài sản giao dịch cũng như điều kiện về bán khống), không có thuế vàkhông có NĐT nào đủ lớn gây ảnh hưởng đến giá cả của một loại chứng khoán
Trang 24nào đó Nói cách khác là giả định thị trường vốn là thị trường hiệu quả và hoànhảo.
-Nhà đầu tư kỳ vọng nắm giữ chứng khoán trong thời kỳ 1 năm và có hai cơ hộiđầu tư: đầu tư vào chứng khoán phi rủi ro và thứ hai là đầu tư vào danh mục cổphiếu thường trên thị trường Các nhà đầu tư đều đồng nhất trong việc đánh giácác thông tin, các chỉ số phản ánh hoạt động của thị trường
Trong đó: rf : là lãi suất phi rủi ro
i : là hệ số beta của cổ phiếu
Trang 25Hình 2:Mô tả giá trị α – lượng đầu tư vào một tài sản
Riêng giá trị α = 0 thì tương ứng với danh mục thị trường M Đường congnày không thể đi qua đường thị trường vốn Nếu nó đi qua đường thị trường vốnthì nó sẽ vi phạm định nghĩa của đường thị trường vốn Đường cong này phải tiếpxúc với đường thị trường vốn Tại điểm M, độ dốc của đường cong bằng với độdốc của đường thị trường vốn.Dưới đây là đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa lợinhuận kỳ vọng của chứng khoán với hệ số β của nó
Lợi suất kì vọng của cổ phiếu (%)
Khoản gia tăng bù đắp
Lợi nhuận phi rủi ro
rf
Hệ số β của cố phiếu1
Trang 262.1.3.Ý nghĩa của mô hình:
SML được coi là một tiêu chí chuẩn mực để đánh giá một phương án đầu
tư Với việc chấp nhận độ rủi ro nhất định đối với một phương án đầu tư (được gọi
là hệ số bêta), SML cho chúng ta biết lợi nhuận thu được của các phương án đầu
tư đó phải là bao nhiêu mới có thể bù đắp được rủi ro mà các nhà đầu tư phải gánhchịu
Xuất phát từ ý nghĩa của đường SML, nếu tất cả các chứng khoán đượcđịnh giá chính xác nhất thiết phải nằm trên đường SML Với những điểm nằm trênhoặc dưới đường SML đều biểu hiện tình trạng giá không phản ánh đúng với giátrị cân bằng trên thị trường Nếu là điểm nằm phía trên SML, chứng khoán đóđược định giá thấp hơn giá trị hơn giá giá trị thực của chúng Trong trường hợpnày các NĐT nên mua loại chứng khoán đó Ngược lại nếu điểm đó nằm dướiđường SML thì không nên mua loại chứng khoán đó vì nó được định giá cao hơngiá trị thực của nó
2.2.Mô hình chỉ số đơn SIM
2.2.1.Các giả thiết của mô hình:
Mô hình SIM là một mô hình đơn giản hoá và chỉ định nghĩa một nhân tốduy nhất là căn nguyên của giá trị hiệp phương sai giữa các mức lợi suất của mộtloại chứng khoán rit và giả thuyết các mức lợi suất của chứng khoán i là mộtphương trình tuyến tính của nhân tố đó, hoặc là chỉ số It
Hàm số mô tả SIM ở dạng tuyến tính: rit = i + iIt + it
Các giả định cơ sở của mô hình :
-Lợi suất của chứng khoán có dạng hàm tuyến tính như trên định nghĩa;-Các tài sản của mô hình SIM như : αi, βi được tính toán thông qua cácbước hồi quy tuyến tính sao cho mức rủi ro phụ trội chỉ là tham số của chỉ số thịtrường chứ không bao hàm rủi ro đặc thù của chứng khoán i đang xét
-Phần rủi ro đặc thù (it) của chứng khoán i không có quan hệ hàm số vớigiá trị của chỉ số It, tức là: E(it,It) = 0, Cov(it,It) = 0, Cov(i,j) = 0 với mọi i j
Trang 27-Chỉ số đại diện cho một tác nhân duy nhất ảnh hưởng đến hiệp phương sai giữacác mức lợi suất, nghĩa là E(i,j) = 0.
Trong phương trình hàm số mô tả SIM, số hạng αi thể hiện một bộ phậnlợi suất cố định gắn liền của chứng khoán i Theo nghĩa đó, αi là hằng số,không có quan hệ phụ thuộc gì vào chỉ số It
βi là hệ số đo mức độ nhạy cảm của lợi suất chứng khoán i đối với hành
vi của chỉ số It Nếu βi >1 thì tài sản i tương ứng được gọi là năng động(Aggressive Asset) Nếu βi <1 thì tài sản i là tài sản thụ động (DefensiveAsset)
Cuối cùng, εit đại diện cho phần lợi suất đặc thù của chứng khoán i đangxét, không có tương quan với chỉ số It cũng như mức lợi suất của các loạichứng khoán khác đang tồn tại trên thị trường
2.2.3.Ý nghĩa mô hình SIM:
Giảm bớt các thông số và tính toán đầu vào cho các việc phân tích danhmục
Mô hình SIM rất hữu ích trong dự báo lợi suất và rủi ro của danh mụchay chứng khoán đơn lẻ
SIM được dùng vào việc tạo nên và ứng dụng các mô hình trạng tháicân bằng như CAPM hay APT
2.3.Thuật toán EGP xác định danh mục tối ưu:
Giả thiết của thuật toán:
Có N tài sản rủi ro với lợi suất ri (i = 1;…;N) và 1 tài sản phi rủi ro vớilợi suất rf
Trang 28Lợi suất của tài sản rủi ro tuân theo mô hình SIM
Thị trường cấm bán khống
Sau khi ước lượng mô hình SIM cho các tài sản chúng ta thu được lợisuất trung bình của từng tài sản r i(i = 1;2;…,N) và hệ số iI Tính tỷ sốTreynor đối với tài sản i theo công thức:
iI
f
i r r E
Thuật toán EGP:
i j
jI j
f j
I i
r r C
1 2
2 2
1 22
Xác định phân vị bằng cách so sánh ERBi với Ci, ta xác định được chỉ
số k sao cho ERBi > Ci (i = 1;2;…;k), ERBi < Ci với i = k +1; k+2; … Khi đódanh mục tối ưu sẽ bao gồm các chứng khoán xét từ 1 đến k Các chứng khoánthứ tự từ k+1 trở đi sẽ không có mặt trong danh mục tối ưu
Bước 4: Tính tỷ trọng các tài sản có trong danh mục tối ưu.
i z z