Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài nghiên cứu được kết cấu thành 2chương bao gồm : Phần 1: Tổng quan về nợ xấu của các tổ chức tín dụng Phần 2: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu
Trang 1Mục lục
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ 3
LỜI MỞ ĐẦU 1
Phần 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2
1.1 Các khái niệm về nợ xấu 2
1.1.1 Rủi ro tín dụng 2
1.1.2 Phân loại nợ và trích lập dự phòng 2
1.1.3 Nợ xấu 3
1.2 Những tác động tiêu cực của nợ xấu 4
1.2.1 Đối với tình hình kinh tế - xã hội 4
1.2.2 Đối với các TCTD 5
1.2.3 Đối với DN 6
1.3 Sự cần thiết của việc xử lý nợ xấu 6
Phần 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG TCTD VIỆT NAM 8
2.1 Thực trạng nợ xấu của hệ thống các TCTD 8
2.1.1 Quy mô nợ xấu của hệ thống các TCTD 8
2.1.2 Chưa có sự thống nhất về con số nợ xấu 11
2.1.3 Một số yếu tố giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các TCTD 12
2.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 13
Trang 22.2.1 Nguyên nhân thuộc môi trường kinh doanh 13
2.2.2 Nguyên nhân từ các TCTD 14
2.2.3 Nguyên nhân từ phía DN 15
2.2.4 Cơ chế pháp lý nhà nước 16
2.3 Cần chặn ngay đà tăng của nợ xấu 17
2.4 Giải pháp xử lý nợ xấu 18
2.4.1 Giải pháp hỗ trợ của chính phủ 19
2.4.2 Giải pháp từ NHNN 19
2.4.3 Các giải pháp từ phía các TCTD 20
2.4.4 Các giải pháp từ phía DN 21
2.4.5 Phối hợp giữa các bên để giải quyết nợ xấu 21
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế nước ta đã chịu tác động tiêu cực và kinh tế vĩ
mô có nhiều yếu tố không thuận lợi Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng
có chiều hướng gia tăng nhanh Nợ xấu đang được ví von như là “cục máu đông”làm tắc nghẽn “dòng máu” tín dụng trong cơ thể nền kinh tế Việt Nam hiện nay.Cần phải xác định được thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp xử lý nợ xấu.Chỉ có xử lý tốt nợ xấu mới làm cho tình hình kinh tế nước ta mới trở nên lànhmạnh và tăng trưởng
Chính vì lý do đó mà em chọn đề tài: “Nợ xấu trong hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp” Trên cơ sở nghiên cứu và
phát triển lý luận chung về ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng, nợ xấu Em sẽ ápdụng vào phân tích tình hình tài chính, thực trạng dư nợ tính dụng, nợ xấu để làm rõmột số tồn tại và có một số kiến nghị, giải pháp góp phần xử lý tình trạng nợ xấutrong các tổ chức tín dụng hiện nay
Mục tiêu đề tài
Đưa ra các giải pháp xử lý tình trạng nợ xấu trong hệ thống các tổ chức tíndụng
Đối tượng nghiên cứu
Bảng báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán của các ngân hang thương mạigiai đoạn từ năm 2008 đến nay
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu, thông tin Phân tích số liệu và thông tin thu thập được,từ đórút ra các kết luận về đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài nghiên cứu được kết cấu thành 2chương bao gồm :
Phần 1: Tổng quan về nợ xấu của các tổ chức tín dụng
Phần 2: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống tổ chức tín dungViệt Nam hiện nay
Trang 6Phần 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1 Các khái niệm về nợ xấu
Về bản chất thì rủi ro tín dụng là tình huống mang tính xác suất, không mongmuốn của cả hai phía – người cho vay và người vay, mà khi những tình huống đóphát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thì sẽ dẫn đến một kết cục tấtyếu là mục tiêu cuối cùng trong giao kết hợp đồng không đạt được như mong muốn
1.1.2 Phân loại nợ và trích lập dự phòng
Theo Thông tư Số: 15/2010/TT-NHNN thì căn cứ vào thực trạng tài chính củakhách hàng và/hoặc thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi vay, TCTD thực hiện phânloại nợ theo năm nhóm như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 30 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo
Trang 7- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trảlãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới
90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quáhạn hoặc đã quá hạn
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ nêu trên như sau:
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theothời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trảlãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Trang 8Nhóm nợ nghi ngờ mất vốn bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới
90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Nhóm nợ có khả năng mất vốn bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quáhạn hoặc đã quá hạn
1.2 Những tác động tiêu cực của nợ xấu
1.2.1 Đối với tình hình kinh tế - xã hội
Tình trạng nợ xấu có thể làm cho cả nền kinh tế rơi vào tình trạng tắc nghẽn, trìtrệ Dù sức mua suy giảm, hàng tồn kho tăng, lãng phí đầu tư công, tác động củakhủng hoảng trên thế giới là những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gây ra khókhăn cho nền kinh tế nhưng nợ xấu là một trong những nguyên nhân chủ yếu Đây
là một trong những điểm nghẽn lớn nhất tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế, làmcho sản xuất, kinh doanh và thị trường gặp khó khăn, DN phải thu hẹp sản xuất,thậm chí nhiều DN bị ngừng hoạt động, phá sản Nợ xấu nếu không được giải quyết
mà cứ tăng lên mỗi ngày sẽ dần dần gây tê liệt nền kinh tế
Hơn nữa nợ xấu kéo dài khiến DN giảm qui mô, cắt giảm lao động, kéo theo làhiện tượng thất nghiệp của công nhân Nó cũng tạo ra những bất ổn cho xã hội Nạnthất nghiệp ra tăng, nhu cầu trợ cấp cũng tăng lên, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình
xã hội
Trang 9Ngoài tác động đến tình hình kinh tế xã hội trong nước, nợ xấu còn tác độngđến tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao với nước ngoài Nợ xấu làm hệ số tínnhiệm của một quốc gia giảm xuống Các tổ chức xếp hạng quốc tế sẽ đánh giá vàxếp loại tín nhiệm NH, tín nhiệm quốc gia Khi tín nhiệm bị hạ xuống thì tất nhiên
sẽ ảnh hưởng tới mối quan hệ ngoại giao, rất khó để có thể tiếp cận được với cácnguồn hộ trợ vay vốn trong tương lai
1.2.2 Đối với các TCTD
Nợ xấu tiếp tục trở thành gánh nặng của nền kinh tế, nếu không có biện pháp
xử lý hữu hiệu sẽ rất nguy hiểm không chỉ cho riêng hệ thống NH, mà cho cả nềnkinh tế Bởi nợ xấu đang là rào cản lớn nhất khiến vốn tín dụng NH không đến đượcvới DN
Nợ xấu khiến các TCTD phải gia tăng DPRR Việc gia tăng nợ xấu sẽ kéo theoviệc NH phải tăng cường trích lập DPRR cho các khoản nợ này Đặc biệt, khi cóthêm nhiều thông tin về tình hình kinh tế vĩ mô, sản xuất kinh doanh của DNchuyển biến tiêu cực, những khoản nợ mới đến hạn nhưng DN không có khả năngtrả nợ khiến nợ xấu gia tăng và có xu hướng phải di chuyển lên các nhóm nợ caohơn, đồng nghĩa với việc NH sẽ phải trích lập dự phòng nhiều hơn
Giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu Rủi ro nợ xấu liên quan trực tiếp tới chỉtiêu lợi nhuận của NH Với tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh, việc trích lập dự phòng khiếnlợi nhuận của NH bị suy giảm Bên cạnh đó, không phải NH nào cũng công bố con
số nợ xấu thực tế của đơn vị mình, nợ xấu tiềm ẩn của NH được đánh giá là khá lớn
so với con số công bố Theo đó, số liệu tuyệt đối về lợi nhuận có thể tăng nhưng tỷ
lệ lợi nhuận trên doanh thu tại 1 số NH chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng
Rủi ro thanh khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống gia tăng Nợ xấu sẽ kéotheo rủi ro vỡ thanh khoản, vỡ cơ cấu kỳ hạn của NH trong trường hợp khôngthu hồi được nợ Ngoài ra, những NH có tỷ lệ nợ xấu cao cũng sẽ bị ảnh hưởngkhông nhỏ đến uy tín và danh tiếng, đồng thời, khi những NH này gặp khó khănnhất định thì khả năng xảy ra đổ vỡ cũng cao hơn những NH khác Do nhữngmối liên hệ trên thị trường tài chính nói chung và thị trường vay mượn tiền giữacác NH nói riêng, khi bất kỳ một NH nào gặp những rủi ro trên cũng đều có thểảnh hưởng tới cả hệ thống
Trang 10Nợ xấu đã tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NH Tăngtrưởng tín dụng sẽ ở mức thấp khi nợ xấu kéo dài Bên cạnh việc khó xử lý tài sảnđảm bảo nợ vay, điều kiện thị trường đang đối mặt với những khó khăn, hàng tồnkho tăng, làm cho tình hình tài chính của DN đang yếu dần, không còn khả năng trả
nợ NH Hầu hết tài sản đảm bảo cho các khoản vay là bất động sản Do vậy khi thịtrường bất động sản đóng băng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xử lý tàisản đảm bảo Dẫn đến việc gia tăng nợ xấu và DN khó có thể tiếp cận thêm nguồnvốn mới, khi nợ cũ chưa xử lý xong Những nhân tố đó tác động trực tiếp lên sựtăng trưởng của thị trường tín dụng
1.2.3 Đối với DN
Nợ xấu kéo dài sẽ làm cho tình hình tài chính của DN gặp rất nhiều khó khăn
DN khó có thể tiếp cận được với các nguồn vốn Bên cạnh đó thì hàng tồn kho vẫntiếp tục ra tăng Do đó sẽ có rất nhiều DN ngừng họat động và giải thể Đây là mộtvấn đề rất nguy hiểm, dù trong số này có nhiều dạng như DN dừng đầu tư do tráingành nghề, ảnh hưởng từ bất ổn kinh tế vĩ mô, phá sản tự nguyện hoặc trốn thuế,
né thuế
Nợ xấu chính là lý do khiến các NH không dám tiếp tục cho vay, dù nguồn vốn
có thể đáp ứng được NH phải thận trọng hơn với các khoản vay để tránh các khoản
nợ xấu tiếp theo, dẫn tới hậu quả là các NH có tiền mà không cho vay được, cònnền kinh tế thì vẫn tiếp tục khát vốn DN thì kiệt quệ chờ vốn
1.3 Sự cần thiết của việc xử lý nợ xấu
Vấn đề nợ xấu chính là một nút thắt lớn của nền kinh tế Giải quyết được vấn
đề này mới có thể khai thông bế tắc cho nền kinh tế, giúp ổn định kinh tế vĩ mô vàthúc đẩy sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế Tất yếu khách quan phải giải quyếtvấn đề này
Thứ nhất: Việc giải quyết nợ xấu chậm sẽ dẫn đến tình trạng các bảng cân đối
kế toán của các NH vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với việc NH sẽ khôngthể cho vay và các DN không tiếp cận được vốn để tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh Tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tếcủa đất nước trong những năm tiếp theo
Trang 11Thứ hai: Khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vôhình đối với xử lý nợ xấu càng lớn Về mặt hữu hình là việc các tài sản cầm cố tạingân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần,nếu nợ xấu được xử lý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanhchóng, tạo nên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế Về mặt vô hình khi quátrình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của quốc gia sẽ khó mà duy trìđược mức tín nhiệm như hiện nay, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới môitrường đầu tư.
Thứ ba: Tỷ lệ nợ xấu đối với lĩnh vực cho vay bất động sản thương mại và bấtđộng sản dân dụng mặc dù trong các báo cáo là không thật sự lớn, tuy nhiên có thể
vì lý do nào đó trong phương án kinh doanh, số tiền cho vay lẽ ra được rót vào cáclĩnh vực sản xuất nhưng kỳ thực lại được rót vào bất động sản hoặc lĩnh vực phisản xuất
Tình trạng bất động sản xuống giá càng làm cho nhu cầu đối với bất động sảngiảm mạnh, hàng tồn kho về bất động sản ngày càng tăng lên, các DN bất động sảnbắt buộc phải liên tục hạ giá bán nhưng vẫn không thể bán được, quá trình này diễn
ra liên tục trong thời gian dài dẫn tới hiện tượng bán tháo, tuột dốc không phanh,khi đã dẫn tới tình trạng bán tháo mà vẫn không có người mua thì số tiền mà các
DN bất động sản bán được cũng không thể nào trả được hết nợ gốc cho NH
Thứ tư: Giải quyết nợ xấu nhanh sẽ cải thiện được năng lực tài chính của các
NH, năng lực tài chính của các NH tốt thì việc điều hành chính sách tiền tệ mới dễdàng và hoạt động cung cấp tín dụng cho nền kinh tế mới thực sự tốt
Trang 12Phần 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG
TCTD VIỆT NAM
2.1 Thực trạng nợ xấu của hệ thống các TCTD
2.1.1 Quy mô nợ xấu của hệ thống các TCTD
Bản chất của nợ xấu NH là do khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay khônghiệu quả, và nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí sau một thờigian dài Nợ xấu hiện nay của các TCTD được tích lũy từ trước đây do môi trườngkinh doanh xấu đi kể từ năm 2008, khách hàng vay gặp nhiều khó khăn trong hoạtđộng kinh doanh sản xuất, vì vậy nợ xấu của hệ thống các TCTD có chiều hướnggia tăng nhanh trong thời gian gần đây Trong bối cảnh dư nợ tín dụng tăng ở mứcthấp từ đầu năm 2012 trở lại đây cho thấy nợ xấu phát sinh mới chủ yếu là cáckhoản tín dụng đã được cấp trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn tăng trưởng tíndụng nhanh
NHNNcho biết, đến thời điểm cuối tháng 10, nợ xấu của toàn hệ thống chiếmkhoảng 8,8 – 10% trên tổng dư nợ, tương đương khoảng 202.000 tỷ đồng và 85%các khoản nợ này đều được bảo đảm bằng tài sản và tốc độ tăng nợ xấu đã chậm lại
kể từ sau tháng 6 cho tới nay Cuối năm 2011, tỷ lệ nợ xấu mới dừng ở mức 3,05%Còn theo BCTC của các NH thương mại, tỷ lệ nợ xấu của các NH đều tăngtrong 9 tháng qua Nợ xấu đặc biệt tăng mạnh tại các NH như của BaoVietBank từ4,56% lên 6,13%; của NaviBank từ 2,92% lên 3,97%; Vietcombank từ 2% lên3,21%; của ACB từ 0,9% lên 2,1%; của Sacombank từ 0,57% lên 1,4%
Bên cạnh đó là một số NH đã giữ được mức tăng lệ xấu chậm, như ởTechcombank từ 2,82% lên 2,94%; của KienLongBank từ 2,77% lên 2,78% Riêng
NH PGBank giảm được nợ xấu từ 3,06% cuối năm 2011 xuống còn 2,96%
Trang 13Bảng 1 : Tỷ lệ nợ xấu của một số NH tại thời điểm 30/09/2012
Đơn vị: %
(Nguồn: BCTC của một số NH)
Theo quy định của NHNN thì nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5,trong đó nợ nhóm 5 là nợ được đánh giá không còn khả năng thu hồi, mất vốn Theocông bố thì trong số 202.000 tỷ đồng nợ xấu, có 117.700 tỷ đồng bị phân vào nhóm
5 Đáng lưu ý trong bức tranh nợ xấu của các NH thời gian qua là nhóm nợ có khảnăng mất vốn (nợ nhóm 5) mà NH phải trích DPRR 100% Theo báo cáo tài chính,hiện nay tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên dư nợ cho vay khách hàng củaBaoVietBank đang ở mức cao nhất với 2,93%, tiếp đến là của NaviBank với 2,5%;LienVietPostBank với 1,46%; của Vietcombank là 1,42%; của KienLongBank là1,36%; của BIDV là 1,22%; của MB là 1,07%
Nợ có khả năng mất vốn của các NH khác trong khi đó cũng xấp xỉ mức 1%trên dư nợ cho vay khách hàng như của Techcombank 0,99%; Vietinbank là 0,86%;PGBank 0,83%; của ACB là 0,81%;
Trang 14Bảng 2 Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên dư nợ cho vay khách hàng của một
số NH tại thời điểm 30/09/2012
Đơn vị: %
(Nguồn: BCTC của một số NH)
Về con số cụ thể, NH BIDV có khoản nợ có khả năng mất vốn cao nhất, lên tới3.984,4 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9 năm 2012; của Vietcombank cũng hơn3.200 tỷ; của Vietinbank là 2.578 tỷ đồng NH ACB hiện có 829,1 tỷ đồng nợ cókhả năng mất vốn; MB có 629,4 tỷ; Techcombank là 610,8 tỷ…
Trang 15So với thời điểm cuối năm 2011, nợ có khả năng mất vốn của các NH đặc biệttăng rất mạnh, ngoại trừ KienLongBank giảm gần 4% Có thể kể đến một số cái tênnhư LienVietPostBank tăng đến 53 lần so với cuối 2011 (từ 4,48 tỷ VND lên 243,8tỷ); của BaoVietBank tăng hơn 6 lần từ 23,5 tỷ VND lên hơn 170 tỷ VND Một sốkhác cũng có mức tăng nợ nhóm 5 khá mạnh như tại Vietinbank 1,82 lần; của ACBgần 1,8 lần; Techcombank là 1,7 lần; Sacombank hơn 1,5 lần NH Navibank tăng
nợ nhóm 5 thêm 79%; Vietcombank tăng nợ nhóm 5 thêm 41%; của MB tăng33,5% Tuy nhiên, triển vọng nợ có khả năng mất vốn của các NH sẽ tăng chậm lạitrong quý 4 năm nay khi ngay từ quý 3 vừa qua, các NH đã bắt đầu đẩy mạnh tự xử
lý nợ xấu bằng cách tăng đòi nợ, giãn nợ, khoanh nợ cho các đối tượng khách hàng
2.1.2 Chưa có sự thống nhất về con số nợ xấu
Mặc dù, quy định hiện hành của Việt Nam về phân loại nợ về cơ bản là phùhợp với nguyên tắc phân loại nợ của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Tuynhiên, một số tổ chức quốc tế đánh giá nợ xấu của Việt Nam trên 10% tổng dư nợtín dụng Chẳng hạn, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings cho rằng nợ xấu củacác TCTD Việt Nam là khoảng 13% tổng dư nợ tín dụng Các tổ chức quốc tế đưa
ra kết quả ước đoán nợ xấu toàn hệ thống TCTD có thể dựa vào hệ thống tiêu chíphân loại nợ riêng có hoặc trên kết quả đánh giá của một số NH được chọn mẫuhoặc ngoại suy có tính đến xếp loại tín nhiệm quốc gia
Trên thực tế không có chuẩn mực quốc tế về phân loại nợ Việc sử dụng các
hệ thống tiêu chí phân loại nợ khác nhau sẽ cho kết quả nợ xấu không giống nhau
Do có sự khác biệt giữa các hệ thống phân loại nợ và trích lập DPRR, vì vậy khi xácđịnh, đo lường, phân tích, đánh giá nợ xấu phải xem xét, hiểu được hệ thống phânloại nợ và trích lập DPRR được sử dụng Việc so sánh số liệu nợ xấu dựa trên cáctiêu chí phân loại nợ khác nhau không có nhiều ý nghĩa và có thể dẫn đến nhận địnhkhông hợp lý Mọi sự so sánh nợ xấu phải bảo đảm tính đồng nhất về hệ thống tiêuchí phân loại nợ Sự khác nhau về phương pháp phân loại nợ và trích lập DPRR làmcho việc so sánh mức độ yếu kém hay mức độ lành mạnh giữa các NH hay các hệthống NH trở lên khó khăn hơn
Theo công bố của NHNN, nợ xấu cuối năm 2010 là 2,16%, cuối năm 2011 là3,1%, và đến ngày 30-6-2012 là 4,47% Đó là số liệu tổng hợp từ báo cáo của cácTCTD Trong khi đó, theo tính toán của NHNN, nợ xấu vào thời điểm cuối tháng 9