1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế

65 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 504,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nguyên lý chung, nhu cầu vốn lớn và dàihạn phải được đáp ứng bởi thị trường vốn nhưng trong điều kiện nước ta, khi thịtrường này đang còn nhiều khó khăn và yếu kém thì vai trò này c

Trang 1

MỤC LỤC

DANH TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦANGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2

1.1 Tổng quan về NHTM 2

1.1.1 khái niệm về NHTM 2

1.1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại 3

1.2 Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 6

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn 6

1.2.2 Quy trình tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 9

1.3 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 11

1.3.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 11

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung và dài hạn 12

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 18

1.3.3.1 Nhân tố thuộc về phía ngân hàng 18

1.3.3.2 Nhân tố thuộc về phía khách hàng 21

1.3.3.3 Nhân tố khách quan khác 21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNGVÀ DÀI HẠN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VPBANK LÝ NAM ĐẾ 23

2.1 Giới thiệu khái quát về Chi nhánh Ngân hàng VPBANK Lý Nam Đế 23

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 23

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh 23

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh những năm gần đây 26

2.2.Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh những năm gần đây 31

2.2.1 Quy trình tín dụng trung và dài hạn 31

2.2.2: Quy mô và tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn 35

2.2.3 Hiệu suất sử dụng vốn 36

Trang 2

2.2.4 Tình hình nợ quá hạn trung và dài hạn 39

2.2.5 Nợ có tài sản đảm bảo 41

2.2.6 Chỉ tiêu về vòng quay vốn trung và dài hạn 42

2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân Hàng VPBank Lý Nam Đế 43

2.3.1 Kết quả đạt được 43

2.3.2 Những hạn chế trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn 45

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 45

CHƯƠNG IIIMỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VPBANK LÝ NAM ĐẾ 49

3.1 Định hướng hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh 49

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế 51

3.2.1 Đa dạng hoá lĩnh vực cho vay trung và dài hạn 51

3.2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư trung và dài hạn 52

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 55

3.2.4 Hoàn thiện kỹ thuật thu hồi tín dụng 57

3.2.5 Phân tích và xử lý nợ quá hạn 58

3.2.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 58

3.2.7 Tăng cường hoạt động marketing ngân hàng 59

3.3 Một số kiến nghị với cơ quan hữu quan 59

3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng VPBank Việt Nam 59

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 60

KẾT LUẬN 62

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang trong giai đoạn chuẩn bị để bước vào hội nhập toàn cầu

do vậy mà nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển, mở rộng và nâng cao chất lượngsản xuất kinh doanh là rất lớn Theo nguyên lý chung, nhu cầu vốn lớn và dàihạn phải được đáp ứng bởi thị trường vốn nhưng trong điều kiện nước ta, khi thịtrường này đang còn nhiều khó khăn và yếu kém thì vai trò này chủ yếu thuộc

về hệ thống ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn nên việcđảm bảo chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạnnới riêng sẽ là vấn đề có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàngthương mại đồng thời cũng là thước đo để đánh giá sự thành công hay thất bạitrong hoạt động của ngân hàng Với các ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạtđộng tín dụng đang là lĩnh vực chủ đạo, chiếm tỷ trọng từ 85% đến 95% doanhthu, trở thành một nhân tố quan trọng là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ để phát triểnnền kinh tế

Đối với chi nhánh Ngân hàng VPBANK Lý Nam Đế được thành lập vàhoạt động hơn hai mươi năm, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực công nghiệp vàthương mại Do đó, nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn có ý nghĩa quan trọngvới Đơn vị và với nhu cầu vốn trung và dài hạn của đất nước Trong mấy nămgần đây, hoạt động tín dụng đã bộc lộ không ít yếu kém và đã ảnh hưởng khôngnhỏ tới kết quả kinh doanh của Chi nhánh Chính vì vậy mà việc nghiên cứu tìm

ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn luôn

là mục tiêu và cũng đồng thời là một nhân tố quan trọng nhất để cạnh tranh vàphát triển Qua thực tế trên, đi sâu vào nghiên cứu công tác tín dụng trung và dài

hạn của Chi nhánh Tôi chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế”

Bài chuyên đ ề kết cấu gồm 3 ch ươ ng:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung và dài hạn của ngânhàng thương mại

Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Chi nhánhNgân hàng VPBANK Lý Nam Đế

Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dàihạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBANK Lý Nam Đế

Trang 5

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG

TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Tổng quan về NHTM

1.1.1 khái niệm về NHTM

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh

tế Bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và

hệ thống tài chính nói riêng, có rất nhiều quan niệm về khái niệm ngân hàng, để

có một khái niệm mang tính chung nhất và bản chất nhất thì chúng ta phải biếtđược về lịch sử hình thành của ngân hàng

Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợvàng.,những ngân hàng loại này còn được gọi là ngân hàng thợ vàng Người làmnghề đúc, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ

và ngược lại Lợi nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua bán

Do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn nhiều người làmnghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ Thực hiện cất trữ hộ làmtăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền, tăng qui mô tài sản của ngườikinh doanh tiền tệ.Thanh toán qua trung gian làm nảy sinh thanh toán khôngdùng tiền mặt, đến lượt nó, những ưu điểm của thanh toán không dùng tiền mặt

đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn Trong điều kiện lưu thông tiền kimloại ,các chủ cửa hàng vàng bạc vừa đổi tiền , thanh toán hộ, vừa đúc tiền và chovay nặng lãi

Họ là những người làm nghề kinh doanh tiền tệ, hay còn gọi là nhà buôn tiền

Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời mộtphần tiền gửi của khách để cho vay Hoạt động này làm thay đổi có bản hoatđộng của nhà buôn tiền-nhà buôn tiền- thành ngân hàng Hoạt động cho vay dựatrên tiền gửi của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách

mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền Bằngcách cung cấp các tiền ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càngnhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho vay

Trang 6

Từ lịch sử hình thành thấy ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọngđối với nền kinh tế Và ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau:

Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tàichính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thựchiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nàotrong nền kinh tế

Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namghi “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàngvới nội dụng thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tíndụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”

Theo Luật mới nhất của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam số 20/2006/QH 11 ngày 15 tháng 6 năm 2006 về sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật các tổ chức tín dụng

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạtđộng ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất

và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại,ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợptác và các loại hình ngân hàng khác”

“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngânhàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tíndụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”

1.1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư vàcung cấp các dịch vụ khác

* Hoạt động huy động vốn

Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế muốn hoạt độngđược cũng cần phải có vốn và nguồn vốn của ngân hàng có thể được tạo ra donhiều nguồn

- trước tiên đó là vốn chủ sở hữu

Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân hàngphải có một lượng vốn nhất định Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâudài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng Nguồn hình thành vànghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng

Trang 7

lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.Có thể

là nguồn vốn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động,nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm

Vốn của chủ là nguồn vốn rất quan trọng đối với ngân hàng vì nó là cơ sở

để các ngân hàng đưa ra chiến lược hoạt động nó đảm bảo an toàn cho ngânhàng và củng cố lòng tin cũng như nâng cao uy tín của ngân hàng trên thịtrường Tuy nhiên nguồn vốn này thường rất nhỏ so với tổng nguồn vốn củangân hàng do vậy ngoài nguồn vốn này ra các ngân hàng còn huy động thêmnhiều nguồn nữa

- Huy động tiền gửi

Tiền gửi của khách hàng là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thươngmại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng

Ngoài hoạt động huy động tiền gửi các ngân hàng đã không ngừng giatăng thêm nguồn vốn cho mình bằng việc đi vay

- Hoạt động đi vay của ngân hàng thương mại

Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Tuy nhiên,khi cần, ngân hàng thường vay mượn them, có thể vay từ ngân hàng nhà nước,đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân hàngthương mại, mặc dù vậy nguồn này thường hạn chế vì ngân hàng nhà nước điềuhành khoản vay mượn này rất chặt chẽ, Vay các tổ chức tín dụng khác, đây lànguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng kháctrên thị trường liên ngân hàng và nguồn này thường để đáp ứng nhu cầu dự trữ

và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế chonguồn vay mượn từ ngân hàng nhà nước

Để bổ sung thêm nguồn vốn cho ngân hàng, ngân hàng có thể lấy từnguồn tiền uỷ thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác

* Hoạt động sử dụng vốn

Vì để có được nguồn vốn tạo nên các tài sản của ngân hàng, ngân hàng đãphải bỏ ra chi phí huy động và những chi phí khác để quản lý nguồn vốn Dovậy mà để khỏi bị thiệt hại, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay

số tài sản ấy vào những dịch vụ sinh lãi

Trang 8

Cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với từng chủ thể kinh tế cũng như dối vớinền kinh tế đất nước và nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiệnchức năng xã hội của ngân hàng trong nền kinh tế.

Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận cao tuy nhiên sẽ có sự đánh đổi lấyrủi ro Ngày nay, các ngân hàng ngoài hoạt động truyền thống tập trung vào tíndụng còn đa dạng hoá cơ cấu tài sản của mình do vậy mà bên cạnh hoạt độngtín dụng các ngân hàng thương mại đã mở rộng hoạt động của mình sang lĩnhvực đầu tư

- Hoạt động đầu tư:

Hoạt động đầu tư là một hoạt động đang đựơc các ngân hàng chú trọngtới.Tuy nhiên hoạt động đầu tư của các ngân hàng Việt Nam hiện nay chưa caochủ yếu đầu tư vào trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc đây là những sảnphẩm đầu tư mang tín lỏng cao và hầu như các ngân hàng đầu tư vào đó do yêucầu của ngân hàng nhà nước hoặc việc sử dụng vốn không có hiệu quả Còn việcgóp vốn liên doanh, kinh doanh chứng khoán thì rất hạn chế

* Các dịch vụ trung gian khác

Ngày nay kinh tế ngày một phát triển, để hoà nhập với sự phát triển nhucầu đó các ngân hàng thương mại không chỉ bó hẹp ở những hoạt động truyềnthống mà đã đa dạng hoá các nghiệp vụ,mở rộng các loại hình dịch vụ như cungcấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, cung ứng cácdịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau

và tạo cho ngân hàng một sản phẩm hoàn thiện trong môi trường đầy cạnh tranh

Trang 9

1.2 Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn

* Khái niệm

Tín dụng trung và dài hạn là các khoản cho vay có kỳ hạn trên 1 năm, từ 1năm đến 5 năm được coi là tín dụng trung hạn và từ 5 năm trở lên được coi là tíndụng dài hạn

Tín dụng trung và dài hạn nhằm thoả mãn các nhu cầu về mua sắm máymóc, thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất của một doanh nghiệp và một phần vốnlưu động tối thiểu của một doanh nghiệp

* Đặc điểm

- Mục đích và đối tượng cho vay

Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng trung và dài hạn thường xuyênphát sinh do các doanh nghiệp luôn luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất,đổi mới công nghệ, đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học

Đối tượng cho vay là các doanh nghiệp đang đầu tư vào các dự án mà giátrị vật tư, máy móc, thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuêmua các tài sản khác, chi phí mua bảo hiểm và các chi phí khá đòi hỏi vốn lớn

- Thời hạn và giá trị khoản vốn cho vay

Thời hạn cho vay do ngân hàng và khách hàng thoả thuận là khoảng thờigian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết

nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngânhàng và khách hàng và thời hạn này phải căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinhdoanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng vàkhả năng nguồn vốn cho vay của ngân hàng

Các khoản vay trung hạn có thời hạn cho vay trên 12 tháng; các khoản vaydài hạn có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên

Do đặc tính của tín dụng trung và dài hạn là đầu tư vào những dự án lớn

và có thời gian dài nên giá trị của các khoản vay trung và dài hạn thường lớn

- Nguồn vốn để cho vay trung và dài hạn

Tín dụng trung và dài hạn dùng để tài trợ cho các dự án, phương án sảnxuất kinh doanh có thời hạn dài và đòi hỏi phải ổn định do vậy mà nguồn vốndùng để cho vay trung và dài hạn cũng phải tuơng xứng với thời hạn sử dụngvốn Nguồn vốn chủ yếu hình thành nguồn vốn cho vay trung và dài hạn hiện

Trang 10

nay là vốn tự có của các ngân hàng thương mại do góp vốn hoặc do tích luỹtrong quá trình kinh doanh, có thể nói đây là nguồn vốn an toàn và ổn định nhấtcủa ngân hàng, mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều phải lấy nguồnvốn này làm cơ sở để đưa ra quyết định tài trợ của ngân hàng.

Để đảm bảo an toàn trong việc dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dàihạn ở Việt Nam Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tỷ lệ tối đa của nguồn vốnngắn hạn tổ chức tín dụng được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn:

Ngân hàng thương mại: 40%

Tổ chức tín dụng khác: 30%”

“Nguồn vốn ngắn hạn của tổ chức tín dụng được sử dụng để cho vay trung

và dài hạn bao gồm:

Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của cá nhân

Nguồn vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.Phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền vay của tổ chức tín dụng khác vàtiền cho tổ chức tín dụng đó vay có kỳ hạn dưới 12 tháng”, Vốn vay từ ngânhàng nhà nước, nguồn này cũng bị hạn chế vào chính sách tiền tệ của ngân hàngnhà nước, ngân hàng thương mại không chủ động, các ngân hàng thương mạicũng rất khó thuyết phục ngân hàng nhà nước cho vay dài hạn vì nó cũng dễ gây

ra lạm phát; vay nợ nước ngoài để cho vay trung và dài hạn, đây là một hìnhthức được các ngân hàng trên thế giới sử dụng thường xuyên với khối lượng lớn

- Rủi ro và lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay trung và dài hạn lệ thuộc vào lãi suất chung của nền kinh

tế, thông thường nó bằng lãi suất huy động vốn, cộng với phí ngân hàng cộngvới lợi nhuận ngân hàng

Do cho vay trung và dài hạn rủi ro cao và ngân hàng không thể sử dụngvốn theo ý thích và linh hoạt trong một thời gian dài do vậy lãi suất tín dụngtrung và dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn

Lãi suất của các khoản cho vay lớn đối với các doanh nghiệp lớn có thểthấp hơn các khoản cho vay nhỏ, đối với các doanh nghiệp nhỏ, do chi phí điềuhành thấp và ít rủi ro hơn

Lãi suất cho vay trung và dài hạn có thể là lãi suất cố định trong suốt thời

kỳ vay vốn, nhưng cũng có thể quy định một lãi suất biến đổi lên hoặc xuốngtùy thuộc sự biến động của thị trường

Trang 11

- Nguyên tắc cho vay trung và dài hạn

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắcnhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và sinh lời

Việc sử dụng vốn trung và dài hạn phải tuân theo nguyên tắc sử dụng vốnđúng mục đích được thoả thuận với ngân hàng không trái với vác quy định củapháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên Muốn vay vốn trung vàdài hạn người vay phải soạn thảo dự án, chương trình sản xuất kinh doanh, dự

án, chương trình sản xuất kinh doanh thể hiện một cách rõ ràng, đầy đủ việc sửdụng vốn theo các mục đích cụ thể Dự án đầu tư phải phân chia các khoản mục

sử dụng vốn một cách chi tiết để ngân hàng cho vay có thể thẩm định được khảnăng trả nợ của dự án

Các khoản mục sử dụng vốn trung và dài hạn có thể gồm:

- Chi phí mua đất thuê đất

- Chi phí xây dựng nhà xưởng

- Chi phí mua sắm máy móc, thiết bị

- Chi phí mua công nghệ sản xuất

- Chi phí mua sắm các phương tiện vận chuyển,

- Chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, điện nước, đường xá,

- Một bộ phận vốn lưu động tối thiểu

- Mục tiêu của dự án, chương trình sản xuất phải nằm trong chương trình pháttriển kinh tế chung của địa phương, của vùng, của đất nước Để đảm bảo cho dự án,chương trình vay vốn được thực hiện, dự án, chương trình vay vốn phải được các cơquan có thẩm quyền thẩm định và thông qua cho phép thực hiện

Đối với các phương án cải tiến kỹ thuật công nghệ, mở rộng sản xuất cũngcần phải xem xét kỹ mục đích của sử dụng vốn một cách chặt chẽ bởi ban lãnhđạo doanh nghiệp vay vốn và ngân hàng cho vay nhằm tránh sử dụng vốn vaycho mục đích khác, không nằm trong phương án vay vốn

Việc vay vốn trung và dài hạn của khách hàng, ngân hàng cần phải đánhgiá chặt chẽ từ nhiều nguồn thông tín tránh trường hợp khách hàng vay vốn củangân hàng này để trả nợ cho ngân hàng khác

Sử dụng vốn vay trung, dài hạn phải có hiệu quả kinh tế xã hộ cao

Trang 12

Sử dụng vốn vay có hiệu quả được thể hiện ở khả năng hoàn vốn của bênvay đúng thời hạn Do vậy các dự án, chương trình xin vay vốn trung và dài hạnphải được thẩm định kỹ càng về mặt hiệu quả kinh tế xã hộ.

Hiệu quả kinh tế xã hội của một món vay trung và dài hạn được thể hiệnqua các chỉ tiêu của dự án như chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, chỉ tiêu phản ánh khảnăng thanh toán, chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn

Các khoản tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc

từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Ngânhàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã vam kết Do vậy, ngânhàng luôn yêu cầu nguời nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này

1.2.2 Quy trình tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

Hoạt động tín dụng mang tín chất phức tạp và có nhiều rủi ro Để cho việcquản lý tín dụng một cách dễ dàng, giảm thiểu được rủi ro, các ngân hàngthương mại đều soạn thảo cho mình một quy trình tín dụng riêng áp dụng thốngnhất toàn ngân hàng và các ngân hàng thương mại dựa vào đó để phân tích,thẩm định việc cấp tín dụng từ đó có được quyết định tín dụng đúng đắn, hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng phải tuân theo những quy trìng chung đó,tuy nhiên do đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn là có thời hạn dài, chứađưụng nhiều rủi ro, do vậy mà việc soạn thảo ra một quy trình tín dụng trung vàdài hạn dựa trên quy trìng tín dụng chung rất có ý nghĩa đem lại lợi ích cao chongân hàng

Quy trình tín dụng được soạn thảo linh động với mục đích giúp cho quátrình vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng caochất lượng tín dụng

Quy trình tín dụng trung và dài hạn gồm 5 bước, các bước trong quy trình

có quan hệ qua lại và hỗ trợ nhau, Kết quả của bước trước là nền tảng, cơ sở đểbước tiếp theo thực hiện và tác động đến chất lượng của bước sau:

Bước 1: Lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng

Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn xét về mặt kinh

tế, mặc dù quan hệ tín dụng chưa hình thành, nhưng đây là bước chuẩn bị nhữngđiều kiện cần thiết để quan hệ tín dụng được thiết lập lành mạnh Xét về mặt thủtục hành chính, thì đây là bước hình thành đầy đủ giấy tờ, văn bản chứng tỏ

Trang 13

khách hàng thực sự có nhu cầu về vốn tín dụng trung và dài hạn, cũng nhưchứng minh được tính hợp pháp về nhân thân khách hàng và tính tự nguyện xincấp tín dụng cuả khách hàng Căn cứ vào việc phân tích các nguồn thông tin từ

hồ sơ này và các nguồn liên quan mà ngân hàng ra quyết định là có cấp tín dụnghay không

Bước 2: Thẩm định tín dụng

Thẩm định tín dụng là thẩm định khả năng hiện tại và tiềm năng của kháchhàng Do tính chất phức tạp của tín dụng trung và dài hạn nên cán bộ tín dụng vàcán bộ thẩm định phải dựa vào các thông tin đã có và tiến hành thẩm định mộtcách chặt chẽ các yếu tố phi tài chính (như phân tích, kiểm tra tính pháp lý củakhách hàng, uy tín của họ, mục đích của khoản vay ) và các yếu tố tài chính

ký hợp đồng tín dụng

Bước 4: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng

Sau khi hợp động tín dụng đã được ký kết, ngân hàng phải trách nhiệmcấp tiền cho khách như đã thoả thuận Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàngkiểm soát khách hàng: Sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ haykhông, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì.Quá trình nàycho phép ngân hàng thu thập thêm các thông tin về khách hàng Nếu các thôngtin phản ánh chiều hướng tốt, cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo.Ngược lại, khi chất lượng khoản cho vay bị đe doạ, ngân hàng cần có các biệnpháp xử lý kịp thời Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn, ngừng giảingân, nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng Ngân hàng có thể yêu cầu kháchhàng bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay khi thấy cần thiết để đảm bảo

an toàn tín dụng Đối với ngân hàng đây là bước đi nguy hiểm Do vậy cho tàitrợ gắn liền với kiểm soát khách hàng giúp ngân hàng ngăn chặn các ý đồ sửdụng tiền vay không đúng mục đích của khách hàng Đây cũng là quá trình ngân

Trang 14

hàng thu thập thêm các thông tin bổ sung cho các thông tin ở bước 1 và ra cácquyết định cụ thể nhằm ngăn chặn kịp thời các khoản tín dụng xấu.

Bước 5: Thu nợ hoặc đưa ra phán quyết tín dụng mới.

Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi Các khoảntín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn.Một số trường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả

đủ, đúng hạn Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các

“trục trặc” trong hoạt động của khách hàng Việc xem xét, tìm nguyên nhân làrất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quanđến tính an toàn của khoản tín dụng

- Trường hợp khách hàng cố tình đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa,hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương

án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản nợ, bao gồmphong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi

- Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyếttìm cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác,bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm

Các bước trên mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời

có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau Việc các cán bộ tín dụng thực hiện theoquy trình trên sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn

1.3 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

1.3.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh hàng hoá đặc biệt đó

là tiền tệ Một doanh nghiệp muốn đứng vững trong nền kinh tế thị trường thìphải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể thắng được trongcạnh tranh với đối thủ Ngày nay tín dụng có thể nói là sản phẩm lớn nhất trong

đa số các sản phẩm của ngân hàng vì vậy việc nâng cao chất lượng tín dụngđang là một đòi hỏi khách quan và cần thiết đối với các ngân hàng thương mại,khi chất lượng tín dụng tăng lên sẽ đảm bảo thoả mãn mọi yêu cầu ngày càngcao của khách hàng đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao vị thế củamình trên thị trường trong nước và quốc tế

Trang 15

Để có được một khái niệm hoàn chỉnh về chất lượng tín dụng thì trướctiên cần phải biết về chất lượng, có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng.Các nhà kinh tế thì cho rằng chất lượng là: “sự phù hợp với mục đích hoặc việc

sử dụng”, là “năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãnnhững nhu cầu của người sử dụng từ quan điểm về chất lượng” như vậy có thể

đi đến khái niệm về chất lượng tín dụng một cách đơn giản nhất: “ Chất lượngtín dụng là hiệu quả của việc cho vay (hay đầu tư, bảo lãnh, chiết khấu) manglại, là khả năng thu hồi đầy đủ đúng hạn cả vốn gốc và lãi (hoăch phí) theo dựđịnh” Hiệu quả và khả năng thu nợ càng lớn thì chất lượng tín dụng càng cao vàngược lại

Chất lượng tín dụng có thể nói , là một chỉ tiêu tổng hợp, được xác địnhbằng tổng thể các chỉ tiêu cả cụ thể lẫn trừu tượng, nhằm phản ánh mức độ thíchnghi của ngân hàng thương mại với môi trường bên ngoài và sức mạnh của mộtngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại Chất lượng tín dụng nói chungphản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng và chất lượng tín dụng trung và dàihạn phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng trung và dài hạn

Trong một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nhu cầu tín dụngtrung và dài hạn rất lớn Tuy nhiên nguồn vốn để tài trợ cho nhu cầu đó thì cònhạn hẹp do vậy mà chất lượng tín dụng trung và dài hạn luôn được các ngânhàng quan tâm

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung và dài hạn

Trong bối cảnh hiện nay của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Namkhi mà hoạt động kinh doanh chủ yếu vẫn là hoạt động tín dụng và lợi nhuận cóđược từ các nghiệp vụ tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng khống chế trong toàn bộ lợinhuận có được trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Chấtlượng tín dụng trung và dài hạn được phản ánh bằng tổng các chỉ tiêu vừa trừutượng vừa cụ thể Các chỉ tiêu trừu tượng như chỉ tiêu phản ánh mức độ thoả mãncủa khách hàng không thể lượng hoá được mà chỉ có thể kết luận chất lượng quamột thời gian dài và bằng những phương pháp xác định định tính, thường thì cácngân hàng dùng những chỉ tiêu mang tính định lượng để đánh giá chất lượng tíndụng trung và dài hạn vì nó dễ dàng tính toán và dễ lượng hoá được

Trang 16

* Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng

Tăng trưởng tín dụng phần nào cũng phản ánh được chất lượng tín dụng tốt

vì giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng có mối quan hệ biện chứng

- Chất lượng tín dụng tốt mới có điều kện để mà tăng trưởng tín dụng, tăngtrưởng tín dụng là cơ sở để đánh giá chất lượng tín dụng

Nhóm chỉ tiêu này bao gồm :

- Doanh số cho vay trung và dài hạn: Là tổng lượng vốn mà ngân hàng đãgiải ngân cho khách hàng theo hợp đồng tín dụng trung và dài hạn trong mộtniên độ kế toán, thường là một năm, chỉ tiêu này phản ánh quy mô tín dụng khidoanh số cho vay tăng đồng nghĩa với quy mô tín dụng tăng và các ngân hàngđều muốn tăng quy mô cho vay của mình nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn

- Dư nợ tín dụng trung và dài hạn: Đây là một chỉ tiêu mang tính chất thờiđiểm, phản ánh lượng vốn ngân hàng đã giải ngân cho các khoản tín dụng trung

và dài hạn mà khách hàng đang còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể,thông thường các ngân hàng sử dụng chỉ tiêu dự nợ để phản ánh quy mô cũngnhư sự tăng trưởng tín dụng của mình bởi chỉ tiêu này nó cho biết một cách cụthể về tình hình sử dụng vốn của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, giúpcho ngân hàng dễ dàng đánh giá được chất lượng tài sản của ngân hàng

- Doanh số thu nợ tín dụng trung và dài hạn: Là tổng các khoản thu nợ, chỉtiêu này phản ánh lượng vốn cho vay trung và dài hạn đã được thu hồi trong mộtthời kỳ, đây là một chỉ tiêu rất được các ngân hàng chú ý bởi chỉ tiêu nói lên lợinhuận thực mà ngân hàng đã thu được từ khoản tín dụng đã cấp

- Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết được dư

nợ tín dụng trung và dài hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ, nó phản ánhviệc mở rộng hay thu hẹp tín dụng tại một thời điểm và chỉ tiêu này được đobằng:

Dư nợ cho vay trung và dài hạn

Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn =

Tổng dư nợ cho vay

Ngoài các chỉ tiêu trên cũng cần phải kể đến chỉ tiêu về tỷ lệ tăng trưởngtín dụng đây là một chỉ tiêu mang tính chất so sánh về sự tăng trưởng tín dụngtrung và dài hạn của thời điểm này so với thời điểm trước và được đo bằng, dư

nợ cho vay cuối kỳ trừ dư nợ cho vay đầu kỳ chia cho dư nợ đầu kỳ

Trang 17

Các nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng chỉ mang tính chất đánh giáchung về chất lượng tín dụng chứ chưa phản ánh một cách bản chất về chấtlượng tín dụng Tuy nhiên không thể chỉ nhìn vào việc mở rộng tín dụng đểđánh giá chất lượng mà phải xem xét đến tính an toàn và lành mạnh của cáckhoản tín dụng đó

Do vậy mà chỉ tiêu này cần phải kết hợp xem xét một cách tổng thể về cơcấu nguồn vốn của ngân hàng

* Chỉ tiêu về tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo

Hoạt động ngân hàng mang tính chất nhạy cảm và mang nhiều rủi ro trongkinh doanh do vậy mà để đảm bảo an toàn trong hoạt động, các ngân hàng đềuđưa ra những nguyên tắc nhất định trong hoạt động trong đó nguyên tắc quantrọng nhất là tất cả các khoản cho vay đều phải có tài sản đảm bảo trừ nhữngtrường hợp khoản vay theo chỉ định của chính phủ, tuy nhiên để thoả mãn nhucầu của khách hàng, đòi hỏi thủ tục phải đơn giản, nhanh chóng, các ngân hàng

đã nới lỏng nguyên tắc trong cấp tín dụng giúp cho quá trình cho vay đơn giảnhơn nhằm thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng tuy vậy việc làmnày có ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng

Trang 18

Hoạt động tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi nhuận lớn cho ngânhàng Tuy nhiên nó cũng đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng Để đảm bảo antoàn cho ngân hàng, ngân hàng yêu cầu khách hàng cần phải có tài sản đảm bảo

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo được tính bằng dư nợ trung và dài hạn

có tài sản đảm bảo chia cho tổng dư nợ trung và dài hạn

Theo quy định của ngân hàng nhà nước thì tổ chức tín dụng không đượccho vay quá 70% giá trị tài sản đảm bảo do vậy mà chỉ tiêu trên chưa phản ánhđược số vốn thực tế thu hồi được từ tài sản đảm bảo nên các ngân hàng cần sửdụng đồng thời chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán nợ từ tài sản đảm bảo được đo bằng sốtiền thực tế thu được từ tài sản đảm bảo chia cho tổng dư nợ trung và dài hạn cótài sản đảm bảo

* Chỉ tiêu về nợ quá hạn:

Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng các ngân hàng đều cố gắnghạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, trong chính sách cho vay củangân hàng các ngân hàng đều có một sổ tay tín dụng hướng dẫn việc cấp tíndụng cho khách hàng và các ngân hàng có thể dựa vào đó để thực hiện Tuynhiên dù có soạn thảo được một quy trình tín dụng hoàn thiện đến mấy, dù có cốgắng đến mấy thì trong nền kinh tế thị trường rủi ro luôn xảy ra, do vậy rủi rotrong hoạt động kinh doanh là khách quan dẫn đến nợ quá hạn Ngân hàng nào

có tỷ lệ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp như theo quyđịnh chung của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng

dư nợ  7% được xem như là ngân hàng yếu kém Các ngân hàng thường sửdụng tỷ lệ nợ quá hạn để đánh giá chất lượng tín dụng, Tỷ lệ nợ quá hạn trung

và dài hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn tín dụng trung và dài hạn và tổng

dư nợ tương ứng ở một thời điểm nhất định

Dư nợ quá hạn trung và dài hạn cuối kỳ

Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn =

Tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn cuối kỳ

Tỷ lệ này càng cao thể hiện ngân hàng có nhiều khoản nợ trung và dài hạnquá hạn hay chất lượng tín dụng trung và dài hạn là thấp Để đảm bảo an toàntrong hoạt động tín dụng ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mạiphải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro

Trang 19

tín dụng trong hoạt động ngân hàng; Theo quyết định số 493/2007/ QĐ-NHNNquy định việc phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể như sau:

Việc phân loại nợ

- Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năngthu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn,

- Nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơcấu lại

- Nhóm 3(nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại

- nhóm 4(nợ nghi ngờ) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thờihạn đã được cơ cấu lại

Theo quyết định 127/2007/QĐ-NHNN “Đối với khoản nợ vay không trả

nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ (điều chỉnh kỳ

Trang 20

hạn và gia hạn nợ vay), thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn

và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp điều chỉnh để thu hồi nợ.Như vậy,đối với khoản nợ vay không trả đúng hạn dù được cơ cấu lại thời hạn trả nợ haykhông đều bị coi là nợ quá hạn Như vậy theo như những quy định này thì nợquá hạn thực sự là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng một cách đúngnhất Và để đánh giá một món vay đã quá hạn có thể thu hồi được hay khôngngân hàng cần phải xem xét những lý do của việc khách hàng không trả được

nợ, Ngân hàng cần phân loại những khoản nợ quá hạn:

- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là những khoản nợ mà người vay vốn

có thể tiếp tục trả nợ cho ngân hàng Lý do của những khoản nợ bị chậm trễ nay

có thể là do ngân hàng định kỳ trả nợ chưa phù hợp, hoặc do sự thay đổi về cơchế, luật pháp, chính sách hoặc do những thay đổi trên thị trường thế giới, thiêntai, địch hoạ dẫn đến những thay đổi trong môi trường kinh tế làm cho dòngngân quỹ của khách hàng không ăn khớp với thời hạn đã định trước Kết quả làkhách hàng không có khả năng hoàn trả tín dụng theo đúng thời hạn đã cam kết,

do đó nợ quá hạn nảy sinh

- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: Là những khoản nợ nguời vay ít

có khả năng trả nợ cho ngân hàng do người vay lừa đảo ngân hàng hoặc làm ănthua lỗ dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng, do đó ngân hàng bị mất vốn

Qua việc phân loại nợ quá hạn như vậy ta mới đánh giá thực sự của khoảntín dụng có chất lượng hay không

* Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi

- Chỉ tiêu vòng quay vốn trung và dài hạn là chỉ tiêu đánh giá tần suất sửdụng vốn của ngân hàng trong một thời kỳ

Doanh số thu nợ trung và dài hạn

Vòng quay vốn, trung và dài hạn =

Tổng dư nợ trung và dài hạn bình quânNếu vòng quay càng lớn thì chứng tỏ nguồn vốn trung và dài hạn luânchuyển nhanh, đồng thời phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng trung

và dài hạn của ngân hàng là tốt, chất lượng tín dụng trung và dài hạn là cao Vớimột lượng vốn nhất định, nhưng vòng quay vốn nhanh chứng tỏ ngân hàng cóthể đáp ứng được phần lớn nhu cầu khách hàng

Trang 21

- Chỉ tiêu về lợi nhuận:

Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn

Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sính lời của tín dụng trung và dài hạn.Một khoản tín dụng dù ngắn hay dài không thể xem là có chất lượng tín dụng caonếu nó không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng, Tuy nhiên đối với ngânhàng thương mại quốc doanh thì lợi nhuận nhiều khi không phải là cái đích đểngân hàng hướng tới mà thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước mới là điềukiện quan trọng Nói như vậy không có nghĩa là ngân hàng không quan tâm tới lợinhuận Vì sự tồn tại và phát triển của mình, ngân hàng không thể cho vay các mónvay có lợi nhuận âm hoặc bằng không; Ngân hàng có thể dùng thêm chỉ tiêu tỷ lệlợi nhuận tín dụng trung và dài hạn trên tổng lợi nhuận thu được:

Lợi nhuận tín dụng trung và dài hạn

Tỷ lệ lợi nhuận tín dụng trung, dài hạn =

Tổng lợi nhuận từ tín dụng

Chỉ tiêu này cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của tín dụng trung và dài hạn.Thông qua các chỉ tiêu trên, có thể phần nào đánh giá được chất lượng tíndụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại Tuy nhiên các chỉ tiêu nàyphải được đánh giá trong mối quan hệ tương quan ràng buộc lẫn nhau

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

1.3.3.1 Nhân tố thuộc về phía ngân hàng

Ngân hàng là người quyết định mấu chốt của chất lượng tín dụng mà mìnhcung cấp cho khách hàng, do vậy mà các nhân tố thuộc về ngân hàng ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng gồm:

* Chính sánh tín dụng

Mỗi một ngân hàng thương mại đều xây dựng một chính sách tín dụngriêng trong từng thời kỳ, phù hợp với mục tiêu, chiến lược của mình Chính sáchtín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành bản hướngdẫn cho cán bộ tín dụng đưa ra quyết định hợp lý, chính sách tín dụng tạo chongười cán bộ tín dụng ý thức về phương hướng và một khung tham chiếu xácđịnh để theo đó xem xét cân nhắc một đơn vị vay nhất định Việc đánh giá chất

Trang 22

lượng tín dụng cũng phải được dựa vào những định hướng chính sách tín dụngđưa ra như vậy một chính sách tín dụng tốt sẽ giúp cán bộ tín dụng có cơ sởvững chắc để quyết định việc cho vay những khoản vay an toàn hiệu quả.

cơ sở để xác định số tiền vay, thời hạn cho vay, mức độ thu nợ hợp lý, tạo điềukiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả

Với mục đích quan trọng như vậy nên thẩm định là khâu phức tạp nhất và

là khâu hay mắc sai sót nhất của ngân hàng Làm tốt công tác thẩm định sẽ giúpcán bộ ngân hàng loại bỏ ngay từ đầu những dự án không khả thi tiết kiệm chiphí cho nền kinh tế, chọn được những dự án đầu tư tốt đem lại lợi nhuận chodoanh nghiệp cho ngân hàng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, ngược lạinếu công tác thẩm định không được tiến hành thận trọng, bỏ qua các bước thẩmđịnh thì dễ chọn phải những dự án không có tính khả thi, gây lãng phí tiền đốivới doanh nghiệp, gây rủi ro cho ngân hàng

về tín dụng có thể sai sót và gây ra rủi ro cho ngân hàng và khoản tín dụng đó cóchất lượng tồi

Trang 23

* Thông tin tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác,kịp thời hơn, người đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Trong hoạt động tíndụng ngân hàng bỏ tiền ra trên cơ sở chủ yếu là lòng tin Lòng tin đó có chínhxác hay không phụ thuộc vào chất lượng các thông tin mà ngân hàng thu thậpđược Để việc đầu tư tín dụng có chất lượng, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, ngânhàng phải có được và phân tích, xử lý chính xác rất nhiều thông tin liên quan.Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở ngân hàng, từ kháchhàng, từ các tổ chức chuyên cung cấp thông tin tín dụng Hoạt động tín dụngtrung và dài hạn mang đặc trưng là có thời hạn dài do vậy mà rất dễ nhạy cảmvới những biến động trên thị trường vì lẽ đó mà ngân hàng cần phải thu thậpthêm rất nhiều thông tin cả trong quá khứ lẫn hiện tại và tương lai để có thể tậphợp đưa ra được một quyết định đúng đắn khi tài trợ tín dụng trung và dài hạn

* Nguồn vốn để tài trợ tín dụng trung và dài hạn

Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nhất là hoạtđộng tín dụng thì vốn huy động là nguồn chủ yếu Tuy nhiên về nguyên tắc đểcho vay trung và dài hạn các ngân hàng thương mại chủ yếu phải sử dụng nguồnhuy động trung và dài hạn Việc sử dụng vốn huy động đúng chức năng, mụcđích sẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng trong thanh toán Để tài trợ cho hoạtđộng tín dụng cần đòi hỏi về nguồn vốn ổn định, ngoài nguồn vốn tự có, nguồnvốn huy động trung và dài hạn còn phải sử dụng thêm một lượng nhỏ nguồn vốnngắn hạn để cho vay trung và dài hạn do đó nếu có một sự thay đổi nào đối vớinguồn vốn tài trợ đều ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, có thể dẫn đến ngânhàng mất khả năng thanh toán vì giữa huy động vốn và sử dụng vốn không khớpvới nhau về kỳ hạn

* Công tác tổ chức ngân hàng

Công tác tổ chức tác động tới mọi mặt của hoạt động ngân hàng đặc biệttác động mạnh tới hoạt động tín dụng Công tác này thực hiện tốt được thể hiệnbằng việc tổ chức khoa học trong việc phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban,

có sự thống nhất đoàn kết nhất chí từ ban lãnh đạo đến cán bộ nhân viên sẽ đápứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng quản lý sát sao các khoảncho vay Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh, nâng caochất lượng tín dụng

Trang 24

1.3.3.2 Nhân tố thuộc về phía khách hàng

Hoạt động tín dụng tạo nên mối quan hệ hai bên giữa ngân hàng và kháchhàng do vậy những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngoài nhữngnhân tố thuộc về ngân hàng còn phải kể đến những nhân tố cả bên khách hàng.Những yếu tố thuộc về khách hàng bao gồm:

+ Năng lực thị trường của khách hàng

Được thể hiện qua chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, chu kỳ sống củasản phẩm, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Tìm hiểu năng lực thị trườngcủa doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng đánh giá được mặt mạnh, yếu sản phẩm củadoanh nghiệp trên thị trường

+ Năng lực tài chính

Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có, hệ

số nợ, khả năng sinh lãi

Một doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt sẽ phản ánh việc kinh doanhcủa doanh nghiệp từ trước là có hiệu quả nó cho thấy khách hàng có thể quản lývốn vay một cách tối ưu Tuy nhiên để đánh giá năng lực tài chính của kháchhàng thì cần có các báo cáo tài chính của khách hàng qua những năm gần đây vàcác báo cáo đó phải đảm bảo một cách minh bạch tốt nhất là có kiểm toán củakiểm toán độc lập để đảm bảo tính trung thực khách quan

1.3.3.3 Nhân tố khách quan khác

* Môi trường kinh tế và các chính sách vĩ mô của Nhà nước:

Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng trung vàdài hạn ngân hàng phát triển Nền kinh tế ổn định các doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh có hiệu quả do vậy sẽ có nguồn vốn để trả nợ ngân hàng, ngược lạitrong thời kỳ suy thoái, môi trường kinh doanh biến động sẽ gây khó khăn chohoạt động của doanh nghiệp, nhu cầu vốn tín dụng trung và dài hạn thấp vì rất ít

cơ hội đầu tư do vậy ở thời kỳ này ngân hàng cũng như khách hàng đều rất hạnchế về nguồn vốn, đối với ngân hàng nếu những nguồn vốn đã giải ngân thì rấtkhó thu hồi nợ còn đối với doanh nghiệp khi đồng vốn bỏ ra để đầu tư thì rấtkhó thu hồi như vậy ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng

Để cho nền kinh tế hoạt động theo một trật tự đảm bảo công bằng đối vớicác chủ thể kinh tế thì cần phải có sự can thiệp của chính phủ, chính phủ canthiệp vào nền kinh tế bằng chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ hoặc

Trang 25

chính sách tài khoá, việc can thiệp của chính phủ phần nào ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của của các ngân hàng cũng như là đối với các doanh nghiệp,nếu chính phủ chủ trương thực hiện chính sách thắt chặt thì việc cho vay của cácngân hàng rất hạn chế và như vậy sẽ có một lượng vốn bị ứ đọng trong ngânhàng trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn mà mình huy động

và những chi phí quản lý liên quan Như vậy đã ảnh hưởng đến chất lượng tíndụng của ngân hàng

* Môi trường pháp lý

Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trườngpháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quảcao Hành lang pháp lý hoàn chỉnh đồng bộ giúp cho các chủ thể trong nền kinh

tế hoạt động một cách liên tục thông suốt, các ngân hàng tạo lập được nhiều mốiquan hệ tín dụng với khách hàng từ đó có thể đem lại lợi nhuận cao và nâng caochất lượng tín dụng cho ngân hàng

* Môi trường chính trị - xã hội

Đất nước ổn định về chính trị xã hội giúp các doanh nghiệp yên tâm thựchiện đầu tư phát triển, ngân hàng thương mại mạnh dạn đầu tư vào các dự ántrung và dài hạn Sự mất ổn chính trị - xã hội làm suy thoái đất nước, việc sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ngân hàng bị ngưng trệ Vì vậy sự

ổn định chính trị - xã hội cũng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung vàdài hạn của ngân hàng

Ngoài những nhân tố kể trên còn có thể có những nhân tố bất khả khángkhác như do thiên tai, địch hoạ, chiến tranh, đình công, bạo loạn, khủng hoảngkinh tế Đây là những nguyên nhân khó tránh khỏi mà chỉ có thể dự đoán được

mà đề phòng Tuy vậy dù do nguyên nhân gì thì cũng đều ảnh hưởng đến chấtlượng tín dụng của ngân hàng

Trang 26

Hiện nay, Ngân Hàng VPBANK Lý Nam Đế đã vượt qua những khó khănban đầu và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường,đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộng mạng lưới giaodịch, đa dạng hoá các dịch vụ kinh doanh tiền tệ Mặt khác ngân hàng cònthường xuyên tăng cường việc huy động vốn và sử dụng vốn, thay đổi cơ cấuđầu tư phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướngcông nghiệp hoá - hiện đại hoá.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh.

Sau gần 20 năm thành lập và hoạt động, Chi nhánh Ngân hàng VPBANK

Lý Nam Đế không ngừng đổi mới và phát triển và luôn theo kịp với sự phát triểncủa hệ thống ngân hàng trong nước Để bắt kịp với sự phát triển của hệ thốngngân hàng trong khu vực và trên thế giới Chi nhánh ngân hàng VPBANK LýNam Đế đã liên tục đưa ra những đổi mới về cơ cấu tổ chức của ngân hàng mình

và theo quyết định gần đây nhất Chi nhánh có đưa ra quyết định chuyển mới môhình tổ chức theo dự án hiện đại hoá NHVPBank cơ cấu tổ chức gồm có cácphòng ban như sau:

Trang 27

Ban giám đốc gồm 1 giám đốc và 4 phó giám đốc thực hiện việc chỉ đạochung và ra những quyết định chỉ đạo chiến lược kinh doanh, chính sách kinhdoanh, các biện pháp thực hiện cụ thể trong từng thời kỳ phù hợp với chiến lượcphát triển chung của ngân hàng.

- Phòng khách hàng cá nhân có chức năng trực tiếp giao dịch với kháchhàng; Xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vayphù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành của Ngân hàng nhà nước và hướng dẫn củaNgân hàng VPBank Quản lý hoạt động của các quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch

- Phòng khách hàng số 1 có chức năng trực tiếp giao dịch với khách hàng

là cá doanh nghiệp lớn, để khai thác vốn bằng VNĐ & ngoại tệ; Xử lý cácnghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế

độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn cuả Ngân hàng VPBank

- Phòng khách số 2 có chức năng trực tiếp giao dịch với khách hàng là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, để khai thác vốn bằng VNĐ & ngoại tệ, Xử lý cácnghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế

độ, thể lệ hiện hành của Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của Ngân hàngVPBank

- Phòng tổ chức hành chính có chức năng nghiệp vụ thực hiện công tác tổchức các bộ và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhànước và quy định của Ngân Hàng VPBank Việt Nam Thực hiện công tác quảntrị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tácbảo vệ, an ninh an toàn chi nhánh

- Phòng tổng hợp và tiêp thị có chức năng tham mưu cho giám đốc chinhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích dánh giá tình hình hoạtđộng kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh

Trang 28

- Phòng tiền tệ kho quỹ có chức năng quản lý an toàn kho quỹ, quản lýquỹ tiền mặt theo quy định của ngân hàng nhà nước và Ngân hàng VPBank ứng

và thu tiền cho các Quỹ tiết kiệm, các Điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thuchi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn

- Phòng thông tin điện toán có chức năng thực hiện công tác duy trì hệthống, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thốngmạng, máy tính của chi nhánh

- Phòng kế toán tài chính có chức năng tham mưu cho giám đốc thực hiệncông tác quản lý tài chính và thực hiện nhiệm vụ chi tiêu nội bộ tại chi nhánhtheo đúng qui định của nhà nước và của Ngân hàng VPBank

- Phòng kiểm tra nội bộ có chức năng giúp giám đốc giám sát, kiểm tra,kiểm toán các mặt hoạt động kinh doanh của chi nhánh nhằm đảm bảo việc thựchiện theo đúng pháp luật của nhà nước và cơ chế quản lý của ngành

- Phòng giao dịch chợ Hôm có chức năng tương tự như phòng khách hàng

Phòng khách hàng số 1

Phòng

quản lý

rủi ro.

Phòng kiểm tra nội bộ

Phòng giao dịch chợ Hôm

Phòng

kế toán tài chính

Phòng thông tin điện toán

Phòng

tổ chức hành chính

Phòng tiền tệ kho quỹ

Phòng

kế toán

giao dịch

Phòng khách hàng số 2

quỹ tiết kiệm

Trang 29

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh những năm gần đây

* Về công tác huy động vốn

Năm 2010 nhìn chung tình hình kinh tế xã hội cả nước và Hà Nội tiếp tục

ổn định và có những bước phát triển Nhà nước điều hành chính sách vĩ mô thậntrọng và linh hoạt hơn phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế.Nhờ vậy năm 2010 tăng trưởng GDP đạt mức 8,4% cao nhất trong 11 năm trởlại đây, trong đó Hà Nội là một trong những địa bàn xếp thứ nhì về tốc độ GDPtăng 11,16% tình hình tài chính tiền tệ về cơ bản là ổn định góp phần tích cực ổnđịnh kinh tế vĩ mô và tạo đà tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên do ảnh hưởng củagiá dầu mỏ tăng cao và liên tục cùng với những thảm hoạ thiên tai như bão lụt,dịch cúm gia cầm do vậy làm cho chỉ số giá cả tăng cao 8,4% (Hà Nội là 9,46%)

và trước sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng ngày càng quyết Do áp lựccủa tiến trình hội nhập các ngân hàng tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lựccạnh tranh, đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới, tăng lãi suất huy động, giảm lãisuất cho vay, các hình thức khuyến mãi, đặc biệt trong thu hút tiền gửi Ngoàiviệc các ngân hàng thương mại cạnh tranh nhau các kênh huy động vốn kháccũng được triển khai như: trái phiếu xây dựng thủ đô, các công ty bảo hiểm, cổphần các doanh nghiệp nhà nước càng làm cho việc cạnh tranh về nguồn vốntrở nên quyết liệt hơn

% so sánh

Tổng nguồn vốn huy động 4.580.620 4.833.878 105,5%

Cơ cấu nguồn vốn huy động

Tiền gửi Tổ chức kinh tế 850.832 931.621 109,4%

Tiền gửi bằng ngoại tệ (quy VNĐ) 427.144 433.297 101,4%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi nhánh)

Qua bảng số liệu trên cho thấy huy động vốn từ tổ chức kinh tế tăng80,789 tỷ (tức tăng 9,4%) tiền gửi dân cư tăng 45,834 tỷ (tức tăng 3,1%) tiền gửibằng VNĐ tăng 120,476 tỷ ( tức tăng 6,4%), tiền gửi bằng ngoại tệ tăng 6,153 tỷ(tức tăng 1,4%) như vậy cơ cấu nguồn vốn huy động tương đối ổn định, trong đó

Trang 30

tiền gửi dân cư vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn huy động chiếm 2,85%

và các nguồn tiền gửi đều tăng Tuy nhiên tốc độ tăng rất chậm Nếu so về tốc

độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh năm 2010 so với năm trướcđạt thấp đặc biệt so với tốc độ tăng trưởng của các ngân hàng trên địa bàn HàNội nói chung và các chi nhánh Ngân hàng VPBank nói riêng thì còn thấp hơn

8 chi nhánh Ngân hàng VPBank lớn trên địa bàn Hà Nội tăng 12,5% (trong đótiền gửi tổ chức kinh tế tăng 9,4%, tiền gửi dân cư tăng 3,1%)

- Nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng nguồn vốn thấp là:

Năm 2010, công tác huy động vốn tiền gửi dân cư gặp nhiều khó khăn.Phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế là do hệ thống ngân hàng đáp ứng nên áplực vay vốn ngân hàng là rất lớn, tác động trực tiếp đến công tác huy động vốn,theo đó để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp các ngân hàngthương mại phải phát triển mạnh huy động vốn, đây là tác động tích cực Bêncạnh đó tạo nên sự cạnh tranh hết sức sôi động và quyết liệt thậm chí có nhữngbiểu hiện cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng thương mại trong quátrình huy động vốn như: Các ngân hàng thương mại đã áp dụng các biện pháptiếp thị khuyến mãi hấp dẫn bằng nhiều hình thức, tăng lãi suất huy động, đưa ranhiều loại sản phẩm huy động nhằm thu hút nguồn vốn

Đã xuất hiện nhiều kênh huy động vốn khác nhau như: Các Công ty Bảohiểm, tiết kiệm Bưu điện, Thị trường chứng khoán, trái phiếu chính phủ, tráiphiếu xây dựng thủ đô việc đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đãphần nào chi phối tốc độ tăng trưởng nguồn vốn

Các dịch vụ ngân hàng tuy đã được quan tâm chú ý phát triển, nhưng tiệních còn ít chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống, chưa tạo được thói quenthanh toán qua ngân hàng trong quảng đại dân chúng nên việc thu hút nguồn vốntrong thanh toán còn rất hạn chế

Hệ thống quỹ tiết kiệm của Chi nhánh còn nhiều địa điểm chật hẹp khôngthuận lợi và khang trang chưa phù hợp với hoạt động kinh doanh ngân hàng

* Về hoạt động tín dụng

Trong năm 2010 cơ cấu cho vay ngắn hạn và trung dài hạn có xu hướnggiảm sút cụ thể:

Bảng 2: Số liệu tình hình hoạt động tín dụng theo kì hạn nợ

và theo loại tiền

Trang 31

Đơn vị: Triệu đ ngồng

31/12/2009

Thực hiện 31/12/2010 % so sánh

Phân theo kỳ hạn nợ

Phân theo loại tiền

(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh của Chi nhánh)

Như vậy năm 2010 dư nợ cho vay nền kinh tế của chi nhánh chỉ đạt 78,4%

so với năm 2009 trong đó:

Dư nợ ngắn hạn là 512.635 triệu chiếm 34,63% trong tổng dư nợ và chỉđạt 85,5%so với năm 2009, dư nợ cho vay trung và dài hạn năm 2010 là 61.486triệu chiếm 4,15% đạt 56,7% so với năm 2009, dư nợ cho vay dài hạn 147.222triệu, chiếm 9,95% đạt 67,6%, dư nợ khoanh là 18.768 triệu chiếm 1,27%, nhưvậy xét về cụ thể từng hoạt động cho vay theo kì hạn thì càng nổi rõ thấy hoạtđộng tín dụng ngày càng giảm sút đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn có sựgiảm sút mạnh

Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

Xử lý các khoản nợ phân nhóm 5 theo QĐ 234/QĐ-NHVPB37, nếu tính

cả dư nợ nhóm 5 tổng dư nợ cũng chỉ bằng 87% so năm 2009

Quán triệt chỉ đạo của NHVPBVN trong công tác tín dụng, về đẩy mạnhcác biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng gắn liền với tăng trưởng tín dụnghợp lý đi đôi với năng lực quản lý và kiểm soát chặt chẽ vốn vay Trên cơ sởchọn lọc khách hang

Bên cạnh đó chưa phát triển cho vay được các dự án mới và các đơn vịvay vốn mới

Bảng 3: Cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế

Đơn vị: Triệu đ ngồng

Trang 32

Chỉ tiêu Dư nợ

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Chi nhánh)

Có thể thấy tỷ lệ dư nợ của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chỉ đạt40,22% so với tổng dư nợ như vậy tỷ trọng này còn quá nhỏ so với tiềm năngcủa thành phần kinh tế này, còn dư nợ đối với thành phần kinh tế quốc doanhtương đối lớn chiếm 59,78% điều này có một sự mất cân đối giữa các thànhphần kinh tế, tuy nhiên tổng dư nợ cho vay nền kinh tế mới chỉ đạt 940110 triệukhông đạt được kế hoạch đề ra , thể hiện dư nợ cho vay đối với nền kinh tế có sựgiảm sút

* Về công tác tài trợ thương mại

Tổng doanh số bảo lãnh đạt 493,7 tỷ bằng 79,2% năm 2009

Doanh số mua bán một số loại ngoại tệ chủ yếu (quy USD):

- Doanh số mua: 21 triệu USD So với năm 2009 đạt 90,3%

- Doanh số bán: 22 triệu USD So với năm 2009 đạt 91,6%

- Doanh số thanh toán quốc tế:

- L/C nhập: Đạt 133 món trị giá 15,8 triệu USD

- L/C xuất khẩu: Đạt 138 món trị giá 12,2 triệu USD , do Tổng công tygiấy doanh số xuất khẩu đạt 3 triệu USD tăng 90% so với năm 2009 Ngoài ramột số các doanh nghiệp xuất khẩu như: Công ty Dệt Kim Đông xuân và Công

ty Dệt may Hà Nội cũng đạt doanh số xuất khẩu tăng trưởng hơn so năm 2009

- Chuyển tiền: Đạt 395 món trị giá 10,6 triệu, giá trị tăng 120% so vớinăm 2009

* Hoạt động dịch vụ

- Hoạt động thanh toán: Công tác kế toán thanh toán là một trong nhữnghoạt động quan trọng của Ngân hàng thương mại Thực hiện chương trình Hiệnđại hoá Ngân hàng công tác kế toán thanh toán tổ chức chuyên môn hoá gồm 12

Ngày đăng: 17/04/2015, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế - Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế
Bảng 3 Cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế (Trang 30)
Bảng 5: Nguồn vốn trung và dài hạn - Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế
Bảng 5 Nguồn vốn trung và dài hạn (Trang 38)
Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn trung và dài hạn - Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế
Bảng 7 Tình hình nợ quá hạn trung và dài hạn (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w