Mục tiêu của chuyên đề: Sau khi học chuyên đề ngày, học viên có khả năng: Kiến thức - Hiểu và giải thích được các qui định về kiểm tra, đánh giá sinh viên trongđào tạo ĐH, CĐ; Yêu cầu đổ
Trang 1Chuyên đề 9 Quản lý đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của sinh viên trong trường đại học, cao đẳng
(Số tiết học: 15)
Người biên soạn: Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Khoa QL Học viện QLGD
A Mục tiêu của chuyên đề:
Sau khi học chuyên đề ngày, học viên có khả năng:
Kiến thức
- Hiểu và giải thích được các qui định về kiểm tra, đánh giá sinh viên trongđào tạo ĐH, CĐ; Yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá kếtquả học tập và rèn luyện của sinh viên trong quá trình đào tạo
- Phân biệt hai nhóm phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận Biết
sử dụng các phương pháp đánh giá kết hợp với giảng dạy để giúp sinh viên nắmđược vấn đề nhằm đạt được mục tiêu học tập, xác định được các quan điểmđúng đắn khi tiến hành các phương pháp đánh giá trong quá trình dạy và học
Kỹ năng
- Có khả năng tổ chức thực hiện kiểm tra đánh giá đánh kết quả học tập vàrèn luyện của sinh viên đảm bảo yêu cầu khoa học, khách quan, đúng qui chếhiện hành
Thái độ
Ý thức được các yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập và rènluyện của sinh viên; chủ động quyết tâm trong thực hiện đổi mới hoạt động này,chống tiêu cực và bệnh thành tích trong đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng
GD đáp ứng nhu cầu xã hội
B Tóm tắt nội dung chuyên đề:
Bao gồm phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục; đánh giátrong tiến trình kế hợp với giảng dạy và đánh giá tổng kết; quản lý đánh giá kếtquả học tập của sinh viên đại học, cao đẳng; đánh giá kết quả rèn luyện của sinhviên trong trường ĐH, CĐ; kinh nghiệm thực tế về quản lý đánh giá kết quả họctập, rèn luyện của sinh viên trong trường đại học, cao đẳng
Trang 2C Nội dung chi tiết chuyên đề
1 Tiếp cận hiện đại trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên ĐH, CĐ
1.1 Phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục
Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con người tham gia cũng nhằmtạo ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi
đó xảy ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tìnhhuống nhất định Việc đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêugiáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được hay không, hai làviệc giảng dạy có thành công hay không, sinh viên có tiến bộ hay không…
Có nhiều kiểu phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục, tùytheo góc độ xem xét và mục tiêu phân loại Ở đây đề cập một số kiểu phân loạicác phương pháp đánh giá trong giáo dục
(1) Theo cách thực hiện việc đánh giá, có thể phân chia các phương pháp
đánh giá làm ba loại lớn: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết (sơ đồ H.1)
- Loại quan sát giúp đánh giá các thao tác, các hành vi, các phản ứng vô
thức, các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cáchgiải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
- Loại vấn đáp có tác dụng tốt để đánh giá khả năng ứng đáp các câu hỏi
được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được
sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳnghạn để xác định thái độ người đối thoại
- Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó có các ưu điểm sau:
cho phép kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc;
cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời;
có thể đánh giá một số loại tư duy ở mức độ cao;
cung cấp các bản ghi trả lời của thí sinh để nghiên cứu kỹ khi chấm; dễ quản lý vì người chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra.Loại đánh giá viết lại được chia thành hai nhóm chính:
Trang 3a- Nhóm các câu hỏi tự luận (TL): Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng
mở, thí sinh phải tự mình trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn đề
mà câu hỏi nêu ra
b- Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ): Đề thi thường bao
gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết đểthí sinh có thể trả lời từng câu một cách ngắn gọn
Ở nước ta nhiều người thường gọi tắt trắc nghiệm khách quan là “trắcnghiệm” Thuận theo thói quen ấy, từ nay về sau trong chuyên đề này khi dùng
từ “trắc nghiệm” sẽ được hiểu là TNKQ
(2) Theo mục tiêu của việc đánh giá có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm hai nhóm: đánh giá trong tiến trình (formative) và đánh giá tổng kết (summative)
Đánh giá trong tiến trình được sử dụng trong quá trình dạy và học để
nhận được các phản hồi từ sinh viên, xem xét mức độ thành công của việc dạy
và học, chỉ ra trở ngại và tìm cách khắc phục
Đánh giá tổng kết nhằm tổng kết những gì sinh viên đạt được, xếp loại
SV, lựa chọn sinh viên thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tươnglai, chứng tỏ hiệu quả của khóa học và của việc dạy của giảng viên, đề ra mụctiêu tương lai cho sinh viên
Hai nhóm đánh giá nêu trên được tiến hành theo những cách hoàn toànkhác nhau Trong giảng dạy ở nhà trường, các đánh giá trong tiến trình thườnggắn chặt với giảng viên, còn các đánh giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêudạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi giảng viên
(3) Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá, có thể phân chia ra đánh giá theo chuẩn (norm-referrenced) và đánh giá theo tiêu chí (criterion- referrenced)
- Đánh giá theo chuẩn: là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ
thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác trong một nhóm màtrên đó việc đánh giá được thực hiện
Trang 4- Đánh giá theo tiêu chí: là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ
thực hiện của một cá nhân nào đó so với các tiêu chí xác định cho trước
1.2.Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Ở 1.1 đã nêu việc phân chia trắc nghiệm viết thành hai loại trắc nghiệmkhách quan và tự luận Trong bảng ở H.1 sau đây có chỉ rõ các phương pháp thểhiện hoặc viết các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận
H.1 Phân loại các phương pháp đánh giá thành quả học tập
Đối với TNKQ còn có thể phân chia theo các nhóm sau đây:
(1) Theo cách chuẩn bị đề trắc nghiệm, có thể phân chia thành trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá và trắc nghiệm dùng ở lớp học
- Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn
thảo, thử nghiệm, tu chỉnh, do đó mỗi câu trắc nghiệm được gắn với các chỉ sốcho biết thuộc tính và chất lượng của nó (độ khó, độ phân biệt, phản ánh nộidung và mức độ kỹ năng nào), mỗi đề thi trắc nghiệm có gắn với một độ tin cậyxác định, ngoài ra có những chỉ dẫn cụ thể về cách triển khai trắc nghiệm vàgiải thích kết quả trắc nghiệm
- Trắc nghiệm dùng ở lớp học (hoặc trắc nghiệm do giáo viên soạn) là trắc
nghiệm do giáo viên tự viết để sử dụng trong quá trình giảng dạy, có thể chưa
Cung cấp thông tin
TRẮC NGHIỆM KHÁCHQUAN
(Objective tests) TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN(Essay tests)
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HỌC TẬP
Tiểu luận
Ghép đôi Điền khuyết Trả lời ngắn Đúng sai Nhiều lựa chọn
Trang 5được thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thường chỉ sử dụng trong các kỳ kiểmtra với số lượng học sinh không lớn và không thật quan trọng.
(2) Theo mức độ đảm bảo thời gian để làm trắc nghiệm, có thể phân chia
loại trắc nghiệm theo tốc độ và trắc nghiệm không theo tốc độ
- Trắc nghiệm theo tốc độ thường hạn chế thời gian, chỉ một ít thí sinh
làm nhanh mới có thể làm hết số câu của đề trắc nghiệm, nhằm đánh giá khảnăng làm nhanh của thí sinh
- Trắc nghiệm không theo tốc độ thường cung cấp đủ thời gian cho phần
lớn thí sinh có thể kịp suy nghĩ để làm hết bài trắc nghiệm
* So sánh các phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận
TL cho phép có một sự tự do tương đối nào đó để trả lời một CH đượcđặt ra, nhưng đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại hơn là nhận biết thôngtin, và phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của họ một cách chính xác và sángsủa Bài TL thường được chấm điểm một cách chủ quan và các điểm cho bởinhững người chấm khác nhau có thể không thống nhất Thông thường một đề tựluận gồm ít CH hơn là một đề trắc nghiệm (ĐTN) khách quan do phải cần nhiềuthời gian để trả lời mỗi câu hỏi
TNKQ thường có nhiều phương án trả lời được cung cấp cho mỗi CH củaĐTN nhưng chỉ có một phương án duy nhất là đúng hoặc tốt nhất, phù hợp nhất.Bài trắc nghiệm được chấm điểm bằng cách đếm số lần mà người làm trắcnghiệm đã chọn được phương án trả lời đúng trong số những phương án trả lời
đã được cung cấp Trắc nghiệm như vậy được gọi là khách quan vì việc cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như đối với trắc nghiệm tự luận Có thể
nói là kết quả chấm điểm sẽ như nhau, không phụ thuộc vào việc ai chấm bàitrắc nghiệm đó Thông thường ĐTN KQ gồm có nhiều CH hơn đề TL, và mỗi
CH thường có thể được trả lời bằng cách đánh dấu đơn giản
Có một câu hỏi thường nẩy sinh: trong hai phương pháp TNKQ và TL,
phương pháp nào tốt hơn? Cần phải khẳng định ngay rằng không thể nói phương pháp nào hoàn toàn tốt hơn; mỗi phương pháp có các ưu điểm và nhược
Trang 6điểm nhất định Bảng so sánh dưới đây cho thấy tuỳ theo từng vấn đề, ưu thếthuộc về phương pháp nào
Vấn đề
Ưu thế thuộc về phương
pháp trắc nghiệm tự luận
Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt
Đề thi phủ kín nội dung môn học
Ít may rủi do trúng tủ, trật tủ
Áp dụng được công nghệ mới trong việc
nâng cao chất lượng kỳ thi, giữ bí mật đề
thi, hạn chế quay cóp khi thi, hạn chế tiêu
cực trong chấm thi và giúp phân tích kết
quả thi
Qua những điều đã tìm hiểu có thể thấy rằng cả hai phương pháp, TNKQ
và TL, đều là những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập Cầnnắm vững bản chất và công nghệ triển khai cụ thể từng phương pháp để có thể
sử dụng mỗi phương pháp đúng lúc, đúng chỗ
Các chuyên gia về đánh giá cho rằng phương pháp tự luận nên dùng trong các trường hợp sau:
1 Khi TS không quá đông;
2 Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt;
3 Khi muốn tìm hiểu ý tưởng của TS hơn là khảo sát thành quả học tập;
4 Khi có thể tin tưởng khả năng chấm bài tự luận của giáo viên là chínhxác;
5 Khi không có nhiều thời gian soạn đề nhưng có đủ thời gian để chấm bài
Trang 7Phương pháp trắc nghiệm nên dùng trong những trường hợp sau:
1 Khi số TS rất đông;
2 Khi muốn chấm bài nhanh;
3 Khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài;
4 Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác và muốn ngăn chặn
sự gian lận trong thi cử;
5 Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học
tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi
1.3 Đánh giá trong tiến trình kết hợp với giảng dạy và đánh giá tổng kết
Như đã trình bày ở phần 1.1, theo mục tiêu của việc đánh giá có thể phânchia đánh giá ra làm hai dạng: đánh giá trong tiến trình và đánh giá tổng kết
1.3.1 Sử dụng đánh giá trong tiến trình để nâng cao chất lượng học tập
Đánh giá trong tiến trình được thực hiện trong suốt quá trình giảng dạy,mục tiêu quan trọng là nâng cao chất lượng dạy và học, giúp đỡ sinh viên đạtmục tiêu đề ra đối với môn học
Với đánh giá trong tiến trình không nên dùng kiểu đánh giá theo chuẩn(norm-referenced), vì không có nhu cầu phân chia SV theo thứ bậc Không nênlưu ý đến việc xếp loại, nhất là đối với những sinh viên kém, vì làm như vậy sẽlàm họ nản lòng, làm mất động lực học tập của họ, vì rằng dù họ học kém nhưng
có thể kết quả học tập của họ vẫn đạt theo tiêu chí Do đó với đánh giá trong tiếntrình nên dùng kiểu đánh giá theo tiêu chí (criteria-referenced) Khi sử dụngđánh giá theo tiêu chí để đánh giá trong tiến trình, điều lý tưởng nhất là mọisinh viên đều đạt yêu cầu theo tiêu chí đã đề ra
Một số người chậm hiểu đôi khi muốn học được học những điều đơn giản
có thể phải mất thời gian nhiều gấp 5, 6 lần những người khác Tuy nhiên, B.Bloom cho rằng nếu được hướng dẫn thích hợp thì những sinh viên chậm hiểucũng sẽ đạt yêu cầu với thời gian cỡ gấp đôi Ông ta chứng minh rằng nếu đượchướng dẫn thỏa đáng, chỉ ra những sai lầm thiếu sót mà người chậm hiểu vấpphải trong học tập thì 90% người chậm hiểu sẽ qua được các kỳ thi với số điểmkhoảng 90% (quy tắc 90-90)
Trang 8Muốn đạt được kết quả như trên cần theo các nguyên tắc sau đây (G.Petty, 1998):
- Hướng dẫn tối đa cho cá nhân sinh viên như họ cần;
- Cho họ thực tập tối đa khi họ thấy cần;
- Xác định chính xác các kỹ năng mà sinh viên cần có để đạt được yêu cầu;
- Chỉ rõ cho sinh viên xem vì sao họ không đạt yêu cầu để họ biết sửa lỗihay lấp các lỗ hổng kiến thức, phát triển kỹ năng chưa đạt;
- Cho phép họ làm lại bao nhiêu lần tùy ý
Quy trình học để nắm được vấn đề (mastery learning) nên tổ chức như sau:
- Trước hết phải xác định mục tiêu: mục tiêu chỉ nên ở mức mà cả lớp đều
sẽ đạt được sau một thời gian đủ để học và thực hành có chỉnh sửa Nên giới hạncác kỹ năng chỉ ở mức cần thiết Bài kiểm tra phải thiết kế theo các tiêu chí đó
- Khi giảng dạy: Cần cá thể hóa việc dạy và học để sinh viên có thể làm
việc theo tốc độ của mình Những sinh viên đã đạt chuẩn sẽ nhanh chóng đượcgiao thêm các hoạt động để phát triển cao hơn mức nắm được vấn đề, hoặc sẽtập trung vào các mục tiêu phát triển Các hoạt động mở rộng này không cầnthêm giảng viên hỗ trợ, nhưng phải được thiết kế cẩn thận, không phải chỉ để lấpthời gian trống Đối với các sinh viên gặp khó khăn nên hướng dẫn họ làm thêmbài tập hoặc nhờ bạn bè hỗ trợ Nếu cần, có thể chia sinh viên thành các nhóm
có tốc độ học tập như nhau hoặc làm việc theo từng đôi có cùng trình độ
Thực chất của chiến lược học để nắm vấn đề chính là sự hướng dẫn theonhóm có sự hỗ trợ của thông tin phản hồi thường xuyên và giúp đỡ chỉnh sửacho từng cá nhân khi sinh viên cần
- Kiểm tra chẩn đoán: Nên có nhiều lần kiểm tra không chính thức và
chính thức để lấy thông tin phản hồi, giúp sinh viên chỉnh sửa sai sót Khôngnên ra bài kiểm tra khó Không dùng kiểm tra để xếp hạng, chỉ xét đạt haykhông đạt
- Giúp đỡ sửa chữa: Một yếu tố quan trọng của quá trình học tập để đạt
mức nắm vấn đề là phải yêu cầu sinh viên tự sửa các lỗi và thiếu sót của mình đãđược chỉ ra trong bài kiểm tra Điều này làm cho quy trình học tập biến thành
Trang 9một hệ thống tự sửa chữa Nếu đa số sinh viên làm sai một câu hỏi nào đó trong
bài kiểm tra chẩn đoán thì nhiều khả năng có lỗi ở tài liệu học tập, của sự hướngdẫn của giảng viên, hay thiếu sót trong chính đề kiểm tra Giảng viên phải điềuchỉnh sai sót đó Những sinh viên không đạt yêu cầu đối với một bài kiểm trachẩn đoán sẽ phải làm một bài tương tự vài ngày sau đó
Quá trình học tập có chỉnh sửa cần được tiếp tục cho đến khi sinh viên đạtyêu cầu
Sự đạt được mức nắm vấn đề làm cho sinh viên tự tin, tăng động lực họctập, tăng tính kiên trì Họ còn học được cách học, tìm được lỗi của mình và biếtsửa sai Cách dạy và học để đạt mức nắm vấn đề như trên đòi hỏi phải chuẩn bị
rất nhiều, nhưng khẳng định được ý tưởng là mọi người đều có thể học nếu muốn và nếu có nỗ lực, có sửa sai và đủ thời gian.
Nhà tâm lý học nổi tiếng B.F Skinner có nói: "Nếu một học sinh khônghọc được thì đó là lỗi của người thầy Với sự hướng dẫn thích hợp, mọi học sinhđều có thể đạt điểm ưu."
- Cho điểm: Khi cho điểm và trả bài nên lưu ý không làm nản sinh viên và
tạo động cơ để họ phấn đấu Chẳng hạn, nếu điểm 8/10 là điểm đạt, thì khi sinhviên chỉ đạt điểm 4/10 giảng viên không nên bảo là họ không đạt, mà nên nhậnxét: "Em hãy làm lại các câu 4 và 5 để nhận được điểm đạt"
- Sinh viên tự đánh giá: Một phương thức khác thuộc về đánh giá trong tiến trình là sinh viên tự đánh giá Nội dung của cách đánh gía này là sinh viên
tự nhận xét điểm mạnh điểm yếu của mình, tự xác định mục tiêu mà bản thânphải hoàn thiện Nên quy định định kỳ việc gặp gỡ thảo luận một thầy một trò đểtrò tự đánh giá, thầy góp ý nhận xét thêm
Cần lưu ý rằng nếu không có thông tin phản hồi tin cậy thì việc giảng dạy
sẽ không bao giờ có hiệu quả
1.3.2 Các phương pháp được sử dụng trong đánh giá tổng kết
Đánh giá tổng kết được thực hiện cuối môn học hay năm học, để tổng kếtnhững gì sinh viên đạt được (đánh giá theo tiêu chí) hoặc sắp xếp phân hạng
Trang 10sinh viên (đánh giá theo chuẩn).Trong đánh giá tổng kết người ta thường sửdụng các phương pháp và công cụ sau đây:
(1) Hồ sơ (profiles): Hồ sơ có thể sử dụng cả để đánh giá trong tiến trình
cũng như đánh giá tổng kết Hồ sơ cũng giống mọi báo cáo khác, có thể rất chủquan, nhưng nó giúp cung cấp những thông tin không thể thu thập được trongcác đo lường đánh giá khách quan Các hồ sơ này do sinh viên tự viết ra vàthông qua giảng viên Thường hồ sơ phải cung cấp các thông tin sau đây:
- Sự phát triển về mặt cá nhân và xã hội, ý thức về bản thân và các kỹnăng xã hội;
- Những tiến bộ đạt được, động cơ;
- Khát vọng về nghề nghiệp;
- Đam mê và sở thích, cả trong và ngoài nhà trường;
- Mức độ đạt được các kỹ năng cốt lõi: giải quyết vấn đề, giao tiếp, côngnghệ thông tin, tính toán, sự khéo tay …
Tốt nhất là sinh viên tự đánh giá và đặt mục tiêu cho chính mình, và kếtquả được ghi vào hồ sơ Hồ sơ là lài sản riêng của sinh viên, họ có thể sử dụngsau này khi đi xin việc làm Trong hồ sơ sinh viên có thể có những bản liệt kêcác kỹ năng cốt lõi Mỗi trường thường thiết kế hồ sơ theo kiểu riêng của mình.Nhiều người phê phán hồ sơ vì nó phản ánh thiếu khách quan, tuy nhiên nếu biếtchọn lọc và phân tích thì hồ sơ sinh viên cho nhiều thông tin bổ ích
Có một dạng đánh giá theo hồ sơ khác được sử dụng trong một số trườngđại học Mỹ như sau Đối với nhiều sinh viên đã kinh qua các hoạt động xã hộihoặc nghề nghiệp, những kết quả hoạt động của họ liên quan đến các môn học ởnhà trường có thể được đánh giá và cho điểm, và được công nhận tương đươngvới một số tín chỉ Thường sinh viên phải tập hợp các công trình và hoạt độngliên quan của họ trong một bộ hồ sơ, và một nhóm giáo chức được đề cử đểxem xét và cho điểm theo các bộ hồ sơ đó
(2) Bảng danh mục năng lực: Thường sử dụng cho các cơ sở đào tạo
những năng lực có tính chất kỹ năng nghề nghiệp Bảng danh mục liệt kê cácnăng lực cụ thể, sinh viên ghi và trình bày cho giảng viên, giảng viên xác nhận
Trang 11Các hội đồng đánh giá kỹ năng của các hội nghề nghiệp ở Mỹ thiết kế nhữngcông cụ rất cụ thể để ghi nhận những năng lực nghề nghiệp này.
(3) Đánh giá liên tục: Đây là một quy trình đánh giá những phần công
việc do giảng viên giao và được sinh viên thực hiện trong suốt khóa học Đánhgiá này được xem là một phần của đánh giá tổng kết Đánh giá liên tục là việclàm rất vất vả đối với giảng viên nhưng nó có tác dụng rất tốt trong việc tăngcường động cơ học tập của sinh viên
(4) Vấn đáp: Vấn đáp thường là giữa một sinh viên và giáo chức dạy họ, cũng có thể giữa một sinh viên và một hội đồng thành viên giáo chức Các ưu điểm của phương pháp vấn đáp là: - tăng cường sự trao đổi giữa sinh viên và
giáo chức; - làm giảm rất nhiều khả năng sinh viên hiểu sai lệch câu hỏi; - chophép nêu những câu hỏi theo trình tự; - có thể hỏi theo chiều rộng, chiều sâu vàbất kỳ kỹ năng nào mà giảng viên quan tâm; - cung cấp sự phản hồi tức thời cho
sinh viên Nhược điểm của phương pháp vấn đáp là: - có thể tạo thuận lợi hơn
cho các sinh viên ăn nói lưu loát; - tốn nhiều thời gian; - có thể làm sinh viên lolắng, sợ hãi; - khó giữ câu hỏi bí mật vì tất cả sinh viên không thi cùng một lúc;
- là một kiểu thi khó cho sinh viên chuẩn bị; - không thể so sánh sinh viên vớinhau một cách đáng tin cậy nếu không ghi âm; - nó dựa trên sự đánh giá chủquan; - các điều kiện thi và câu hỏi thi khác nhau đối với các sinh viên khác
nhau
(5) Các kỳ thi: Kỳ thi kết thúc sẽ sử dụng theo hình thức nào, TNKQ hay
TL, phải cho sinh viên biết trước Trong quá trình giảng dạy cần có những bàikiểm tra bằng dạng thức tương tự để sinh viên làm quen, có sửa chữa để sinhviên nhận dạng sai lầm Một hình thức rất tốt là viết các câu hỏi trên bảng rồiyêu cầu một số sinh viên trả lời, sau đó sửa chữa
Trong các kỳ thi có loại kỳ thi tổng hợp Một số trường đại học Mỹ (ví dụ
trường St John; Trường Đại cương ở Viện Đại học Minnesota) tổ chức thi vềgiáo dục đại cương hoặc về thành quả của giai đoạn 1 vào cuối năm thứ hai; mộtvài nơi (chẳng hạn Trường đại học Reed) tổ chức thi năm thứ ba về các chuyên
ngành chính để đảm bảo chất lượng nhằm được làm luận văn năm thứ tư…Ưu
Trang 12điểm của các kỳ thi tổng hợp: - buộc sinh viên phải tích hợp và tổng hợp kiến
thức nhiều hơn là một môn học; - tạo một thời kỳ để tổng kết và kiểm điểm về
sự giáo dục của trường đại học; - cung cấp cho sinh viên một sự đánh giá chung
hiếm có về thành tích của họ bởi giáo chức; Những nhược điểm của chúng là:
-kỳ thi tổng hợp làm cho sinh viên lo lắng; - tốn nhiều thời gian và công sức
(6) Các bài viết: Bài viết rất đa dạng: từ các bài viết được giao thực hiện
một vài trang đến các dự án theo học kỳ Loại hình này bao gồm nhiều ưu điểmcủa bài trắc nghiệm TL đã nói trên đây, và có cả những thế mạnh của riêng
chúng Những ưu điểm và thế mạnh đó là chúng cho phép kiểm tra sinh viên về:
- các kỹ năng cao cấp như kỹ năng viết, giải quyết vấn đề, phân tích, giải đoán,tổng hợp kiến thức; - chiều sâu kiến thức; - khả năng nghiên cứu Cách đánh giánày xem sinh viên là trung tâm, tạo cơ hội cho họ chứng tỏ nhận thức và khả
năng của mình Những nhược điểm của bài viết là: - Đòi hỏi nhiều thời gian để
chấm điểm; - ít khi chúng bao trùm được đủ chiều rộng của một giáo trình; - cóthể bị gian lận, làm hộ; - chúng thiên về các lĩnh vực thuộc thế mạnh của sinhviên; - chúng tác dụng kém đối với các sinh viên yếu về kỹ năng viết hoặcnghiên cứu; - chúng có thể khuyến khích sinh viên tập trung vào chuẩn bị bàiviết hơn là tập trung vào môn học liên quan; - việc đánh giá mang nặng tính chủquan
Một loại bài viết quan trọng là các khoá luận hoặc đề án tốt nghiệp Đây
là loại đánh giá rất phổ biến trong các trường đại học Các khoá luận và đề án tốtnghiệp có thể bao gồm việc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, dịch thuật từ cáccông trình của nước ngoài, thực hiện biểu diễn về nghệ thuật, các bài viết phê
bình và bài viết nghiên cứu Ưu điểm của các khóa luận và đề án tốt nghiệp là:
-cung cấp cho sinh viên một cơ hội nghiên cứu độc lập vững chắc; - cho sinhviên một dịp để hoàn thành một công trình học thuật hoặc sáng tạo của chính họ;
- cung cấp cho sinh viên một cảm xúc về một công việc hoàn thành (phần lớncác đề án là đạt kết quả); và - tác dụng rất tốt đối với quan hệ giáo chức và sinh
viên Nhược điểm của khoá luận hoặc đề án là: - đòi hỏi nhiều thời gian của
giáo chức; - gây bất lợi cho những sinh viên yếu về kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng
Trang 13viết hoặc khả năng tiến hành nghiên cứu độc lập; - một số sinh viên học sau đạihọc sẽ lặp lại công việc; - làm cho việc học tập ở cấp đại học trở nên chuyênmôn hoá sâu hơn
(7) Các trắc nghiệm tâm lý: Có thể sử dụng một số trắc nghiệm tâm lý để
đánh giá bổ sung, như trắc nghiệm chỉ số thông minh IQ, nhưng nhưng khôngnên dựa quá nhiều vào các trắc nghiệm này, vì kết quả của chúng thường không
ổn định và có một số yếu tố không được tính tới (động cơ…)
2 Quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học, cao đẳng
2.1 Mục đích, yêu cầu của đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Kiểm tra - đánh giá là hoạt động thu thập thông tin định tính và địnhlượng về kết quả học tập của sinh viên trong suốt quá trình học tập môn học đốichiếu với mục tiêu môn học làm cơ sở cho việc xếp hạng sinh viên và các quiđịnh quản lí khác Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận cấu thành của mọi phươngpháp dạy học và rèn luyện các kiến thức và kĩ năng mà giảng viên mong muốnsinh viên phải đạt được
* Mục đích:
Như vậy kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV nhằm mục đích:
Để biết:
Dạy học có hiệu quả hay không,
Sinh viên có cần được được hướng dẫn thêm hay không,
Sinh viên có sẵn sàng học tiếp hay không,
Có cần phải áp dụng phương pháp khác hay không, và
Trang 14 Bài học tiếp theo cần được cải tiến như thế nào?
Thông qua kiểm tra, đánh giá để GV có thể:
Cung cấp phản hồi mang tính xây dựng và chẩn đoán cho ngườihọc,
Chu thập thông tin cho mục đích báo cáo (điểm),
Xác định mức độ thích hợp cho sinh viên mới (xếp lớp),
Xác định xem liệu sinh viên có đáp ứng yêu cầu của chươngtrình không (bằng cấp), và thúc đẩy sinh viên học tập và tiến bộ bềnvững
Đối với SV, Kiểm tra đánh giá kết quả học tập nhằm giúp SV:
Biết những gì được mong đợi ở họ,
Biết họ cần làm gì để cải thiện khả năng thể hiện của mình,
Hiểu được điểm số của khoá học bao gồm những yếu tố nào và
Hiểu được rằng đánh giá là công bằng và có ý nghĩa
* Yêu cầu:
- Đánh giá kết quả học tập của SV phải được thực hiện đảm bảo kháchquan, chính xác, nghiêm túc, đúng qui chế;
- Phải xây dựng một chiến lược đánh giá trong nhà trường
Mỗi khóa học hoặc môn học đều cần một chiến lược đánh giá Chiến lượcđánh giá phụ thuộc vào chủ đích và mục tiêu của khóa học hay môn học, và phảitrả lời được các câu hỏi:
- Mục tiêu của đánh giá là gì? Để phân loại sinh viên hay để chẩn đoán,
để tạo động lực học tập, thu thập các phản hồi, ghi nhận những tiến bộ, đánh giákhóa học hay kết hợp một số trong những mục tiêu nói trên
- Cần đánh giá cái gì? Cần tiến hành đánh giá như thế nào? Ai sẽ đánh giáai? Khi nào? Điểm thu được dùng để báo cáo hay điều chỉnh?
- Sau khi đánh giá điều gì sẽ xảy ra? đặc biệt là đối với những người làmrất tốt hay rất tồi?
Các đề kiểm tra, thi và các biểu điểm được thiết kế cần lưu giữ để so sánh
và sử dụng cho những năm sau
Trang 15Khi xây dựng chiến lược đánh giá nên cân nhắc những gì quan trọng phảiđược đánh giá, vì đôi khi việc đánh giá có tác dụng điều khiển trở lại quá trìnhdạy và học Quá trình đánh giá không nên biến một số sinh viên trở thành những
kẻ thất bại, vì điều đó sẽ hủy hoại động cơ học tập của họ, dần dần biến họ thànhnhững kẻ từ chối những quy tắc chung của xã hội và chấp nhận những tệ nạn xãhội, có thể trở thành tội phạm Các chương trình giảng dạy nặng về lý thuyết vàcách đánh giá theo chuẩn thường thiên về thành công của những người có khảnăng, không thừa nhận và tặng thưởng cho những phẩm chất khó đo lường củamột số người bị loại bỏ Nên bổ sung bằng hệ thống đánh giá dựa trên năng lực,dựa trên hồ sơ, hệ thống học tập và đánh giá nhằm đạt mức nắm được vấn đề, vàcác phương thức kiểm tra khác, sao cho ghi nhận được những nỗ lực và thànhcông của mọi sinh viên, khơi dậy ở họ lòng tin vào bản thân, vì đó là điểm tựatrong việc học tập và sự nghiệp của họ trong tương lai
2.2 Nội dung đánh giá và thang điểm
* Đối với đào tạo theo niên chế:
- Các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Điểmtổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) bao gồm: điểm kiểm trathường xuyên trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ thamgia thảo luận, điểm đánh giá phần thực hành, điểm chuyên cần, điểm thi giữahọc phần, điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kếtthúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và phải có trọng số không dưới50% của điểm học phần
Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểmđánh giá bộ phận cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảngviên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cươngchi tiết của học phần
- Các học phần thực hành: sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thựchành Trung bình cộng điểm của các bài thực hành trong học kỳ được làm trònđến phần nguyên là điểm học phần loại này