1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nhóm đề tài: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

24 780 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 13 tháng 8 năm 2013, theo quyết định số 1494/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trước đây là Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 9 tháng 11 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, Bảo hiểm tiề

Trang 2

I

TỔNG QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Ii

BẢO HIỂM TIỀN GỬI

VIỆT NAM

iii

BẢO HIỂM TIỀN GỬI MỸ

iv

SO SÁNH &

ĐÚC KẾT

1.Lịch sử hình thành & phát triển 02

2.Mô hình hoạt động & tổ chức 04

3.Nội dung hoạt động 05

4.Thực trạng 08

1.Giới thiệu chung 11

2.Mô hình hoạt động 12

3.Nguyên tắc hoạt động 13

4.Thực trạng hoạt động 15

MỤC LỤC 1.So sánh cơ bản giữa Bảo hiểm tiền gửi Mỹ & Việt Nam 18

2.Những đúc kết Cơ Bản cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 20

1.Khái quát quá trình hình thành Bảo hiểm tiền gửi Thế giới 01

Trang 4

TỔNG QUAN

BẢO HIỂM TIỀN GỬI

I

Khái niệm về bảo hiểm tiền gửi đã được

hình thành từ rất lâu trên thế giới Hoạt động tài

chính-Ngân hàng luơn gắn liền với sự nhạy cảm

và tiềm ẩn rủi ro, chính vì vậy mỗi quốc gia cần

phải cĩ tổ chức đứng ra bảo vệ người gửi tiền

trong trường hợp ngân hàng xảy ra đổ vỡ để ổn

định tình hình an ninh xã hội Trong thực tế, khi

các quốc gia chưa hình thành hệ thống bảo hiểm

tiền gửi thì họ cũng đã sử dụng cơng cụ “bảo

hiểm ngầm” cĩ nghĩa là mặc dù khơng cam kết

cơng khai trước cơng chúng về việc bảo vệ tiền

gửi của họ trong trường hợp ngân hàng đổ bể

nhưng nếu điều đĩ xảy ra thì Chính phủ phải

đứng ra chi trả tiền gửi cho người gửi tiền

Tuy nhiên, việc bảo vệ ngầm đĩ khơng

thật sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như

khơng mang lại niềm tin của cơng chúng đối với

hệ thống tài chính - ngân hàng vì vậy, hệ thống

bảo hiểm cơng khai đã ra đời

Nguồn gốc ra đời của bảo hiểm tiền gửi gắn liền với việc chuyển từ bảo vệ ngầm sang bảo vệ cơng khai tiền gửi Theo đĩ, người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặc tồn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết cơng khai

Việc bảo vệ tiền gửi cơng khai đầu tiên được thành lập ở Mỹ với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng” được thực hiện ở New York năm 1829 Trách nhiệm trong chương trình này đề cập đến tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi

Tuy nhiên, mặc dù trong thời gian đầu, tổ chức BHTG hoạt động tương đối hiệu quả nhưng cuối cùng các tổ chức bảo hiểm tiền gửi này đã phải đĩng cửa

Trang 5

HOẠT ĐỘNG

BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

II

TẠI VIỆT NAM

Với cơ chế kinh tế kế hoạch hĩa tập trung, đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn trước năm 1986 gặp rất nhiều khĩ khăn Đến năm 1988, Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đã triển khai kế hoạch đổi mới tồn diện nhằm khắc phục tình trạng lạm phát phi mã, khơi phục nền kinh tế Nhưng tình trạng bất ổn của xã hội trong giai đoạn này đã dẫn đến hàng loạt các cuộc đổ vỡ mang tính dây chuyền của các hợp tác xã tín dụng nơng thơn và quỹ tín dụng đơ thị trên tồn quốc (gần 8.000 hợp tác xã và quỹ tín dụng phải đĩng cửa)

Trong bối cảnh đĩ, để lấy lại niềm tin của

nhân dân, hoạt động BHTG đã được khởi đầu

bằng quyết định 101/TCQĐ-BHTG ngày

01/02/1994 của Bộ tài chính Theo quyết định

này, cơng ty Bảo Việt cĩ trách nhiệm bảo hiểm

đối với các khoản tiền gửi cĩ kỳ hạn tại các quỹ

tín dụng nhân dân Tuy nhiên hoạt động BHTG

do Bảo Việt thực hiện trong giai đoạn này phát

triển chậm, mới chỉ triển khai được với một số

lượng khách hàng nhỏ (chỉ khoảng 30% quỹ tín

dụng nhân dân tham gia).

Trong điều kiện của quá trình đổi mới đang diễn ra tại Việt Nam, hoạt động ngân hàng đang ngày càng phát triển, đi đơi với nĩ là yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh này cũng ngày càng trở nên phức tạp Những vấn đề đĩ đã đặt

ra yêu cầu cần cĩ giải pháp phịng ngừa kịp thời

và ngày 01/09/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ- CP về BHTG và tổ chức BHTG Việt Nam đã chính thức được thành lập Hoạt động BHTG ở Việt Nam từ đây được phổ cập hĩa, được cơng nhận là một trong những giải pháp tích cực bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, kiểm sốt rủi ro hoạt động của các tổ chức tín dụng, khắc phục được những hạn chế của hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện trước đây

Trang 6

Ngày 13 tháng 8 năm 2013, theo quyết định số 1494/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (trước đây là Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 9 tháng 11 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ), Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – Tên tiếng Anh: Deposit Inusurance of Vienam (DIV) là tổ chức tài chính Nhà nước được thành lập và Quyết định 1395/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2013 Phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Những năm qua, hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thực sự góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, duy trì sự ổn định, phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, là nhân tố quan trọng trong việc phát huy nguồn vốn nội lực để phát triển hinh tế, giữ vững ổn định, an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội

Hiện nay, hoạt động BHTG ở Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý sau:

-Thông tư số 24/2014/TT-NHNN ngày 06/09/2014 Hướng dẫn một số nội dung về hoạt động Bảo hiểm tiền gửi

-Quyết định số 1934/QĐ-TTg ngày 13/08/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và quy định chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

-Quyết định số 1935/QĐ-TTg ngày 13/08/2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Điều lệ

về tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

-Nghị định 68/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm tiền gửi

-Luật bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13

Và 1 số thông tư, công văn khác có liên quan đến hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Điều lệ về tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam do Chính Phủ phê chuẩn

Trang 7

Luật Bảo hiểm tiền gửi trao cho tổ chức

bảo hiểm tiền gửi chức năng giám sát từ xa trên

cơ sở các thông tin nhận được từ Ngân hàng Nhà

nước và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm

phát hiện và báo cáo Ngân hàng Nhà nước xử lý

kịp thời những rủi ro gây mất an toàn trong hệ

thống ngân hàng, những vi phạm quy định về an

toàn hoạt động ngân hàng; tổ chức bảo hiểm tiền

gửi được tham gia vào quá trình kiểm soát đặc

biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hay

tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của

Chính phủ

Quy định này đảm bảo cho tổ chức bảo

hiểm tiền gửi thực hiện tốt chức năng bảo vệ

quyền lợi của người gửi tiền và xác định rõ giới

hạn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo

đảm an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia

2 MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ TỔ CHỨC CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

2.1 MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn,

lạnh mạnh của hoạt động ngân hàng (Khoản 4

Điều 4) và tổ chức bảo hiểm tiền gửi do Thủ

tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí

2.2 MÔ HÌNH TỔ CHỨC

ORGANIZATION & OPERATION

MODEL

Trang 8

-Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm bắt

buộc theo quy định của Luật này

-Hoạt động bảo hiểm tiền gửi phải công khai,

minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp

pháp của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ

chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo

hiểm tiền gửi

3 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

3.1 NGUYÊN TẮC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

3.4.1 Phí bảo hiểm tiền gửi

-Thủ tướng Chính phủ quy định “khung phí” bảo hiểm tiền gửi theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

-Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này

-Phí bảo hiểm tiền gửi được tính trên cơ sở

số dư tiền gửi bình quân của tiền gửi được

-Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân

phải tham gia bảo hiểm tiền gửi

-Các ngân hàng chính sách không phải tham

gia bảo hiểm tiền gửi

3.2 ĐỐI TƯỢNG THAM GIA

-Tiền gửi được bảo hiểm:

Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng

đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền

gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi

tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín

phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy

định của Luật các tổ chức tín dụng

3.3 CÁC LOẠI TIỀN GỬI KHÔNG ĐƯỢC

BẢO HIỂM VÀ ĐƯỢC BẢO HIỂM

-Tiền gửi không được bảo hiểm:

Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là

người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ

chức tín dụng đó

Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là

thành viên Hội đồng thành viên, thành viên

Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát,

Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám

đốc (Phó Giám đốc) của chính tổ chức tín dụng

đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước

ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám

đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của

chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó

Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành

3.4 PHÍ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

3.4.2 Phí bảo hiểm tiền gửi

-Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm thời hạn nộp phí bảo hiểm tiền gửi theo quy định tại Điều 20 của Luật này, thì ngoài việc phải nộp đủ số phí còn thiếu phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm bằng 0,05% số tiền nộp chậm

-Trường hợp tổ chức bảo hiểm tiền gửi phát hiện sự thiếu chính xác trong việc tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi, thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm thông báo và truy thu

số phí còn thiếu hoặc thoái thu đối với số phí nộp thừa trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày phát hiện

-Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp hoặc nộp không đầy đủ phí bảo hiểm tiền gửi và tiền phạt, thì

tổ chức bảo hiểm tiền gửi có văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích tài khoản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để nộp phí bảo hiểm tiền gửi và tiền phạt Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận văn bản đề nghị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm xử lý

Trang 9

-Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp hoặc nộp không đầy đủ phí bảo hiểm tiền gửi mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải trích tài khoản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi để nộp phí theo quy định tại khoản 3 Điều này lần thứ hai, thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi có văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

3.5.1 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả

tiền bảo hiểm

Từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản

không áp dụng các biện pháp phục hồi khả

năng thanh toán mà tổ chức tín dụng là tổ

chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn lâm vào

tình trạng phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân

hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo

hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho

người gửi tiền

3.5.2 Thời hạn trả tiền bảo hiểm

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ thời điểm

phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tổ

chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm trả tiền

bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi

3.5.3 Hạn mức trả tiền bảo hiểm

-Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa

mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các

khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người

tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi

phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm

-Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức

trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ

3.5 HẠN MỨC CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

3.5.4 Số tiền bảo hiểm được trả

-Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi, tối đa bằng hạn mức trả tiền bảo hiểm quy định tại Điều 24 của Luật này

-Số tiền bảo hiểm được trả trong trường hợp nhiều người sở hữu chung tiền gửi được bảo hiểm tiền gửi được quy định như sau:

a) Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của nhiều người sở hữu chung tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi, tối đa bằng hạn mức trả tiền bảo hiểm cho một người Số tiền bảo hiểm được trả sẽ được chia theo thỏa thuận của các đồng chủ

sở hữu; trường hợp giữa các đồng chủ sở hữu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp một trong các đồng chủ

sở hữu có khoản tiền gửi khác được bảo hiểm tại cùng một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thì tổng số tiền bảo hiểm được trả cho một đồng chủ sở hữu không vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm

-Trường hợp người được bảo hiểm tiền gửi có khoản nợ tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thì số tiền gửi được bảo hiểm là số tiền còn lại sau khi trừ khoản nợ đó

Trang 10

3.5.5 Thủ tục trả tiền bảo hiểm

-Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ

thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo

hiểm, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải

gửi hồ sơ đề nghị trả tiền bảo hiểm cho tổ

chức bảo hiểm tiền gửi

Hồ sơ đề nghị trả tiền bảo hiểm bao gồm

văn bản đề nghị trả tiền bảo hiểm, danh sách

người được bảo hiểm tiền gửi, số tiền gửi

của từng người được bảo hiểm tiền gửi và số

tiền bảo hiểm đề nghị tổ chức bảo hiểm tiền

gửi chi trả

-Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ

ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định tại khoản

1 Điều này, tổ chức bảo hiểm tiền gửi tiến

hành kiểm tra các chứng từ, sổ sách để xác

định số tiền chi trả

-Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ

ngày kết thúc kiểm tra theo quy định tại

khoản 2 Điều này, tổ chức bảo hiểm tiền gửi

phải có phương án trả tiền bảo hiểm cho

người được bảo hiểm tiền gửi; thông báo

công khai về địa điểm, thời gian, phương thức

trả tiền bảo hiểm trên ba số liên tiếp của một tờ

báo trung ương, một tờ báo địa phương nơi

đặt trụ sở chính, các chi nhánh của tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi và trên một báo

điện tử của Việt Nam; niêm yết danh sách

người được trả tiền bảo hiểm tại địa điểm đã

thông báo

-Khi nhận tiền bảo hiểm, người được bảo

hiểm tiền gửi phải xuất trình các giấy tờ

chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với

các khoản tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi

-Tổ chức bảo hiểm tiền gửi trực tiếp trả tiền

bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền g ử i

hoặc ủy quyền cho tổ chức tham gia bảo hiểm

tiền gửi khác thực hiện

-Sau thời hạn 10 năm, kể từ ngày tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thông báo lần thứ nhất

về việc trả tiền bảo hiểm, những khoản tiền bảo hiểm không có người nhận sẽ được xác lập quyền sở hữu nhà nước và bổ sung vào nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, người có quyền sở hữu khoản tiền gửi được bảo hiểm sẽ không có quyền yêu cầu tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả số tiền bảo hiểm đó

3.5.6 Xử lý số tiền gửi vượt hạn mức trả tiền bảo hiểm

Số tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gốc và tiền lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật

3.5.7 Thu hồi số tiền bảo hiểm phải trả từ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

-Tổ chức bảo hiểm tiền gửi trở thành chủ

nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đối với số tiền bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm tiền gửi, kể từ ngày trả tiền bảo hiểm theo thông báo quy định tại khoản

3 Điều 26 của Luật này

-Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phân chia giá trị tài sản theo thứ tự như người gửi tiền và thu hồi số tiền bảo hiểm phải trả trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật

Trang 11

4 THỰC TRANG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

Sau 13 năm hoạt động, BHTG đã từng bước phát triển và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Năm 2012, BHTG có 1.237 tổ chức tham gia, trong đó có: 90 ngân hàng, 11 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 1.136 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và quỹ tín dụng nhân dân trung ương Tổng phí bảo hiểm thu được trong năm là trên 2.057 tỷ đồng (tăng 27% so với năm 2011) với tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm khoảng 1,5 triệu tỷ đồng (so với năm 2011 là 1,1 triệu tỷ đồng)

Tính chung, kể từ khi thành lập đến cuối năm 2012, tổng phí bảo hiểm thu được của BHTG đạt khoảng 8.131 tỷ đồng Đến hết năm 2012, BHTG đã thực hiện chi trả khoảng 20 tỷ đồng cho người gửi tiền tại 37 quỹ tín dụng nhân dân Bên cạnh đó, BHTG đã góp một phần vào việc ngăn chặn tình trạng rút tiền hàng loạt, tạo lập niềm tin cho công chúng gửi tiền, phòng tránh được sự

đổ vỡ dây chuyền của các quỹ tín dụng Đồng thời, thực hiện các hoạt động giám sát định kỳ đối với 100% các tổ chức tham gia BHTG, thực hiện một số cho vay đối với các quỹ tín dụng gặp khó khăn tạm thời về khả năng thanh toán, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo cho hệ thống ngân hàng nước ta được an toàn

Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, thực tế hoạt động của BHTG đang bộc lộ

một số hạn chế về cơ chế, chính sách đang cần được khắc phục Cụ thể, với mô hình chi trả với quyền lợi mở rộng của BHTG Việt Nam chưa phát huy được đầy đủ chức năng Các hạn chế về

cơ sở pháp lý, năng lực tài chính, trình độ cán bộ cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật, BHTG hầu như chỉ hoạt động theo mô hình chi trả thuần túy Các chức năng thanh tra, giám sát hay các chức năng mở rộng khác đòi hỏi BHTG có được lượng thông tin lớn từ Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính…

Cùng với đó, hạn mức BHTG ở nước ta còn quá thấp, không đáp ứng nhu cầu xã hội Với quy định hạn mức chi trả hiện nay là 50 triệu đồng cho mỗi người gửi tiền tại một tổ chức tham gia BHTG và được duy trì cho đến nay Theo số liệu của Ngân hàng nhà nước, năm 2011 tỷ trọng tiền gửi có số tiền dưới 50 triệu chỉ chiếm 19% tổng lượng tiền gửi trong năm Như vậy, nếu các ngân hàng và tổ chức tín dụng ngừng hoạt động, trên 81% tổng lượng tiền gửi không được chi trả đủ 100% cả gốc và lãi Ngoài ra, còn hàng loạt tồn tại khác như:

- Vốn của BHTG còn nhỏ Sau gần 13 năm hoạt động, hiện nay tổng vốn của BHTG khoảng 9.000

tỷ đồng, chỉ gấp 3 lần vốn điều lệ tối thiểu của một ngân hàng thương mại Trong khi đó, số lượng

tổ chức tham gia BHTG ở nước ta năm 2012 là 1.182 tổ chức Vì vậy, nếu xảy ra rủi ro hệ thống, BHTG khó tránh khỏi nguy cơ mất khả năng thanh toán

Tổng phí bảo hiểm thu được trong năm là trên 2.057 tỷ đồng (tăng 27% so với năm 2011) với tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm khoảng 1,5 triệu tỷ đồng (so với năm 2011 là 1,1 triệu tỷ đồng) Tính chung, kể từ khi thành lập đến cuối năm 2012, tổng phí bảo hiểm thu được của BHTG đạt khoảng 8.131 tỷ đồng.

Trang 12

- Tại nước ta, Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ về BHTG và Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị định 89 có quy định: Tổ chức tham gia BHTG phải nộp phí BHTG theo mức 0,15%/năm tính trên số dư bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG.

Việc áp dụng mức phí đồng hạng trong giai đoạn đầu triển khai BHTG đã giúp tổ chức BHTG dễ dàng trong quản lý, dễ tính và thu phí Tuy nhiên, BHTGVN thành lập và đi vào hoạt động hơn 10 năm, nếu áp dụng mức phí đồng hạng trong một thời gian dài sẽ như một sự bao cấp cho những ngân hàng yếu kém, không tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hệ thống và dẫn đến một nghịch lý các ngân hàng gặp một số khó khăn về thanh khoản đã đẩy lãi suất huy động lên cao, đặt người gửi tiền vào rủi ro và có thể gây mất an toàn hệ thống ngân hàng Mặt khác, việc thu phí cố định và ở mức thấp trong khi lượng tiền gửi được bảo hiểm tăng nhanh làm giảm khả năng xử lý của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Điều này cũng trái với xu hướng trên thế giới, phí BHTG được áp dụng theo phân loại ngân hàng, ngân hàng nào hoạt động yếu kém và nguy cơ rủi ro lớn thì mức phí bảo hiểm sẽ cao hơn Hơn nữa, khi nền kinh tế chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, hội nhập khiến cho hệ thống tài chính ngân hàng phát triển mạnh mẽ, nhưng những tác động tiêu cực cũng sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn với mức độ rủi ro cao hơn Quá trình đó cũng tạo khoảng cách về rủi ro giữa các tổ chức tín dụng ngày càng lớn hơn

Một số khuyến nghị

Về mô hình hoạt động của tổ chức BHTG:

Theo Luật BHTG, tổ chức BHTG vẫn hoạt động theo mô hình chi trả với quyền lợi mở rộng, vẫn duy trì đầy đủ các chức năng thanh tra, giám sát như trước đây Tuy nhiên, cần nâng cao năng lực thanh tra, giám sát của BHTG trong thời gian tới như sau:

- Xây dựng nội dung và quy trình thanh tra, giám sát của BHTG đối với các tổ chức tham gia BHTG, vừa đảm bảo tính công khai minh bạch của công tác thanh kiểm tra, vừa hạn chế việc cán

bộ BHTG lạm dụng chức quyền tiếp cận thông tin nội bộ không phù hợp với công tác thanh tra, giám sát

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra, giám sát của BHTG để có đầy đủ kiến thức về các hoạt động ngân hàng, nghiệp vụ đánh giá rủi ro và qua đó đánh giá được chính xác thực trạng của từng ngân hàng đang tham gia bảo hiểm tiền gửi

Về hạn mức chi trả:

Hạn mức chi trả BHTG cần phải được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội

và tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng trong từng thời kỳ (trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009, một số nước trong khu vực Châu Á như Phillipines, Malaysia, Singapore, Hồng Kông đều đã sử dụng biện pháp tuyên bố đảm bảo toàn bộ tiền gửi (tức là không giới hạn)

Theo Hiệp hội BHTG quốc tế IADI, trong điều kiện kinh tế - xã hội bình thường, hạn mức chi trả BHTG thông thường gấp 4-5 lần GDP bình quân đầu người Theo dự kiến của Bộ Kế hoạch và đầu tư đến năm 2015, con số này đạt khoảng 2.100 USD, do đó hạn mức trách nhiệm của BHTG nước ta trong thời gian tới cần tăng lên khoảng 150-200 triệu đồng

Ngày đăng: 17/04/2015, 18:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành từ rất lâu trên thế giới. Hoạt động tài - Báo cáo nhóm đề tài: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Hình th ành từ rất lâu trên thế giới. Hoạt động tài (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w