Đặc biệt trong đại hội IX, nghị quyết TW 5 về “Đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010” đã nhấn mạnh “… Ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước có truyền thống nông nghệp lâu đời với 80%dân số làm nông nghiệp Vì thế, dù ờ thời kỳ nào, người nông dân, nông thôn
và kinh tế nông nghiệp cũng có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự pháttriển chung của đất nước như đời sống vật chất, đời sống tinh thần… Nhậnthức đúng đắn được tầm quan trọng này, trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước với mục tiêu là đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trởthành một nước công nghiệp Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến vấn
đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn Điềunày được thể hiện rất rõ trong một số chỉ thị, nghị quyết của một số Đại hội
VI, VII, VIII Đặc biệt trong đại hội IX, nghị quyết TW 5 về “Đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010”
đã nhấn mạnh “… Ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung sự chỉ đạo và tạo các nguồn lực cần thiết cho Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nụng thụng toàn diện, tiêu thụ nông sản háng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội, phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn, phân bố dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết công ăn, việc làm, xóa đụi, giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nụng thông mới”… Có thể khẳng định: Thiếu sự tham gia của nông dân thì quá trình công nghiệp hóa, hiện đạt hóa đất nước không bao giờ thành công.
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triểnnông thôn ở nước ta cho tới nay đã đạt được rất nhiều các thành tựu, tuy nhiêncũng nảy sinh rất nhiều vấn đề bất cập và hạn chế như vấn đề đất đai cho sảnxuất nông nghiệp, vấn đề ứng dụng các kỹ thuật hiện đại cho sản xuất, vấn đề
về bao tiêu sản phẩm…Và minh chứng rõ rệt nhất là mức sống và thu nhập.Thu nhập bình quân của những người thuần túy sản xuất nông nghiệp rất thấp
(tỷ lệ hộ nghèo theo số liệu năm 2008 là 3,7 triệu hộ chiếm 21,2% số hộ cả nước) Kéo theo đó là sự chênh lệch vô cùng rõ rệt mức sống giữa thành thị và nông thôn, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao (mức chênh lệch giữa nhóm
hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất năm 2008 là 8.5 lần trong khi năm 2004 chi ở mức 7.1 lần)
Trang 2Để có thực hiện tốt dược tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp và phát triển nông thôn, nhất thiết phải tìm nguyên nhân cựng cỏc biệnpháp phát huy những ưư điểm và khắc phục cho những hạn chế và bất cậptrên Ngoài những nguyên nhân khách quan, một trong những nguyên nhânchủ quan mà theo chúng tôi là hết sức quan trọng xuất phát từ bản thân ngườinông dân, đú chớnh là vấn đề về tư tưởng
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại nông nghiệp và phát triểnnông thôn vai trò của người nông dân càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
vỡ đõy chớnh là lực lượng lao động cơ bản - một trong những yếu tố quyếtđịnh đến sự thành công hay thất bại của tiến trình Mặt khác, do truyền thốnglâu đời, tâm lý người nông dân với những biểu hiện của thế giới tinh thần bêntrong như phẩm chất, thái độ, lý tưởng, động cơ, mục đích, giá trị, năng lực,nhu cầu và những phong tục tập quán, lối sống, nếp nghĩ đã được lưu truyền
từ đời này sang đời khác Vì vậy việc hiểu, nắm bắt được tâm lý người nôngdân chính là cách thức quan trọng để tìm ra được những giải pháp phù hợp,sáng tạo, năng động cho việc phát huy vai trò của họ trong tiến trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn Điều này cũnghoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trongvấn đề chăm lo phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sự phát triển toàndiện của đất nước
Nhận thức được tính cấp thiết của những vấn đề trên em đã chọn đề tài :
“Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của giai cấp nông dân Việt Nam trong hoạt động tuyên truyền giai đoạn hiện nay” Với đề tài này, em mong muốn sẽ
nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn về vai trò của người nông dân, về sự phát triển vàbiến đổi của tư tưởng người nông dân trong từng thời kỳ Từ việc ý thức đượcbiểu hiện cũng như ảnh hưởng về tâm lý của người nông dân trong tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay
đề tìm ra các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nâng caohơn nữa vai trò của người nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng, sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước nói chung
Trang 3B NỘI DUNG
CHƯƠNG I GIAI CẤP NÔNG DÂN VIậ́T NAM, CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÂM Lí
GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM
I Khái niệm giai cấp nông dân và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong lịch sử
1 Khái niệm giai cấp nông dân
- Khái niệm về nông dân: Nông dân là người lao động cư trú ở nông thôn sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành, nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai tùy theo từng thời kỳ lịch sử ở từng nước, có quyền sở hữu khác nhau vè ruộng đất Những người này hình thành nên giai cấp nông dân.
- Khái niệm giai cấp nông dân:
+ Theo Bách khoa toàn thư: Giai cấp nông dân là bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất
+ Vậy giai cấp nông dân là những người sống lâu đời ở nông thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính dưới hình thức tư hữu nhỏ Nông dân là lực lượng cách mạng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Có thể thấy giai cấp nông dân ở nước ta là lực lượng quan trọng, là lụclượng cơ bản cùng giai cấp công nhân hợp thành đội quân chủ lực của cáchmạng xã hội chủ nghĩa Đưa nông dân đi theo con đường cách mạng xã hội hủnghĩa là tạo ra một lực lượng chủ yếu trong cuộc cải tạo và xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta
2 Vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong lịch sử
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã từng khẳng định vai trò của quần chúngnông dân lao động là người quyết định, là người sáng tạo chân chính ra lịch sử
xã hội Ở nước ta , nụng dõn chiếm hơn 70% số dân cả nước - họ là một bộphận của dân cư, là lực lượng đông đảo trong quần chúng nhân dân lao động,
Trang 4là động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa và chính họ là người trực tiếp sảnxuất ra của cải nuôi sống xã hội.
Trong chế độ phong kiến, người nông dân là lực lượng sản xuất chính
và cũng là giai cấp cơ bản bị áp bức trong xã hội Vốn là những người sảnxuất nhỏ và bị hạn chế trong tầm nhìn hẹp của làng xã, họ thường thụ độngtrước các vấn đề xã hội và trước các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Là lựclượng sản xuất cơ bản của xã hội, song trước sau họ vẫn không thay đổi đượcphương thức sản xuất để hình thành một mô hình xã hội tiến bộ hơn Vì vậy,
họ không trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng mà chỉ có thể liên minh vớigiai cấp công nhân, tầng lớp trí thức và các giai tầng xã hội khỏc cựng giaicấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng giải phóng mình, giải phóng dân dộc
do giai cấp công nhân lãnh đạo
Ănghen viết: “Cỏc Đảng tư sản và phản động đều cự kỳ ngạc nhiên khi
thấy, ngày nay, đột nhiên những nước xã hội chủ nghĩa khắp nơi đều dặt vấn
đề nông dân vào chương trình nghị sự, đáng lẽ họ phải ngạc nhiên vì sao vấn
đề đó lại không được đặt ra từ lõu” (Mỏc-Ăngen tuyển tập, tập VI, trang 169)
Chủ nghĩa Mác - LờNin cho rằng: “Giai cấp nông dân muốn giành
thắng lợi trong cách mạng thì phải tập hợp được giai cấp nông dân, tranh thủ
họ, đoàn kết họ trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và các thế lực áp bức, bóc lột khỏc.”
Vận dụng quan điểm trên của chủ nghĩa Mỏc-LờNin vào hoàn cảnh cụ thể
nước ta, Đảng và Bác Hồ sớm nhận thấy: Nông dân là lực lượng cách mạng to
lớn, một người bạn đồng minh tự nhiên, tin cậy, trung thành của giai cấp công nhân Nông dân và công nhân là đội quân chủ lực của cách mạng “là gốc cách mệnh” Sau này, Bác tiếp tục khẳng định: “Nụng dân là một lực lượng to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp cụng nhõn.”
Trong quá trình tổng kết lãnh đạo cách mạng, Bác lại một lần nữa
khẳng định: “Trải qua các thời kỳ, Đảng ta đã nắm vững và quyết định đúng đắn vấn đề nông dân, củng cố được liên minh công nông Đảng ta đấu tranh chống xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” đánh giá thấp vai trò của nông dân là quân chủ lực của cách mạng, là bạn đồng minhchur yếu và tin cậy của giai cấp công nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựng xã hội chủ nghĩa.”
Trang 5Trên cơ sở đánh giá dúng vai trò của giai cấp nông dân, Đảng và Bác
Hồ luôn coi trọng công tác vận động nông dân đã sớm xây dựng được khốiliên minh công nông vững chắc và có những chủ trương chính sách thích hợp
để tạo nên những thành quả to lớn trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bảo
vệ xây dựng dất nước
Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân đã phát huy đượcnhững truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đã sớm hình thành những phẩm chấtmới của người nông dân trong cuộc cách mạng to lớn của dân tộc, thể hiện rất
rõ nét ở các anh hùng, chiến sĩ thi đua trên mắt trận nông nghiệp, đã đượctuyên dương qua từng chặng đường của đất nước
Và ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung;công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng, giai cấp nông dânngày càng có vai trò quan trọng hơn để góp phần vào việc thực hiện công cuộc đổimới, xây dựng một nước Việt Nam ngày một phát triển và giàu mạnh hơn
II Cơ sở hình thành tâm lý cơ bản của giai cấp nông dân Việt Nam
Tâm lý của mỗi cộng đồng giai cấp hay tầng lớp được hình thành trên cơ
sở hoạt động và giao tiếp trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội quy định phương thức hoạt động và giao tiếp của cộngđồng, tạo nên những đặc điểm riêng mang tính chất đặc trưng của họ
Nói đến giai cấp nông dân Việt Nam là nói tới một cộng đồng người đôngđảo, chiếm gần 80% dân số của cả nước, chuyên nghề nông và sống trong nhữnglàng xã trải dài khắp đất nước Tính chất tiểu nông, tự cung tự cấp của nền kinh
tế và tính chất khép kín trong làng xã của các mối quan hệ xã hội tồn tại lâu dàichính là những điều kiện kinh tế - xã hội quy định những hoạt động và giao tiếpcủa họ, tạo nên ở nông dân những đặc điểm tâm lý mang những nét đặc trưng
Tuy nhiên, kể từ Cách mạng tháng Tám thành công đến nay, cùng với sựthay đổi chung của đất nước, những điều kiện kinh tế - xã hội của nông dân cũng
đã có nhiều thay đổi Sản xuất nông nghiệp đã mất dần tính chất tự cung tự cấp,giao tiếp của người nông dân cũng đã mở rộng vượt ra khỏi luỹ tre làng, đã phongphú hơn, phức tạp hơn Khi những điều kiện kinh tế - xã hội đã thay đổi, tâm lý, ýthức của con người sớm muộn cũng sẽ thay đổi theo Tất nhiên sự thay đổi nàykhông phải sẽ diễn ra trong một sớm một chiều Bởi thế, trong tâm lý giai cấpnông dân hiện nay, cái mới và cái cũ đang còn đan xen nhau, tác động lẫn nhau
Trang 6Vì vậy, việc nghiên cứu tâm lý người nông dân hiện nay cần phải đứng trên quanđiểm vận động và phát triển.
1 Những điều kiện kinh tế - xã hội của nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám
1.1- Tính chất tiểu nông, tự cung tự cấp của nền kinh tế
Nông dân Việt Nam trước kia hầu hết là thuần nông, một số ít người cónghề thủ công mà với họ không có mấy ý nghĩa kinh tế Sản xuất của ngườinông dân thường chỉ xoay quanh việc giải quyết vấn đề lương thực mà hạt gạovẫn là lương thực chủ yếu Ngô, đỗ, khoai, sắn… chỉ được coi là hoa màu,dựng kốm hoặc thay cho phần gạo thiếu hụt Chăn nuôi cũng chưa được coi làsản xuất mà chỉ là công việc thêm cặp trong gia đình Sản phẩm của nó mộtphần được bán đi để lấy tiền mua về những nhu yếu phẩm không tự sản xuấtđược như dầu, vải, mắm muối và những vật dụng khác; một phần được dùngtrong gia đình vào những ngày lễ tết, giỗ chạp, cưới xin, ma chay
Sản xuất của nông dân dù là nông nghiệp thuần tuý hay cú thờm nghềthủ công, dù canh tác trên ruộng công hay ruộng tư cũng đều được tiến hànhtrong quy mô nhỏ bé của từng gia đình và trong khuôn khổ hạn hẹp của làng
xã Những đơn vị sản xuất này độc lập với nhau, tự giải quyết mọi công việc,
từ khâu đầu đến khâu cuối Trừ những công việc lớn có liên quan đến sản xuấtchung như đắp đê, đào mương chống lụt, chống hạn mới cần tập trung sức lựccủa mọi gia đình, còn nói chung “cơm nà ai nhà nấy ăn, việc nhà ai nhà nấylàm” không ai phụ thuộc vào ai Mối quan hệ giữa những người trong làng vềsản xuất thường là quan hệ tương trợ, đổi công Trong mỗi làng chỉ có vài ba
hộ giàu có, nhiều ruộng cần thuê mướn nhân công, còn nói chung việc sảnxuất trong mỗi gia đình đều trông cậy vào công sức của tất cả các thành viêncủa nó; đàn ông cũng như đàn bà, người già cũng như người trẻ, mỗi ngườiđều có công việc cụ thể, thích hợp
Dân số đông, gia đình nào cũng làm nông nghiệp, ruộng đất chia ramanh mún Sản xuất với công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao độngthấp nên người nông dân chưa bao giờ hết lo thiếu đói Một mặt, họ phải tíchcực sản xuất để tự thoả mãn những nhu cầu vật chất cơ bản nhất của đời sống,mặt khác, lại phải cố gắng giới hạn những nhu cầu của mình trong khuôn khổnhững gì có thể tự sản xuất được Về ăn thỡ lỳa, ngụ, khoai, sắn ngoài đồng;rau dưa, hoa quả trong vườn, mùa nào thức nấy; gà lợn nuôi trong chuồng; cá
Trang 7thả dưới ao, tôm cua bắt được ngoài đầm, ngoài ruộng, cốt đảm bảo nhữngbữa ăn hàng ngày Về ở, nhà cửa trong làng cũng được làm bằng rơm, rạ, tre,nứa hay cho dù là gạch, ngói chăng nữa cũng là những vật liệu có sẵn Nhìnchung, nông dân không có nhiều thứ để bán và cũng cú ớt thứ có thể mua.Việc mua bán chỉ diễn ra ở chợ làng, một tháng vài ba phiên với những câykim, sợi chỉ, bao diêm, gói thuốc, mắm muối, dầu đèn do những người tiểuthương ở nơi khác mang đến Vài ba tháng, họ mới có dịp ra chợ huyện haylên tỉnh để bán những sản phẩm làm ra được và mua những thức cần thiếtkhông có ở chợ làng Những sản phẩm được người nông dân bán ra, nhìnchung còn mang tính chất tự nhiên và nói lên một trình độ phát triển còn thấpcủa nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta trước kia Nền kinh tế tiểu nông tựcung tự cấp đã hạn chế sự hoạt động đa dạng và sự giao lưu rộng mở củangười nông dân, đó là điều kiện cho sự đồng nhất hoá, tạo nên cái chung vàcái đặc trưng của tâm lý giai cấp nông dân.
1.2 Tính chất biệt lập và khép kín của môi trường
Mọi người nông dân đều sống trong các làng mạc Nhìn về mặt địa thế,mỗi làng giống như một ốc đảo nổi lên giữa những cánh đồng mênh mông,được bao bọc kín bởi những luỹ tre dày đặc Mọi sinh hoạt đều diễn ra bêntrong luỹ tre đó Phương tiện đi lại không có gì ngoài đụi chõn Đường sákhông được mở mang, thường chỉ là những con đường đất nhỏ, mưa lầy nắngbụi Người nông dân ít có điều kiên giao lưu với bên ngoài
Mỗi làng như một vương quốc với một vùng lãnh thổ bao gồm cả diệntích thổ cư và toàn bộ ruộng công, ruộng tư, ruộng chùa, ruộng hậu, hồ ao,đầm bãi, đồi gò quanh làng, cũng như tất cả các công trình công cộng nhưđỡnh chựa, miếu mạo, cầu quan, đường xá và dân làng đã tự xây dựng nên
Cư dân trong làng đều là những người có gốc gác lâu đời ở làng Nhữngngười ở nơi khác đến cư trú được coi là “dõn ngụ cư” - một cái tờn đượm màukhinh mạn - và cũng không được tham gia vào các tổ chức của làng Cả nhànước phong kiến tồn tại lâu đời lẫn chính quyền thực dân đều không tới làng
xã Mỗi làng là một cộng đồng tự quản với một bộ máy điều hành bao gồm hộiđồng làng xã và các chức dịch đều là người trong làng Cả làng đều phải thamgia đóng góp tiền của và sức lực vào các công việc chung, không có sự canthiệp và đầu tư của nhà nước Ngoài ra, trong làng cũng tồn tại những tổ chức
Trang 8“phi chính quyền” như giỏp, xúm, phường, hội mà ở đó, mỗi cá nhân có thể tìmthấy một vị thế nào đó để khẳng định vai trò của mình trong cộng đồng.
Mỗi làng tự đặt ra những “lệ”, những “khoản ước” riêng mà tất cả mọingười phải tuân theo gọi là “hương ước” Hương ước của làng không giốngnhau về các điều khoản cụ thể, nhưng nhìn chung, nội dung của nó đều khẳngđịnh tính chất độc lập và riêng biệt của mỗi làng Nó xác định địa giới của làngvới diện tích công điền, công thổ Nó quy định những nghĩa vụ của người làngđối với công việc chung Một phần quan trọng của hương ước làng dành chonhững quy định về phép tắc ứng xử trong các mối quan hệ làng xã như lànhững chuẩn mực đạo đức và pháp lý riêng của làng mà mọi vi phạm đều bịđưa ra xét xử, phạt vạ và bị dư luận làng lên án Trong điều kiện biệt lập củacác làng, hương ước là công cụ điều tiết mọi hành vi của cá nhân, giữ vữngđược các mối quan hệ, duy trì được sự ổn định của làng Nhiều hương ước đãvượt lên trên cả hệ thống pháp luật của nhà nước “Phộp vua thua lệ làng” lànhư vậy
Tính chất khép kín của làng xã Việt Nam còn được biểu hiện trong cácsinh hoạt văn hoá tinh thần của các làng Mỗi làng tôn thờ một vị “thành hoàng”,
vị thần bảo trợ cho sự yên vui, thịnh vượng của riêng cộng đồng làng mình Vìthế, “trống làng nào làng ấy đỏnh, thỏnh làng nào làng ấy thờ” Không có trườnghợp hai làng gần nhau cùng thờ một vị thần làm “Thành hoàng làng”
“Thành hoàng” được thờ ở đình làng, một công trình kiến trúc to rộngnhất làng, một nơi tôn nghiêm mà khi đi qua mọi người phải “xuống ngựa, bỏnún”, một biểu trưng cho tinh thần độc lập, tự tôn của làng Xâm phạm tới đình
là xâm phạm tới lòng tự tôn của cả cộng đồng Đình làng cũng là nơi diễn ranhững cuộc tế lễ, các ngày hội hè, các phiên họp “việc làng” và các sinh hoạt vănhoá tinh thần khác của làng Lễ hội và các sinh hoạt văn hoá tinh thần của làngđều khuôn trong phạm vi nội bộ làng, là nơi ôn lại truyền thống, nơi giao lưu tìnhcảm, củng cố tinh thần cố kết của cộng đồng làng
Nói tóm lại, tính chất tiểu nông, tự cung tự cấp của nền kinh tế và tínhchất biệt lập, khép kín các mối quan hệ là những điều kiện cơ bản đã quy địnhnên những phương thức hoạt động và giao tiếp của người nông dân, qua đó,hình thành những đặc điểm chung mang tính chất đặc thù trong tâm lý củangười nông dân trước kia
Trang 92 Sự biến đổi của những điều kiện kinh tế- xã hội sau Cách mạng tháng Tám
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sửđất nước Tiếp đến, cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài tròn 30 năm; công cuộcxây dựng kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp mới đi qua chưa lâuđến công cuộc đổi mới theo cơ chế thị trường hôm nay, tất cả đều đòi hỏi, quyđịnh những phương thức hoạt động và giao tiếp thích hợp với chúng Sự biếnđổi về tâm lý là kết quả tất yếu của những biến đổi xã hội đó Sự biến đổi củatâm lý nông dân cũng không nằm ngoài những biến đổi to lớn của đất nước
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, một hệ thống chính quyềnmới từ trung ương đến các làng xã được thành lập Làng xã từ nay không còn
là những điền vị tự quản mà nằm trong sự quản lý và chỉ đạo thống nhất từtrên xuống Nó mất đi tính biệt lập vốn đã tồn tại hàng bao nhiêu năm Mộtluồng sinh khí mới của cách mạng, của chính thể mới thổi vào các làng xã vốnxưa nay trầm lặng, làm bùng lên những phong trào hoạt động mới mẻ, sôi nổicủa những người nông dân Bên cạnh phong trào tăng gia sản xuất, hàng loạtcác hoạt động của các tổ chức mới được thành lập thu hút mọi người tham gia.Thanh thiếu niên, phụ nữ, phụ lão, dân quân tự vệ… với các buổi sinh hoạt vàtập luyện đầy khí thế cách mạng Phong trào xoá nạn mù chữ đã không chỉthắp sáng lên những ngọn đèn dầu của các lớp “bỡnh dõn học vụ” đêm đêm
mà còn khơi dậy ở mỗi người thuộc mọi lứa tuổi tinh thần ham hiểu biết, lòngmong muốn nâng cao dân trí để xứng đáng là người dân của một nước độclập Các thông tin về nhiều lĩnh vực từ bên ngoài dội vào làng xã qua các độithông tin, tuyên truyền, văn nghệ và các buổi sinh hoạt đoàn thể đã khiến chotầm nhìn của người nông dân vượt ra khỏi luỹ tre làng, bước đầu hoà nhậpđược vào bầu không khí chung của đất nước
Trong suốt hai cuộc kháng chiến, làng xã là nơi đón tiếp người ở cỏcvựng cú chiến sự, cỏc vựng bị tạm chiếm tản cư về, là nơi đóng quân của bộđội, là hậu phương cung cấp người và của cho tiền tuyến Hoạt động củanhững người nông dân không còn bó hẹp trong công việc đồng áng hay “việclàng” mà là tham gia vào các công việc chung quan trọng của đất nước, “quốcgia đại sự”: đánh giặc giữ làng, tiếp tế cho bội đội, đi dân công hoả tuyến,tham gia bộ đội… Nhiều nông dân đã thoát ly khỏi làng mình, đi đây đi đó,sống hoà trộn cùng với “người thiên hạ” Kháng chiến trường kỳ, hoạt động
Trang 10của những người nông dân càng phong phú đa dạng, giao tiếp của họ ngàycàng mở rộng phạm vi.
Nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp tuy không đem lạinhững kết qủa như mong muốn chủ quan, có những tác động tiêu cực vào đờisống kinh tế, văn hoá cũng như đối với tâm lý của mọi người, nhưng khôngphải là không tạo nên những thay đổi mang tính chất tích cực đối với làng xãxưa kia Đồng ruộng được quy hoạch và cải tạo, hệ thống mương máng đượcđào đắp, mạng lưới đường xá được xây dựng, công cụ sản xuất được khuyếnkhích cải tiến, kỹ thuật mới được tìm tòi, phổ biến và áp dụng, sự phát triểncủa giáo dục, của y tế, của công tác tuyên truyền, thông tin, văn hoá, văn nghệcũng tạo nên những tiền đề cho sự biến đổi về nếp nghĩ của những người nôngdân Bởi thế, trong qỳa trỡnh chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chếmới, tâm lý người nông dân đã kịp thời có những biến đổi mạnh mẽ
Trong những tâm lý người nông dân hiện nay trước yêu cầu của côngcuộc đổi mới đó cú những biến đổi tích cực phù hợp với những nhiệm vụ màĐảng đã đề ra, nhưng cũng không phải là không xen lẫn những biến đổi tiêucực nảy sinh trong nền kinh tế thị trường Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm hiểuthực trạng của những biến đổi ấy để có những biện pháp đúng đắn, nhiều mặt
có tính chất định hướng, phát huy được những yếu tố tích cực, hạn chế và xoá
bỏ những yếu tố tiêu cực trong tâm lý người nông dân, tạo nên được một độnglực tinh thần mạnh mẽ trong công cuộc thực hiện “cụng nghiệp hoá, hiện đạihoỏ” nền nông nghiệp nước ta
CHƯƠNG II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG TRONG
CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
Nền nông nghiệp với những điều kiện kinh tế - xã hội lạc hậu như đãnói ở trên tồn tại quá lâu ở nước ta đã hình thành trong tâm lý người nông dânnhững đặc điểm ổn định, bền vững mang tính chất truyền thống, chứa đựng cảyếu tố tích cực lẫn tiêu cực Từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, tâm lýngười nông dân đã có nhiều biến đổi Tuy nhiên, tâm lý xã hội, ý thức xã hộibao giờ cũng biến đổi chậm hơn so với sự tồn tại xã hội Để nhận thức đúng
Trang 11được tâm lý nông dân hôm nay, cần phải xem xét nó trong sự biến đổi ấy.Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản.
1 Đặc điểm nhậ́n thức của người nông dân
1.1 Bước đầu hình thành tư duy “sản xuất hàng hoỏ”
Trong điều kiện của một nền nông nghiệp lạc hậu và một xã hội khép kínnhững người nông dân xưa chỉ chuyên tâm sản xuất ra những gì thoả mãn đượcnhững nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của chính mình Gia đình họ cũng thấyphải có một mảnh ruộng trồng lúa, một mảnh vườn trồng rau để đảm bảo cái ănhàng ngày; phải có một bụi tre, vài cây lấy gỗ để cung cấp vật liệu tạo nên những
đồ gia dụng; phải nuôi lấy vài con gà, con vịt hoặc cao hơn là con lợn… dànhcho khi giỗ, ngày tết Nói chung người ta thấy cần cái gì thì cố gắng tạo nên cáinấy Nếp suy nghĩ về sản xuất chỉ quẩn quanh trong vòng tự cung, tự cấp hoàntoàn dựa vào điều kiện tự nhiên và sức lực của con người Người nông dân chưa
có thói quen suy nghĩ, tính toán để lao động đem lại hiệu quả cao nhất
Từ khi có chính sách khoán, người nông dân như được cởi trói, sức laođộng được giải phóng đã nâng cao được năng suất lúa Đặc biệt, hàng loạt chủtrương, chính sách đối với nông thôn, nông nghiệp như chuyển dịch cơ cấukinh tế, phát triển ngành nghề, hỗ trợ về vốn, vật tư kỹ thuật, cải tiến cơ cở hạtầng, đẩy mạnh việc áp dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sảnxuất nông nghiệp đã làm cho nếp suy nghĩ cũ dần thay đổi Người nông dânkhông chỉ chuyên canh lúa mà tuỳ theo những đặc điểm riêng của từng địaphương đưa chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây ănquả… thành những nghề chính Những nghề truyền thống bắt đầu được pháttriển ở nông thôn Người nông dân đó cú thu nhập do hàng hoá họ bán được
Họ đã bắt đầu tham gia vào nền kinh tế hàng hoá, vào hoạt động kinh doanh.Kinh doanh phải tính tới vốn, tới lãi, tới giá cả, tới chất lượng sản phẩm, tớicạnh tranh… và biết bao vấn đề phức tạp nữa để duy trì và phát triển sản xuất.Như vậy, trong hoạt động sản xuất, với những điều kiện khác nhau, tư duy củangười nông dân đang chuyển dần từ tư duy “tự cung, tự cấp” sang tư duy “sảnxuất hàng hoỏ”, dự hàng hoá đó là sản phẩm tiểu thủ công hay sản phẩm nôngnghiệp Tư duy ấy được nảy sinh trong điều kiện nhu cầu đã phát triển và tăngtrưởng sản xuất Đó là một biến đổi lớn trong tâm lý, có ý nghĩa lớn đối với sựphát triển của nông thôn ta vốn bao năm trì trệ
Trang 12Mức độ biến đổi này tuỳ thuộc vào những điều kiện hiện hữu của từngvùng, từng địa phương Tình hình ấy đã tạo nên sự khác biệt trong quá trìnhphát triển của cỏc vựng, cỏc địa phương về mọi mặt Bởi vậy, tạo nên nhữngđiều kiện khách quan cần thiết để thúc đẩy sự biến đổi mạnh mẽ trong tâm lý,
ý thức con người để từ đó có tác động lại đối với hiện thực là nhiệm vụ quantrọng trong công cuộc đổi mới nông thôn ngày nay Đú chớnh là quan hệ biểuhiện giữa tâm lý, ý thức con người và tồn tại khách quan
1.2 Bước đầu phát triển tư duy lý tính, khoa học
Trong điều kiện của nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp tồn tại lâu dài,lao động sản xuất chủ yếu dựa vào sức lực của con người, công cụ thô sơ vànhững kinh nghiệm cảm tính được tích luỹ và truyền thụ từ thế hệ này qua thế
hệ khác một cách trực tiếp thông qua hành động thực tiễn thì sự hoạt động của
tư duy thiên về cảm tính, cụ thể Tình trạng thấp kém của nền dân trí mà chế
độ cũ cố tình duy trì ở các làng xã đã kìm hãm sự phát triển trí tuệ của nôngdân Bởi thế, trong sản xuất cũng như trong đời sống, người ta khen ngợi tínhcần cù, tần tảo của người phụ nữ, coi trọng sức khoẻ của những lực điền và đềcao kinh nghiệm của các bậc lóo nụng Mọi công việc cứ diễn ra theo nhữngtập quán cố hữu khó thay đổi Đã có một thời gian dài, mọi cố gắng ứng dụngkhoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, khôngvượt qua nổi sức cản của hàng rào tâm lý cũ, dù chỉ là những cải tiến nhỏtrong thao tác
Sản xuất hàng hoá luôn luôn đòi hỏi sự suy nghĩ, tính toán, giải đápkhúc triết hàng loạt vấn đề như một luận chứng kinh tế: sản xuất ra sản phẩm
gì, khả năng tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu, nguồn vốn đầu tư, quy trình côngnghệ, kỹ thuật sản xuất, tiếp thị, lợi nhuận thu được… Tất cả hợp thành mộtchuỗi những khâu liên hoàn mà bất cứ một khâu nào không được giải quyết,sản xuất sẽ ngưng trệ dẫn đến thất bại Đối với một bộ phận lớn nông dân sựtham gia tích cực của trí tuệ, của quá trình tư duy đã trở thành một yêu cầucủa sản xuất hiện nay Sức khoẻ, tính cần cù, thói quan lao động chân tay vàkinh nghiệm xưa kia thường được coi là những phẩm chất hàng đầu của ngườinông dân, nay không còn được xếp ở thứ bậc cao Theo dõi trên nhữngphương tiện thông tin đại chúng những tin tức về tình hình sản xuất ở khu vựcnông thôn, các báo cáo về tình hinh kinh tế của các địa phương và qua quansát có thể thấy:
Trang 13- Dựa trên sự tính toán cặn kẽ, đa số nông dân đã biết căn cứ vào sựphân tích tính chất đất để trồng trọt những loại cây thích hợp, thay vào truyềnthống độc canh cây lúa Nhiều người biết khai thác những điều kiện địa lý củađịa phương mình, của vựng mỡnh như rừng, nỳi, sụng, hồ để phát triển cácloại cây trồng, vật nuôi, hình thành ngành nghề Trồng rừng, trồng cây côngnghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia cầm, gia súc đã dần dầntrở thành nghề chính của nhiều gia đình, nhiều làng.
- Trong sản xuất, ngay cả trong nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật ngàycàng được coi trọng và vận dụng sâu rộng Mọi người đều đã nói đến độ P.Hcủa đất, biết sử dụng một cách thích hợp phân lân, phân đạm, am hiểu quátrình sinh trưởng của các loại sâu bệnh và diệt trừ bằng phương pháp khoa họctheo sự hướng dẫn của các cơ quan bảo vệ thực vật, nắm vững đặc điểm củacác loại gia súc, gia cầm và những phương pháp chăn nuôi thích hợp
- Trong các gia đình đó cú những công cụ cải tiến, các loại máy mócnhỏ Người sản xuất đã đọc các loại sách khoa học - kỹ thuật, luôn luôn theodõi các chương trình nông nghiệp của đài phát thanh, chương trình khuyếnnông của đài truyền hình và các chương trình phổ biến khoa học kỹ thuật cóliên quan đến sản xuất
Coi trọng và bước đầu biết tính toán trong làm ăn, coi trọng khoa học
-kỹ thuật, biết áp dụng những tri thức khoa học - -kỹ thuật trong sản xuất là biểuhiện của sự biến đổi trong nếp tư duy: tư duy lý tính - khoa học bước đầu có
sự phát triển
Chính vì thế mà nhiều nông phẩm hiện nay đã trở thành hàng hoá cungcấp cho thị trường Chỉ riêng về sản xuất lúa gạo, dù diện trồng lúa có phầnthu hẹp, nhân lực bị chia sử nhưng năng suất vẫn tăng nhờ áp dụng nhữngbiện pháp kỹ thuật mới Đất nước từ chỗ phải nhập khẩu gạo đã trở thành mộtnước xuất khẩu gạo đứng thứ nhì, thứ ba thế giới, bước tiến đó cũng có phầncủa sự đổi mới tư duy ở người nông dân
1.3 Sự thay đổi định kiến giàu nghèo
Cùng với tính “an phận thủ thường”, tư tưởng “bỡnh quân chủ nghĩa”,định kiến sai lầm về giàu - nghèo là hiện tượng tâm lý xã hội đã tồn tại trên cơ
sở nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp của làng xã xưa
Công cuộc đổi mới với mục tiêu “dõn giàu, nước mạnh, xã hội công