1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn Hình thức chuyển tải thông tin tiêu biểu trên báo Tết

84 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 358,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do trình độ còn hạnchế, lại tiến hành trong thời gian ngắn, trong khuôn khổ có hạn của một khoáluận tốt nghiệp, người viết xin đi vào nghiên cứu một số yếu tố nội dung và hình thức tiêu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Dân tộc Việt Nam có một nền văn hoá lâu đời và quý báu Đó lànhững giá trị tư tưởng, đạo đức, các công trình kiến trúc, các tác phẩm vănhọc nghệ thuật, những phong tục tập quán, lễ hội đã được hình thành trongsuốt mấy nghìn năm lịch sử Trong đó, các phong tục cổ truyền mang đậm nétbản sắc của từng vùng, miền cũng như của toàn dân tộc Việt Nam Mét trongnhững phong tục thiêng liêng nhất, gần gũi nhất đối với mỗi người Việt Namvẫn tồn tại đến ngày nay, là Tết Nguyên đán cổ truyền

Việt Nam là nước phương Đông có nền văn minh lúa nước lâu đời.Công việc đồng áng vất vả suốt năm, chỉ khi mùa xuân về, cũng là lúc côngviệc đã xong xuôi Tết Nguyên đán là dịp để nghỉ ngơi, gia đình sum họp, concháu tưởng nhớ về ông bà, tổ tiên Người ta quên đi những lo lắng thườngngày để hưởng trọn niềm vui trong những ngày Tết và mong một năm mới tốtđẹp Tết Nguyên đán là cái Tết mở đầu cho năm mới, có ý nghĩa thiêng liêngtrong tâm thức mỗi người Việt Nam

Là mét Ên phẩm xuất bản định kỳ, nhằm chuyển tải tất cả các thôngtin từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, xã hội đến người đọc, báo chí đã và đangphát huy vai trò của mình trong đời sống tinh thần của xã hội Đã thành thông

lệ, cứ vào dịp Tết hằng năm, các báo, tạp chí đều cho ra những số chuyên san,đặc san về Tết Nguyên đán Số báo này được chuẩn bị rất công phu, lựa chọnbài vở kỹ càng từ hàng tháng trước nên chất lượng cao Báo Tết, về nội dung

và hình thức đều có những nét khác biệt đáng kể so với những số báo thườngngày Báo Tết còn được trưng bày, triển lãm tại Hội Báo Xuân, một sinh hoạtvăn hoá đã trở thành thường niên mỗi dịp Tết đến Báo Tết dần dần đã trởthành món quà Tết, quà xuân đầy ý nghĩa cho mọi nhà

Báo Tết có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần, song

từ trước đến nay hầu như chưa có một công trình khoa học đi sâu nghiên cứu,

Trang 2

về nã Một số bài viết về báo Tết đăng trên tạp chí Người làm báo, báo Nhà báo và công luận chỉ mang tính chất giới thiệu, chưa đi sâu tìm hiểu cả về

nội dung lẫn hình thức của báo Tết, rót ra đặc trưng, bản sắc riêng của báo Tết

so với các số báo thường ngày Trong Khoa Báo chí có duy nhất một khoáluận tốt nghiệp tìm hiểu về báo Tết, song mới chỉ dừng lại ở mảng đề tài

“Phong tục cổ truyền trên báo Tết”

Sở dĩ người viết chọn đề tài: “Nội dung và hình thức chuyển tải thôngtin trên báo Tết” vì báo Tết là số báo khá độc đáo của báo chí Việt Nam màbáo chí các nước trên thế giới hầu như không có Mặt khác, chọn đề tài này,tác giả có điều kiện đi sâu khảo sát, tìm ra những đặc trưng, bản sắc riêng củabáo Tết mà các số báo thường không có được, thấy được ưu điểm và hạn chếcủa báo Tết Hơn nữa đây là dịp để người viết vận dụng những kiến thức lýluận báo chí đã học để khảo sát nội dung và hình thức của báo Tết, nhằm cónhững so sánh, đánh giá, từ đó rót ra kết luận Tất cả những điều Êy là bài họcthực tiễn quý giá, giúp Ých cho việc rèn nghề, chuẩn bị cho tương lai

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

Đi sâu nghiên cứu tất cả các yếu tố nội dung và hình thức thể hiệntrên báo Tết là một công việc lý thú nhưng rất khó khăn Do trình độ còn hạnchế, lại tiến hành trong thời gian ngắn, trong khuôn khổ có hạn của một khoáluận tốt nghiệp, người viết xin đi vào nghiên cứu một số yếu tố nội dung và

hình thức tiêu biểu trên các tờ báo Tết: Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam, Giáo dục và Thời đại, Nông thôn ngày nay, Hà Nội mới

và Bắc Ninh các năm 1999, 2000, 2001 Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo

thêm các số báo Tết của vài năm trước đó, và một số tờ báo khác để giúp choviệc so sánh, đối chiếu và đánh giá

Giới hạn đề tài như vậy, may ra người viết cũng mới chỉ bước đầutiếp cận những đặc điểm sơ lược về nội dung và hình thức chuyển tải thôngtin trên báo Tết Cụ thể, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu về các nội dung thông tin:chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá - thể thao cùng với một số thể loại chủ yếu

Trang 3

và các yếu tố ma-két tiêu biểu để chuyển tải nội dung thông tin trong các sốbáo Tết nói trên

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

3.1 Mục đích:

Đi sâu nghiên cứu đặc điểm về nội dung và hình thức của báo Tết, cốgắng đưa ra một cái nhìn tổng quát về báo Tết, qua đó rót ra được những nétđặc trưng, kể cả những ưu nhược điểm và bản sắc riêng của từng tờ báo Mặtkhác, qua đề tài nghiên cứu tác giả cố gắng rót ra một số kinh nghiệm nhằm

áp dụng vào thực tiễn làm và trình bày báo Tết

3.2 Nhiệm vô:

- Sưu tầm, phân loại, khảo sát, phân tích nội dung của các bài viết trên

8 tờ báo: Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam, Giáo dục và Thời đại, Nông thôn ngày nay, Hà Nội mới và Bắc Ninh số Tết 1999, 2000,

2001

- Tìm hiểu những đặc điểm nội dung khu biệt của các tờ báo khảo sát.

- Tìm hiểu hình thức chuyển tải thông tin của các bài báo đó, chỉ ra

phong cách, bản sắc riêng của từng tờ báo trong hình thức chuyển tải thôngtin

- Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của các tờ báo Tết khảo sát,

dựa trên những kiến thức báo chí đã học, đề xuất một số ý kiến trong việc thểhiện nội dung và hình thức các bài viết trên số báo Tết

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Vận dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp chọn lọc, thống kê; phương phápquy nạp, diễn dịch và ngược lại; phương pháp so sánh, đối chiếu

5 CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần chính của khoá luận chia làm 3chương:

Trang 4

Chương 1: Vai trò, ý nghĩa của báo chí nói chung và báo Tết nói riêng trong đời sống văn hoá tinh thần.

Chương này chủ yếu là phần dẫn luận về Tết Nguyên đán, và cácphong tục, lễ hội trong ngày Tết, về vai trò của báo chí nói chung, ý nghĩa củabáo Tết nói riêng trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc ta

Chương 2: Nội dung thông tin chủ yếu trên báo Tết.

Qua việc sưu tầm, thống kê, phân loại bài viết trên các báo: Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam, Giáo dục và Thời đại, Nông thôn ngày nay, Hà Nội mới và Bắc Ninh số Tết 1999, 2000, 2001, người viết

cố gắng đưa ra bức tranh tổng quát về những nội dung thông tin chủ yếu trênbáo Tết, đồng thời thấy được những đặc điểm nội dung khu biệt của các tờbáo Tết được khảo sát

Chương 3: Hình thức chuyển tải thông tin tiêu biểu trên báo Tết.

Chương này đi sâu phân tích các thể loại chủ yếu được sử dụng trongcác bài viết, các yếu tố ma-két tiêu biểu của 8 tờ báo Tết Từ đó, cố gắng đưa

ra phong cách, bản sắc riêng của mỗi tờ báo trong hình thức chuyển tải thôngtin

Trang 5

Hiện thực được tái hiện trên báo chí phải là một hiện thực sôi động, tiêubiểu và luôn luôn đổi mới, những điều vừa xảy ra, đang xảy ra và chắc chắn

sẽ xảy ra Tuy nhiên không vì thế mà hiện thực được phản ánh trên báo chí

chỉ có ý nghĩa và giá trị thông tin tức thời “Khi cuộc đời không lặp lại, sự

kiện không tự nảy sinh hai lần thì tác phẩm nào miêu tả được chân thực nhất, sinh động nhất cái thời điểm thiên tải nhất thì và hiện tượng có một không hai

sẽ trở thành bất tử” [14; 80] Nhiều bài báo do đề cập tới những vấn đề thực

sự tiêu biểu, điển hình của đời sống, lại được thể hiện dưới ngòi bút của cácnhà báo tài năng, nên có sức sống lâu bền Tác phẩm của các nhà báo nổitiếng trong lịch sử báo chí Việt Nam như: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, TamLang, Trường Chinh, Hồng Hà, Thép Mới và những nhà báo nước ngoài có

Trang 6

tên tuổi như Giôn-rit, Bớc-sét, B Pô-lê-vôi, I Ê-ren-bua vẫn còn nguyêngiá trị cho tới ngày nay

Có thể nói báo chí là phương tiện thông tin đại chúng quan trọng và thiết

yếu đối với đời sống xã hội “nó từng ngày, từng giờ đi vào mỗi gia đình, thôn

xóm, phố phường như là một người bạn, người đồng chí, người cố vấn, người đưa đường chỉ lối cho mỗi người bất kể già trẻ, lớn bé trong cuộc sống thường nhật cũng như giữa những biến cố lớn lao của đất nước và thế giới”

[19; 7] Báo chí là loại hình hoạt động thông tin mang tính chính trị, xã hội.Báo chí bao giờ cũng là công cụ, phương tiện, vũ khí sắc bén của một giaicấp, để truyền bá tư tưởng, bảo vệ lợi Ých và duy trì địa vị thống trị của chế

độ trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Các lãnh tụ cách mạng, các nhàkinh điển như Các Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh đồng thời là nhữngnhà báo lỗi lạc Họ đã sử dụng báo chí như một vũ khí đấu tranh sắc bén Báochí là phương tiện thông tin phản ánh, bình luận, giải thích một cách nhanhchóng, rộng rãi, hiệu quả nhất cho công chúng về tất cả các sự kiện, hiệntượng, quá trình, con người xảy ra hàng ngày trong nước và trên thế giới Báochí cũng là công cụ tạo dựng và định hướng dư luận xã hội một cách mạnh

mẽ và hiệu quả nhất Sự hình thành, tồn tại và phát triển của báo chí suốt hơnbốn thế kỷ qua đã khẳng định báo chí có một vai trò, vị trí hết sức to lớn trongđời sống xã hội

Báo chí Việt Nam mặc dù ra đời muộn hơn so với thế giới nhưng cónhững bước phát triển nhanh chóng, không ngừng lớn mạnh cùng với sựnghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc, đóng góp xứng đáng vào

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hiện nay, nước ta có gần 500 cơ quanbáo chí, xuất bản với khoảng 600 triệu Ên phẩm, bao gồm nhật báo, báo thưa

kỳ, tạp chí, bản tin Mặt khác, việc phát hành báo chí đã không ngừng mở

rộng phạm vi và quy mô Các tờ báo có tính chất toàn quốc như Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam ngày càng có mặt đều khắp các

địa phương trong cả nước một cách nhanh chóng hơn nhờ sự phát triển của kỹ

Trang 7

thuật truyền báo, điều kiện giao thông vận tải Cùng với những thành tựubước đầu rất quan trọng của nước ta trong sự nghiệp đổi mới, báo chí cũng tựđổi mới và phát triển cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức,góp phần giữ gìn sự ổn định chính trị, thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triểntoàn diện.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, Đảng, Nhà nước ta luôn đánh giácao vai trò to lớn của báo chí Trong bài phát biểu tại Hội nghị báo chí - xuấtbản toàn quốc tại Hà Nội (22 - 24/8/1997), Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:

“Báo chí - xuất bản đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp nâng cao dân trí,

bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc , thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò diễn đàn của nhân dân, góp phần tăng cường ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của toàn xã hội” [5; 1-3].

Trước hết, báo chí có vai trò rất to lớn trong việc đảm bảo định hướng tư

tưởng, góp phần giữ gìn ổn định chính trị xã hội Có thể nói đây là tráchnhiệm quan trọng, sống còn của nền báo chí chúng ta Ngày nay, để xây dựng,phát triển đất nước, thì ngoài vốn, công nghệ và lao động ra, sự ổn định chínhtrị - xã hội là một điều kiện tất yếu

Báo chí là một nhân tố, một phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớntrong việc hướng dẫn nhận thức, hình thành dư luận xã hội tích cực Dư luận

xã hội tích cực là tiền đề quan trọng cho trạng thái chính trị - xã hội ổn định.Khi báo chí tự đánh mất niềm tin, đánh mất định hướng chính trị, trở thànhlực lượng tiêu cực, nó sẽ là lực cản phá hoại ghê gớm đối với sự ổn định củachế độ Hàng ngày, hàng giờ, từng tờ báo, tạp chí tác động vào tâm thức conngười Những thông tin lặp đi lặp lại liên tục sẽ ngấm ngầm điều chỉnh hoặchình thành những hành vi của các thành viên xã hội Đẩy những hành vi Êy đitheo hướng nào, tích cực hay tiêu cực là tuỳ thuộc vào liều lượng, quy mô,tính chất của dòng thông tin mà báo chí cung cấp cho xã hội

Trang 8

Ngày nay, tuy xu hướng của thế giới đã chuyển từ thời kỳ đối đầu sangthời kỳ hợp tác phát triển, nhưng sẽ rất sai lầm nếu quên rằng một khi còn có

sự đối nghịch về lợi Ých giai cấp, quốc gia, dân tộc thì kẻ thù còn tìm mọicách để phá hại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của ta, để áp đặt nhữngquan điểm có lợi cho chúng Mặt khác, sự quốc tế hoá thông tin báo chí làmcho nguồn tin của từng quốc gia trở thành đối tượng của báo chí mọi quốcgia Trong điều kiện Êy, vấn đề bảo đảm định hướng tư tưởng, phát hiện vàđấu tranh làm thất bại những âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, giữ vững

ổn định chính trị - xã hội càng trở thành một vấn đề phức tạp, một tráchnhiệm nặng nề của báo chí

Thứ hai, báo chí có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội, quản lý

đất nước Nói cách khác, nó thực hiện “vai trò báo chí như cầu nối giữa

Đảng và Nhà nước với nhân dân; như phương tiện bảo đảm dòng thông tin hai chiều để tạo ra sự hài hoà giữa ý Đảng với lòng dân; như cơ quan tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong việc sửa chữa những chính sách không phù hợp, hình thành những chính sách mới đúng đắn, kịp thời” [22;

11] Khả năng của báo chí trong lĩnh vực quản lý xã hội được triển khai theo

các hướng: “cung cấp kịp thời thông tin về hiện trạng kinh tế - xã hội; tuyên

truyền, giải thích, hướng dẫn tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; kiểm tra, dánh giá tính chất hợp lý của các chính sách đang thực hiện Trên thực tế báo chí đã và đang tham gia vào quá trình hoạch định và hoàn thiện các chính sách kinh tế - xã hội” [28; 12] Đây là yêu cầu đặt ra cho báo

chí trong thời kỳ đổi mới, đòi hỏi báo chí phải đi sâu vào thực tiễn đất nước,góp phần tổng kết và phổ biến kịp thời những bài học kinh nghiệm, tham gianăng động vào quá trình hoạch định, hoàn thiện các chính sách kinh tế - xãhội của Đảng và Nhà nước

Thứ ba, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa

của văn hoá nhân loại, góp phần xây dựng con người Việt Nam hiện đại, vănminh, hoà nhập với cộng đồng thế giới mà vẫn giàu “chất Việt Nam” là một

Trang 9

vai trò quan trọng của báo chí Công cuộc xây dựng và phát triển đất nướchiện nay diễn ra trong hoàn cảnh sức Ðp của cuộc sống vật chất dễ xô đẩy conngười về phía những quan điểm, thái độ thực dụng Quá trình quốc tế hoáđang biến cả địa cầu thành một môi trường văn hoá duy nhất, giúp các dân tộcxích lại gần nhau, tự hoàn thiện, làm giàu mình lên nhờ tiếp thu, học hỏi cácdân tộc khác Nhưng các thói hư tật xấu cũng dễ xâm nhập, tác động xấu đếnnền văn hoá của từng quốc gia, phá vỡ những giá trị truyền thống chưa kịpđịnh hình Hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch quốc tếchống lại dân tộc ta, chế độ ta đã và đang diễn ra trong lĩnh vực văn hoá.Chúng tìm mọi cách đưa vào nước ta những sản phẩm văn hoá phản động, đồitruỵ, nhằm đầu độc thanh niên, lôi cuốn họ vào lối sống hưởng lạc, thực dụng,quên dần trách nhiệm, mờ dần niềm tin đối với với đất nước, với nhân dân.Thực trạng Êy đặt ra cho báo chí một vai trò, trách nhiệm hết sức nặng nề -vừa là người bảo vệ đồng thời là người xây dựng văn hoá

Thứ tư, báo chí có vai trò to lớn trong việc nâng cao dân trí Nó có thể

chuyển tải tới người đọc không chỉ những tri thức cụ thể, trực tiếp mà cònthông qua nhiều hình thức tác động để nâng cao trình độ nhận thức, giúp conngười hoàn thiện về văn hoá, lối sống Là nước nông nghiệp lạc hậu với đa số

cư dân nông thôn, việc nâng cao dân trí không chỉ đơn thuần là trang bị nhữngtri thức phổ thông, mà làm sao nhanh chóng nâng cao tri thức của nhân dân,bắt kịp trình độ các nước phát triển Có thể nói báo chí đã và đang đóng vaitrò to lớn trong việc nâng cao dân trí cho mọi người, là “trường đại học củanhân dân”

Cuối cùng, mét vai trò quan trọng khác của báo chí không thể không

nhắc tới là giải trí Trước đây, vai trò này Ýt được chú ý trong báo chí cũngnhư trong văn học, nghệ thuật Khi cuộc sống vật chất đầy đủ hơn, xuất hiệnnhu cầu giải trí, nhất là trong cuộc sống hiện đại Báo chí là sản phẩm văn hoátinh thần mang tính giải trí cao do chất lượng thông tin cao, được chuyển tảisinh động, hấp dẫn Không chỉ thực hiện vai trò giải trí đơn thuần mà trên

Trang 10

thực tế, vai trò giải trí gắn liền với vai trò thông tin, nâng cao dân trí, pháttriển văn hoá của báo chí Báo chí còn thông qua giải trí để giáo dục chính trị

tư tưởng, giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho công chúng Ngày nay, báo chí đượccoi là loại hình giải trí mang tính “tri thức”, là “món ăn” không thể thiếu trongđời sống tinh thần

1.2 Ý NGHĨA CỦA BÁO TẾT TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH THẦN.

1.2.1 Tết Nguyên đán trong đời sống văn hoá tâm linh người Việt.

Tết Nguyên đán cổ truyền là một nét đẹp truyền thống của dân tộc ta.Bản sắc văn hoá Việt Nam biểu hiện rõ nhất qua những ngày Tết Tết là mốckhởi đầu sinh hoạt văn hoá dân tộc trong một năm, phản ánh sâu đậm nhữngtriết lý nhân văn, đời sống tinh thần phong phú của người Việt Ngày Tết,

người ta quên đi những lo toan thường nhật để sống vui vẻ hơn “Bao nhiêu

những điều không tốt đẹp đã lui trở lại với năm cũ để cho năm mới được tinh hảo, đem lại cho con người toàn những điều hy vọng” [1; 48] Với tinh thần

“chín bỏ làm mười”, ngày Tết xoá đi mọi điều xích mích, mọi người khoandung, hiểu biết , gắn bó với nhau hơn Ngày Tết trở thành dịp để tình cảm tốtđẹp của con người được củng cố và nâng cao

Người dân Việt Nam rất thiết tha với Tết, nhất là ở nông thôn Quanhnăm vất vả, bận rộn, Tết mới là dịp để con người nghỉ ngơi, vì vậy nhu cầugiải trí cũng tăng lên Bao nhiêu lo nghĩ được gác sang một bên để hưởng thú

xuân trọn vẹn “Người ta đón Tết một cách nồng nàn, người ta đợi Tết một

cách trịnh trọng, người ta vui Tết một cách náo nhiệt hân hoan” [1; 21].

Những sinh hoạt văn hoá ngày Tết rất đa dạng và độc đáo (phong tục, lễ hội,trò chơi ) từ lâu đã đi vào tâm khảm mỗi người, góp phần làm nên bản sắcvăn hoá Việt Nam Vượt qua thời gian, cái tinh tuý của mỹ tục cổ truyền ngày

Tết vẫn luôn dồi dào sức sống, vẫn làm cho Tết thêm ý nghĩa “Trên thế giới

này, chẳng mấy nước lại có cái Tết linh đình, trọng thể, vui tươi, đậm đà tính truyền thống văn hoá như Tết ở Việt Nam ta” [25; 60].

Trang 11

1.2.2 Ý nghĩa của báo Tết trong đời sống văn hoá tinh thần.

Báo Tết là số báo đặc biệt của một cơ quan báo chí, phát hành để chàomừng Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc Báo Tết có thể là một số báođộc lập so với hệ thống các số báo thường ngày (không đánh số báo), hoặc là

số báo gộp nhiều số lại với nhau tuỳ theo từng cơ quan báo chí Đây là số báođược chuẩn bị kỹ càng, công phu, có chất lượng cao cả về nội dung và hìnhthức Để phù hợp với tâm lý công chúng trong dịp Tết, báo Tết về nội dung vàhình thức đều có những khác biệt đáng kể so với các số báo thường ngày.Cách gọi tên báo Tết có chỗ chưa thống nhất, nên nhiều người dễ đồngnhất giữa báo Tết với báo Xuân hay số báo tân niên Qua tìm hiểu, chúng tôinhận thấy cách gọi chính xác nhất là: dùng từ “báo Tết” để chỉ số báo chàomừng Tết Nguyên đán cổ truyền, “báo Xuân” để chỉ số báo ra sau số Tết (nếu

cơ quan báo chí có khả năng ra được) chào xuân mới Còn số báo ra vào dịpTết dương lịch gọi là số báo “tân niên” để chào mừng năm mới

Các nước khác trên thế giới thường không có số báo Tết Nếu có thì chỉ

là số báo “tân niên” (Tết dương lịch) và nhìn chung không khác so với số báothường, không thể có hẳn một Ên phẩm báo Tết riêng, mang tính phong tục vàgắn với văn hoá truyền thống như Việt Nam Điều này không phải là họ xemnhẹ văn hoá truyền thống, mà xuất phát từ quan niệm: báo thuần tuý là báo, làthông tin chứ không “lấn” sang sân của các Ên phẩm văn hoá khác Hơn nữabáo Tết Việt Nam gắn liền với Tết Nguyên đán cổ truyền, tục lệ chỉ có ở vài

nước châu Á, trong đó có Việt Nam “Báo Tết có lẽ là một đặc trưng duy nhất

của báo chí Việt Nam, giàu bản sắc riêng, một bản sắc rất Việt Nam” [25;

60]

Ở Việt Nam, báo Tết phát triển mạnh từ khi báo giới thực hiện “đổi mớibáo chí vì sự nghiệp đổi mới của đất nước” Những năm 80, báo Tết phải intrên giấy chất lượng xấu, màu sắc đơn điệu, Ýt tranh ảnh, nội dung, hình thứckhông được đa dạng, phong phú và hấp dẫn như hiện nay Sau đổi mới, nhất

là từ những năm 90 trở lại đây, báo chí Việt Nam ngày càng khởi sắc Nằm

Trang 12

trong sự khởi sắc chung của toàn bộ nền báo chí, báo Tết cũng có những tiến

bộ đáng kể, phát triển vượt bậc, nội dung phong phú hơn, hình thức thể hiện

đa dạng, hấp dẫn hơn Có thể nói, báo Tết ngày càng có ý nghĩa quan trọngtrong đời sống tinh thần của mỗi người dân khi Tết đến, xuân về

Trước hết, báo Tết đã trở thành một “món ăn” tinh thần lành mạnh, bổÝch không thể thiếu bên cạnh những lịch, tranh, câu đối trong dịp Tết

Nguyên đán cổ truyền “Mỗi năm khi mùa xuân về, ngoài “Thịt mỡ dưa hành

câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”, người Việt Nam đã quen không thể thiếu một tờ báo Tết, coi đó là món ăn tinh thần độc đáo trong dịp đón năm mới” [21; 15] Việc xuất bản và thưởng thức báo Tết đã thành một

yếu tố của phong tục ngày Tết, được “phong tục hoá” Có thể nói giờ đây báoTết đã biến thành một “tục lệ” mà nếu không có không được

Mức sống của nhân dân ngày càng cao Đời sống vật chất đầy đủ tạođiều kiện cho đời sống tinh thần phát triển, nhu cầu thưởng thức văn hoá ngàycàng lớn Trong những ngày Tết, con người no đủ không chỉ vật chất mà cả

tinh thần: “Đói ba tháng hè, no ba ngày Tết” Ngay cả khi còn khó khăn,

thiếu thốn thì trong ngày Tết, người ta cũng cố gắng khắc phục để lo cho đầy

đủ: “Ta còn nghèo phố chợ nhà gianh, Nhưng cũng đủ vài tranh treo Tết” (Tố

Hữu) Mặt khác, ngày Tết là dịp nghỉ ngơi, nhu cầu giải trí đòi hỏi rất cao.Báo Tết đã đáp ứng được các nhu cầu đó

Những thông tin phong phó, sinh động trên báo Tết còn cung cấp chobạn đọc kiến thức quý giá về mọi mặt trong đời sống xã hội của năm qua,những dự báo, nhìn nhận bước phát triển của năm tới Đọc báo Tết, nhân dânthấy được những thành tựu phát triển kinh tế xã hội to lớn mà đất nước đãdành được trong năm qua Đặc biệt trong chủ đề văn hoá với mảng bài viết vềcác phong tục, lễ hội Tết cổ truyền, báo Tết được ví như cuốn “bách khoathư” về phong tục

Báo Tết những năm gần đây thường ra rất sớm Khoảng hơn một thángtrước Tết, hầu hết các báo đều ra “lò” rực rỡ như những bông hoa trên các sạp

Trang 13

báo chào xuân Lẫn trong hành trang của những người đi xa về nhà đón Tết,thể nào cũng có một vài tờ báo xuân mua ở quầy báo lúc đợi tàu, xe Trên bànlàm việc của mọi người chắc chắn sẽ có những tờ báo Tết còn thơm mùi giấymới Báo Tết đến với mọi gia đình và với mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề khác

nhau Những người đứng tuổi, cán bộ công nhân viên có tờ Nhân dân, Lao động, Hà Nội mới, các mẹ, các chị có tờ Phụ nữ Việt Nam, thanh niên có tờ Tiền phong, các nhà giáo thì đọc Giáo dục và Thời đại, còn những người nông dân trong cả nước được nghiền ngẫm Nông thôn ngày nay Thậm chí,

báo Tết còn trở thành một món quà, một thứ quà tặng có ý nghĩa đầu xuân

“Chàng sinh viên học ở Hà Nội, đến chơi nhà cô bạn học hồi phổ thông, nay

đang học cao đẳng sư phạm, quà tặng đầu xuân ý nghĩa nhất là một tờ báo

Tết Sinh viên Việt Nam Năm ngoái, đến thăm thầy giáo trước khi về quê ăn Tết, tôi đã tặng thầy món quà xuân bằng một tờ báo Tết Thuốc và sức khoẻ.

Thầy nhận mà vui mừng và cảm động vì món quà ý nghĩa của học trò” [23;

53] Nhiều gia đình có thói quen mua nhiều báo Tết, coi như tổ chức một hộibáo “mini” trong nhà Đọc báo Tết không phải đọc ngay lập tức hết tờ báo màđọc dần dần, “nghiền ngẫm” từ từ, vì dung lượng báo lớn, tính thời sự khôngcao như các số bình thường nên không cần phải đọc ngay để biết tin tức

Sự phát triển của báo Tết Việt Nam những năm gần đây được đánh dấubằng các Hội Báo Xuân Tất nhiên, ở đây nên hiểu “Hội Báo Xuân” khôngphải chỉ có “báo Xuân” mà còn bao hàm cả “báo Tết”, thậm chí còn có nghĩa

là “hội báo Tết” Hội Báo Xuân cần hiểu là hội báo tổ chức vào ngày xuân,mùa xuân Hội Báo Xuân, ngày hội trưng bày các tờ báo Tết được xem làmón quà quý giá nhất của giới báo chí Việt Nam mừng Đảng, mừng đất nướcvào xuân Những gì báo Tết thể hiện chính là thực tế phát triển đất nước về

kinh tế, văn hoá, xã hội như lời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Báo Xuân, Báo

Tết đã phản ánh rất đủ, rất trung thực đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc ta” [7; 12] Qua Hội Báo Xuân, nhân dân thấy đất nước mình đang khát

khao, nỗ lực vươn lên; chứng kiến những nét độc đáo của quê hương cũng

Trang 14

như những thành tựu chúng ta đạt được Hội Báo Xuân cũng thể hiện rõ sựkhởi sắc của báo chí, giúp người xem hình dung được sự phát triển mới củacác loại hình báo chí Việt Nam Hội Báo Xuân là vườn hoa báo Tết đầyhương sắc, là “bữa tiệc lớn” mà suốt một năm những người làm báo đã nỗ lực

để đến ngày “treo đèn kết hoa” trưng bày “món ăn tinh thần” mời mọi ngườicùng thưởng thức

Hơn mười năm nay, năm nào chúng ta cũng tổ chức Hội Báo Xuân, vànăm sau quy mô lại lớn hơn, nội dung phong phú hơn nhiều so với năm trước

Số cơ quan báo chí tham dự cũng như số người đến xem đông đảo hơn, từ 2vạn, lên đến 7 vạn, 10 vạn người Việc tổ chức Hội Báo Xuân toàn quốc ởTrung tâm hội chợ triển lãm; hình thành một khu liên hoàn giữa Hội chợ xuân

và Hội Báo Xuân, gắn thành tựu kinh tế - kỹ thuật với thành tựu phát triểnbáo chí, tạo thuận lợi cho nhân dân chuẩn bị những sản phẩm vật chất và tinhthần cho gia đình đón Tết Nhiều cuộc thi được tổ chức trong Hội Báo Xuânnhư thi bìa, thi ảnh, câu đối Tết trên báo Tết, báo xuân, thi trình bày, lựa chọnnhững tờ báo hay và đẹp nhất Toàn bộ số báo tham gia trưng bày, theo truyềnthống từ nhiều năm nay, lại được gửi tặng các chiến sĩ trên biên giới, đảo xa -việc làm vô cùng ý nghĩa với những người đang ngày đêm canh giữ cho mùaxuân bình yên của Tổ quốc

Đồng thời với Hội Báo Xuân toàn quốc, nhiều tỉnh thành trong cả nước

đã tổ chức trưng bày, triển lãm báo Tết, báo xuân tại địa phương để phục vụđông đảo quần chúng nhân dân trong cả nước Nhiều địa phương đã tổ chứcthành công, thu hút hàng vạn lượt nhân dân đến thăm như: Thành phố Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Quảng Ngãi

Có thể nói, Hội Báo Xuân đã thực sự trở thành một lễ hội đẹp mà giớibáo chí đã tạo dựng và cống hiến cho đời sống xã hội Như vậy, chỉ nhìn vàocác Hội Báo Xuân được tổ chức và sự quan tâm của đông đảo nhân dân trong

cả nước đối với báo Tết, với Hội Báo Xuân cũng thấy được vai trò, ý nghĩacủa báo chí nói chung và báo Tết nói riêng trong đời sống văn hoá tinh thần

Trang 15

của nhân dân ta Báo Tết là món quà Tết đầy ý nghĩa mà các toà soạn đemđến cho các gia đình

Trang 16

số báo thường là tỷ lệ phần trăm các bài viết theo từng chủ đề Ngày Tết làngày nghỉ ngơi nên nhu cầu giải trí rất lớn Vì vậy, khảo sát trên 8 tờ báo Tếttrong 3 năm 1999, 2000, 2001, người viết nhận thấy các bài viết về chủ đề

văn hoá - thể thao chiếm tỷ lệ cao nhất (tờ có tỷ lệ thấp nhất là Tiền phong cũng chiếm 34,9%, tờ có tỷ lệ cao nhất là Bắc Ninh 76,27%) Đặc biệt là chủ

đề về văn hoá với các đề tài về phong tục Tết cổ truyền, lễ hội, các loại hìnhvăn hoá nghệ thuật

Nhân

dân

Lao động

Tiền phong

Phụ nữ Việt Nam

Giáo dục

và Thời đại

Nông thôn ngày nay

Hà Nội mới Bắc Ninh

18 (5,66%)

9 (5,55%)

9 (3,8%)

9 (4,16%)

24 (10,12%)

12 (6,7%)

150 (47,16%)

24 (14,81%)

48 (20,51%)

87 (40,27%)

33 (13,92%)

30 (16,94%)

111 (34,9%)

114 (70,37%)

162 (69,23%)

108 (50%)

159 (67,08%)

129 (76,27%)

Trang 17

Tất nhiên, việc chia thành 3 chủ đề lớn : chính trị, kinh tế - xã hội, vănhoá - thể thao chỉ mang tính tương đối để tiện thống kê, phân tích Thực tế,trong từng bài viết có sự đan xen, giao thoa giữa các chủ đề khác nhau, nhiềukhi khó phân biệt rách ròi

2.1 CHỦ ĐỀ CHÍNH TRỊ.

Chủ đề chính trị xuất hiện trên báo Tết không nhiều Khảo sát số lượngcác bài viết theo chủ đề này trên 8 tờ báo Tết trong 3 năm, chúng tôi thu đượckết quả như sau:

Nhân

dân

Lao động

Tiền phong

Phụ nữ Việt Nam

Giáo dục

và Thời đại

Nông thôn ngày nay

Hà Nội mới

Bắc Ninh

18 (5,66%)

9 (5,55%)

9 (3,8%)

9 (4,16%)

24 (10,12%)

12 (6,7%)

Như vậy, có thể thấy, chỉ Nhân dân là tờ có tỷ lệ bài viết về chủ đề

chính trị tương đối cao (22,35%) vì đây là tờ báo ngôn luận của Ban Chấphành Trung ương Đảng, nên các thông tin chính trị vẫn là chủ đạo, mang tínhđịnh hướng chính trị, tư tưởng

Mùa xuân, ngày Tết, cũng là thời gian chóng ta kỷ niệm ngày thành lậpĐảng Các số báo Tết đều dành những bài viết trang trọng ở trang nhất với ý

nghĩa “Mừng Đảng, mừng xuân”, đánh giá, tổng kết vai trò của Đảng với mỗi

chặng đường mà dân tộc ta đã trải qua Trong bài “Đảng 70 mùa xuân”

(Nhân dân Tết Canh thìn 2000), tác giả Hải Đường đã ôn lại những chặng

đường vinh quang và thử thách của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng

“Suốt 70 năm qua, mỗi bước đi của Đảng luôn nhịp cùng bước đi của dân

tộc Có sự thử thách nào không có sự chia lửa, nhường cơm sẻ áo của người

Trang 18

dân với Đảng Có chiến công nào không kết tinh trí tuệ, mồ hôi và máu Đảng

ta, dân ta” Bước vào mùa xuân này là mùa xuân thứ 70 của Đảng, năm đổi

mới thứ 15, năm giao thừa thế kỷ, giao thừa thiên niên kỷ Đất nước đãchuyển mình vào xuân, qua một năm mới nhiều hoa thơm trái ngọt, nhưngcũng không Ýt chông gai Khó khăn, thử thách lớn nhất, và cũng là sứ mạng

mà lịch sử giao phó cho Đảng ta là “mở cửa, hội nhập khu vực và quốc tê trên

cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, vươn tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội”

“70 năm một quá trình sáng tạo” (Giáo dục và Thời đại Tết Canh thìn

2000) là sự khẳng định của T.S Ngô Đăng Tri: “cách mạng Việt Nam giành

được những thắng lợi như ngày nay là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố,

mà trước hết là sự lãnh đạo sáng tạo, đúng đắn mang tầm chiến lược của Đảng ta” Để chứng minh, tác giả đã đưa ra năm luận điểm về sự sáng tạo của

Đảng, tương ứng với năm thời kỳ lịch sử từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cáchmạng Việt Nam

Cùng vấn đề trên, còn có bài: “70 năm sáng tạo” của nhà nghiên cứu

Trần Bạch Đằng (Phụ nữ Việt Nam Tết Canh thìn 2000) Qua việc phân tích

chặng đường 70 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam, tác giả cho rằng: “Sự

phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam trong một chặng đường 70 năm Êy nổi bật tính cách một đội tiên phong ngày càng gắn bó với quần chúng, ngày càng đại diện được cho nguyện vọng dân tộc” Từ đó ông đi đến đánh giá,

tổng kết “sáng tạo lớn nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là hoà mình

vào lịch sử dân tộc, là dân tộc, số phận của Đảng hoà vào số phận của đất nước, của nhân dân”.

Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng là sự kiện có ý nghĩaquan trọng được các số báo Tết đề cập tới Tác giả Hải Đường trong “Đảng

70 mùa xuân” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000) khẳng định cuộc vận động xây

dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua “là cuộc giải phẫu, người bệnh là

Trang 19

ta, bác sĩ cũng là ta, để giữ lấy sự sống, giữ bền tinh chất vàng mười” của

Đảng Đây cũng chính là một biện pháp để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng ta

Bài viết “Khát vọng mùa xuân” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000) chỉ rõ công

cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đang tiến hành đã củng cố thêmniềm tin của dân vào Đảng, để cùng chung lo xây dựng, phát triển Tổ quốc.Vấn đề dân vận cũng được các quan tâm phản ánh Nhà báo Hoàng Tùng

trong “Sức mạnh lấp biển, dời non” (Nhân dân Tết Tân Tỵ 2001) đã đánh giá

sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh của quần chúng nhân dân

là sức mạnh dời non lấp biển “Nguồn gốc cơ bản sâu xa sức mạnh Êy là nền

văn hoá mà cốt lõi là tinh thần cộng đồng sinh ra từ nhu cầu của sự tồn tại của từng bộ tộc, công xã, hình thành từ từ quan hệ huyết thống, dân tộc gắn

bó với nhau trong cuộc sống lâu đời” Khi có hoạ xâm lăng, chúng ta tiến

hành cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược, nhân dân ta là lực lượngquyết định thắng lợi Nhờ đó mà ba lần làm thất bại âm mưu đồng hoá dân tộccủa giặc ngoại xâm Sức mạnh truyền thống của dân tộc không phải là vốn

quý trời cho, lúc nào cũng được phát huy “Khi lòng người được quy tụ, thì có

thể lấp biển dời non, trái lại khi bị ly tán, thì suy yếu, thậm chí mất nước Thăng trầm không phải là một quy luật tạo hoá mà do con người tạo nên” Ba

lần mất nước đều bắt nguồn từ một nguyên nhân trực tiếp: để mất lòng người,dẫn đến ly tán Từ đó tác giả khẳng định bài học lịch sử của ta, nói cho cùng

là “việc đại nghĩa cốt ở yên dân, giữ được đạo lý Êy thì thành công Làm trái

lại ắt phải thất bại” Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp lúc đầu thất bại vì

chưa ai tập hợp được toàn dân tộc vào cuộc chiến đấu Chỉ từ khi Đảng Cộngsản Việt Nam ra đời, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, nổi dậy đánh

đổ chế độ thực dân, chế độ phong kiến Để bảo vệ nền độc lập, tự do đã giànhđược, Đảng lại dựa vào Nhà nước của nhân dân tổ chức, lãnh đạo hai cuộcchiến tranh trường kỳ của toàn dân đánh thắng những thế lực đầu sỏ Một lần

nữa chúng ta lại chứng minh chân lý “yếu có thể chuyển thành mạnh, nhỏ có

thể đánh thắng lớn nếu mọi người đoàn kết thành một khối”.

Trang 20

Nhà báo Hữu Thọ trong bài viết “Lịch sử và huyền thoại” (Nhân dân

Tết Tân Tỵ 2001) đã bày tỏ cảm nhận đất nước ta “có những huyền thoại trở

thành lịch sử, có những sự kiện lịch sử như huyền thoại” Đó là những huyền

thoại đã ăn sâu vào tâm hồn người Việt Nam về tinh thần cố kết cộng đồng, lànghĩa đồng bào, ý chí bảo vệ Tổ quốc, quyết tâm chống thiên tai của ngườiViệt vì sự trường tồn của đất nước Có những sự kiện lịch sử trở thành huyềnthoại là: dân tộc vốn đất không rộng, dân không đông, nhưng đã kiên cườngđánh bại những tên đế quốc sừng sỏ, hùng mạnh nhất trên thế giới, từ đế quốcNguyên Mông thời phong kiến cho tới thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế kỷ 20;đứng vững và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thoái trào của

chủ nghĩa xã hội trên thế giới Tác giả khẳng định, có được những thành công

lịch sử mang tính huyền thoại Êy là do sức mạnh của khối đại đoàn kết toàndân, là Đảng đã biết huy động sức mạnh vô địch của nhân dân Ngày nay,muốn công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công cũngkhông thể thiếu sức mạnh Êy Điều này cũng được khẳng định trong bài “Bác

nhắc lại tám lần” (Hữu Thọ - Nhân dân Tết Canh thìn 2000): bí quyết mầu

nhiệm của mọi thành công của Đảng ta, đất nước ta là “đoàn kết làm ra sức

mạnh”, “sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí của toàn dân”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công như Bác

hồ đã dạy”.

Chủ đề viết về Đảng ta, ngoài các báo Tết trung ương thì các báo Tết địaphương cũng xuất hiện nhiều Ngoài việc đánh giá, tổng kết thành công trênphạm vi cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, các báo Tết còn đề cập đến vấn

đề các Đảng bộ địa phương với những thành tựu ở địa phương mình Hai tờ

báo địa phương được khảo sát là Hà Nội mới và Bắc Ninh Tết 1999, 2000,

2001 đều đăng tải những bài viết theo chủ đề này như: “70 mùa xuân có

Đảng”, “Mừng Đảng - mừng xuân thêm sức mạnh bứt phá” (Hà Nội mới Tết

Canh thìn 2000); “Đảng và mùa xuân thế kỷ”, “Cội nguồn sức xuân của

Đảng” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001); “Trước thềm thiên niên kỷ - nghĩ về

Trang 21

nghĩa Đảng tình dân” (Bắc Ninh Tết Tân Tỵ 2001) Các bài viết trên vừa có

tính chất tổng kết, đánh giá những thành tựu của Đảng ta nói chung trên phạm

vi cả nước, lại giới hạn thành tựu cụ thể ở địa phương mình, Đảng bộ mình Trên báo Tết cũng xuất hiện nhiều bài viết về Bác Hồ Ngày xuân, ngàyTết là những ngày chúng ta tưởng nhớ về công lao cũng như tình thương cao

cả của Người Khi còn sống, mỗi khi Tết đến xuân về, mỗi người dân ViệtNam lại chờ mong giọng nói trầm Êm của Người đọc thư và thơ chúc Tết trênlàn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam Ngày nay, khi Bác đã đi xa, mỗi mùa xuân

về, chúng ta lại bồi hồi về Người qua những bài báo Tết Các bài viết về Bácthường là những câu chuyện, những hồi ức cảm động của những người đã cómay mắn được thân cận, được sống và làm việc với Bác hay chỉ là đượcthoáng gặp Bác một lần Mỗi một mẩu chuyện, dù lớn hay nhỏ liên quan đếnNgười cũng đều làm cho chóng ta xúc động, đều là những lời dạy bảo ân cầncủa Người Các bài viết xuất hiện trên báo Tết cũng là dịp để nhân dân cảnước báo công với Bác về những thành tựu của đất nước đạt được trong nămqua

Trong bài viết “50 xuân trước Bác Hồ nói về Đảng” (Nhân dân Tết Tân

tỵ 2000), đồng chí Vũ Kỳ ôn lại lời dặn của Bác cách đây đúng nửa thế kỷ vềxây dựng Đảng, nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị Bài viết vừa nêu cảm

nghĩ: “Nhớ lại những sự kiện lịch sử đã qua, trong tôi vẫn còn bồi hồi xúc

động”; vừa đánh giá: những lời dạy của Bác Hồ cách đây đúng 50 năm,

nhưng vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thực tiễn, “vẫn là tư tưởng chỉ đạo

thiết thực, bảo đảm cho Đại hội IX thành công, dẫn dắt toàn dân ta đi vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như Bác Hồ hằng mong muốn”.

Bài viết “Bác nhắc lại tám lần” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000) của nhà

báo Hữu Thọ là một phát hiện bất ngờ, lý thú của tác giả khi dọc lại bản Di

chóc của Bác Hồ “Đêm khuya đọc lại Di chúc của Bác Hồ giật mình thấy

trong hơn một nghìn từ để lại “muôn vàn tình thân yêu” cho con cháu muôn

Trang 22

đời sau, tám lần Bác nhắc tới từ “đoàn kết” Tác giả đã chỉ ra cụ thể tám

trường hợp Bác Hồ nhắc đến từ “đoàn kết” trong Di chúc và ôn lại những lờidặn ân cần - cũng là những bài học quý báu của Bác về đoàn kết: đoàn kết

trong Đảng và đoàn kết dân tộc, “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải

thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình” Phải đoàn kết thì mới thực hiện được mong muốn của toàn Đảng, toàn

dân ta

Các số báo Tết cũng xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứuphân tích, đánh giá quan điểm, tư tưởng của Bác về Đảng, về cách mạng, vềdân tộc, dân vận như: “Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây

dựng và phát triển văn hoá Việt Nam” (Hà Nội mới Tết Kỷ Mão 1999) và

“Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới” (Hà Nội mới Tết Canh thìn 2000) Đây là những bài chuyên luận có ý nghĩa thực tiễn

quý báu cho ngày nay

Các số báo Tết còn đăng tải ý kiến của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước

về Đảng (công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đoàn kết trong Đảng), vềNhà nước (xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; cải cách

bộ máy và thủ tục hành chính, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật), vềvấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc (thể hiện sự quan tâm của cácĐảng và Nhà nước với dân, với tình hình ăn Tết của nhân dân, đặc biệt lànhân dân miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long qua trận lũ lụt thế kỷ) Cácbài viết đều thể hiện sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo cấp cao đối với

sự phát triển đất nước, sự no Êm của nhân dân

Mảng thông tin quan trọng khác về chủ đề chính trị là ngoại giao, cácvấn đề quốc tế cũng xuất hiện, nhưng không nhiều như: “Việt Nam năm 1998

- Những viên ngọc trân châu trên vương miện ngoại giao” (Tiền phong Tết

Kỷ Mão 1999), “Ngoại giao Việt Nam năm 2000: Sự kiện đáng nhớ thành tựu

đáng tự hào” (Lao động Tết Tân Tỵ 2001), “Thế cờ lớn trên ngưỡng cửa của

Trang 23

thế kỷ 21”, “Bức tranh toàn cầu trong năm cuối thế kỷ” (Hà Nội mới Tết Tân

Nhân

dân

Lao động

Tiền phong

Phụ nữ Việt Nam

Giáo dục

và Thời đại

Nông thôn ngày nay

Hà Nội mới

Bắc Ninh

150 (47,16%)

24 (14,81%)

48 (20,51%)

87 (40,27%)

33 (13,92%)

30 (16,94%)

1.2.1 Chủ đề kinh tế:

Về chủ đề kinh tế, đa số bài viết đều tập trung vào việc đánh giá, tổngkết khái quát nền kinh tế Việt Nam trong năm vừa qua, nhìn nhận bước pháttriển trong năm tới

Bài viết “Kinh tế Việt Nam năm 2000: Thách thức và niềm tin” (Ngọc

Thanh - Hà Nội mới Tết Kỷ Mão 1999), đã tổng kết lại nền kinh tế Việt Nam

trong năm 1998 với những thành tựu trên nhiều lĩnh vực, tuy vẫn còn một sốkhó khăn Bằng những con số thống kê cụ thể, tác giả cung cấp cho bạn đọcbức tranh toàn diện về sự tăng trưởng của các ngành kinh tế: từ nông nghiệp,công nghiệp đến, thương mại, dịch vụ Kết thúc bài viết, tác giả thể hiện

niềm tin và cũng là khẳng định quyết tâm: “với lòng yêu nước, tài năng, trí

tuệ và bản lĩnh con người Việt Nam sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp của

Trang 24

toàn dân …nhân dân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội năm 1999, tạo thế và lực để đất nước vững tin bước vào thế kỷ XXI”.

T.S Lê Đăng Doanh trong “Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam năm 1999 và

những thách thức năm 2000” (Phụ nữ Việt Nam Tết Canh thìn 2000), cung

cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn cảnh kinh tế Việt Nam trong năm 1999, qua sựphân tích bài bản của một chuyên gia kinh tế Thắng lợi kinh tế năm 1999 là:

“ổn định nền kinh tế vĩ mô, nông nghiệp đạt thắng lợi lớn và xuất khẩu vượt

dự kiến” Đồng thời tác giả cũng nhìn nhận: “năm 2000 đối với kinh tế Việt Nam đúng là một thách thức, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể vượt qua và hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội”

“Năm mới tính sổ làm ăn” (Vũ Khoan - Nhân dân Tết Tân Tỵ 2001) là

bài viết khá độc đáo, lý thú Tác giả là quan chức trong Bộ Thương mại,nhưng bài viết không hề mang tính chất khuôn mẫu, khô cứng mà rất tựnhiên, sinh động Dường như tác giả đang nói chuyện, tâm tình thân mật vớingười đọc về chuyện làm ăn, hơn là đang bàn đến vấn đề kinh tế của một đất

nước Mở đầu bài viết là lời tâm sự: “Mỗi khi năm hết Tết đến, các nhà kinh

doanh đều tính sổ xem trong năm làm ăn lỗ lãi ra sao Ngoảnh nhìn lại một năm hoặc cả thập kỷ, theo chiều hướng nào chúng ta cũng đều có thể hài lòng: hầu hết những dự kiến đề ra đều đạt được, thậm chí trên một số mặt còn vượt trội” Tiếp đó tác giả đã nêu những thuận lợi và khó khăn của năm

mới, phân tích, dự đoán nền kinh tế Việt Nam trong năm 2001 kèm theo

những tình cảm, suy nghĩ của mình một cách tự nhiên: “Hài lòng với những

gì đã làm được, chúng ta vẫn chưa thể yên lòng So với bản thân mình thì nhiều tiến bộ nhưng so với thiên hạ thì chưa là bao” Giọng điệu thân mật tâm

tình, cộng với việc dùng nhiều thành ngữ, khẩu ngữ tự nhiên như: “cỡ xèng

xèng bậc trung”, “tháng giêng là tháng ăn chơi”, “năng nhặt chặt bị”, “trái gió trở trời” tạo nên thành công cho bài viết.

Bên cạnh những bài viết đánh giá, tổng kết lại nền kinh tế Việt Namtrong một năm hay mét giai đoạn lớn hơn, còn nhiều bài viết đánh giá, tổng

Trang 25

kết lại từng lĩnh vực kinh tế cụ thể như: xuất nhập khẩu, đầu tư nướcngoài hay các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải,thương mại, dịch vụ

Về vấn đề xuất khẩu, báo Tiền phong Tết Canh thìn 2000 có bài “Xuất

khẩu 1999: Bước tạo đà tốt đẹp cho năm 2000” (Đình Nguyên) Tình hìnhxuất khẩu của nước ta năm 1999 được tổng kết qua những con số cụ thể:

“xuất khẩu đạt 11,5 tỷ USD, tăng khoảng 20%, vượt kế hoạch 12%…” Các

mặt hàng chủ lực xuất khẩu giá trị cao là gạo, dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷsản, cà phê với những số liệu cụ thể về số lượng, doanh thu, tỷ lệ tăng Một

thành công nữa là: “ta đã xuất siêu và lần đầu tiên Việt Nam có xuất siêu

trong cán cân kim ngạch xuất khẩu” Nguyên nhân là do cơ chế “mở” thông

thoáng của Đảng, Nhà nước; với những biện pháp khuyến khích triệt để giảiquyết những vướng mắc về xuất khẩu Những vướng mắc trong hoạt động

xuất khẩu là: “các thành phần kinh tế dân doanh, nhất là kinh tế tư nhân

trong thực tế còn bị kỳ thị, phân biệt đối xử, thủ tục còn phiền hà ” Một

thách thức lớn mà tác giả cũng chỉ ra là sự cạnh tranh gay gắt, quyết liệt của

các thị trường nước ngoài, mặt khác “mặt hàng xuất khẩu của ta vẫn chưa có

sự thay đổi nhiều về chế biến mà còn chủ yếu là gia công cho bên ngoài, tỷ lệ xuất thô còn lớn ”

Lĩnh vực đầu tư nước ngoài cũng được các số báo Tết đề cập tới, đặc

biệt trong bài “12 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001) Tác giả Ngọc Tiến đánh giá: “12 năm qua, mặc dù

còn tồn tại những bất cập do cơ chế, bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực nhưng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh, góp phần phát triển kinh tế đất nước” Thành tựu

cụ thể của đầu tư nước ngoài từ năm 1998 (khi Luật đầu tư nước ngoài có

hiệu lực) đến cuối năm 2000 là: “có trên 2500 dự án đầu tư nước ngoài còn

hiệu lực với vốn đăng ký và bổ sung đạt gần 37 tỷ USD, vốn thực hiện đạt xấp

xỉ 17 tỷ USD và hiện chiếm khoảng 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội” Có thể

Trang 26

nói, trong một bài bài viết hơn 1000 từ nhưng tác giả Nguyễn Ngọc Tiến đãtổng kết lại những chặng đường dài 12 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam với cả những thành công và hạn chế Bài viết ngắn gọn, hấp dẫn ,tuy sử dụng nhiều con số thống kê nhưng không gây cảm giác khô cứng,nhàm chán bởi việc sử dụng ngôn ngữ linh hoạt của tác giả.

Năm 2000, việc xuất hiện và đi vào hoạt động của thị trường chứngkhoán Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã thu hút sự chú ý của báo chítrong đó có báo Tết Trước đó, khi thị trường chứng khoán chưa ra đời, đã cónhiều bài viết đề cập đến vấn đề này như: “Có chăng thị trường chứng khoán

trước thềm thế kỷ?” (Phụ nữ Việt Nam Tết Kỷ Mão 1999), “Thị trường chứng khoán còn lắm truân chuyên” (Hà Nội mới Tết Kỷ Mão 1999) Khi

thị trường chứng khoán đi vào hoạt động, nhiều báo Tết đã tổng kết lại hoạtđộng của thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ ngày mở cửa: sau bốn tháng

vận hành, “khối lượng chứng khoán giao dịch là 2.589.670 chứng khoán, với

tổng giá trị giao dịch là 57.490.934.000 đ (bình quân mỗi phiên giao dịch đạt 1.127.273.215 đ ) Chỉ số VN Index tăng 66,17%” Thị trường chứng khoán

Việt Nam phát triển tốt với các phiên giao dịch được vận hành an toàn và đềuđặn, tổng giá trị sau mỗi phiên giao dịch ngày càng lớn hơn Tác giả cũng chỉ

ra nguyên nhân Hà Nội vẫn chưa thể “khai mạc” được thị trường chứngkhoán như thời gian đã định, phải lùi tới cuối năm 2001 do những khó khăn,tồn tại cần giải quyết (Hồng Duyên - “Thị trường chứng khoán Việt Nam -

Vạn sự khởi đầu nan” - Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001)

Vấn đề kinh tế tri thức cũng được các số báo Tết quan tâm phản ánh, vì

“khi những tờ lịch cuối cùng của năm giao thừa giữa hai thế kỷ XX và XXI

được bóc đi, thế giới chúng ta đã đứng trước thềm sự phát triển mới của xã hội loài người - nền kinh tế tri thức.” (Phạm Thanh Hà - “Việt Nam tiến thẳng

vào nền kinh tế tri thức” - Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001) Đây là một vấn đề

còn khá mới mẻ ở Việt Nam, và nhiều người vẫn chưa hiểu rõ kinh tế tri thức

là gì Vì vậy tác giả giải thích: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế kinh tế dựa

Trang 27

trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới mà ở đó tri thức chiếm hàm lượng chủ yếu trong giá trị một sản phẩm ” Từ chỗ phân tích nền kinh tế tri thức nói chung, tác giả liên

hệ với thực tế nước ta: tuy di sau khá xa so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới, nhưng ta có thể đi tắt, đón đầu, tiến thẳng sang nền kinh tế tri

thức “Để có được một nền kinh tế tri thức thật sự, ngay từ bây giờ , Việt

Nam cần phải có sự điều chỉnh về chiến lược phát triển kinh tế, trong đó có chính sách đối ngoại để chủ động tham gia tích cực vào nền kinh tế thế giới Phải nhanh chóng xây dựng hạ tầng cơ sở vững chắc để phát triển khoa học

và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin Đặc biệt chú trọng đến công tác đầu tư phát triển nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố quyết định để Việt Nam tiến thẳng vào nền kinh tế tri thức” Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá

ở nước ta phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ lớn: chuyển từ nền kinh tếnông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từ nền kinh tế công nghiệp sangnền kinh tế tri thức

Việt Nam là nước có nền văn minh lúa nước lâu đời Đến nay, về cơ bảnchúng ta vẫn là một nước nông nghiệp và nông nghiệp cũng đóng góp khoảnthu lớn vào ngân sách quốc gia Trong thời gian qua, trên mặt trận nôngnghiệp, chúng ta đã thu được thắng lợi vang dội Dưới tiêu đề “Sự tăng trưởng

ngoạn mục” (Lao động Tết Kỷ Mão 1999), GS Bùi Huy Đáp đã tổng kết,

đánh giá thành công của nông nghiệp nước ta là đưa nước ta từ thiều hụt, phảinhập khẩu lương thực đến đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, rồi xuất khẩu đứng

thứ hai thế giới “Sản lượng thóc tăng bình quân năm 8% là cao nhất trong

khu vực và trên thế giới trồng lúa” Tác giả nhận định: “Sự tăng trưởng ngoạn mục của sản xuất lương thực và của sản xuất lúa trong thập kỷ qua là một trong những hành trang quý giá để nông nghiệp nước ta bước vào thế kỷ XXI” Thành công của nông nghiệp Việt Nam còn được đề cập đến trong

nhiều bài khác như: “Cây lúa Việt Nam 15 năm liền được mùa” (Lao động Tết Tân Tỵ 2001), đặc biệt là trên tờ báo Nông thôn ngày nay

Trang 28

Chóng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nước ta sớmtrở thành nước công nghiệp có nền kinh tế phát triển Vì vậy, sự phát triển củangành công nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước.

Là số báo cuối cùng của năm cũ và đầu tiên của năm mới, báo Tết không thểkhông có những bài viết đánh giá, tổng kết về ngành công nghiệp, đặc biệt vớinhững ngành công nghiệp quan trọng, những ngành “mũi nhọn” hiện nay: bưuchính viễn thông, hàng không, dầu khí Bên cạnh những bài đánh giá chung

về các ngành kinh tế này như “Các ngành kinh tế mũi nhọn nói gì?” (Nôngthôn ngày nay Tết Tân Tỵ), nhiều bài viết đã đi sâu tìm hiểu tình hình “làmăn” trong năm của từng ngành cụ thể Dầu khí hiện nay là ngành kinh tế mũinhọn, đóng góp to lớn vào sự phát triển đất nước những năm qua Nhiều báo

Tết đã quan tâm tới ngành kinh tế này như: “Lời hứa trên giếng dầu” (Lao động Tết Canh thìn 2000), “Ngành dầu khí Việt Nam sẽ có vị thế vững chắc trên trường quốc tế” (Tiền phong Tết Tân Tỵ 2001) Bài viết “Dầu khí Việt Nam tiến vào thế kỷ XXI” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000) đã tổng kết lại

hoạt động của Petro Việt Nam trong năm 1999, tác giả viết: “Năm 1999, sản

lượng dầu thô khai thác vượt con sè 15 triệu tấn, là năm có sản lượng cao nhất, xuất khẩu dầu thô đạt kim ngạch 2 tỷ USD Đầu tháng 10, Petro Việt Nam lại có thêm một tin vui mới: tấn dầu thứ 80 triệu đã được khai thác”.

Một thành công nữa của Petro Việt Nam là xây dựng và đi vào vận hành Nhàmáy khí hoá lỏng Dinh Cố, Nhà máy lọc dầu số 1 tại Dung Quất - nhà máykhí hoá lỏng và nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam Trước đây chúng tamới chỉ tiến hành thăm dò, khai thác và xuất khẩu dầu thô, khâu chế biến còn

bỏ ngỏ, còn bây giờ, “khi phát triển được khâu chế biến thì giá trị lợi nhuận

và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên nhiều lần, tạo việc làm, sự phát triển sẽ đi vào ổn định, hợp lý” Từ những ngọn lửa nhỏ được

khơi nguồn từ những mỏ dầu, theo năm tháng, với sự nỗ lao động, người thợdầu khí đã đánh thức kho “vàng đen”, đem lại nguồn lợi cho đất nước Bướcvào thiên niên kỷ mới, chúng ta có quyền hy vọng về một tập đoàn dầu khí

Trang 29

phát triển, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước.

Một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng khác là ngành điện lực cũngđược báo Tết đề cập tới Dưới tiêu đề “Ngành điện Việt Nam bước vào thế kỷ

XXI: Thời cơ và thách thức” (Hà Nội mới số Tết Tân Tỵ 2001), tác giả Thanh

Mai đã phác thảo bức tranh tổng quát ngành điện Việt Nam mấy thập kỷ qua,

cả khó khăn, thiếu thốn lẫn thành công Đây là ngành công nghiệp “đàn anh”công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, cần phải “đi trước mộtbước” Tác giả đã đánh giá một sự kiện quan trọng trong ngành điện lực Việt

Nam - công trình thi công đường dây 500KV: “Không quá lời khi nói rằng,

chiến dịch lao động thi công đường dây 500 KV là kỳ tích của người thợ đường dây trong thế kỷ XX” Nhìn chung, sau gần nửa thế kỷ phát triển, quy

mô của ngành điện Việt Nam đã mở rộng đáng kể Tuy vậy, một vấn đề bất

cập cũng được chỉ ra là: “Luật điện lực vẫn chưa được ban hành làm cơ sở

pháp lý nhất quán” cho việc phát triển và đảm bảo lưới điện trong toàn quốc.

Ngoài các vấn đề kinh tế trên, báo Tết cũng đề cập tới thành tựu pháttriển kinh tế trong năm của một số địa phương tiêu biểu: “Hà Nội với sự phát

triển kinh tế bền vững”, “Thành phố Hồ Chí Minh: ngoảnh lại 20” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001), “Công nghiệp Bắc Ninh vững bước tiến vào thế kỷ mới” (Bắc Ninh Tết Tân Tỵ 2001) đặc biệt trên hai tê Hà Nội mới và Bắc Ninh.

2.2.2 Chủ đề xã hội:

Trên các số báo Tết được khảo sát, bài viết theo chủ đề xã hội chủ yếu là

về vấn đề xoá đói giảm nghèo, lao động - việc làm, khoa học, giáo dục Còncác vấn đề khác, đặc biệt là các tệ nạn xã hội, hậu quả chiến tranh hầu nhưkhông xuất hiện Điều này phù hợp với phong tục Tết cổ truyền, người tathích nói về những cái vui vẻ, lạc quan, những mặt tích cực

Bài viết “Việt Nam đẩy lùi đói nghèo trong thiên niên kỷ mới” (Dương Anh - Hà Nội mới Tết Canh thìn 2000), đã thông báo những kết quả đáng tự

Trang 30

hào của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam ở cả nông thôn và thành

thị “một hiện tượng đặc biệt của thế giới trong công cuộc chung nhằm xoá

đói giảm nghèo với tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh” Tiếp theo, bằng những số

liệu thống kê do Ngân hàng thế giới thực hiện, tác giả đã chứng minh cho

nhận xét trên của mình: “tỷ lệ người dân Việt Nam có mức chi tiêu bình quân

đầu người ở dưới ngưỡng nghèo đã giảm từ 25% xuống còn 15% ” Nguyên

nhân là do tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh; sự cải thiện hệ thống giáo dục và

cơ sở hạ tầng Một nguyên nhân khác rất quan trọng mà tác giả chỉ ra là

“những nỗ lực mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong việc tạo thêm việc

làm cho người lao động, đặc biệt là những người nghèo” qua đánh giá của

ông An-đriu Stia, Giám đốc ngân hàng thế giới tại Việt Nam Những mặt còn

tồn tại, hạn chế trong công cuộc xoá đói giảm nghèo là: “nhiều người đã bứt

ra khỏi đói nghèo nhưng chỉ trên ngưỡng nghèo một chút Chỉ một rủi ro, như những trận lũ lụt gần đây ở miền Trung, hay thậm chí chỉ một người trong gia đình bị đau ốm cũng đủ để đưa những hộ này trở lại sự đói nghèo” Cũng

là chuyện xoá đói giảm nghèo nhưng bài viết “Xoá đói giảm nghèo - Trách

nhiệm của cộng đồng” (Mai Châu - Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001) lại tập

trung vào phạm vi thành phố Hà Nội, nơi có tốc độ phát triển kinh tế và mứcthu nhập bình quân xã hội khá cao nhưng cũng bộc lộ sự phân hoá giàu nghèosâu sắc Nhờ chương trình “phủ vốn” giúp hộ đói nghèo để thâm canh lúa vàhoa màu, khôi phục, mở rộng ngành nghề thủ công truyền thống nên kết quảđạt được về công tác xoá đói giảm nghèo của thành phố rất khả quan như tác

giả đã đưa ra: “Vào dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, toàn thành

phố có trên 3000 hộ đã thoát nghèo, vươn lên khá giả Số hộ nghèo năm

1992 là trên 5,8%, hết năm 2000 còn khoảng trên 1%”.

Vấn đề lao động, việc làm cũng được báo Tết quan tâm phản ánh, đặc

biệt trên tờ Lao động, qua những bài viết đánh giá về vai trò của công đoàn

trong việc quan tâm đến đời sống của người lao động, vấn đề giải quyết việclàm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống như trong “Đối thoại với người

Trang 31

dang tìm việc làm về cho đất nước” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000), “Giúp gần 5000 người có việc”, “Cầu nối với người lao động” (Lao động Tết Canh

thìn 2000) Ngoài ra, còn một vài bài viết đề cập tới vấn đề cứu trợ nhânđạo, giúp đỡ các cá nhân, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là chođồng bào miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long sau trận lũ thế kỷ như

trong bài “Những tấm lòng nhân ái” (Nhân dân Tết Canh thìn 2000).

Mảng các bài viết về khoa học, giáo dục cũng được đăng tải trên báo Tết

tuy không nhiều như: “Giáo dục Việt Nam những bước tiến tự hào” (Giáo dục và Thời đại Tết Kỷ Mão 1999), “Nhân tài” (Tiền phong 1999), “Công nghệ thông tin vượt ải vũ môn” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001), “Công nghệ sinh học vẫn là mũi nhọn” (Nhân dân Tết Tân Tỵ 2001), “Thế kỷ vào vũ trụ” (Lao động Tết Tân Tỵ 2001) và chủ yếu xuất hiện trên tờ Giáo dục và Thời đại.

2.3 CHỦ ĐỀ VĂN HOÁ - THỂ THAO.

2.3.1 Chủ đề văn hoá

Khảo sát trên 8 tờ báo Tết trong 3 năm, chúng tôi nhận thấy chủ đề vănhoá chiếm dung lượng lớn nhất so với các chủ đề khác Trung bình chủ đề nàychiếm khoảng hơn 50% dung lượng bài viết trên các số báo Tết Có những tờ

chiếm tỷ lệ rất cao như Phụ nữ Việt Nam: 68,51%, Giáo dục và Thời đại: 69,23%, Bắc Ninh: 66,1% Trên cơ sở thống kê, phân tích các bài viết theo

chủ đề này, người viết chia ra hai mảng lớn: mảng bài viết về phong tục TếtNguyên đán cổ truyền; mảng bài viết về các loại hình văn hoá nghệ thuật

Nhân

dân

Lao động

Tiền phong

Phụ nữ Việt Nam

Giáo dục

và Thời đại

Nông thôn ngày nay

Hà Nội mới

Bắc Ninh

102 (32,07%)

11 (68,51%)

52 (23,07%)

28 (38,88%)

150 (63,29%)

117 (66,1%)

Trang 32

2.3.1.1 Phong tục Tết Nguyên đán.

- Con giáp.

Cũng như nhiều quốc gia ở phương Đông, Việt Nam đón Tết Nguyênđán theo âm lịch Đó là lễ Tết cổ truyền của dân tộc Từ xưa, trong nhiềunước châu Á (cũng như Việt Nam) đã tồn tại quan niệm mỗi năm âm lịch cómột con vật biểu tượng, gọi nôm na là các “con giáp” Mười hai con giáp luânphiên nhau lặp lại có ý nghĩa rất lớn trong đời sống văn hoá tinh thần ngườiphương Đông Đã thành “lệ”, báo Tết năm nào cũng dành diện tích nhất định

để đăng bài viết xung quanh con giáp của năm

Đa số các bài viết đều mô tả, giới thiệu, tìm hiểu đời sống, đặc điểm cưtrú, “tính cách”, hình dạng, màu sắc đặc biệt của các con vật này Viết về

đặc điểm của mèo, Hà Nội mới Tết Kỷ Mão 1999 có bài “Năm Mão nói

chuyện mèo” của tác giả Chiến Thắng Tác giả cung cấp cho bạn đọc nhiều

thông tin lý thú về loài mèo Tương tự, Giáo dục và Thời đại Tết Kỷ Mão

1999 đã trả lời câu hỏi “Vì sao mèo tam thể luôn là mèo cái” (Lê Quân) Hay

báo Tiền phong Tết Kỷ Mão 1999 với “Những câu hỏi lý thú về mèo” (Ngọc

Đính) trả lời giúp cho bạn đọc nhiều câu hỏi quanh “dì của hổ” Rắn là convật được các số báo Tết năm Tỵ “khai thác” Không chỉ ở châu Á mà trên thếgiới, có rất nhiều huyền thoại về rắn Đây là con vật vừa có hại (khi nó cắn

chết người), lại vô cùng có lợi trong cuộc sống Trên báo Nhân dân Tết Tân

Tỵ 2001, tác giả Hoàng Hà Linh đã đưa ra những “Nguồn lợi các loài rắn”: là

“người bảo nông” siêng năng, cần cù; da rắn là món hàng quý, là dược liệu

quý mà cả “Tây y và đông y đều chuộng” Các bài viết còn đưa ra những “kỷ

lục” của các con giáp, hay những chuyện lạ kỳ xung quanh các con vật này

như “Một vài kỷ lục của loài rắn” (Lao động Tết Tân Tỵ 2001), “Thế giới với những loài rắn chúa tể” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001), “Đó đây thế giới mèo” (Tiền phong Tết Kỷ Mão1999) thu hút sự chú ý của người đọc.

Không chỉ dừng lại ở việc mô tả, giới thiệu những đặc điểm của các congiáp, nhiều bài viết còn đề cập đến con giáp trong văn hoá tâm linh thần bí

Trang 33

Tác giả Tuấn Phong khẳng định: “trong tâm linh, rắn được coi như loài vật

đầy bí hiểm, mang đến cho con người những cầu mong, lo ngại Thế giới có

nhiều huyền thoại về rắn” (“Rắn trong tâm linh thần bí” - Lao động Tết Tân

Tỵ 2001) Tác giả đã cung cấp một loạt huyền thoại kỳ bí về loài rắn ở ViệtNam và trên thế giới cho độc giả Con rồng mặc dù không có thật trong cuộcsống, là con vật huyền thoại, nhưng từ lâu đã có vị trí vô cùng quan trọngtrong đời sống tâm linh của người Việt như tác giả Nguyên Long khẳng định:

“Trong 12 con giáp, rồng là con vật huyền thoại duy nhất nhưng lại có quan

hệ gần gũi nhất, ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài, phong phú nhất tới đời sống và

văn hoá Việt Nam” (Rồng trong đời sống và văn hoá người Việt” - Giáo dục

và Thời đại Tết Canh thìn 2000)

Nhiều bài viết lại đề cập đến hình ảnh con giáp trong văn hoá nghệ thuật

Bài viết “Hoạ sĩ và mèo” (Giáo dục và Thời đại Tết Kỷ Mão 1999) là một

khám phá lý thú của tác giả Văn Đa khi thấy “mối liên hệ trong nghệ thuật”

giữa mèo và hoạ sĩ: mèo bắt chuột gặm tranh cho hoạ sĩ, hoạ sĩ thích vẽ mèo

Trong “Đầu năm con mèo cãi nhau bằng tục ngữ” (Phụ nữ Việt Nam Tết Kỷ

Mão 1999), tác giả Kiến Nhót đã mượn hình thức câu chuyện vui - chuyện cãinhau của một cặp vợ chồng để sử dụng linh hoạt các tục ngữ Việt Nam liênquan đến mèo rất khéo léo, linh hoạt Hay trong bài “Con rắn trong văn hoá

dân gian” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001), tác giả Bảo Hưng đã tổng kết hiện

tượng con rắn được phản ánh trong các truyện dân gian như: “Rắn báo oán”,

“Rắn trả ơn”, “Người lấy rắn” Tương tự như vậy, con rồng cũng xuất hiệnrất nhiều trong văn học dân gian Việt Nam như bài “Rồng trong văn học viết

xa xưa” của Nguyễn Sĩ Cấn trên báo Giáo dục và Thời đại Tết Canh thìn

2000 Các số báo Tết còn viết cả về những con người, sự kiện lịch sử liênquan đến năm tượng trưng của con giáp đó như: “Các danh nhân - tiến sĩ tuổi

Mão”, “Những năm Mão lịch sử” (Giáo dục và Thời đại số Tết Kỷ Mão 1999), “Những nhân vật nổi tiếng tuổi Tỵ” (Bắc Ninh Tết Tân Tỵ)

Trang 34

Nhìn chung, báo Tết đăng tải nhiều thông tin về các con giáp, điều nàycần thiết, nhưng nhiều khi bị trùng lặp Ví dụ cứ năm Mão là có bài viết vềmèo, năm Thìn có bài về rồng, cách đặt tít cũng trùng lặp theo kiểu “NămMão nói chuyện mèo” Nhiều bài viết có tính công thức khô cứng, tạo ra sựđơn điệu, tẻ nhạt, gây nhàm chán cho người đọc

- Văn hoá Èm thực ngày Tết.

Tết Nguyên đán gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cầu khấn trờiđất, thánh thần đồng thời là dịp con người nghỉ ngơi, tận hưởng thành quả laođộng của một năm Vì vậy đồ ăn thức uống trong dịp Tết được coi trọng đặcbiệt Thức ăn ngày Tết không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn mang ý nghĩasâu sắc về mặt tinh thần Thức ăn ngày Tết kết tinh những giá trị văn hoá, và

là bộ phận quan trọng, mang tính điển hình cấu thành văn hoá Èm thực củamỗi dân tộc

Món ăn ngày Tết rất đa dạng, phong phú, nhưng mang tính truyền thống

và phổ biến nhất ở Việt Nam vẫn là bánh chưng “món ăn dân tộc không thể

thiếu mỗi dịp Tết đến xuân về Bánh chưng đã đi vào truyền thuyết, có mặt ở những câu ca dao, tục ngữ như là hình ảnh, dấu hiệu của mùa xuân, của ngày Tết: “Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” “Bên nồi bánh chưng” của

Hoàng Huy (Nhân dân Tết Canh thìn 2000) là bài viết lý thú và cảm động về

một món ăn ngày Tết này Mạch văn tác giả đan xen giữa những dòng hồitưởng trong quá khứ và cảm xúc hiện tại, đưa chúng ta đến với không khíquây quần Êm cúng, thân mật quanh nồi bánh chưng Tác giả đã bộc lộ cảm

xúc khá tự nhiên: “quanh năm nào có xa lạ gì cái bánh chưng, nhưng sao

chiếc bánh chưng nhà gói lấy, luộc lấy vào những ngày năm hết Tết đến lại

có nét quyến rũ lạ thường” Nhiều làng bánh chưng nổi tiếng trong cả nước

cũng được các bài viết giới thiệu như: làng Thanh Khóc (Thanh Trì - Hà Nội)với loại bánh chưng có danh tiếng từ lâu đời nhờ bánh ngon, hình thức đẹp

(“Có một làng bánh chưng ở Hà Nội” - Hà Nội mới Tết Tân Tỵ 2001); làng

Trang 35

Đông Linh (Quỳnh Phụ - Thái Bình) với bánh chưng to kỷ lục (“Bánh chưng

to nhất nước” -Nhân dân Tết Canh thìn 2000)

Bên cạnh bánh chưng, ngày Tết còn có rất nhiều món ăn khác - nhữngmón ăn đã được tinh lọc, chọn lựa phù hợp với từng vùng miền Mỗi vùng,miền có những món ăn khác nhau mang đậm phong cách của con người vùngmiền Êy Những món ăn kết hợp hài hoà với đời sống con người, nói lên mộtphần tính cách con người như trong bài “Quanh mâm cỗ Tết” (Đỗ Hoài Thu -

Nhân dân Tết Canh thìn 2000) Người miền Bắc, mà trung tâm là người Hà

Nội kín đáo, khoan thai, cách chế biến món ăn tinh xảo, tao nhã Mâm cỗ Tếtcủa người Hà Nội không nhất thiết phải đầy tràn mâm, mà quan trọng phải có

một sự “hoà sắc”, như “bức tranh của một hoạ sĩ tài danh”: “Đĩa xôi gấc đỏ

tươi, các món nấu được rắc hành, rau thơm lên trên , xanh mướt Đĩa nộm nhiều màu sắc hài hoà, rau mùi xanh, ớt đỏ, lạc rang vàng và su hào trắng, chỉ nhìn cũng thấy đã ngon” Khác với miền Bắc, cái Tết ở miền Nam không

lạnh, ăn Tết cũng không cầu kỳ và không nhiều món phức tạp như Hà Nội.Món ăn ngày Tết ở đây đơn giản, chỉ cần “khoái khẩu” là được Hơn nữangười miền Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn, cuộc sống phóng khoáng hơn.Các món ăn miền Nam cũng thể hiện điều này

Chuyện uống trong ngày Tết cũng tốn nhiều “giấy mực” trên các tờ báoTết Ngày xuân, ngày Tết, bên cạnh những món ăn “sơn hào hải vị” đầy ắptrong nhà, người ta vẫn không quên hương vị thanh tao, tinh khiết của chéntrà sen Thú thưởng thức trà sen là một nét văn hoá có từ xưa mang phongcách nho nhã của các tao nhân mặc khách Bằng ngòi bút tài hoa của mình,tác giả Đỗ Hoài Thu đã mang hương thơm của “Chén trà sen ngày Tết”

(Nhân dân Tết Tân Tỵ 2001) đến cho bạn đọc Bài viết miêu tả từ cách pha

trà ướp hoa sen công phu, tỷ mỉ trà sen “như luyện cho ta sù khoan thai và

lòng kiên nhẫn trong cái se lạnh của ngày Tết đến”, đến chuyện thưởng thức

“nhấp ngụm trà sen nóng hổi thật như thấy trong cả đầm sen đầu làng hiện

về ngát hương, thơm mát” Món uống không thể thiếu được trong ngày Tết là

Trang 36

rượu, bia Nguyễn Văn Dũng trong “Ăn uống ngày xuân” (Nhân dân Tết

Canh thìn 2000) phê phán kiểu uống thô thiển tu một hơi “trăm phần trăm”

“Cái cách uống này lan truyền từ xứ lạnh tới chứ đâu phải cách nhâm nhi

vừa ngâm thơ, ngắm trăng, chuyện trò ,của các cô ta ngày xưa Đấy, cái văn hoá Èm thực nó phải như thế, có chừng mực, có nghệ thuật, có chất lượng”.

Một làng quê nổi tiếng gắn liền với loại rượu ngon là làng Vân (Bắc Giang)

cũng được giới thiệu (“Về làng xuân nâng chén rượu xuân” - Giáo dục và Thời đại Tết Canh thìn 2000).

Có thể nói những bài viết trên đã phần nào dựng nên bức tranh về vănhoá Èm thực khắp mọi miền đất nước Trải qua bao biến đổi, món ăn ngàyTết ở Việt Nam đã định hình và tồn tại với bản sắc đậm nét không thể lẫn.Mỗi miền, mỗi khu vực đều có những tìm tòi riêng, đặc sắc riêng, đóng gópvào sự hợp thành, sự phong phú và nét đặc trưng của nghệ thuật Èm thực dântộc

dân tộc: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ” Câu đối là nghệ thuật chơi chữ của

người xưa, sử dụng câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu cân xứng về ý, trau chuốt vềlời Đây là lối chơi văn hoá tao nhã, thể hiện sự thông minh, sáng tạo của con

người “Theo sách Sơn hải kinh thì câu đối bắt nguồn từ tục làm “đào phù”

(tức bùa yểm tà ma) rồi dần trở thành hình thức câu đối bây giờ Trải qua một quá trình hoàn thiện, nó dần dần trở thành một loại hình văn hoá nghệ thuật độc đáo thu hút sự say mê của mọi tầng lớp trong xã hội” (Nguyễn Tiến

Cử - “Câu đối Tết” - Giáo dục và Thời đại Tết Kỷ Mão 1999).

Trang 37

Tuy rằng trong những năm gần đây, còn Ýt nhà treo câu đối đỏ, nhưng

đọc câu đối, thưởng thức cái sâu sắc đến cô đọng “như một công trình nghệ

thuật, một bức tranh, một bản nhạc” của câu đối vẫn là cái thú của đông đảo

nhân dân mỗi dịp xuân về “Câu đối là hương vị đặc biệt không thể thiếu của

ngày Tết dân tộc, nó giống như cành đào ở miền Bắc, cành mai ở miền Nam.

Cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, mùa câu đối lại nở rộ lên, ban bè gần xa gặp nhau nhâm nhi chén trà, ly rượu, đánh ván cờ, bàn góp câu đối còn thú nào

bằng” (Nguyễn Văn Tiếu - “Những vế đối còn bỏ trống” - Nhân dân Tết Tân

Tỵ 2001) “Lớp người bình dân, bởi vậy không xa lạ, ưa dán ở cửa ngõ, cột

hiên, cột nhà và hai phía bàn thờ, coi là thú chơi tao nhã Ngày nay câu đối vẫn được ưa chuộng, có mặt trên nhiều trang báo Tết” (Nghiêm Thanh - “Thú

chơi ngày Tết” - Nhân dân Tết Canh thìn 2000).

Trên báo Tết không chỉ xuất hiện bài viết về thú chơi câu đối trong dịpTết, mà đồng thời còn rất nhiều câu đố Tết được đăng tải trên mặt báo Tuychỉ chiếm diện tích nhỏ trên mặt báo, nhưng nó góp phần tạo nên nét đặc biệtlàm cho báo Tết khác với các số báo thường ngày

Một thú chơi quen thuộc trong những ngày Tết là chơi tranh Tranh treotrong nhà ngày Tết có hai loại: một loại là tranh dân gian, còn một loại làtranh hiện đại Viết về thú chơi tranh dân gian trong dịp Tết, tác giả Ngọc

Khuê bài “Bức tranh Tết” (Giáo dục và Thời đại Tết Canh thìn 2000) viết:

“Hàng năm, các nghệ nhân dân gian đã cung cấp nhiều loại tranh Tết cho

khắp mọi miền đất nước để nhân dân ta đón xuân, mừng năm mới” Tác giả

đánh giá tranh dân gian Tết “là trí tuệ, là tài hoa nghệ thuật của dân tộc”,

“Tranh dân gian Việt Nam giản dị, hồn nhiên, gợi cảm, có phong cách độc

đáo” Còn bài “Thú chơi ngày Tết” (Nghiêm Thanh - Nhân dân Tết Canh

thìn 2000), tác giả lại chỉ rõ nguồn gốc, chất liệu, đề tài của các loại tranh Tết

dân gian và thú chơi tranh dân gian ngày nay: “mỗi khi Tết đến, cùng với việc

chuẩn bị nồi bánh chưng xanh, bàn thờ gia tiên, không quên mua vài bức tranh làng Hồ rộn ràng màu sắc để dán trên vách đất, tô thắm không khí

Trang 38

ngày xuân” Trong bài “Những nẻo đường tranh dân gian” (Nhân dân Tết

Tân Tỵ 2001), tác giả Phạm Thanh Hà sau khi giới thiệu những dòng tranh

dân gian chính của nước ta, đã nhấn mạnh tranh dân gian “một thời là món ăn

tinh thần của người Hà Nội, rộng hơn là của nhân dân vùng Bắc Bộ, đặc biệt mỗi dịp Tết Nguyên đán” Theo bài viết, tranh dân gian đã vẽ lại một cách đơn

sơ, mộc mạc cuộc sống đời thường cũng như trí tưởng tượng và mơ ước củanhân dân về một cuộc sống tốt đẹp Giọng văn tâm huyết trong tác phẩm đãgây được xúc động trong lòng người đọc, nhất là khi viết về một giá trị cổtruyền thân thuộc và làm sống lại một mạch nguồn dân tộc

Một loại tranh dân gian nổi tiếng ở cố đô Huế là “Trướng, liễn làng

Chuồn” Bài viết của Hoàng Văn Minh trên báo Lao động Tết Tân Tỵ 2001

đã giới thiệu làng quê với nghề tranh dân gian độc đáo, tồn tại mấy trăm năm

nay “Ngày Tết cổ truyền, tranh trướng, liễn thường được trang trí ở vách

tường gian nhà chính, nơi thờ phụng tổ tiên, hoặc treo ngay làm diềm, rèm trước và sau bàn thờ, ở các gian phô trong nhà Tất cả được giữ nguyên cho đến Tết năm sau mới thay lại tranh mới” Có một thời, trướng, liễn làng

Chuồn không thể thiếu trong dịp Tết cổ truyền của người dân Huế và các tỉnhphụ cận Nhưng ngày nay, nghề có nguy cơ bị thất truyền Đó cũng là nỗi day

dứt trong lòng tác giả khi kết thúc bài viết: “giữa ngổn ngang giấy, màu, tôi

thẫn thờ nghĩ: không lẽ rồi trướng, liễn làng Chuồn chỉ còn trong âm vang quá khứ?”

Trên các báo Tết còn xuất hiện nhiều bài viết về thú chơi hoa và cây

cảnh ngày Tết Đó là cành đào đỏ thắm (“Chuyện bên gốc đào” - Hà Nội mới

Tết Tân Tỵ 2001), cành mai vàng rực rỡ, chậu quất với chùm quả vàng mọngsum suê, hay những chậu hoa, cây cảnh khác trong “Hoa kiểng”, “Hoa Tết với

người Hà Nội” - (Nhân dân Tết Tân Tỵ), “Nghệ thuật Bôn-sai”, “Hoa lan”

(Nhân dân Tết Canh thìn 2000)

Các trò chơi ngày Tết không chỉ bó hẹp trong phạm vi mỗi gia đình, mà

mở rộng ra không gian lớn hơn như trong làng xã, một miền quê Một trò

Trang 39

chơi dân gian thu hút sự quan tâm của đông đảo nhân dân mỗi dịp xuân về là

chơi đu Báo Bắc Ninh Tết Canh thìn 2000 có bài “Thú chơi đu và lễ hội đầu

xuân” của Đăng Đại đã miêu tả sinh động, hấp dẫn về trò chơi này “Chơi đu

trong các ngày lễ hội đầu xuân là trò chơi mang đậm tính dân gian và bản sắc dân tộc độc đáo Trong thời hiện đại, nhiều trò chơi mới xuất hiện nhưng thú chơi đánh đu trong các ngày lễ hội thì vẫn không thể thiêú được” Tác giả

miêu tả tâm trạng của người chơi đu thật thú vị: “cả người đánh đu và người

xem đều chung một tâm trạng hồ hởi, sảng khoái, có lúc hỗi hộp, lo sợ Ai đã đặt chân lên thì muốn mình được đu nữa, còn người chơi đu thì chờ đợi, mong ngóng mình được lên đánh đu”.

Trò chơi dân gian trong dịp Tết Nguyên đán cổ truyền ngày nay tuykhông nhiều như trước, nhưng vẫn thu hút sự quan tâm của đông đảo nhândân mỗi dịp xuân về như các trò chơi: đánh đu, chọi gà, đấu vật, đánh võ, múa

sư tử Thú chơi ngày Tết bộc lộ bản lĩnh, tính cách, thị hiếu và bản sắc dântộc, không ngừng được cải tiến, bổ sung và nâng cao trong đời sống hiện đại.Viết về các trò chơi, thú chơi ngày Tết chính là góp phần giữ gìn và phát huynhững phong tục cổ truyền độc đáo của dân tộc Nhưng trên báo Tết nhữngnăm gần đây, nhiều bài viết về vấn đề này không nhiều

- Các phong tục, lễ hội ngày Tết.

Ngày Tết là dịp để con người hướng về tổ tiên với tấm lòng thành kính,biết ơn Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tín ngưỡng đặc biệt của người ViệtNam Đây là tục lệ mang tính đậm tính nhân văn, thể hiện đạo lý uống nướcnhớ nguồn của dân tộc ta Vì vậy mâm cỗ cúng đặc biệt được coi trọng

“Ngày Tết, ngày của đạo lý Bàn thờ của người Việt Nam ngày Tết chính là

ảnh hình của ý thức cội nguồn, ý thức sâu xa đến mức trở thành thiêng liêng

huyền bí” (Nguyễn Phan Hách - “Tết với quê hương” - Hà Nội mới Tết Tân

Tỵ 2001) Bàn thờ ngày Tết không thể thiếu mâm ngũ quả “Hương hoa, mâm

ngũ quả dâng lên những người đã khuất trên bàn thờ gia tiên, cốt thanh khiết làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm Êm áp rực rỡ

Trang 40

mà hài hoà Nó thể hiện sinh động ý nghĩa triết học, tín ngưỡng thẩm mỹ ngày Tết cùng những ước vọng lạc quan của mỗi gia đình mang theo khi

bước vào năm mới” (Nguyễn Văn Chương - “Đi chợ Tết” - Bắc Ninh Tết

Canh thìn 2000)

Trong các ngày Tết, người ta còn bày cúng trên bàn thờ nhiều lễ vật, đồcúng như gà luộc, chân giò Bài viết “Vì sao ngày Tết người ta hay cúng ”

(Nguyễn Quý Đôn - Giáo dục và Thời đại Tết Canh thìn 2000) đã chỉ ra:

“người ta đem sự sự mong ước, những tâm nguyện gửi vào các biểu tượng vật

chất, để khi đọc lên, nói ra những khái niệm về các biểu tượng đó, thì những

từ ngữ này thông đạt được mọi điều mong ước, nguyện vọng của con người”.

Người miền Nam cúng trái cây theo tên gọi để bày tỏ lời ước nguyện của

mình: “cúng Khổ qua (mướp đắng) để mong sao sang năm mới cái khổ sẽ

qua đi, điều tốt lành sẽ đến… cúng Dưa hấu, mong sao năm tới vận đỏ như ruột dưa và quả Dứa có nhiều nhánh để năm mới phát tài, phát lộc” (Đông

Mai - “Tết phương Nam” - Hà Nội mới Tết Canh thìn 2000).

Tảo mộ đầu xuân là tục lệ thể hiện lòng thành kính và nỗi xúc động sâu

xa của mình trước công ơn của tiên tổ “Con cháu xa gần kéo về quê tảo

mộ, thắp nén nhang cắm vào bát hương trên nấm mồ của ông bà, tổ tiên, bỗng nhiên trong lòng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào” (Hoàng Liễu -

“Tảo mộ đầu xuân” - Phụ nữ Việt Nam Tết Canh thìn 2000) Nhà văn Nguyễn Phan Hách trong bài “Tết với quê hương” (Hà Nội mới Tết Tân Tỵ

2001) lại miêu tả không khí thiêng liêng trong buổi tảo mộ: “Chiều 28 mọi

người đi tảo mộ Từng đoàn, từng nhóm mỗi nhà Những nấm mộ hanh hao

cỏ úa Rộy nắm cỏ, thắp nén hương Khói hương lơ lửng bay như chiếc thang

hư ảo cho tiền nhân bước xuống cõi trần Tôi bâng khuâng trong buổi đi tảo

mộ Nhớ người xưa Cụ kị, ông bà, những bóng hình dĩ vãng trở về nhắc nhở một cái gì về đạo hiếu”.

Sự tốt đẹp của năm mới là “điềm lành”, báo trước sự tốt đẹp của cả mộtnăm Vì vậy, khi Tết đến, người ta muốn rũ bỏ biết bao những lo lắng, đau

Ngày đăng: 17/04/2015, 17:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Toan Ánh, Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Tết - Lễ - Hội hè , Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Tết - Lễ - Hội hè
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
[2] Báo Bắc Ninh, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Ninh
[3] Báo Giáo dục và Thời đại, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Thời đại
[4] Báo Hà Nội mới, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội mới
[5] Báo Hà Nội mới sè ra ngày 26/8/1997, tr.1 - 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội mới
[6] Báo Lao động, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động
[7] Báo Nhà báo và công luận, sè 6/2001, tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo và công luận
[8] Báo Nhân dân, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân
[9] Báo Nông thôn ngày nay, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn ngày nay
[10] Báo Phụ nữ Việt Nam, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam
[11] Báo Tiền phong, số Tết 1999, 2000, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền phong
[12] Đức Dũng, Ký báo chí, Nxb Văn hoá-Thông tin, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký báo chí
Nhà XB: Nxb Văn hoá-Thông tin
[13] GS Hà Minh Đức (chủ biên), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận vàthực tiễn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[14] GS Hà Minh Đức, Cơ sở lý luận báo chí đặc tính chung và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí đặc tính chung và phongcách
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[15] GS Hà Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng..., Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[16] Đỗ Xuân Hà, Báo chí với thông tin quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với thông tin quốc tế
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
[17] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học, Nxb
Nhà XB: Nxb" Đại học Quốc gia Hà Nội
[18] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng và Trungtâm từ điển học
[19] Trần Quang, Các thể loại chính luận báo chí, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại chính luận báo chí
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
[20] Trần Quang, Làm báo lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm báo lý thuyết và thực hành
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w