1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Báo Thanh Niên với vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lực

81 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, tham gia vàohoạt động báo chí không chỉ có các nhà báo chuyên nghiệp mà còn cócả những nhà chính trị, nhà khoa học, nhà kinh tế, những người hoạtđộng xã hội trong và ngoài quốc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá (CNH-HĐH) là con đường tấtyếu của mọi quốc gia nhằm phát triển kinh tế xã hội Riêng ở nướcta,việc thực hiện CNH-HĐH được coi là “nhiệm vụ trung tâm” trong

cả một chặng đường dài của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đểthực hiện được “nhiệm vụ trung tâm” ấy chúng ta cần huy động rấtnhiều nguồn lực khác nhau trong đó có một nguồn lực quan trọngnhất,mang tính quyết định nhất đến thành công của quá trình CNH-HĐH, đó là nguồn lực con người

Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định: “ Lấy việc phát huynguồn lực con người cho sự phát triển nhanh và bền vững” và sự pháttriển về nguồn lực phải được coi là mục đích cuối cùng, cao nhất củaquá trình phát triển Thực tế đã chứng minh, con người là yếu tố đầuvào quan trọng nhất của quá trình lao động sản xuất, trong lĩnh vựcnào thì con người cũng đứng ở vị trí trung tâm

Cùng với sự biến chuyển mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới đấtnước ấy, trong những năm qua, hệ thống báo chí nước ta phát triển cả

về số lượng và chất lượng Đặc biệt, khi nền kinh tế phát triển, đờisống con người nâng cao, nhu cầu thông tin của công chúng lớn, thìbáo chí cũng phải không ngừng đổi mới, năng động và sáng tạo hơn

Để đạt được những thành quả đó đòi hỏi đội ngũ nhân lực làm báophải xông xáo, bám sát đời sống xã hội, thông tin nhanh chóng các sựkiện tới bạn đọc

Trong giai đoạn hiện nay, báo chí lại có ý nghĩa cấp thiết vàquan trọng hơn, khi mà quá trình toàn cầu hóa thông tin báo chí đã trởthành hiện thực sinh động, các phương tiện thông tin đại chúng phá vỡkhoảng cách biên giới quốc gia truyền thống, khắc phục được những

Trang 2

khoảng không gian địa lý trên quy mô trái đất Hơn nữa, tham gia vàohoạt động báo chí không chỉ có các nhà báo chuyên nghiệp mà còn có

cả những nhà chính trị, nhà khoa học, nhà kinh tế, những người hoạtđộng xã hội (trong và ngoài quốc gia), đông đảo công nhân, nông dân,

và những người lao động bình thường… Do đó, quản lý và phát triểnđược nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi cơ quan báo chí cần quan tâm

để phát huy được sức mạnh thông tin của mình

Tuy nhiên, trong hoạt động báo chí thực tiễn, một vấn đề đặt ra

là nguồn nhân lực báo chí phải làm gì và làm như thế nào để thôngsuốt từ khâu đào tạo đến việc lựa chọn, bố trí và đào tạo lại Đảng vànhà nước ta coi trọng sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ

vì nhận thức sâu sắc về nguồn nhân lực con người và đào tạo conngười để sử dụng con người tốt hơn Muốn cho sự nghiệp báo chí pháttriển, ngoài các yếu tố cơ sở vật chất, tôn chỉ mục đích hoạt động thìvấn đề nguồn lực con người là một yêu cầu không thể thiếu Nguồnnhân lực có chất lượng thì cơ quan báo chí sẽ phát triển có hiệu quả,

ổn định Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề nguồn nhân lực trong các cơquan báo chí đã có nhiều sự thay đổi phù hợp, đáp ứng được nhu cầuthực tế Tuy nhiên vần còn có những tồn tại cần phải khắc phục

Hệ thống báo chí ở nước ta, mỗi cơ quan thông tấn báo chí lạiquan tâm vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo một cáchkhác nhau Nguồn nhân lực tòa soạn báo chí mang những đặc điểmchung của nguồn nhân lực xã hội nhưng cũng mang những đặc thùriêng biệt

Chính những lý do, tầm quan trọng của báo chí nằm trong taycác nhà báo và cách sắp xếp tổ chức con người của mỗi cơ quan báochí Lựa chọn nghiên cứu vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lựctòa soạn báo, tác giả luận văn đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Báo

Trang 3

Lựa chọn nghiên cứu báo Thanh Niên- cơ quan ngôn luận củaHội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, là tờ báo ra đời trong giai đoạnchuyển mình đổi mới của cả đất nước Hiện nay, trong mặt bằng chungcủa báo chí, báo Thanh Niên vẫn giữ vị trí là một trong những tờ báo

có uy tín về thông tin, có lượng độc giả và số lượng phát hành lớn Đểlàm được điều đó trong quá trình phát triển tờ báo, nguồn nhân lực tòasoạn cũng là một trong những nhân tố góp phần quan trọng trong thànhcông đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu đề tài và tìm tài liệu, bản thân tôi đãtiếp cận với nhiều nguồn thông tin, giáo trình và các luận văn tốtnghiệp, thạc sỹ, đề tài khoa học thì thấy rằng, vấn đề nguồn nhân lựcthì có khá nhiều người đã nghiên cứu, nhưng chủ yếu là thuộc chuyênngành lý luận - hành chính Họ đi sâu nghiên cứu vấn đề nguồn nhânlực trong xã hội, trong kinh doanh, trong doanh nghiệp hoặc chungchung là ngành báo chí tại địa phương chứ chưa có bất cứ tài liệu,công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về nguồn nhân lực tòa soạn báochí, cụ thể là báo Thanh niên

Các đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực nói chung hầu hết đisâu vào các khái niệm về nguồn nhân lực xã hội, rồi đi vào một doanhnghiệp cụ thể

Trong thời gian hạn hẹp, tôi đã tiếp cận những công trình sau:-Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện Hành chính Quốcgia ,MS 97-98-134, Quản lý nguồn nhân lực trong một tổ chức, chủnhiệm đề tài : GS TS Bùi Văn Nhơn, 2004

- Vũ Xuân Tiến , “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồnnhân lực”, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại Học Đà Nẵng

Trang 4

- Tạ Ngọc Hải, “Một số nội dung về nguồn nhân lực và phươngpháp đánh giá nguồn nhân lực”, Viện khoa học tổ chức nhà nước.

-Nguyễn Thị Hằng Thu, “Tổ chức và phát triển chuyên mụcchào buổi sáng báo Thanh Niên”, Học viện Báo chí và Tuyêntruyền,2006

-Vị Thị Ngọc Anh, “Quản lý nhà nước về nguồn nhân lựcngành báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay”,Học viện Hành chính Quốc gia

Trên tinh thần đó, phạm vi cuốn khóa luận này sẽ kế thừa nhữngkhái niệm chung, kiến thức lý luận cơ bản đó rồi rút ra những cáchhiểu cơ bản nhất, sâu sắc nhất về nội dung nguồn nhân lực tòa soạnbáo chí và tìm ra hướng phát triển về nguồn nhân lực tòa soạn báoThanh Niên thông qua việc tìm hiểu cơ cấu tòa soạn và phỏng vấn sâuđội ngũ nhân lực báo Thanh Niên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở hình thành quan niệm nguồn nhân lực báo chí vàquản lí nguồn nhân lực báo chí, khảo sát và đánh giá thực trạng tìnhhình quản lí ngồn nhân lực tòa soạn báo Thanh niên, KL nêu vấn đề vàtìm kiếm giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản línguồn nhân lực tòa soạn báo chí

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đây, khóa luận tập trung giải quyếtcác nhiệm vụ chính sau đây:

-Giải mã các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu,

hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về nguồn nhân lực, phát triểnnguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực tòa soạn báo chí

Trang 5

-Khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và phát triển nguồnnhân lực trong tòa soạn báo Thanh Niên trong thời gian qua.

- Đánh giá quản lí nguồn nhân lực tòa soạn báo Thanh Niên, nêuvấn đề và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong các

cơ quan báo chí nói chung và báo Thanh Niên nói riêng trong thời giantới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

-Vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong tòa soạn báochí

-Đối tượng khảo sát: vấn đề quản lí nguồn nhân lực tòa soạn báothanh niên

4.2 Phạm vi khảo sát

Nguồn nhân lực báo Thanh Niên: Thư ký tòa soạn, phó TổngBiên tập Phóng viên, cộng tác viên, thông tin viên, phóng viên thườngtrú …

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sử dụng phốihợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp luận:

Tiến hành nghiên cứu các văn kiện Đảng, tài liệu, giáo trình, bàibáo, công trình nghiên cứu khoa học xung quanh vấn đề quản lý vàphát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực báo chí nhằmxác định cơ sở lý luận của luận văn; đồng thời đưa ra khái niệm quản

lý và phát triển nguồn nhân lực nguồn nhân lực báo chí

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

-Hệ thống tài liệu: Phân tích, tổng hợp số liệu nghiên cứu của

các cuộc điều tra

Trang 6

- Phân tích sản phẩm truyền thông-phân tích bài báo

-Phỏng vấn sâu, phỏng vấn anket: lãnh đạo tòa soạn báo Thanh

Niên, phóng viên, biên tập viên …

- Phân tích, tổng hợp, đánh giá: Từ kết quả thu thập và phóng

vấn được, tổng kết vấn đề đưa ra những luận điểm chung và kháchquan nhất

6 Ý nghĩa khoa học lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa lí luận

Thông qua việc khảo sát, tìm hiểu, hệ thống hóa lý luận từ cácnguồn tài liệu về nội dung nguồn nhân lực, việc quản lý và phát triểnnguồn nhân lực xã hội nói chung và báo chí nói riêng để xây dựng,đánh giá các tiêu chí đặt ra cho việc quản lý và phát triển nhân lực báochí trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, khóa luận muốn làm rõ quanniệm của tòa soạn báo Thanh niên về sử dụng nguồn nhân lực

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua những quan điểm đó, khóa luận có đưa ra những vấn

đề đang tồn tại về việc sử dụng nguồn nhân lực báo chí trong các cơquan báo Thanh Niên Thông qua đó, muốn tìm được những phươnghướng và một số biện pháp tăng cường cho việc sử dụng nguồn nhânlực báo chí đạt hiệu quả cao nhất trong tòa soạn báo chí hiện nay

7 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chủ yếu của khóa luậnbao gồm: 3 chương

Chương I: Nguồn nhân lực tòa soạn báo chí- Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương II: Phân tích thực trạng nguồn nhân lực báo Thanh Niên hiện nay

Trang 7

Chương III: Vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lực báo Thanh Niên và khuyến nghị khoa học

Sau phần kết luận là danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận.Cuối khóa luận có phần phụ lục, trong đó có bảng hỏi phỏng vấn sâulãnh đạo, phóng viên báo Thanh Niên Trích dẫn một số tài liệu, một sốbài báo có sử dụng phục vụ nghiên cứu trong khóa luận

Trang 8

CHƯƠNG I: NGUỒN NHÂN LỰC TÒA SOẠN BÁO CHÍ-MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Trước đây, trong quá trình phát triển, các nhà kinh tế và quản lýthường dùng thuật ngữ “sức lao động”, “lực lượng lao động” Vàonhững năm 70 của thế kỷ XX, trong nghiên cứu và quản lý, thuật ngữ

“nguồn lao động” được sử dụng rộng rãi Nhưng hiện nay, trên thế giới,thuật ngữ “nguồn nhân lực” trở thành thuật ngữ chung, phổ biến Điềunày đánh dấu một bước phát triển mới, cao hơn về tư duy và nhận thứctrong nghiên cứu con người lao động và trong quá trình phát triển

Tuy nhiên, có tài liệu cho rằng, thuật ngữ nguồn nhân lực(Human resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỉ XX khi mà có

sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trongkinh tế lao động Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên(personnel management) với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượngthừa hành, phụ thuộc cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chiphí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lýnguồn nhân lực (Human resourses management) với tính chất mềm dẻohơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể pháthuy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông quatích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển Có thể nói , sựxuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện

cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phươngthức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn nhân lực con người

Trang 9

Trong quá trình tìm hiểu về khái niệm nguồn nhân lực, tác giảkhóa luận thấy có khá nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về nguồnnhân lực như:

-Theo nhà kinh tế học Beg (Fischer & Dornhusch, 1995) cho

rằng: “nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập cho tương lai”.

-Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn

nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực với các yếu tố vậtchất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triểnnói chung của các tổ chức

-Trong báo cáo của Liên hiệp quốc đánh giá về những tác động

của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.

Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên vềchất lượng nguồn nhân lực

-Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho

sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức 1

-Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó 2

1 Xem trang 9, George T.Milkovich and John W.Boudreau- Hurman resourses management.

Trang 10

-Theo ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộvốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sởhữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay mộthoạt động nào đó Khi nói đến nguồn lực con người là người ta nói đếncon người với tư cách là chủ thể của hoạt động sáng tạo.

-Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, đó là nguồn sức lao động cung cấp cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, đóng vai trị tạo ra mọi giá trị về của cải vật chất, giá trị văn hóa và các công việc dịch vụ cho xã hội.

Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là nguồnlực con người (Human resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ,

là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý đểtham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Theo quan niệm củakinh tế học hiện đại, NNL là một trong bốn nguồn lực cơ bản của tăngtrưởng kinh tế Các nguồn lực đó là: nguồn lực vật chất (physicalresouces ), nguồn lực tài chính ( finalcial resources )…

Theo nghĩa hẹp, NNL tương đương với nguồn lao động haynguồn nhân lực xã hội Đó là một bộ phận dân số trong độ tuổi laođộng có khả năng lao động

-Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên góc độ số lượng, chất lượng.

Số lượng NNL được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấutuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số

Ở nước ta, số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng sốngười trong độ tuổi lao động (Nam: 15 đến 60; nữ : 15 đến 55 ) vìngười lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi và được hưởng chế độ hưu trí

2 Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa-2001.

Trang 11

hàng năm khi có đủ điều kiện về tuổi đời (Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55tuổi ) và thời gian đúng bảo hiểm xã hội ( 20 năm trở lên) Đây là lựclượng lao động tiềm năng của nền kinh tế - xã hội.

Sự gia tăng tổng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăngNNL, có nghĩa là sự gia tăng dân số sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăngNNL Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không giảm ngay lậptức nhịp độ tăng NNL

Chất lượng NNL thể hiển trạng thái nhất định của NNL với tưcách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạtđộng kinh tế và các quan hệ xã hội Chất lượng NNL là tổng thể nhữngnét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tớihoạt động sản xuất và phát triển con người Do vậy chất lượng NNLbao gồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn

và năng lực phẩm chất… Chất lượng NNL liên quan trực tiếp đến nhiềulĩnh vực như đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đàotạo, lao động và việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động vàcác mối quan hệ xã hội khác

-Theo thuật ngữ trong tài liệu của Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, ngành hay một vùng Đây là nguồn nhân lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, xã hội”.

- “Nguồn nhân lực về nội hàm được xác định như là các tiềm

năng của con người, bao hàm tổng hòa năng lực về thể lực, trí lực, nhân

cách của con người đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế xã hội đòi hỏi”.

Trang 12

giá, trình độ, tri thức, vị thế xã hội tạo nên năng lực con người của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế-văn hóa- xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội

Trong bất cứ lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân lực cũng là yếu tốquan trọng nhất Trong lĩnh vực kinh tế Mác-Lênin nhận xét “lực lượngsản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại công nhân, người lao động”.Như vậy: Nhân lực là rất quan trọng trong lực lượng sản xuất, conngười khi được tạo ra một cách chu đáo, bài bản sẽ có thể vận dụngđược hết khả năng của mình trong quá trình sản xuất

- Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực: Hồ Chí Minh

coi con người là vốn quý Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hếtphải có con người XHCN Tiêu chuẩn của con người XHCNlà có tưtưởng XHCN, mình vì mọi người, mọi người vì mình, có ý thức vànăng lực làm chủ, có đạo đức, lối sống XHCN, lao động kĩ thuật, kĩthuật có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh phẩm giá, khả năng vươn lênchân-thiện-mỹ của con người

Ngoài ra còn có một số khái niệm khác về nguồn nhân lực nhưsau:

- Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứudưới nhiều khía cạnh Trước hết là với tư cách là nguồn cung cấp sứclao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bìnhthường

- Nguồn nhân lực với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế,

xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn,bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động

Trang 13

- Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những conngười cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố vềthể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.

- Theo quy định của Tổng cục Thống kê, khi tính toán nguồnnhân lực xã hội còn bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động đanglàm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Từ những khái niệm khác nhau đó, dẫn đến một số điểm khácnhau trong tính toán quy mô NNL Nhưng những chênh lệch đó khôngđáng kể vì số người trong độ tuổi có khả năng lao động chiếm đa số tuyệtđối trong NNL

Như vậy, tuy có những định nghĩa khác nhau, tùy theo góc độtiếp cận nghiên cứu, nhưng điểm chung có thể dễ dàng nhận thấynhững khái niệm này đều thống nhất trên cơ sở nội dung cơ bản:

Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội,

là tổng thể tiềm năng của con người ( trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia.

Như vậy, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp được xem xét,đánh giá, bao gồm các yếu tố số lượng và chất lượng và cơ cấu pháttriển người lao động nói chung ở cả hiện tại cũng như trong tương laitiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực vàthế giới.4

+Số lượng NNL được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô vàtốc độ tăng nguồn nhân lực Sự phát triển về số lượng dựa vào yếu tốbên trong và yếu tố bên ngoài

+Chất lượng NNL là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phậnnhư trí tuệ,trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe…là tổng

4 Tạp chí phát triển nhân lực, số 3/2007, trang 39

Trang 14

thể những đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếptới hoạt động trực tiếp sản xuất và phát triển con người

+Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét, đánh giá

về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện ở các phương diện khácnhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi…

Đó là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạngthái thể lực, trí lực, kĩ năng, phong cách, đạo đức, lối sống và tinh thầncủa nguồn nhân lực Nghiên cứu về nguồn nhân lực phải xem xét, đánhgiá cả hai mặt: chất lượng và số lượng và cơ cấu nhân lực

1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực báo chí

Qua quá trình phân tích các đặc điểm, khái niệm của nguồn nhânlực xã hội ở trên, và vì hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất vềnguồn nhân lực báo chí, trong khóa luận này,tác giả xin tổng hợp vàđưa ra một định nghĩa như sau:

Nguồn nhân lực báo chí trước hết được hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho ngành báo chí, là lực lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất và phát triển sản phẩm báo chí- truyền thông, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp

+Lao động trực tiếp là những người làm việc trong hệ thống cơquan quản lý nhà nước về báo chí, các đơn vị sự nghiệp báo chí và cácđơn vị kinh doanh, sản xuất báo chớ

+Lao động gián tiếp là những lao động làm việc trong cácngành, các quá trình liên quan đến hoạt động báo chí như trong vănhoá, hoặc không liên quan đến ngành báo chí như hải quan, giao thông,thương mại, dịch vụ công cộng môi trường, bưu chính viễn thông, công

nhân, nông dân, lao động tự do, cộng đồng dân cư…

Trong khóa luận này, đi sâu tìm hiểu nguồn nhân lực tòa soạnbáo chí

Trang 15

1.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực tòa soạn báo chí

Con người là trung tâm của mọi hoạt động xã hội, cùng với hoạtđộng tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ Nguồn lực con ngườigiúp tạo nên nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển Ngành nghề nàocũng vậy, nguồn nhân lực tốt sẽ quyết định ngành nghề đó phát triểnnhư vậy và đòi hỏi nguồn nhân lực phải có kinh nghiệm, đạo đức tốt.Nghê báo cũng vậy, lao động báo chí mang tính đặc thù Tính chấtnghề nghiệp có nhiều yếu tố, điều kiện chi phối hoạt động của nhân lựcbáo chí cả về số và chất lượng

Nguồn nhân lực tòa soạn báo chí là nguồn lực về con người, là nguồn lao động trí tuệ và sức lực tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất, xuất bản sản phẩm báo chí của một tòa soạn báo chí cụ thể Mỗi tòa soạn đều có một bộ máy nguồn nhân lực hoạt động chuyên biệt

Ngoài ra, khi nói đến một tổ chức, cơ quan người ta còn hay sửdụng cụm từ “nguồn nhân sự”, hay “nguồn nhân sự tòa soạn báo chí”

Lý giải cho hai cụm từ khác nhau này như sau:

+Trước hết, về mặt từ ngữ: Một người điều hành về nhân sự sẽkhác một người điều hành về nhân lực Human resourses, theo tiếnganh dịch sang là nguồn nhân lực, nhưng theo mô hình quản trị tiếngTrung hoa nghĩa là nguồn nhân sự Trước đây, nền kinh tế đậm nétphương Đông, khi chưa tiếp cận hết khoa học phương Tây, thì hầu hếtcác tổ chức đều gọi là nguồn nhân sự Nhưng sau khi văn hóa và khoahọc phương Tây được tiếp cận trọn vẹn hơn thì các tổ chức thường sửdụng cụm từ “nguồn nhân lực”

+ Về nội dung, thực chất hai mà là một, hai chức danh này đềulàm một nội dung công việc, chỉ là mỗi đơn vị dựng từ khác nhau Nhưtác giả nổi tiếng về cuốn sách Quản trị nguồn nhân lực: Nguyễn HữuThân trước đây cũng sử dụng tựa đề sách là “Quản trị nhân sự” nhưng

Trang 16

xuất bản gần đây thì đổi tên thành “Quản trị nguồn nhân lực” cùng tácgiả và cùng nội dung.

Tuy nhiên, theo cách hiểu từ ngữ để vận dụng vào thực tế thì sẽxuất hiện sự khác biệt Nếu hiểu theo nghĩa nhân sự thì sẽ có quan điểm

ôn hòa, con người là trung tâm của sự việc, quản trị theo mô hình tìnhcảm và hòa thuận, động viên và khuyến khích làm việc tập thể Cònhiểu theo nghĩa quản lý nguồn nhân lực thì rõ ràng là sự quản lý vềnhân viên, người lao động Đề cao tinh thần trách nhiệm giữ nhân viên,người lao động và đơn vị

Cho nên, nguồn nhân lực tòa soạn báo chí chú trọng tới conngười, đội ngũ những người tham gia vào hoạt động của một tòa soạnbáo chí từ các khâu thông tin, viết bài, trình bày, quảng cáo, pháthành….để duy trì hoạt động của một tòa soạn báo chí

Đặc điểm nguồn nhân lực tòa soạn báo chí

Nguồn nhân lực của tòa soạn báo chí là toàn bộ những con ngườilàm trong cơ quan báo chí Trong đó, người đứng đầu giữ vai trò quantrọng trong việc điều hành, lãnh đạo Đội ngũ phóng viên (PV), biêntập viên(BTV), giữ vai trò chủ chốt, hiện nền báo chí nước ta có gần17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, hàng nghìn phóng viên đanghoạt động báo chí chuẩn bị đến thời hạn cấp thẻ, trong đó về báo in,tính đến tháng 3 năm 2012, cả nước có 786 cơ quan báo in với 1.016 ấnphẩm Đội ngũ PV, BTV, báo chí nước ta có tính kế thừa với xu hướngngày càng trẻ hóa và được đào tạo chính quy, lớp phóng viên có độ tuổi

từ 25 đến 40

Báo chí nước ta ngày càng được kiện toàn tổ chức, điều chỉnh, bốtrí lại cán bộ ở các phòng ban, tạo sự hợp lý tính chuyên sâu trong côngviệc Tiếp tục xây dựng đội ngũ chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vữngvàng, được đào tạo, rèn luyện nghiệp vụ báo chí, pháp luật, kiến thức

Trang 17

kinh tế, xã hội, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức của người làmbáo

Cán bộ, PV, BTV yêu nghề, say sưa gắn bó với nghề không chủquan, tự mãn, luôn ý thức phấn đấu, không ngừng trở thành những nhàbáo vững vàng chính trị, có chuyên môn vững để đáp ứng nhu cầu hộinhập ngày càng cao

Hạn chế:

Hạn chế phổ biến nhất của đội ngũ cán bộ, PV báo chí nước tahiện nay là: tỉ lệ thành thạo ngoại ngữ quá ít, số PV giỏi chưa nhiều,phóng viên giỏi đã chuyển sang làm quản lý Một số PV trẻ nhiệt tình,xông xáo, nhưng do vốn sống hạn chế nên chưa đủ sắc sảo

Ở những lĩnh vực như xây dựng Đảng, kinh tế, hai mảng đề tàinày cực kì quan trọng đang thiếu những cây bút đủ tầm Kinh tế nước

ta đang dần hội nhập, một số PV kinh tế thị trường cho ra đời những tácphẩm xa rời đường lối của Đảng hay những tác phẩm câu khách mangtính chất thị trường

Bên cạnh đó, khâu đào tạo nguồn nhân lực báo chí chưa đạt hiệuquả Tiến sĩ Huỳnh Văn Thông - Trưởng khoa Báo chí và truyền thông,

ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM cho biết, hiện nay các cơquan báo chí đòi hỏi nhân lực biết làm báo chứ không chỉ biết viết báo.Điều này đặt ra áp lực lớn cho công tác đào tạo trong bối cảnh “khôngyên tâm với những môn học kinh điển” 5

1.1.4 Khái niệm quản lý và phát triển nguồn nhân lực

1.1.4.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một khái niệm lâu nay thường có các cách định nghĩa,cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau Thựcchất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là gì? ) cũng cónhững quan niệm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên với sự phát

5 Xem: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120327/bo-tien-ti-de-dao-tao-lai-nhan-luc-bao-chi.aspx

Trang 18

triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cáchhiểu thống nhất.

Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành độngcủa các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trungtâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đốitượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viêntrong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất.Quản lý bao gồm các yếu tố:

+ Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác độngquản lý và một một đối tượng bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếpnhận và thực hiện tác động quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là mộtlần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

+ Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêunày là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động Chủ thể quản lý có thể làmột người, nhiều người Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặcgiới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ ) hoặc giớisinh vật (vật nuôi, cây trồng )

Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trựctiếp của quản lý là những con người trong tổ chức; thông qua đó tácđộng lên các yếu tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quảcuối cùng của toàn bộ hành động Vì vật khi xét về thực chất, quản lýtrước hết và chủ yếu là quản lý con người (trong bất cứ hành động nào)

Xác định như vậy để thấy con người là yếu tố quyết định trongmọi hành động, hoàn toàn không có nghĩa là nội dung các chức năngquản lý nhân sự (một bộ phận trọng yếu của quản lý) Điều này đã đượcnhiều nhà khoa học quản lý nhấn mạnh qua cách thể hiện như: "Quản

lý là một quá trình làm cho những hành động được hoàn thành với hiệu

Trang 19

quả cao, bằng và thông qua những người khác (S.P.Robbing) và "Cácnhà quản lý có trách nhiệm duy trì các hành động làm cho các cá nhân

có thể đóng góp tốt nhất và các mục tiêu của nhóm" (H Koontz, C.O'donnell, )

Theo wikipedia, Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các

tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chứclàm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Côngviệc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kếhoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong đó, các nguồnlực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ

và thiên nhiên Quản lý (tiếng Anh là Management =điều khiển bằngtay“) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộphận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thànhlập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, tríthực và giá trị vô hình)

Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệtgiữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xãhội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giảikhác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất

và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhậnthức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều họcgiả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản

lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phongphú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản

lý như sau:

Trang 20

- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làmviệc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "

- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình,doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kếhoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thựchiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”

- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trườngtốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"

- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chấtcủa nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nókhông nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó làthành tích"

- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởimôi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chínhlà: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhâncông"

Chủ trương của Peter F Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc

độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp Vì thế,quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽthông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới đểđạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển" Nếukhông có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đókhông thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển

Từ đó có thể thấy, cơ sở chính trong giải quyết độ khó của vấn

đề là "quan điểm về hệ thống", cơ sở chính trong giải quyết độ khó vềthời gian là "quan điểm về sự chuyển động” Như vậy, đặc điểm lớnnhất trong lý luận của Peter F Dalark là cách nhìn hệ thống mở và

Trang 21

chuyển động" Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tư tưởng triết học

về quản lý của ông

Như vậy, có thể hiểu đơn giản “quản lý là làm cho công việc của

bộ phận được thực hiện thông qua hoạt động của người khác”.

Trong nhiều tài liệu, khi nhắc đến quản lý hay nhắc đến thuậtngữ quản trị Cần phân biệt hai thuật ngữ này như sau:

Quản trị tiếng Anh là Management, vừa có nghĩa là quản lý vừa

có nghĩa là quản trị, nhưng được dựng chủ yếu với nghĩa quản trị.Ngoài ra tiếng Anh còn dựng một thuật ngữ khác nữa là Administrationvới nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền

Tiếng Pháp cũng có 2 từ ngữ tương đương: Gestion (tươngđương với từ Management của tiếng Anh) là quản trị kinh doanh, cònAdministration trong tiếng Anh cũng là quản lý các hành động hànhchính, chính quyền

Như vậy, có thể tạm coi quản lý là thuật ngữ được dựng với các

cơ quan Nhà nước trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh

tế nói riêng, còn giá trị là thuật ngữ được dựng đối với cấp cơ sở trong

đó các tổ chức kinh doanh - các doanh nghiệp

Quản trị và quản lý là logic giống nhau của vấn đề quản lý,nhưng điểm khác là nội dung và quy mô cụ thể của vấn đề quản lý đặt

ra một bên là phạm vị cả nước, một bên là phạm vi từng cơ sở

1.1.4.2 Khái niệm quản lý nguồn nhân lực

Quản lý nguồn nhân lực như là một quá trình phải được xem xéttrong mối quan hệ không thể tách rời giữa các quá trình: phát triểnnguồn nhân lực, phân bố nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực

Khái niệm quản lý nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều góc độkhác nhau:

Trang 22

Ở góc độ tổ chức quá trình lao động: Quản lý NNL là lĩnh vựctheo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng,thần kinh, bắp thịt) giữa con người với các yếu tố vật chất tự nhiên(công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lượng…) trong quá trìnhtạo ra của cái vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người

và xã hội nhămg duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con người

Theo Werther và Davis (nhà nghiên cứu), quản lý nguồn nhânlực là tìm mọi cách tạo thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoànthành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức, tăngcường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của

tổ chức, đạo đức và xã hội

Ở góc độ nghĩa hẹp của quản lý nguồn nhân lực là cơ quan quản

lý làm những việc cụ thể như: tuyển người, bình xét, giao công việc,giải quyết tiền lương, đánh giá chất lượng NLĐ nhằm chấp hành tốtmục tiêu, kế hoạch của tổ chức

Xét trên góc độ quản lý, việc khai thác, quản lý nguồn nhân lựclấy giá trị con người làm trọng tâm, vận dụng hoạt động khai thác vàquản lý nhằm giải quyết những tác động lẫn nhau giữa người với côngviệc, giữu người với người và giữa người với tổ chức

Tóm lại, khái niệm chung nhất về quản lý nguồn nhân lực như

sau: QLNNL là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân.

1.1.4.3 Khái niệm phát triển

Theo chủ nghĩa Mac- Lênin, phát triển là sự vận động tiến lên từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cái mới ra đời thay thế cái cũ,cái cải tiến thay thế cái lạc hậu

Trang 23

Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nângcao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồngthời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhânlực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm đểphát triển kinh tế- xã hội.

“Phát triển” là khái niệm được bàn thảo nhiều trong những thậpniên gần đây và nội hàm khái niệm này ngày càng phong phú Tuynhiên, ở một bình diện nào đó, có thể được hiểu là “cải thiện cuộc sốngcủa con người hoặc cải thiện mức sống của xã hội” Nhưng còn rấtnhiều ý kiến tranh cãi xoay quanh vấn đề cụ thể như thế nào là “cảithiện” Từ rất lâu người ta thường đồng nhất “phát triển” là “tăngtrưởng kinh tế” hoặc “thịnh vượng về kinh tế” Trong bài nghiên cứukhoa học “Lý thuyết Truyền thông phát triển6, Men-cốt7 cho rằng người

ta thường nhầm tưởng mức độ phát triển được đo bằng “Tổng thu nhập quốc nội GNP và mọi nhân tố trong nước được huy động để tăng cường và duy trì mức độ tăng trưởng GNP, nhất là trong những ngành tập trung nhiều vốn như công nghiệp và công nghệ với nguyên tắc sở hữu tư nhân, tự do thương mại và thị trường tự do”8

Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm

1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới 9 với nội dung rất đơngiản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triểnkinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sựtác động đến môi trường sinh thái học" Khái niệm này được phổ biếnrộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland10 Báo cáo này ghi rõ,

phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu

6 “International and Development Communication: a 21 st Century Perspective”, (Sage Publications, 2001).

7 Giáo sư Khoa Viễn thông đại học Bowling Green State.

8 Sđd, tr 131

9 Công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN.

10 Còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay

là Ủy ban Brundtland.

Trang 24

cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền

vững phải bảo đảm sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng,văn hóa và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất

cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa các lĩnh vựcchính: kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường, lợi ích trước mắt và lợiích lâu dài Mục tiêu xã hội phải đưa lên hàng đầu trong sự phát triểnkinh tế, vì nếu con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự pháttriển thì không thể hy sinh con người cho sự phát triển "Chúng ta chọnphương thức phát triển là cái mà kinh tế và cái xã hội sẽ hòa nhập vàonhau Sự phát triển khác với sự tăng trưởng Tăng trưởng về số lượng,còn phát triển có tính chất lượng Tăng trưởng là sự tiến bộ cục bộ vềkinh tế Phát triển là sự tiến bộ toàn diện về các mặt kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hóa, môi sinh"

1.1.4.4 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Cho đến nay, xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên cónhững cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực Tùytheo mục tiêu cụ thể và đưa ra cách hiểu đó

Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển NNL bao gồmgiáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhămg thúc đẩy pháttriển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giátrị cho con người, cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, cả trí tuệ lẫntâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thànhngười lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn đáp ứngđược những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế-

xã hội

Trang 25

Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạtđộng học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời giannhất định để tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người laođộng.

Theo nghĩa hẹp: phát triển nguồn nhân lực là hoạt động vượt rakhỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động nhằm mở ra cho

họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của

tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của họ (Giáo trình quảntrị nhân lực)

Tổ chức giáo dục-khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc: Pháttriển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân

cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Phát triển nguồnnhân lực là quá trình biến đổi, nâng cao về số lượng và chất lượng trêncác mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quátrình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực

Một cách hiểu khác: Phát triển NNL là quá trình làm tăng kiếnthức, kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân người lao động để họhoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân

họ ( Giáo trình Kiến thức lao động)

Nói một cách khái quát, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi người.

1.1.5 Khái niệm quản lý và phát triển nguồn nhân lực báo chí.

1.1.5.1 Khái niệm quản lý nguồn nhân lực báo chí

Trang 26

Quản lý nguồn nhân lực báo chí là sự cụ thể của vấn đề QNNNL,tác giả khóa luận xin đưa ra một định nghĩa về Quản lý nguồn nhân lựcbáo chí như sau:

Quản lý nguồn nhân lực báo chí là sự khai thác và sử dụng nguồn lực con người trong hoạt động báo chí của một cơ quan, tổ chức báo chí một cách hợp lý và hiệu quả.

Trong thực tế, muốn có một sản phẩm báo chí hay, hấp dẫn côngchúng thì phải có đội ngũ nhà báo giỏi nghề; nhưng khi đã có đội ngũnhà báo giỏi nghề chưa chắc đã có sản phẩm báo chí hay, hấp dẫn côngchúng xã hội Điều đó phụ thuộc vào năng lực quản lý và tính chuyênnghiệp của tổng biên tập (hay giám đốc) cơ quan báo chí Tổng biên tập

là một nghề, nhưng trước hết phải thạo nghề báo mới có khả năng làmcho cơ quan báo chí phát triển theo đúng nghĩa của nó

1.1.5.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực báo chí

Phát triển nguồn nhân lực báo chí là phương pháp mà cơ quanbáo chí sử dụng để đẩy mạnh, gia tăng về chất và số lượng của nguồnlực báo chí

1.2 Cơ cấu nhân lực tòa soạn báo chí

Tùy thuộc vào quy mô, vị trí và nhiệm vụ chính trị của từng loạihình báo chí Trung ương, địa phương, cán bộ, ngành và tổ chức đoànthể xã hội để cơ cấu nhân lực tòa soạn phù hợp với điều kiện của cơquan chủ quản và chính tòa soạn đó Song nhìn chung, cơ cấu bộ máytòa soạn báo in tương đối chuẩn, gồm 4 bộ phận tương ứng với 4 loạihình lao động báo chí:

- Ban lãnh đạo và quản lý tòa soạn ( Lao động tổ chức- quản lý)

Gồm: bộ (ban) biên tập, Tổng biên tập, các Phó Tổng biên tập, thư kítòa soạn, các ủy viên

Trang 27

- Các ban (phòng) chuyên môn ( Lao động tác giả, biên tập) với

các phóng viên, biên tập viên, nhân viên các ban, phòng đó

- Bộ phận hành chính, dịch vụ, quảng cáo, phát hành ( Lao động kinh tế dịch vụ)

- Bộ phận ngoài tòa soạn gồm cộng tác viên…

a Ban lãnh đạo và quản lý tòa soạn ( Lao động tổ chức- quản

lý)

Ban lãnh đạo được coi là linh hồn, bộ não của tòa soạn có vai tròquyết định đến nội dung, hình thức Lãnh đạo thực hiện đúng nhữngchủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, thực hiện đúng mục đích

tờ báo đặt ra, tổ chức lập kế hoạch trước mắt, lâu dài cho tòa báo

Đề xuất những sáng kiến, tổ chức thực hiện những sáng kiến đó

Tổ chức hội nghị cộng tác viên, gặp gỡ bạn đọc Ban lãnh đạo có thểtham gia viết bài, duyệt bài Người lãnh đạo là người trực tiếp tổ chức,phân công và lên kế hoạch Là người chịu trách nhiệm quản lí bao quát

cơ quan Vì vậy, người lãnh đạo không ngừng tu dưỡng nhân cách,phẩm chất và trình độ, thích ứng nhanh, rà soát, kiểm tra, phát hiện, sửachữa những sai sót từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan báo chíphát triển

*Tổng Biên tập:

Tổng Biên tập là người giữ vai trò quan trọng trong cơ quan báochí, là người đứng đầu, chịu trách nhiệm toàn diện về mọi mặt hoạtđộng của tòa soạn đặc biệt trong việc tổ chức vận hành để tờ báo xuấtbản đều đặn và đảm bảo chất lượng Từ việc trực tiếp lên kế hoạch, tổchức tin, bài cho PV, cộng tác viên Tổng Biên tập có trách nhiệm địnhhướng nội dung và hình thức của tờ báo theo tôn chỉ, mục đích đã quyđịnh, là người duyệt nội dung và hình thức từng số báo ở khâu cuốicùng trước khi in báo và chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả (tốt hoặc

Trang 28

xấu) sau khi báo phát hành.Vì vậy, Tổng Biên tập phải có phẩm chất, tưtưởng vững vàng, có chuyên môn nghiệp vụ

Là người có quan hệ rộng rãi với chính quyền và các tổ chức xãhơi, phải nghiên cứu, nắm vững đường lối, chính sách, tình hình thực

tế, đầu mối công tác Xây dựng chương trình, kế hoạch đưa tin, gợi ýchủ đề cho PV, tổ chức mạng lưới thông tin viên, cộng tác viên phảithường xuyên kiểm tra, giám sát, tổ chức đào tạo cho nguồn nhân lực

*Phó tổng Biên tập:

Phó tổng Biên tập là người trợ thủ đắc lực cho Tổng Biên tập,phụ trách các mảng công việc lớn của tòa soạn Phó tổng biên tập đượcgiao trực tiếp phụ trách, điều hành việc thực thi nhiệm vụ của cácphòng ban

Phó tổng Biên tập do cơ quan chủ quản bổ nhiệm trên cơ sở đềđạt của Tổng biên tập và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan chỉđạo và quản lý Nhà nước về báo chí Số lượng phó tổng Biên tập tùythuộc vào quy mô của từng cơ quan báo chí

*Ban Thư ký

Ban Thư ký là một ban lớn, giữ vai trò và vị trí quan trọng đặcbiệt trong tòa soạn báo chí Ban thư ký là trung tâm kết nối các banchuyên môn trong tòa soạn, đây là nơi thể hiện cụ thể kế hoạch, ýtưởng chỉ đạo của Ban Biên tập lên trang báo Ban Thư ký có nhiệm vụxây dựng kế hoạch thông tin và chịu trách nhiệm cụ thể về nội dung,hình thức của từng số báo phát hành Có nơi gọi Ban thư ký là “vănphòng” của Tổng Biên tập, “có nhiệm vụ trực tiếp giúp việc và thaymặt Tổng Biên tập- trong một phạm vi quyền hạn nào đó- điều hànhcông việc biên tập Ví như cơ quan tham mưu của tư lện một đơn vịquân đội”

*Thư ký tòa soạn:

Trang 29

Tổng thư ký tòa soạn, Thư ký tòa soạn là “cánh tay phải” và làngười giúp Tổng Biên tập “gác gôn” cho tờ báo Họ phải chịu tráchnhiệm nặng nề trước nguy cơ sẽ có vô vàn các lỗi sai sót lớn, nhỏ trênmặt báo Nhiều người ví thư ký tòa soạn là người “làm dâu trăm họ”,bởi không chỉ có sức ép phóng viên, Thư ký tòa soạn còn phải chịutrách nhiệm rất nặng nề từ phía Tổng Biên tập.

Thư ký tòa soạn “phải là người vừa đóng vai trị tham mưu gópphần đề ra chiến lược, dàn dựng bài bản chiến dịch, vừa là người lập rachiến thuật cụ thể để mỗi kỳ bào đều có những “bài đinh”, những vấn

đề thời sự nóng hổi…Thư ký tòa soạn phải như người tham mưutrưởng của một đơn vị tác chiến, phải biết tạo ra những cơn sóng trêntừng trang báo” (Tạp chí Nghề báo số 5-6/2002, tr.49)

Có người cho rằng, thư ký tòa soạn có “đặc quyền” là đăng,không đăng bài hoặc quảng cáo nhưng thực tế không phải như vậy Mỗikhi đăng hoặc không đăng dự chỉ một cái tin, thư ký tòa soạn phải cânnhắc rất nhiều thứ và tìm ra lý do chính đáng Khuôn khổ tờ báo có hạnnên không phải lúc nào cũng sắp xếp được những bài, quảng cáo dự bàicủa phóng viên thực hiện đúng kế hoạch, vì phải ưu tiên những bài thời

sự đột xuất

Nhiều trường hợp phóng viên có bài trong kế hoạch lại khôngthực hiện được khi thời gian nộp nhà in đã cận kề, thư ký tòa soạn phảitìm bài thay thế Cộng tác viên thì luôn “chất vấn”: Đã nhận được bàichưa? Tại sao bài không đăng? Thậm chí có nhiều trường hợp gây sức

ép bằng các mối quan hệ Thư ký tòa soạn phải giải thích có tình có lý,lúc cứng rắn, lúc mềm dẻo mà không thể “đá quả bóng sang chân ngườikhác”

b.Các ban (phòng) chuyên môn ( Lao động tác giả, biên tập)

* Biên tập viên:

Trang 30

BTV là những viên chức chuyên môn nghiệp vụ tại các cơ quanbáo chí, làm nhiệm vụ biên tập, chỉnh sửa, nâng cao chất lượng tin bàicủa PV, cộng tác viên, thông tin viên, hoàn thiện tin bài nhằm nâng caochất lượng lên mức tối đa để đảm bảo toàn diện các tính chất của tintức, tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, tranh ảnh cho việc xuất bản, pháthành

Khai thác tổ các nguồn tư liệu, tài liệu, tin bài đề tài kịch bảntheo phương hướng đơn vị

BTV nhằm nâng cao chất lượng, tư tưởng, nghệ thuật, khoa học,chịu trách nhiệm về nội dung bản thảo

Thuyết minh về chủ đề tư tưởng, chỉ dẫn các yêu cầu về trìnhbày kĩ thuật, theo dõi quá trình dàn dựng, sản xuất

Chuẩn bị nội dung tuyên truyền quảng cáo, tập hợp, phân tích ýkiến dư luận của người xem, người đọc, người nghe

Tổ chức đội ngũ cộng tác viên để tác giả hoàn thành bản thảo,tham gia tổng kết chuyên môn nghiệp vụ

Xây dựng đề cương, thực hiện viết tin, bài theo sự phân cônghướng dẫn của trưởng ban biên tập

Trang 31

Viết, chụp ảnh, quay phim các thể lọai tin, phóng sự, điều tra cónội dung phức tạp ở mức độ trung bình, chịu trách nhiệm cá nhân vềtác phẩm báo chí của mình

Tổ chức làm việc với thông tin viên, giao dịch, đặt, viết tin bàitheo đề cương đã duyệt

c Bộ phận hành chính, dịch vụ, quảng cáo, phát hành ( Lao động kinh tế dịch vụ)

Đây là bộ phận những người không trực tiếp tham gia lao độngtác giả, sản xuất tin bài cho tờ báo, nhưng lại là người giúp vận hành,hoạt động của tòa soạn báo chí và tờ báo đó

Có thể nói rằng, nhà báo nói chung là người sáng tạo ra tác phẩm

và sản phẩm báo chí; để sản phẩm ấy đến được với công chúng xã hội

là cả một quá trình lao động với nhiều công đoạn với nhiều loại laođộng khác nhau Lao động kỹ thuật- công nghệ, lao động mỹ thuật trìnhbày, lao động chế bản in ấn, nghiên cứu dư luận xã hội và công chúng,phát hành, quảng cáo…Mặt khác, để đảm bảo nguồn thu từ quảng cáo,triển khai các hoạt động dịch vụ, quảng bá thương hiệu, maketing…lạicần có lao động dịch vụ đa dạng, mà những loại hình lao động này hiệnnay chưa có cơ sở đào tạo báo chí nào cùng lúc có thể đáp ứng, thỏamãn được

Trong cơ quan báo chí hiện đại, tỷ lệ lao động tòa soạn (phóngviên và biên tập viên) ngày càng có tỷ lệ giảm tương đối so với laođộng kinh tế dịch vụ (tài chính, kế toán, quảng cáo, PR, maketing, pháthành )

*Bộ phận hành chính:

Là những người làm nhiệm vụ liên quan đến thủ tục hành chínhcủa cơ quan báo chí, bao gồm những việc như trả nhuận bút, tính toánthu chi các khoản của tòa soạn, lo các thủ tục giấy tờ, dấu cho tòa soạn

Trang 32

*Bộ phận dịch vụ, quảng cáo:

Ở nhiều tòa soạn thành lập bộ phận này riêng biệt Nguồn thuchủ yếu của tờ báo phụ thuộc vào quảng cáo Quảng cáo càng nhiều thìdoanh thu của tờ báo đó càng cao

Nên bộ phận này được xem là kết nối giữa những đơn vị có nhucầu quảng cáo tới công chúng với tòa soạn, đồng thời cũng là bộ phậnkinh doanh lợi nhuận cho tòa soạn báo

*Bộ phận phát hành:

Đây là bộ phận lo khâu cuối sau khi tờ báo ra lò xuất bản Bộphận phát hành phải làm nhiệm vụ phân phối phát hành tờ báo sao chosáng sớm hôm sau, mọi tờ báo đã có mặt ở sạp

Bộ phận phát hành cũng liên quan mật thiết tới thu nhập của tòasoạn báo Báo phát hành số lượng lớn, thì đồng nghĩa báo bán đượcnhiều và cũng thu được lợi nhuận từ bán báo

d.Bộ phận ngoài tòa soạn

Đây là bộ phận không nằm trực tiếp tại tòa soạn nhưng vẫn chịu

sự quản lý và hoạt động chung của tòa soạn Bộ phận này gồm cộng tácviên, thông tin viên Và mỗi báo có một dung lượng đất cho bộ phậnngoài tòa soạn khác nhau

1.3.Vai trò của nguồn nhân lực tòa soạn báo chí

Dự với vị trí nào trong hoạt động tòa soạn và trong quá trình sảnxuất tin tức, nguồn nhân lực tòa soạn báo chí đều mang những vài trịquan trọng Dưới đây, là một vài vai trò cơ bản của nguồn nhân lực tòasoạn báo chí:

● Với tòa soạn báo chí

Trang 33

-Là lực lượng mũi nhọn, chủ công của tờ báo, làm cho hoạt độngcủa cơ quan báo chí hoạt động thông suốt, thành một thể thống nhất,hoàn chỉnh từ nội dung đến hình thức.

● Với xã hội- công chúng

-Là cầu nối giữa giữa công chúng và tòa soạn, nguồn nhân lựcbáo chí là người đưa tin, đây cũng là trách nhiệm xã hội hàng đầu đượccông chúng xã hội giao cho Do đó, nhân lực trực tiếp tham gia phải thểhiện trách nhiệm này đối với nguồn tin Từ cây cầu này, tờ báo sẽ là nơiquần chúng cung cấp thông tin, là diễn đàn để họ bày tỏ những ýkiến ,quan điểm

-Là nhà tổ chức- nhân tố tích cực liên kết sức mạnh xã hội, canthiệp xã hội, tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội thông qua nghềnghiệp của mình

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, chúng ta đã có được cái nhìn khái quát về lýluận và thực tiễn về nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực báochí nói riêng Cụ thể, chương 1 đã giải quyết được những vấn đề sau:

- Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực xã hội, nguồn nhân lựcbáo chí, nguồn nhân lực tòa soạn báo chí

- Phân tích cơ cấu nhân lực tòa soạn báo chí

- Đưa ra những vai trò cơ bản của nguồn nhân lực báo chí

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH NGUỒN NHÂN LỰC BÁO THANH NIÊN HIỆN NAY2.1 Tiến trình phát triển báo Thanh Niên

Trang 34

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời

Năm 1985 – 1986, tình hình trong nước vô cùng khó khăn, kinh

tế - xã hội bị khủng hoảng trầm trọng, lạm phát tăng nhanh Tình hìnhcông - nông - thương nghiệp bị đình trệ, năng suất lao động vô cùngthấp, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn, lòng tin của nhân dânvới Đảng giảm sút Đất nước bị bao vây cấm vận của Đế quốc Mỹ.Hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi đất nước phải tiến hành đổi mới, cải thiện đờisống cho nhân dân và đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng

Vì vậy, tháng 12/1986 đã diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ VIĐảng Cộng Sản Việt Nam, mở ra một nền tảng của sự nghiệp đổi mớimạnh mẽ và toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, công tác cán bộ vàđặc biệt là đối với báo chí Sự đổi mới trong Kinh tế là việc trao quyềnchủ động cho cơ sở trong sản xuất kinh doanh; trong công tác báo chí là

“tinh thần tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật”

Bên cạnh đó, sau giải phóng, nhiều cán bộ trẻ từng tham gia phongtrào sinh viên học sinh đô thị miền Nam rất muốn có một tờ báo cho thanhniên, như một diễn đàn nhằm bày tỏ ngyện vọng của các tầng lớp thanhniên rộng rãi, cũng là cách tập hợp thanh niên, tạo điều kiện cho họ có mặttrong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới Bởi báo chí vừa làdiễn đàn để tập hợp, tổ chức thanh niên, cũng vừa là phương tiện để traođổi, tuyên truyền, hướng dẫn thanh niên trong giai đoạn mới

Ngay lúc đó, vẫn còn một cuộc tranh luận bên trong nội bộ về

việc cho ra đời tờ báo Thanh Niên: đã có tờ Tiền Phong, đã có Tạp chí Thanh Niên rồi, liệu có cần ra một tờ báo của Hội Liên hiệp Thanh

niên Việt Nam nữa hay không?

Mặc dù Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã đưa ra nhiều ý kiếnkhác nhau nhưng đa số đều ủng hộ vì trong xã hội đã có nhiều thànhphần kinh tế cùng cạnh tranh, cùng phát triển và thanh niên các tầng

Trang 35

lớp trong xã hội cũng rất đa dạng: trí thức, việt kiều, tôn giáo, các dântộc, doanh nhân trẻ, học sinh, sinh viên… Trong bối cảnh đó không thểkhông cần một tờ báo cho mọi tầng lớp thanh niên.

Như vậy, BáoThanh Niên đã được ra đời trong giai đoạn

chuyển mình đổi mới của cả đất nước và vì thế nên cũng tích tụ trongbản thân mình những năng lượng chuyển động mạnh mẽ

2.1.2 Tiến trình phát triển qua từng giai đoạn (kinh tế, chỉ số phát hành)

Cách vào đời của một con người hay một tổ chức góp phần địnhhướng sự phát triển lâu dài của con người hay tổ chức đó Sự phát triểnlớn mạnh của Báo Thanh Niên hiện nay chính là một minh chứng cụthể cho vai trò định hướng của một thời kỳ lịch sử còn muôn vàn khókhăn nhưng cũng vô cùng đặc biệt

Ngày3 tháng 1năm1986, báo Thanh Niên ra số đầu tiên với tên

gọi Tuần tin Thanh Niêntrực thuộcHội liên hiệp Thanh Niên Việt

Nam Và nhắc đến Báo Thanh Niên, người ta không thể không nhắcđến những con người đã có công xây dựng nền móng cho tờ báo, người

đã xâu chuỗi và chịu trách nhiệm về đường đi, khuynh hướng và sựphát triển của tờ báo Trong đó, người đầu tiên phải nhắc tới là ông:Huỳnh Tấn Mẫm - Tổng biên tập đầu tiên của tờ báo, người từng làChủ tịchTổng Hội Sinh viên Sài Gòntrongthời kỳ chiến tranh Kếnhiệm ông Huỳnh Tấn Mẫm, là ông Nguyễn Công Khế - Tổng biên tập

tờ báo từ năm1990đến cuối năm2008 Ông là thành viên trong Banlãnh đạo Đoàn Thanh niên hoạt động tại Đà Nẵng, từng bị bắt và bịgiam giữ ở nhiều nhà tù miền Nam Từ cuối năm 2008 đến nay, tổngbiên tập của tờ báo là ông Nguyễn Quang Thông – Phó chủ tịch Trungương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam Ngoài ra, trong thời kỳ đầuđầy khó khăn, Báo cũng nhận được sự tham gia ủng hộ của các cây bút

Trang 36

tên tuổi thời bấy giờ như: Thép mới, Trần Bạch Đằng, Trịnh Công Sơn,

Lý Quý Chung, Trần Ngọc Châu, Đoàn Khắc Xuyên, Hồng Phủ NgọcTường… giúp cho uy tín của tờ báo được nâng lên không ngừng

Trong những ngày đầu thành lập, báo gặp phải muôn vàn khókhăn, chỉ có duy nhất một tờ giấy phép của Bộ Văn hóa- Thông tin cấpngày 10 tháng 4 năm 1985, không hề có bất cứ nguồn vốn nào, đặc biệt

là sự thiếu thốn về cơ sở vật chất Báo Thanh niên bắt đầu bằng bakhông: Không biên chế, không kinh phí ban đầu, không cơ sở vật chất.Ban đầu, tờ báo không có trụ sở nên tòa soạn đặt tại hành lang vănphòng Câu lạc bộ Hội Liên hiệp Thanh Niên (số 145, đường NguyễnThị Minh Khai), lúc bấy giờ là văn phòng của câu lạc bộ Hội liên hiệpThanh Niên Cả tòa soạn có duy nhất một máy đánh chữ ( Theo lời anhHuỳnh Tấn Mẫm- TBT đầu tiên của báo) Sau đó, tòa soạn được ôngNguyễn Ngọc Diệp cho mượn ngôi nhà trống rất đẹp ở 1 Ter NguyễnThành Ý để làm trụ sở Chưa kịp vui mừng thì ông đột ngột qua đời,người nhà đòi lại trụ sở Tiếp đến tòa soạn được anh Lê Thanh Hải,giám đốc Sở nhà đất thành phố Hồ Chí Minh cấp cho nhà 20 Ter TrầnHưng Đạo B, một căn phố nhỏ trên đường một chiều của Chợ Lớn chỉtoàn buôn bán Có nhà tức là có trụ sở thật sự Sau đó báo lại chuyển từ

20 Ter Trần Hưng Đạo B về 248 Cống Quỳnh, Quận 1, TP Hồ Chí

Minh và làm việc ở đó cho đến nay

Khi mới hành lập, báo có 1 ban biên tập và 3 bộ phận: ban biêntập, kĩ thuật trình bày, phát hành và hành chính Toàn bộ biên chế chỉ

có 4 người, còn lại đều hưởng lương cộng tác viên, có 10 phóng viên,cộng tác viên hợp đồng, không biên chế, không kinh phí ban đầu,không cơ sở vật chất, tòa soạn báo chỉ có duy nhất tờ giấy phép ra báocủa Bộ Văn hóa – thông tin

Mặc dù ra đời trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nhưng Tuần Tin

Trang 37

ấn tượng và hiện đại lại rất năng động, được đông đảo người đọc giới tríthức đánh giá cao Những trang báo trong số đầu như : Duyên con gái,Câu lạc bộ làm quen, Hôn nhân và gia đình, Công tác hội và phong tràothanh niên, Văn hóa- Văn nghệ, Thời sự quốc tế… Câu lạc bộ làm quen

là trang mục được nhiều độc giả trẻ ưa chuộng và là trang “kết bạn” đầutiên của Báo chí Cách mạng Việt Nam sau 1975, được anh Trần CôngMẫn – Tổng biên tập báo Quân đội nhân dân khen ngợi trong một bài

xã luận rất lớn trên báo Quân đội nhân dân

Những cây bút tên tuổi ủng hộ cho số báo đầu tiên như: Thépmới, Trần Bạch Đằng, Trịnh Công Sơn, Lê Quý Chung, Trần NgọcChâu, Đoàn Khắc Xuyên, Lê Văn Nghĩa, Vị Quê, Hồng Phủ NgọcTường, Hồng Phủ Ngọc Phan, Evengy Leng ( của Novosti)…Sau đóđến Tần Hồi Dạ Vũ, Ngọc Trân, Trần Đình Sơn Cước, Nguyễn KhắcNhượng, Thế Vũ, Vũ Đức Sao Biển, Phan Minh Giám, Trần MiênThảo, Trần Thiếu Bảo, Phạm Lê Tuấn Phong, Hữu Nguyên…và mộtloạt các nhà báo tên tuổi những năm 1986 về đầu quân, vì thế uy tín của

tờ báo được nâng lên

Lúc ban đầu, Tuần tin Thanh Niên ra mỗi tuần một 1 số, mỗi số

được 5000 bản, 10 số sau nâng lên dược khoảng 10.000 bản, sau đómới bắt đầu có lãi và bắt đầu thanh toán công in cho Nhà in số 7 – TPHCM Từ việc mỗi tuần một số đã nâng lên thành 2 số, 3 số, 4 số vàphát đều đặn hàng ngày như hiện nay Cho đến nay, tòa soạn báo đã cógần 400 người và được in tại 7 địa phương trên toàn quốc với số lượng

có lúc lên đến gần nửa triệu bản/ngày (468.000 bản/ ngày) Doanh thucủa báo bao gồm doanh thu phát hành và quảng cáo đạt kết quả tốt vớităng trưởng năm sau cao hơn năm trước từ 8% đến 30%, đã đạt mứcgần 600 tỉ đồng/năm…Có hàng chục triệu độc giả trung thành, yêumến, luôn góp phần xây dựng tờ báo Có 1,5 triệu người truy cập trang

Trang 38

Thanh Niên điện tử tiếng Việt, 30.000 người truy cập trang Thanh Niêntiếng Anh mỗi ngày

Như vậy, từ chỗ khởi đầu bằng ba không, đến nay, Thanh Niên

đã là tờ báo có số lượng phát hành hàng đầu cả nước, có lực lượng cán

bộ quản lý, phóng viên, biên tập viên gần, có cơ ngơi làm việc khangtrang tại Hà Nội, TP.HCM và văn phòng đại diện ở nhiều vùng miềntrong cả nước và một số quốc gia khác

Văn phòng đại diện BáoThanh Niêntại miền Trung đã đứng chân

trên địa bàn 20 năm Đến nay, Văn phòng đã có cơ sở khang trang tại

144 Bạch Đằng Đội ngũ của văn phòng hiện có 21 phóng viên,CBCNV và 8 người hợp đồng công việc Để chủ động trong công tácphát hành, Văn phòng đã có đội xe để vận chuyển báo Nhờ thế mà tại

Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, BáoThanh Niêncó mặt trước 6 giờ sáng

hằng ngày để phục vụ bạn đọc Số lượng báo phát hành tại khu vựctheo đó tăng cao, có thời điểm lên đến 51.000 tờ/ngày Hiện nay, tại

điểm in Đà Nẵng,Thanh Niênlà tờ báo có số lượng phát hành cao nhất Không những sớm có mặt tại miền Trung thời kỳ đổi mới, BáoThanh Niênluôn có mặt trên từng cây số ở những vùng khó khăn, vận động

đóng góp tiền tài, sức lực, tình cảm cho đồng bào gặp hoạn nạn trongbão lũ Liên tục trong nhiều năm trở lại đây, mỗi năm thực hiện bìnhquân khoảng 15 tỉ đồng tiền công tác xã hội, năm cao nhất lên đến trên

20 tỉ đồng

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và đồng chí Đào Duy Tăng đãtừng nói về Báo Thanh Niên “ Là tờ báo phong phú, năng động, đấutranh cho công bằng trong tuyển sinh là một tờ báo tự chủ về tài chínhsớm nhất Tôi nghĩ chắc chắn rằng Thanh Niên sẽ là tờ báo mạnhkhông chỉ trong giới trẻ và bạn đọc Việt Nam mà còn có thể ảnh hưởng

ra độc giả các nước trong khu vực và Việt kiều” Và quả thực là như

Trang 39

bè gần xa trong và ngoài khu vực biết tới Báo đã có trụ sở và vănphòng đại diện ở hầu hết các khu vực trên cả nước Đồng thời báo còn

có văn phòng đại diện tại Thái Lan và Singapore Đây là sự đánh dấurất lớn trong quá trình phát triển của báo Điều đó thể hiện báo khôngchỉ được bạn đọc trong nước yêu quý mà còn được độc giả các nướctrong khu vực chú ý

Cho đến nay, báo đã cho ra đời nhiều ấn phẩm được độc giả yêuthích như:

 Thanh Niên (Nhật báo - tiếng Việt)

 Thanh Niên Tuần San (tạp chí), phát hành thứ 4 hàng tuần

 Thanh Niên Thể thao & Giải trí ( đã bỏ cuối năm 2010)

Trong đó, báo in là một trong những nhật báo có số lượng phát

hành lớn nhất cả nước, tờThanh Niên Tuần sanin ấn hiện đại trở thành

ấn phẩm thú vị cho bạn đọc vào những ngày cuối tuần; tờ báo tiếng

AnhWeeklylà một trong những tờ báo tiếng Anh tại Việt Nam được bạn đọc yêu thích nhất hiện nay,báo điện tử tiếng Việt cóThanh Niên Online, điện tử tiếng Anh cóThanh Niên Newslà hai tờ báo điện tử được

bạn đọc, đồng nghiệp trong và ngoài nước rất quan tâm… Nhờ đó, số

lượng phát hành và doanh thu của Báo Thanh Niên tăng trưởng liên tục.

Năm 2010, trong bối cảnh suy thoái kinh tế chưa hồi phục, lũ lụt hoànhhành cả dải miền Trung… nhưng số lượng phát hành và doanh thu bánbáo của báo vẫn tăng 0,5% so với năm trước, kết hợp với hiệu quả kinh

Trang 40

tế quảng cáo đưa tổng lợi nhuận của báo tăng 30,5% so với năm2009…”.

Báo Thanh Niên luôn cố gắng để có được vai trò mà giới trẻ, nhân

dân, xã hội, Đảng và Nhà nước trông chờ Tức là vai trò làm cầu nối giữanhân dân và Nhà nước, tích cực ủng hộ cái mới, cái tích cực và góp phầnđẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực Báo chí thời nào cũng có vai trò riêng của nó:Trong chiến tranh, báo chí có sức mạnh vạch trần tội ác của kẻ xâm lược,

ca ngợi, cổ xúy lòng yêu nước của thanh niên, đồng bào để chống lại cái

ác và xây dựng cái thiện, cái chính nghĩa; lấy cái nhân nghĩa để chống lại

sự tàn bạo và phi chính nghĩa Làm báo trong thời kỳ xây dựng và phát

triển cũng như vậy, Báo Thanh Niên đã lựa chọn hướng đi quyết tâm xây

dựng cái mới, phát triển sự công bằng, thịnh vượng cho nhân dân và đấtnước, chống lại cái lạc hậu, cái hư hỏng, xây dựng niềm tin cho conngười

Ông James Thomas Campbell, từng là nhà báo quốc tế gạo cội

và chuyên gia Cố vấn truyền thông của Chính phủ Anh cũng có đánhgiá rất cao dành cho báo Thanh Niên, ông đánh giá: "Thanh Niên là

tờ báo ngày có lượng độc giả lên tới hơn 2 triệu/tuần và trở thànhmột trong những tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất ở Việt Nam,tôi thấy đây là tờ báo có cách đưa tin ấn tượng nhất, hấp dẫn nhất vàchuyên nghiệp nhất Tôi sẽ rất lấy làm hạnh phúc nếu được là phóngviên của tờ báo này”

Như vậy, trong hơn 25 năm họat động của mình,có thể nói

Thanh Niên vẫn luôn là “hồ sơ nhân chứng” sinh động của một thời kỳ

lịch sử, đóng góp không nhỏ trong việc bài trừ cái xấu, bảo vệ cái đẹp,

và đại diện cho tiếng nói của mọi tầng lớp thanh niên Các chuyên mục,chuyên trang của báo cũng ngày càng phong phú và đa dạng, ngoàiKinh tế - Chính trị, Văn hóa – Xã hội, Sức khỏe, …còn có các chuyên

Ngày đăng: 17/04/2015, 17:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Thanh Niên 20 năm tuổi- 2006, Nhà xuất bản trẻ Khác
2. PGS. TS Mai Quốc Chánh (Chủ biên) PGS. TS Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực Khác
3. Trần Ngọc Châu , Lao động phóng viên, Tiến sỹ giáo dục truyền thông, Đại học N.Washington, Hoa kỳ, Viện nghiên cứu truyền thông hoa kỳ, Phó tổng biên tập Thời báo kinh tế Sài Gòn Khác
4. Nguyễn Văn Dững, Cơ sở lý luận báo chí, 2012, NXB Lao động Khác
5. Đức Dũng, Viết báo như thế nào, NXB Văn hóa thông tin Khác
6. Hà Đăng (Chủ biên) Nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng viên báo chí trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, H.2002,NXB Chính trị quốc gia Khác
7. Tạ Ngọc Hải, Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực, Viện khoa học tổ chức nhà nước Khác
8. Nguyễn Quang Hòa, Phóng viên và tòa soạn,H 2002,NXB Văn hóa thông tin Hà Nội Khác
9. Đinh Văn Hường, Tổ chức và hoạt động tòa soạn, 2006, NXB Quốc gia, Hà Nội Khác
10. GS.TS. Bùi Văn Nhơn, Quản lý nguồn nhân lực trong một tổ chức, H2001,Học viện Hành chính Quốc gia Khác
11. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, NXB Văn hóa thông tin Khác
12. Hữu Thọ: Công việc của người viết báo, H.1997,Nxb Giáo dục.Hữu Thọ, Nghĩ về nghề báo, 1997, NXB Giáo dục Khác
13. Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên), Cơ sở lý luận báo chí, H.2002, NXB Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Khác
14. Vũ Xuân Tiến , Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, , tạp chí khoa học và công nghệ, ĐH Đà Nẵng Khác
15. Đào Xuân Trường, Chuyện nghề báo, 2000, NXB Lao động xã hội Khác
16. Lê Thị Nhã, Lao động nhà báo- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, 2010,NXB Lý luận chính trị Khác
17. Khoa nhà nước và pháp luật, HV Báo chí và tuyền truyền, Quản lý xã hội về nguồn nhân lực, 2009 Khác
18. Hội nhà báo Việt Nam, Nghề nghiệp và công việc nhà báo, H.1992 Khác
19. Tuyển tập bài báo hay của báo Thanh niên - Nhà xuất bản trẻ 20. Về diện mạo báo chí Việt Nam- Phan Quang, NXB Chính trị Quốc gia Khác
21. Việt Nam 2005 tổng quan của báo giới- Hội nhà báo Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w