1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn

137 548 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn thường liên quan đến nhiều đơn vịkinh tế khác nhau như: các hộ gia đình, các DN cùng sản xuất kinh doanh trong mộtngành sản phẩm nông nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trường Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

Xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn

Bộ môn: kinh tế( Tổng số tiết 45: Lý thuyết 30 và thảo luận, tiểu luận 15)

Giảng viên: TS Chu Tiến Quang.

Giám đốc Trung tâm Tư vấn Quản lý và Đào tạo

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

68 Phan Đình Phùng, Quận Ba Đình, Hà Nội

Mobill: 0912068724Email: Chu quang@mpi.gov.vn

Chuquang@yahoo.com.vn

Trang 2

Hà Nội- 2010

Mở đầu

I Mục đích của môn học:

Trang bị cho học viên cao học và sinh viên đại học của trường Đại học lâm nghiệp những kiến thức cơ bản về lý luận chính sách và phân tích chính sách trong lĩnh vực kinh tế ngành nông lâm nghiệp; cung cấp cho học viên những kỹ năng cơ bản trong phân tích chính sách đối với phát triển nông, lâm nghiệp

II Đối tượng và phạm vi về nội dung môn học

II.1. Đối tượng:

Các loại chính sách; chủ thể, khách thể của chính sách; chu trình hình thành và

vận hành chính sách; kiểm định và điều chỉnh chính sách đối với kinh tế nông, lâm nghiệp

II.2. Phạm vi:

- về không gian: cả vĩ mô, vi mô;

- Về thời gian: trước đổi mới và sau đổi mới kinh tế ở VN (năm 1986)

- Về nội dung: quá trình xây dựng và thực thi chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn

III Những nội dung của môn học

Chương một

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH (Số tiết: 10, lý thuyết 8, thảo luận 2 ) I Các vấn đề chung về chính sách nông nghiệp, nông thôn

1.1 Khái niệm và vai trò của chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn 1.1.1 Khái niệm về chính sách

1.1.2 Chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn

1.1.3 Nội dung của chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn

1.1.4 Cách thức xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn

1.1.5 Vai trò của chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn

1.2 Các giai đoạn trong hình thành và vận hành chính sách

1.2.1 Giai đoạn xác định mục tiêu và các biện pháp của chính sách

1.2.2 Giai đoạn triển khai chính sách

1.2.3 Đánh giá kết quả triển khai chính sách

Trang 3

1.3 Phân loại chính sách đối với nông nghiệp , nông thôn

1.3.1 Phân loại theo quy mô điều chỉnh của chính sách

1.3.2 Phân loại theo các lĩnh vực kinh tế là đối tượng tác động của chính sách

1.3.3 Phân loại theo các thành phần kinh tế là đối tượng điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách 1.3.4 Phân loại theo phương thức tác động

1 3.5 Phân loại chính sách theo “phân khúc” quá trình sản xuất

1.3.6 Phân loại chính sách theo "mức độ quan trọng" của mục tiêu cần đạt tới

1.3.7 Phân loại theo cơ quan ban hành và cấp độ của chính sách

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới xây dựng và vận hành chính sách

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả xây dựng chính sách

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả vận hành (thực thi) chính sách

II Đặc điểm nông nghiệp, nông thôn và vai trò của nhà nước, thị trường, cộng đồng 2.1 Những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp, nông thôn

2.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

2.1.2 Đặc điểm nông thôn và phát triển nông thôn

2.2 Vai trò của Nhà nước, thị trường, cộng đồng 2.2.1 Vai trò của Nhà nước 2.2.2 Vai trò của thị trường 2.2.3 Vai trò của các tổ chức quần chúng trong phát triển nông thôn III Kinh nghiệm xây dựng chính sách NN, NT một số nước 3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

3.2 Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp

3.3 Kinh nghiệm Hàn quốc về Phong trào làng mới

3.4 Kinh nghiệm Đài Loan

3.5 Kinh nghiệm Hà Lan

3.6 Kinh nghiệm Trung quốc

Chương II PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (Số tiết:12; lý thuyết: 8, thảo luận: 4) I Phương pháp luận phân tích, đánh giá chính sách phát triển NN, NT

1.1 Mục đích của phân tích chính sách…

1.2 Phương pháp phân tích và các giai đoạn phân tích…

1.3 Các tác nghiệp trong phân tích chính sách…

II Đánh giá sự phát triển các ngành nông, lâm, thủy sản…

2.1 Kết quả sản xuất nông, lâm, thủy sản thời gian qua …

Trang 4

2.2 Phát triển một số ngành sản phẩm chính…

2.3 Hạn chế của sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay

III Một số chính sách xã hội nông thôn

3.1 Khái niệm …

3.2 Mục tiêu…

3.3 Đối tượng…

3.4 Nội dung cơ bản…

3.5 Các kênh tác động…

3.6 Một số chính sách xã hội nông thôn…

Chương III THỰC TRẠNG VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP 2 , NÔNG THÔN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY (Số tiết: 13, lý thuyết 9, thảo luận 4) I Các chính sách kinh tế

1.1 Nhóm chính sách đất đai

1.2 Nhóm chính sách khoa học-công nghệ

1.3 Nhóm chính sách thị trường

1.4.Nhóm chính sách phát triển ngành nghề…

1.5 Nhóm chính sách đầu tư, tài chính và tín dụng …

II Nhóm chính sách xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất

2.1 Chính sách phát triển kinh tế hộ và trang trại…

2.2 Chính sách về doanh nghiệp Nhà nước trong NN, NT

2.3 Chính sách phát triển Hợp tác xã

III Nhóm chính sách xã hội nông thôn

3.1 Chính sách lao động và việc làm nông thôn…

3.2 Chính sách xóa đói giảm nghèo trong nông thôn…

IV Nhóm chính sách vùng 4.1 Bối cảnh ra đời

4.2 Tác động của chính

4.3 Những hạn chế của chính sách vùng

V Kết luận và định hướng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn

5.1 Kết luận

5.2 Định hướng các nhóm chính sách

Đánh giá kết quả học tập của học viên.

Trang 6

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH

I Các vấn đề chung

1.1 Khái niệm, nội dung và vai trò của chính sách đối với NN, NT.

1.1.1 Khái niệm

Cụm từ "chính sách" đã được dùng khá phổ biến trong các lĩnh vực kinh tế và xã

hội Nhưng chưa có một định nghĩa tổng quát và đầy đủ về cụm từ này

a.Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa ”Chính sách là tập hợp các

chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ Nó bao gồm các mụctiêu kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường mà chính phủ muốn đạt được và cách làm

để thực hiện các mục tiêu đó”3

b Từ điển tiếng Việt (1988) “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể

nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị và tình hình thực tế mà

đề ra", hay "Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, mộtchính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội.”

c Franc Ellis cho rằng "trên tầm vĩ mô, chính sách được xem như đường lối hành

động mà Chính phủ lựa chọn đối với quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó, có thể làkinh tế, xã hội và môi trường "4

c Samuelson cho rằng " Ngay cả khi Chính phủ không đưa ra một chính sách

trong bối cảnh bất đắc dĩ nào đó để thực hiện mục đích nào đó, thì đó cũng là một kiểuchính sách"5

đ.Theo Jones (1984) thì chính sách luôn gồm các yếu tố bao gồm:

- Dự định: là mong muốn của người làm (hoạch định) chính sách;

- Mục tiêu: cụ thể hóa dự định thành đích cần đạt tới;

- Đề xuất giải pháp: cách thức tác động để nhằm đạt được mục tiêu;

- Quyết định lựa chọn giải pháp để triển khai thực hiện

e Đinh Dũng Sỹ (2008) cho rằng chính sách có mối tương quan rất mật thiết với

chính trị và pháp luật, chính sách là cụ thể hóa đường lối chính trị của Nhà nước

Chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hìnhthức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được ban hành bởinhà nước theo một trình tự luật định.”

3 W.http://Vi.wikipedia.org/wiki

Trang 7

f Ngô Đức Cát và Vũ Đình Thắng (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, chưa có

định nghĩa thống nhất về "chính sách” và đưa ra cách hiểu về "chính sách” là ”phương

pháp can thiệp” của Nhà nước nhằm mục tiêu nào đó và trong thời hạn nhất định.6

g Tác giả giáo trình này cho rằng, ”Chính sách là tập hợp các chủ trương, quan

điểm, giải pháp, công cụ nhằm đạt những mục tiêu nhất định Quá trình hình thành chính sách có sự tác động của nhiều yếu tố Trước hết là sự nảy sinh một vấn đề kinh tế

- xã hội nào đó cần giải quyết Trên cơ sở thực tế vấn đề và mong muốn, Chính phủ sẽ lựa chọn mục tiêu cần đạt, đưa ra giải pháp và công cụ trên cơ sở cân nhắc các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tâm lý nhân dân… để hiện thực hóa được chủ trương đã định” Theo cách tiếp cận này thì Chính sách được hiểu là:

- Phương thức tác động của chủ thể vào khách thể để đạt tới mục tiêu mà chủ thể

mong muốn, tương tự như định nghĩa về "quản lý là một quá trình, trong đó chủ thểquản lý tác động lên khách thể quản lý để đạt tới mục tiêu do chủ thể quản lý đưa ra";

- Công cụ của quá trình quản lý mà Người quản lý lên đối tượng bị quản lý

- Chủ thể chính sách là các cơ quan ban hành và thực thi chính sách gồm Đảng,Chính phủ, Quốc hội, các Bộ ngành; Khách thể chính sách hay đối tượng điều chỉnh củachính sách là những cá nhân, tổ chức, DN, hộ gia đình mà chính sách sẽ tác động vào

Để triền thực hiện chính sách, Chủ thể chính sách đưa ra các biện pháp tạo sứchấp dẫn hay tạo động lực trong khách thể (đối tượng) của chính sách, để khuyến khích

họ làm theo định hướng mà Chủ thể chính sách đưa ra, từ đó đạt tới các kết quả mongđợi Trong trường hợp không khuyến khích thì Chủ thể chính sách có thể đưa ra các biệnpháp ngăn chặn, các biện pháp làm giảm hoặc mất động lực của đối tượng điều chỉnh để

họ hạn chế hành vi theo mong muốn

- Ở tầm vi mô, khái niệm chính sách cũng được sử dụng để phản ánh chiến lượchay sách lược hành động của một chủ thể nào đó như DN, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội, cộng đồng, hộ gia đình nhằm đạt tới mục tiêu nào đó do các chủ thể đó định ra cho

họ Chẳng hạn một DN có chính sách riêng đối với sử dụng lao động, đối với mở rộnghoặc thu hẹp thị trường; chính sách của hộ gia đình trong quản lý chi tiêu…

Như vậy có thể thấy rằng: chính sách là một phạm trù của khoa học quản lý, nó

đề cập các giải pháp tác động của Chủ thể đến khách thể, có phạm vi rộng từ cấp vĩ mô(quốc gia, chính phủ) tới các cấp địa phương như tỉnh, huyện, xã và tới từng đơn vị kinhtế-xã hội trong một hệ thống kinh tế-xã hội xác định

6 PGS TS Ngô Đức Cát và TS Vũ Đình Thắng “ Giáo trình phân tích chính sách Nông nghiệp, nông thôn”; NXB Thống kê-Đại học Kính tế

Trang 8

Điểm chung nhất trong khái niệm về chính sách, dù ở cấp độ nào cũng là mộttrong các công cụ của quản lý Phải có 3 nhóm yếu tố, đó là: Chủ thể, Khách thể và Mụctiêu của chính sách

Mỗi chính sách đều phải phục vụ cho một hoặc một vài mục tiêu nhất định, do mộtchủ thể nào đó đưa ra và tác động (ảnh hưởng) đến một hoặc một số khách thể (đốitượng hưởng lợi) nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định

Vì vậy, mỗi chính sách phải có: chủ thể, khách thể và mục tiêu của nó Chính sách

sẽ là vô nghĩa hay không khả thi khi nó không xác định được 3 nhóm nhân tố nói trên,hay nói cách khác là chính sách bắt nguồn từ ý chí của chủ thể, không định được kháchthể (đối tượng hưởng lợi) và không đưa ra được mục tiêu cần đạt tới7

1.1.2 Chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn

- Là ”tổng thể các giải pháp của Nhà nước tác động vào nông nghiệp, nông thôn

theo những mục tiêu nhất định và trong khoảng thời gian nhất định”8

- Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt đưa định nghĩa ”Chính sáchphát triển nông thôn là tập hợp các chủ trương và hành động của Chính phủ về cungcấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); đầu ra (sản phẩm) củanông nghiệp, nông thôn; làm thay đổi tổ chức sản xuất; chuyển giao công nghệ…”

- Chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn rất rộng, bao gồm cả phápluật, cơ chế, chế độ do Nhà nước ban hành, được áp dụng phù hợp đối với từng đốitượng của nông nghiệp, nông thôn và bao gồm các nhóm chính sách: kinh tế, xã hội vàmôi trường diễn ra ở nông thôn

- Mục tiêu của chính sách nông nghiệp, nông thôn bao gồm: (i) Tạo sự tăngtrưởng không ngừng về kinh tế; (ii) Gia tăng không ngừng các loại phúc lợi xã hội, dântrí và đời sống tinh thần cho cộng đồng dân cư nông thôn; (iii) Duy trì, bảo vệ môitrường sinh thái mang tính nông thôn phục vụ cho phát triển chung của toàn nền kinh

tế, đặc biệt là đối với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá của mỗi quốc gia

Như vậy, có thể thấy rằng chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn

là tập hợp nhiều chính sách khác nhau, cùng tác động lên các khách thể ở nông thôn (lànhững đối tượng điều chỉnh của các chính sách khác nhau) cùng hoạt động trên địa bànnông thôn và cùng tham gia vào quá trình phát triển nông thô, theo nghĩa vừa có lợi ích,vừa có trách nhiệm

7 Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang " Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nôn nghiệp, nông thôn Việt Nam"; NXB

Trang 9

1.1.3 Nội dung chính sách nông nghiệp, nông thôn

Nội dung của chính sách đối với NN, NT cũng rất đa dạng, thay đổi theo điều kiệnđặc thù ở mỗi giai đoạn của nền kinh tế, ở mỗi quốc gia riêng biệt Nhưng xét về cáchthức tác động có thể hình thành 2 nhóm chính sách sau

a Nhóm tác động trực tiếp

Trong nhóm này, Nhà nước sử dụng các nguồn lực của mình để tác động trựctiếp vào NN, NT thông qua các hoạt động: đầu tư, cung cấp các dịch vụ tín dụng, khoahọc công nghệ bằng nguồn vốn của Nhà nước và bằng sự hình thành các Chương trìnhmục tiêu quốc hướng tới những nhóm đối tượng nhất định và trong thời gian nhất định

b Nhóm tác động gi án tiếp

Trong nhóm này, Nhà nước áp dụng các giải pháp mang tính hỗ trợ, ưu đãi nhằmkhuyến khích, thúc đẩy các tác nhân tại nông thôn cùng tham gia vào các hoạt độngphát triển NN, NT bao gồm cả kinh tế-xã hội và môi trường

1.1.4 Vai trò của chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn

a Là công cụ để Nhà nước tác động vào các đối tượng trên địa bàn nông thôn

- Đối tượng của chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn bao gồm kinh tế

hộ, các DN, tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nôngnghiệp, phi nông nghiệp và các lĩnh vực xã hội trong nông thôn

- Đối với các nước đang phát triển thì chinhs sách NN, NT tập trung chủ yếu vàonông dân do đối tượng này đang chiếm số đông và cần được chính sách hỗ trợ

b Là công cụ để Nhà nước hướng dẫn các đối tượng sản xuất, kinh doanh ở nôngthôn cùng thực hiện chiến lược và quy hoạch phát triển do Nhà nước xác định

- Vai trò này thể hiện quyền lực riêng có của nhà nước và đồng thời là nghĩa vụ

của Nhà nước trong việc đưa ra định hướng phát triển nền kinh tế nói chung và phát

triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng

- Chính sách đóng vai trò như công cụ dẫn dắt, định hướng cho các đối tượngnày thực hiện quy hoạch Nếu quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn không cóchính sách đi kèm để thúc đẩy và định hướng các đối tượng thực hiện quy hoạch thì quyhoạch đó sẽ không thể triển khai

c Là công cụ để thúc đẩy sự gắn kết các đơn vị kinh tế, hộ gia đình cùng hợp tác

để phát triển nông nghiệp, nông thôn

Trang 10

- Quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn thường liên quan đến nhiều đơn vị

kinh tế khác nhau như: các hộ gia đình, các DN cùng sản xuất kinh doanh trong mộtngành sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp, trên cùng một địa bàn;

- Yêu cầu hợp tác và liên kết giữa các đối tượng khác nhau cùng tham gia sản xuất

một sản phẩm nào đó là yêu cầu khách quan, Chính sách là công cụ để Nhà nước tác

động, thúc đẩy sự gắn kết các đơn vị kinh tế trong hợp tác cùng phát triển nông nghiệp,nông thôn

d Là công cụ để Nhà nước thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các đơn vị kinh

tế trong nông nghiệp, nông thôn

- Nhà nước ban hành các chính sách điều chỉnh việc phân bổ các nguồn lực đầu

vào (đất đai, nước, điện, hạn mức khai thác tài nguyên ) và các chính sách về thuếtrong sử dụng các nguồn lực này

- Thông qua các chính sách trên, Nhà nước đã tác động, điều chỉnh thu nhập củacác đơn vị kinh tế, các hộ gia đình theo chủ trương, quan điểm nào đó, đảm bảo sự côngbằng và bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng các nguồn lực nói trên

1.2 Các giai đoạn trong xây dựng và vận hành chính sách

1.2.1 Giai đoạn xác định mục tiêu và các biện pháp của chính sách.

Trong giai đoạn này cần phân tích, làm rõ những các tình huống hiện tại; các khả

năng về nguồn lực có thể sử dụng để đạt tới mục tiêu mong muốn

1.2.2 Giai đoạn triển khai chính sách.

Trong giai đoạn này thực hiện các biện pháp, quy định, chế độ đã lựa chọn của

chính sách vào thực tiễn Đối tượng điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách sẽ thay đổihành vi, thay đổi hoạt động của mình theo hướng tác động của chính sách

1.2.3 Đánh giá kết quả triển khai chính sách.

Trong giai đoạn này, Chủ thể của chính sách tổ chức đánh giá, tổng kết các kết

quả triển khai chính sách so với mục tiêu đã đề, rút ra những mặt tích cực và hạn chếtrong việc xác định mục tiêu và các giải pháp đã được triển khai để đạt tới mục tiêu Việcđánh giá chính sách được thực hiện thống qua áp dụng các công cụ như: chỉ tiêu giámsát, kết quả mong đợi và những thay đổi mới so với trước khi triển khai chính sách

Sự hình thành và vận hành chính sách được mô phỏng qua 7 bước sau

Sơ đồ 1 Các bước xây dựng và vận hành chính sách

Trang 11

5 Đánh giá các kết quả đã triển khai và so sánh kết quả

đó với mục tiêu đã đề ra; sự thay đổi của đối tượnghưởng lợi chính sách sau một thời gian chịu tác động củachính sách)

6 Tổng kết, rút ra những nguyên nhân thành công vàchưa thành công trong triển khai từng giải pháp củachính sách, những bài học và kinh nghiệm

7 Nhấn mạnh những giải pháp tích cực cần phát huy vàhạn chế những giải pháp không phù hợp, cần loại bỏ Bổsung, hoàn thiện chính sách

Trong chu trình 7 bước cơ bản nói trên của hình thành và vận hành chính sách thì:

a Các bước từ 1 đến 3 thuộc về giai đoạn xây dựng chính sách

Trong giai đoạn này diễn ra công tác nghiên cứu, đề xuất chính sách theo nhữngmục tiêu đã được chủ thể của chính sách xác định Giai đoạn này thu hút sự tham gia,đóng góp của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm, tích luỹ thực tiễn trong lĩnh vực màchính sách sẽ tác động

b Các bước từ 4 đến 5 thuộc về giai đoạn triển khai chính sách

- Trong giai đoạn này đòi hỏi các cơ quan, tổ chức và cá nhân vận hành chính sáchphải xác định đúng đối tượng hưởng lợi để triển khai cho đúng và đủ

- Giai đoạn triển khai chính sách đòi hỏi sự tiếp cận chính xác đối tượng hưởng lợi

và thực hiện đúng các chế độ, quy định của chính sách

- Sự cẩn trọng và chu đáo trong tác vận hành chính sách có ý nghĩa quan trọng đốivới sự thành công của các giải pháp chính sách và đảm bảo đạt được các mục tiêu củachính sách

c Bước 6 và 7 thuộc về giai đoạn 3 là tổng kết, đánh giá

Trang 12

- Nhằm rút ra những kết quả và hạn chế của chính sách đã triển khai và đề xuấtđược hướng hoàn thiện chính sách một cách phù hợp nhất

- Những người tham gia đánh giá phải nắm vững phương pháp và sử dụng tốtnhững công cụ tổng kết, đánh giá Phải làm rõ được các nguyên nhân dẫn đến thànhcông và hạn chế của bản thân các quy định, chế độ của chính sách và những nguyênnhân phát sinh trong quá trình triển khai

Sự tổng kết, đánh giá kết quả vận hành chính sách trong giai đoạn này có ý nghĩarất quan trọng, nó vừa giúp cho cơ quan vận hành chính sách thấy đúng kết quả tácđộng của chính sách, đồng thời giúp phát hiện sớm những sai lệnh cần điều chỉnh để đạttới mục tiêu đề ra Công tác tổng kết, đánh giá thường phức tạp và không hấp dẫn cơquan, tổ chức và cá nhân vận hành chính sách, vì vậy họ rất dễ bỏ qua hoặc làm khôngtốt công tác này

1.3 Phân loại chính sách đối với nông nghiệp 9 , nông thôn.

Việc phân loại chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn có ý nghĩagiúp thống nhất hiểu biết về hệ thống chính sách trong các lĩnh vực này Việc phânloại chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn là việc làm có tính quy ước,nhưng làm rõ các mục tiêu và đối tượng hưởng lợi (khách thể) của từng loại chính sách,làm rõ những nội dung của chính sách

Do tính đa dạng của chính sách cả về mục tiêu và đối tượng hưởng lợi và địnhnghĩa về chính sách nên việc phân loại các chính sách cũng chỉ có tính tương đối và tùythuộc vào định nghĩa được sử dụng Có các cách phân loại sau:

1.3.1 Phân loại theo quy mô điều chỉnh của chính sách.

a Chính sách đối ngoại (foreign policies)

Đối tượng điều chỉnh của chính sách này là các hoạt động đối ngoại của một quốcgia, thể hiện chủ trương, biện pháp đối ngoại của Nhà nước

b Chính sách kinh tế trong nước (local economic policies)

Đối tượng hưởng lợi của chính sách này là các hoạt động kinh tế đa dạng như tiền

tệ, tài khóa, tỷ giá hối đoái, đầu tư và các ngành, lĩnh vực kinh tế…

c Chính sách xã hội trong nước (local social policies)

Đối tượng của chính sách này là các hoạt động xã hội và mang tính xã hội, chẳnghạn như: lao động- việc làm,giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội…

d Các chính sách khác

Trang 13

Bao gồm các chính sách không nằm trong các nhóm trên Ví dụ chính sách môitrường, chính sách khoa học-công nghệ…

1.3.2 Phân loại theo các lĩnh vực kinh tế là đối tượng tác động của chính sách, có các nhóm

a Chính sách đối với nông nghiệp;

b Chính sách đối với công nghiệp;

c Chính sách đối với thương mại, dịch vụ…

1.3.3 Phân loại theo các thành phần kinh tế là đối tượng điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách, có các nhóm chính sách

a Chính sách đối với DN;

b Chính sách đối với HTX

c Chính sách đối với kinh tế hộ gia đình;

d Chính sách đối với trang trại…

1.3.4 Phân loại chính sách theo “phân khúc” quá trình sản xuất

a Chính sách đầu vào của sản xuất:

Đối tượng hưởng lợi của chính sách này là những đơn vị tổ chức và cá nhân thamgia vào các hoạt động cung ứng các đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và phi nôngnghiệp trong nông thôn

b Chính sách đối với quá trình sản xuất.

Đối tượng hưởng lợi của chính sách này là những các nhân, tổ chức trực tiếp

tham gia vào chính quá trình sản xuất: các chính sách này tác động vào những đốitượng trực tiếp sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn hay nói cách khác là tác độngvào khu vực trực tiếp sản xuất, tạo ra sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp củakinh tế nông thôn Đối tượng hưởng lợi của chính sách này rất đa dạng: có thể là: cánhân, hộ gia đình tổ chức và các loại hình kinh tế khác cùng tham gia sản xuất trên địabàn nông thôn

c Chính sách tác động vào đầu ra của sản xuất:

Đối tượng hưởng lợi của chính sách này là những tác nhân tham gia vào khâumua gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm do hộ gia đình, các đơn vị sản xuất trong nôngthôn làm ra và họ không tự tiêu thụ được Mục tiêu của chính sách này là tạo động lựcthúc đẩy các tác nhân tham gia hoạt động mua gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm mởrộng thị trường, gắn kết với người sản xuất

1.3.5 Phân loại chính sách theo "mức độ quan trọng" của mục tiêu cần đạt tới.

Trang 14

a Chính sách có mục tiêu tạo ra sự thay đổi khởi đầu của đối tượng hưởng lợi để

triển khai các hoạt động tiếp theo

Chẳng hạn như chính sách đào tạo, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người nôngdân có ý nghĩa trang bị cho người nông dân kiến thức sản xuất để họ vận dụng vào sảnxuất theo năng lực ứng dụng của từng hộ

b Chính sách có mục tiêu trung gian

Là chính sách chỉ tác động vào những đối tượng nằm ở một khâu nào đó trongtổng thể các khâu thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách (có thể gọi là chính sách bộphận hay chính sách tình huống)

c Chính sách có mục tiêu cần đạt tới là cuối cùng

Là chính sách mà kết quả mong đợi do tác động của chính sách tạo ra là được coi

là kết thúc, hoàn tất các mong đợi đặt ra

1.3.6 Phân loại theo cơ quan ban hành và cấp độ chính sách

- Cương lĩnh, Nghị quyết của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết, Chỉthị của Bộ Chính trị…

- Văn bản của cấp Quốc hội và Hội đồng nhân dân, gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị

quyết của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp…

- Văn bản của Chính phủ và cơ quan trực thuộc Chính phủ, gồm: Nghị quyết,Quyết định, Thông tư, Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch, Đề án phát triển ngành, lĩnhvực,… do Chính phủ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ ban hành

- Các chế độ, quy định của Nhà nước, của cơ quan chính quyền cấpđịa phương cụthể hóa luật và văn bản dưới luật vào các điều kiện cụ thể của địa phương

Như vậy có thể thấy hệ thống chính sách rất đa dạng và mang tính đa cấp (tùythuộc vào số lượng các cấp có thẩm quyền ban hành chính sách) theo quy định củapháp luật

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới xây dựng và vận hành chính sách

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới xây dựng chính sách.

a Nhân tố “Nhân lực” tham gia hoạch định chính sách

Nhân tố này phản ánh sự ảnh hưởng của số lượng và chất lượng chuyên gia (cán

bộ chuyên môn) được huy động vào quá trình nghiên cứu, hoạch định chính sách Theo

đó, những người tham gia nghiên cứu, hoạch định một chính sách nào đó phải có kiếnthức lý luận và tích lũy thực tiễn (có kinh nghiệm) về lĩnh vực mà chính sách sẽ tácđộng

Trang 15

Thông tin về đối tượng hưởng lợi của chính sách cần đưa ra là yêu cầu rất quantrọng đối với cá nhân và tổ chức có nhiệm vụ hoạch định chính sách Thiếu thông tin vềđối tượng hưởng lợi thì chính sách đưa ra rất dễ tác động sai đối tượng, rất dễ bị lợi dụng

và kết quả là tác động của chính sách sẽ rất hạn chế

c Nhân tố “ thông tin” về các nguồn lực để thực hiện chính sách.

Nhân tố này phản ánh sự ảnh hưởng của những nguồn lực như: con người, tàichính và những tư liệu cần thiết tới thực hiện chính sách một cách thành công nhất

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới vận hành (thực thi) chính sách.

a Nhân tố “ bộ máy triển khai chính sách”

Một chính sách sau khi đã được ban hành, muốn vận hành, đưa nó vào cuộc sốngthì phải có bộ máy triển khai, đó là một tổ chức hoặc một nhóm người thực hiện đưa cácnội dung của chính sách đó vào thực tiễn Nói cách khác là phải có bộ máy tổ chức đểđưa các chế độ, nội dung của chính sách đã xác định đến với các đối tượng cần hưởnglợi, hoặc cần được điều chỉnh bởi chính sách để đạt tới mục tiêu đã định

b Nhân tố “ công cụ triển khai chính sách”

Cùng với bộ máy triển khai thì nhân tố “công cụ triển khai chính sách” có tácđộng mạnh mẽ đến kết quả thực thi chính sách Nếu không có công cụ, hoặc công cụkhông phù hợp yêu cầu triển khai thì chính sách sẽ rất khó được thi hành

Theo tính chất và đặc điểm, có thể phân các công cụ triển khai chính sách thànhcác nhóm: hạ tầng, tài chính và nhóm kỹ thuật

- Nhóm công cụ hạ tầng để triển khai chính sách bao gồm: các phương tiện đểngười triển khai chính sách tiếp cận tới đối tượng hưởng lợi (chịu điều chỉnh của chínhsách), đó là các phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc, nhà làm việc, máy móc, vănphòng phẩm …phục vụ trực tiếp cho quá trình triển khai chính sách

- Nhóm công cụ tài chính để triển khai chính sách bao gồm: những khoản tàichính cần có để mua sắm những công cụ kỹ thuật thuộc nhóm (1) để phục vụ triển khaichính sách; (ii) Các khoản tài chính cần có để chi tiêu vào các hoạt động khác nhau của

bộ máy tổ chức triển khai chính sách; (iii) Các khoản tài chính cần để chi cho các đốitượng hưởng lợi theo mục tiêu, chế độ mà chính sách đã đề ra

- Nhóm công cụ kỹ thuật để triển khai chính sách bao gồm: (i) Các phương phápvận hành và điều chỉnh và tổng kết hoạt động của chính sách trong thời gian triển khai;(ii) Các kỹ thuật giám sát, theo dõi, đánh giá việc triển khai và vận hành chính sách;

Trang 16

(iii) Các tiêu chuẩn, định mức, điều kiện, chế độ… dùng để triển khai các hoạt động vàcác hỗ trợ của chính sách đối với đối tượng hưởng lợi

c Nhân tố “ các nguồn lực để phục vụ triển khai chính sách”

Trong triển khai chính sách, cần lưu ý huy động các nguồn lực tại chỗ để cùng vớinguồn lực do chính sách tạo ra, cùng tác động vào đối tượng hưởng lợi, từ đó sẽ làm chohiệu ứng tác động của chính sách được nhân lên Đối tượng hưởng lợi chính sách sẽ cóđộng lực lớn hơn để tiếp nhận và triển khai chính sách và năng động, sáng tạo trong quátrình tiếp cận chính sách

Nguồn lực ở đây được hiểu là nguồn lực về vật chất và phi vật chất (tinh thần)của đối tượng hưởng lợi, được hình thành và nhân lên trong quá trình tiếp cận sự tácđộng của chính sách

d Nhân tố “lựa chọn đúng đối tượng hưởng lợi của chính sách”

Mỗi chính sách có đối tượng hưởng lợi và phạm vi tác động riêng, có giới hạn vàkhông thể áp dụng tràn lan với những đối tượng khác Việc lựa chọn sai đối tượng tácđộng của chính sách, chẳng khác nào làm vô hiệu hóa chính sách, chẳng hạn chính sáchxóa đói giảm nghèo mà áp dụng cho người giàu thì chính sách đó sẽ không phát huyđược tác dụng bởi người giàu không cần những tác động của chính sách này

đ Nhân tố “giám sát, theo dõi, đánh giá kết quả triển khai và điều chỉnh chính sách”

-Trong quá trình triển khai mỗi chính sách, việc giám sát, theo dõi, đánh giá kếtquả triển khai và điều chỉnh chính sách cho phù hợp hơn đối với khả năng thích ứng củamỗi loại đối tượng hưởng lợi là một trong những yêu cầu bắt buộc

-Công tác giám sát, theo dõi, đánh giá kết quả triển khai và điều chỉnh chính sáchlàm càng thường xuyên bao nhiêu thì việc triển khai chính sách càng trở nên sát thựctiễn và có hiệu quả bầy nhiêu

-Xác định đúng những nguyên nhân dẫn tới những thay đổi đã và đang diễn ra ởđối tượng hưởng lợi và xác định đâu là nguyên nhân khách quan, đâu là nguyên nhânchủ quan dẫn tới những kết quả và hạn chế trong sự tác động của chính sách vào đốitượng hưởng lợi

- Đánh giá tác động của chính sách tới đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng,đồng thời cũng là một trong những công việc khó khăn, phức tạp nhất của toàn bộ chutrình vận hành chính sách Để đánh giá được tác động của chính sách, cần có phươngpháp tiếp cận tổng hợp kết hợp cả định tính, định lượng phù hợp đầy đủ các số liệu phản

Trang 17

II Đặc điểm của nông nghiệp, nông thôn và vai trò của nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn

2.1 Những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp, nông thôn

2.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp.

Đặc điểm thứ nhất Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong không gian rộng, gắn với

các điều kiện tự nhiên, sinh thái và xã hội rất đa dạng và phức tạp

Đây là là đặc điểm chung và có tính đặc thù nhất của sản xuất nông nghiệp Đặcđiểm này còn thể hiện các chủ thể tác động vào cây trồng, vật nuôi là những người dân

và cộng đồng xã hội đã sinh sống ở các vùng mà sản xuất nông nghiệp diễn ra

Tính đa dạng của phương thức canh tác nông nghiệp ở từng cộng đồng dân cư vàvùng sinh thái khác nhau đã tạo ra sự phức tạp to lớn của tổ chức và quản lý các hoạtđộng sản xuất

Đặc điểm thứ hai. Sản xuất nông nghiệp không ổn định, sản lượng mỗi loại câytrồng vật nuôi luôn biến động theo thời gian, dưới tác động của nhiều yếu tố tự nhiên,điều kiện canh tác, quyêt định của người sản xuất và nhu cầu của thị trường Lý dogồm:

Một là: Do quá trình sản xuất luôn xảy ra trong tự nhiên, nên kết quả sản xuấtluôn chịu tác động trực tiếp của những tác động môi trường, tác động của các nguồn lực

có sẵn trong tự nhiên như đất, nước, ánh sáng

Hai là Bên cạnh tác động của tự nhiên làm thay đổi mạnh sản lượng cây trồng nhưtrên thì sản xuất nông nghiệp còn chịu tác động của yếu tố dịch bệnh, nảy sinh ngaytrong quá trình sản xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau

Ba là Thị trường sản phẩm nông nghiệp phức tạp hơn nhiều so với các thị trườngsản phẩm khác Lý do dẫn đến những phức tạp này là trong phần sản xuất (bên cung)

có rất nhiều chủ thể (đó là: hộ nông dân, trang trại, HTX, DN) cùng tham gia sản xuất.Quyết định sản xuất của mỗi chủ thể không giống nhau, vì vậy sự tăng giảm sản lượngcủa mỗi loại sản phẩm nông nghiệp luôn biến động mạnh, phụ thuộc vào quyết định củanhiều nhà sản xuất

Đặc điểm thứ ba Sản xuất nông nghiệp luôn là tác nhân trực tiếp, quan trọng đốivới môi trường sinh thái

Là ngành sản xuất vật chất gắn liền với khai thác tài nguyên đất và nước, khí hậunên nông nghiệp có vai trò vô cùng lớn đối với sinh thái Quá trình gia tăng sản xuất,

Trang 18

nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi đồng nghĩa với tiêu hao nhiều hơncác nguồn lực về đất và nước

Đặc điểm thứ tư. Đó là đặc điểm về sự phát triển hài hoà, hợp lý giữa nông nghiệptruyền thống với phát triển các ngành nghề, hoạt động phi nông nghiệp của kinh tếnông thôn hiện đại

Dưới tác động của các cuộc cách mạng về công nghệ, về phát triển cơ sở hạ tầng

cơ bản (đường giao thông, điện, nước) và đặc biệt là cuộc cách mạng về thông tin trongnhững thập kỷ gần đây thì sản xuất nông nghiệp đã găn với phát triển nhiều ngành sảnxuất vật chất thuộc khu vực công nghiệp và dịch vụ

2.1.2 Đặc điểm nông thôn và phát triển nông thôn

Thứ nhất Đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội vùng nông thôn

Nông thôn mang tính đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hoá,khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, đa dạng về hình thức tổ chức, thiết chế xãhội10

Cùng với phát triển nông nghiệp, nông thôn đã phát triển nhiều ngành sản xuấtvật chất khác Đặc biệt là với cơ sở hạ tầng phát triển, thông tin liên lạc phát triển, trình

độ dân trí tăng lên thì nông thôn đã trở thành vùng phát triển cả kinh tế nông nghiệp,công nghiệp và dịch vụ

Như vậy theo quan niệm mới thì sản xuất nông nghiệp sẽ không còn là đặc trưngduy nhất của nông thôn, mà chỉ là một bộ phận trong cơ cấu kinh tế nông thôn, cóchức năng vừa tạo ra sản phẩm lương thực, thực phẩm cho xã hội (an ninh lương thực)vừa có tạo ra môi trường sinh thái đặc biệt, khác vùng đô thị, tạo ra những điểm du lịchsinh thái, an dưỡng, chữa bệnh và nghỉ ngơi

Những nghiên cứu gần đây về nông thôn cho thấy những đặc điểm riêng trong phát

triển kinh tế, xã hội nông thôn được phản ánh qua các sơ đồ 1 và 2 sau đây

Sơ đồ 1 mô tả mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia vào quá trình phát triểnnông thôn và những vấn đề (nội dung) trong phát triển nông thôn

Sơ đồ 1: Phát triển nông thôn theo vùng

cộng đồng địa phương

Cơ hội giảm

thiểu rủi ro

Khả năng sáng tạo của NDNT

t

trường

Năng suất lao động

Hiệu suất sử dụng đất

An ninh lương thực

và d

dưỡng

Quản lý n.lực tự nhiên

Trang 19

Thứ hai Đặc điểm của quá trình phát triển nông thôn

- Theo nghĩa tổng hợp nhất thì, “phát triển nông thôn” bao gồm những nhiệm vụ,hoạt động gắn với sản xuất, đời sống của người dân, xã hội, văn hóa và môi trường ởkhu vực nông thôn…bao gồm: kinh tế, giáo dục, y tế, nhà ở, dịch vụ công và phát triểnkết cấu hạ tầng, quản lý nhà nước và tự quản lý của các cộng đồng nông thôn, bảo tồncác di sản văn hoá tại chỗ

- Trong phát triển nông thôn, các hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường luôngắn với hành vi của các chủ thể là người dân nông thôn với những đặc điểm cộng đồngcao hơn so với dân cư đô thị, thể hiện họ thường cùng nhau tham các hoạt động pháttriển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển nông thôn phải

+ Mang tính ổn định, lâu dài (sustained), không thể ngắn hạn…;

+ Mang tính bền vững (sustainable), được kế thừa qua các thời đại;

+ Là một quá trình (process) thể hiện song trùng một chuỗi hành động liên tục

và tác động qua lại lẫn nhau;

+ Mang tính kinh tế giữa các chủ thể trong nông thôn với với các chủ thể ngoàikhu vực nông thôn;

+ Mang tính xã hội, văn hóa (social), thể hiện sự liên quan đến các mối quan hệgiữa người và người trong quá trình phát triển; thể hiện sự liên quan đến các đặc trưng

về tập quán văn hóa riêng của từng cộng đồng, từng địa bàn nông thôn;

Trang 20

+ Mang tính môi trường (environmental), thể hiện sự bảo vệ, phát triển cảnhquan tự nhiên của từng vùng với những đặc trưng riêng về sinh thái và vật thể;

+ Mang tính nhân tạo (designed), thể hiện các mô hình kinh tế, xã hội nông thôn

là do con người tạo ra, mang dấu tích của sự hiểu biết, nền văn hóa bản địa

+ Mang tính cộng đồng (community), thể hiện sự tham gia của nhiều người,nhiều hộ gia đình trong một cộng đồng, địa bàn nông thôn nhất định

- Phát triển nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp.

Vào thời kỳ đầu, khi nông thôn còn nghèo và nhu cầu sản xuất lương thực, thựcphẩm để tự cung, tự cấp còn lớn và mang tính phổ biến thì khái niệm phát triển nôngthôn gắn liền với khái niệm phát triển nông nghiệp, bởi vì ở giai đoạn này người dânnông thôn phải tự sản xuất ra lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu của chính họ Tiếp theo giai đoạn trên, phát triển nông thôn dần mở rộng ra các ngành và lĩnhvực khác, cả trong kinh tế, xã hội và môi trường và mang tính tổng hợp nhiều ngành,lĩnh vực khác nhau Cũng có một số quan điểm không coi phát triển nông nghiệp nằmtrong nội dung của phát triển nông thôn, mà coi nông nghiệp là bộ phận độc lập vớiphát triển nông thôn Nhưng thực tế quan điểm này đã không được thừa nhận

- Phát triển nông thôn gắn với sinh kế người dân

Bước sang thập kỷ 1970, khi nhận thấy nếu chỉ phát triển nông nghiệp thì ngườinông dân không thể có thu nhập và đời sống cao, tình trạng nghèo nàn sẽ kéo dài Vìvậy những nghiên cứu về phát triển nông thôn đã chú ý nhiều hơn đến vấn đề việc làm

và thu nhập phi nông nghiệp đối với giảm nghèo và làm giàu cho người dân ở nôngthôn

- Các chương trình phát triển nông thôn ra đời nhằm tăng năng suất nông nghiệp

và tăng cường cung cấp nhu cầu cơ bản của con người Theo đó, các nước đã triển khaicác dự án cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, các hỗ trợ về phát triển hạ tầng nông thôn,khuyến khích sự tham gia tích cực của các nhân và cộng đồng vào phat triển xã hộinông thôn mới, bỏ qua hoặc ít chú trọng đến cơ chế và tạo động lực để các nhà đầu tư

bỏ vốn phát triển các cơ sở kinh tế trong nông thôn

- Phát triển nông thôn là một quá trình bao hàm: (i) Cải thiện mức sống củangười dân nông thôn, bao gồm các hoạt động nâng cao thu nhập, tạo việc làm việc làm,phát triển giáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng, tổ chức lại hệ thống nhà ở

và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong nông thôn; (ii) Tạo ra sự vươn ra của nông thôntới đô thị và các vùng kinh tế phát triển, giảm mất cân bằng thu nhập giữa nông thôn và

Trang 21

chống chịu với những biến động về thiên nhiên như lụt bão và những biến động của thịtrường như khủng hoảng kinh tế và những biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ xã hội

- Các lý thuyết mới về phát triển nông thôn bắt đầu được mô phỏng theo nhiềucác khác nhau dựa vào các phương thức tiếp cận người dân và các vấn đề của họ, cụthể:

(i) Lý thuyết “kinh tế thể chế mới” đã coi trọng ảnh hưởng của thông tin, chi phítrao dịch đối với giảm nghèo và phát triển của các cộng đồng dân cư nông thôn;

(ii) Lý thuyết thúc đẩy phát triển sản xuất thông qua các nguyên tắc và quan hệthị trường kết hợp với thay đổi công nghệ sản xuất truyền thống sang công nghệ hiệnđại thay cho định hướng chỉ thúc đẩy thay đổi công nghệ;

(iii) Lý thuyết thúc đẩy phi tập trung hóa, dân chủ hóa và nâng cao vai trò của xãhội dân sự (vai trò của người dân nông thôn và các tổ chức của họ);

(iv) Lý thuyết phát triển nông thôn với cách tiếp cận mang tính cân bằng và hệthống kinh tế - xã hội - môi trường từ dưới lên, được gọi là phát triển bền vững, bắt đầu

từ cuối những năm 1990 (Sustainable livelihoods) trong đó chứa đựng các mục tiêu mụctiêu giảm nghèo, xã hội và môi trường sinh thái được bảo vệ

Tổ chức Ngân hàng thế giới xác định: “Phát triển nông thôn là một chiến lược baogồm các hoạt động nhằm cải thiện đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá của một nhóm cưdân nông thôn nhất định - dân nghèo ở nông thôn; liên quan đến việc mở rộng ích lợicủa quá trình phát triển đến cho những người nghèo nhất ở nông thôn, bao gồm tiểunông, tá điền và người không có đất canh tác

- Phát triển nông thôn gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển bềnvững

Đặc điểm này phản ánh sự sung túc về kinh tế và bảo tồn tài nguyên, môitrường, sinh thái, khí hậu, an ninh, chính trị, ổn định xã hội… do đó những khái niệmphát triển nông thôn cũng không hoàn toàn tập trung vào các khía cạnh kinh tế Ngàynay, ở các nước như Nhật Bản, Châu Âu, Hàn quốc, Đài loan người ta đang đề caoquan niệm phát triển nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bềnvững và kinh tế đa ngành gọi là “ phát triển nông thôn đa chức năng”

Chức năng bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên nhất là tài nguyên rừng, tàinguyên đất và nước, tài nguyên đa dạng sinh học, khoáng sản Bảo vệ và phát triển môitrường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì các cân bằng sinh thái;

Trang 22

Chức năng bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc,của các địa phương Gìn giữ và khai thác các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, cáckiến thực bản địa, các giá trị nhân văn và tài nguyên con người;

Chức năng kết hợp quá trình phi tập trung hoá các ngành công nghiệp (phân tán

về nông thôn) và đô thị hoá (tạo không gian phát triển các đô thị mới) và chức năng làquá trình gắn kết toàn cầu hoá với phát triển các cộng đồng dân cư nông thôn;

Đối với các nước đang phát triển, quan điểm phát triển nông thôn đa chức năngnhấn mạnh vào khía cạnh phát triển tổng hợp cả kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, môitrường bền vững được định nghĩa là “Là sự phát triển đáp ứng đủ các nhu cầu hiện tại

mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”11

- Phát triển nông thôn mang tính vùng lãnh thổ, tính địa phương

Nông thôn nói chung có thể hiểu là vùng không gian lãnh thổ ngoài các đô thị vàcác khu công nghiệp lớn Theo cách hiểu này thì nông thôn là những vùng lãnh thổ baoquanh thành thị và khu công nghiệp Mỗi đô thị sẽ có các vùng nông thôn bao quanh nó,

đô thị càng phát triển mạnh thì vùng nông thôn xung quanh cũng phát triển theo, đó làquy luật của tác động lan tỏa Như vậy sự khác biệt về trnhf độ phát triển giữa các vùngnông thôn có nguyên nhân do sự khác biệt về trình độ phát triển của các đô thị gầnnông thôn

Trên thực tế, trình độ phát triển của các đô thị rất khác nhau về quy mô, hìnhthức, các quan hệ xã hội và phụ thuộc rất nhiều vào thời gian phát triển Nhân tố này đãảnh hưởng mạnh tới sự phát triển của các vùng nông thôn xung quanh

Những khác biệt giữa các vùng nông thôn thể hiện trên khía cạnh sau:

Thứ nhất, Khác biệt về phát triển sự phát triển của khu vực nông nghiệp

Ở nhiều vùng nông thôn kinh tế nông nghiệp vẫn là hoạt động chính, nhưng cónhững vùng ngành du lịch lại phát triển nhanh và chi phối kinh tế vùng, ở một số vùngkhác các ngành khai khoáng, công nghiệp chế tạo lại nắm vai trò đầu tàu kinh tế Sự đadạng này xuất phát từ lợi thế tự nhiên của từng vùng và ảnh hưởng từ sự phát triển của

đô thị trong vùng

Thứ hai, Sự khác biệt về các nguồn tài nguyên

Có những vùng nông thôn chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú,nhưng có những vùng lại rất nghèo tài nguyên Sự khác biệt này đã tạo ra sự khác biệtgiữa các vùng nông thôn về định hướng phát triển nông nghiệp và định hướng chuyển

Trang 23

dịch từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác dựa trên khả năng khai thác các nguồntài nguyên sẵn có tại chỗ.

Thứ ba, Sự khác biệt về con người, cộng đồng dân cư

Con người và cộng đồng dân cư ở mỗi vùng nông thôn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới

sự khác biệt giữa các vùng Sự khác biệt về con người và cộng đồng dân cư sẽ tạo ranhững sắc thái đặc thù riêng của mỗi vùng nông dựa trên khác biệt về con người vàcộng đồng của nó

tổ ngân sách” (Single Regeneration Budget) và gần đây là các chiến lược phát triển cộngđồng Ở Ailen có Chương trình về “tiến bộ kinh tế và xã hội” (Programmes for Economicand Social Progress; ở Pháp là “Các cam kết Quốc gia” và “Nghiệp đoàn liên vùng”; ởPhần Lan là “Chương trình phát triển nông thôn dựa trên sáng kiến của cơ sở”(Programmes of Rural Development Based on Local Initiative) Ở EU có chương trìnhLEADER đối với các vùng khó khăn và chương trình “Hiệp định lao động châu lục”(Territorial Employment Pacts)

Trên cơ sở các đặc tính trên đây các Nhà kinh tế Malcolm Móelay vào năm 2003

đã đưa ra khái niệm về “Phát triển nông thôn theo cộng đồng, địa phương và vùng,miền” như là một trong những chìa khóa để mở ra những bí quyết để phát triển nôngthôn theo hướng bền vững Định nghĩa mà Malcolm đưa ra về phát triển cộng đồng nôngthôn là qua trình giải quyết 3 nhiệm vụ cơ bản sau:

- Giải quyết những ‘thất bại thị trường’ ở các vùng nông thôn;

- Nâng cao “năng lực tự quản lý của cộng đồng từng vùng”, làm tăng năng lực và

sự tích cực tham gia của người dân, các tổ chức trong phát triển cộng đồng nơi họ sinhsống;

- Hỗ trợ “quyền tự chủ và tự quyết cho cộng đồng địa phương”, nghĩa là tạo chocác ‘tác nhân’ địa phương quyền tự quyết nhiều hơn trong việc quản lý, điều hành cáchoạt động trên địa bàn)

Nhận xét chung về phát triển nông thôn là:

Trang 24

(i) Sự nghiệp của những người dân và cộng đồng của họ ở từng địa bàn, phụthuộc rất nhiều vào tư duy, văn hóa và kiến thức của những người dân trong từng cộngđồng;

(ii) Sự tác động của Nhà nước và Chính phủ có thể làm thay đổi hướng phát triểncủa nông thôn, song không thể làm thay được người dân và cộng đồng của họ;

(iii) Phát triển nông thôn phải dựa vào sự đồng tâm, hưởng ứng của cộng đồngdân cư tại chỗ, không có mô hình chung về phát triển nông thôn cho mọi cộng đồngnông thôn;

(iv) Mức độ tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường trong phát triển nông thôntùy thuộc vào quy mô của cộng đồng dân cư ở nông thôn mà mỗi quốc gia quyết địnhlựa chọn, đối với quy mô cộng đồng nhỏ (ở cấp làng xã thì nội dung phát triển nôngthôn chỉ bao gồm những vấn đề về xã hội, dân sinh và môi trường, nội dung kinh tế cóthể bị hạn chế; ở cấp lớn hơn như vùng liên làng xã, hoặc cấp huyện thì nội dung vềkinh tế có điều kiện phát triển mạnh hơn và đầy đủ hơn);

(v) Phát triển nông thôn không thể tách rời sự phát triển của đô thị lớn và sự hìnhthành các đô thị mới ngay trong các vùng nông thôn, quá trình này mang tính đan xenvừa là đô thị hóa, vừa bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hóa của cộng đồng nôngthôn, được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ Sự mất đi của những giá trị này

sẽ làm đảo lộn các giá trị xã hội và có thể gây ra những tổn thất cho sự bền vững củanông thôn

2.2 Vai trò của Nhà nước, thị trường, và cộng động trong phát triển nông thôn

Lý luận về phát triển nông thôn đã đưa đến sự xác định vai trò của ba khối chủthể chính là: Thị trường, Nhà nước và các tổ chức xã hội do người dân nông thôn tự lập

ra Các lý luận về phát triển nông thôn đến nay đều công nhận sự cân bằng về vị trí vàvai trò của 3 khối chủ thể này trên mỗi địa bàn nông thôn, coi 3 khối này là 3 đỉnh củatam giác phát triển nông thôn, là nền tảng trong xây dựng chính sách phát triển nôngthôn

Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn cho thấy ở mỗi giai đoạn cụ thể thì vai trò của mỗikhối chủ thể có thể gia tăng, có tính nổi trội hơn những khối chủ thể khác Chẳng hạn, ởViệt Nam trước năm 1980 (thời kỳ kế hoạch hóa tập trung) thì vai trò của nhà nước đãnổi lên, chiếm ưu thế mạnh hơn cả trong phát triển nông thôn; tiếp sau đó, quá trình đổimới quản lý kinh tế đã làm thay đổi vai trò Nhà nước theo hướng giảm bớt các can thiệp

Trang 25

quyền tự chủ của các cộng đồng nông thôn Ngày nay vai trò của Nhà nước dừng lại ở

hỗ trợ và thúc đẩy, còn toàn bộ vai trò về quyền tổ chức quá trình phát triển và huyđộng lực lượng tham gia và hưởng lợi đã thuộc về người dân nông thôn và cộng đồngcủa họ

2.2.1 Vai trò của Nhà nước

Nhà nước luôn có vai trò quan trọng đối với phát triển nông thôn Vai trò của nhànước trong phát triển nông thôn được đề cao trong bối cảnh tự do hóa thương mại vàđiều chỉnh cơ cấu kinh tế ở các quốc gia hiện nay Chính sách phát triển nông nghiệp,nông thôn đã trở thành một trong các chính sách quan trọng, có ý nghĩa với toàn nềnkinh tế Trong đó, các chính sách về thuế, hàng rào kĩ thuật đã tác động trực tiếp đếnsản xuất và tiêu thụ nông sản của các hộ nông dân tại nước xuất khẩu và nông dânngay tại nước phải nhập khẩu

2.2.2 Vai trò của thị trường

Sau năm 1990, vai trò của thị trường trong phát triển nông thôn đã được nâng lênmột bước mới và bắt đầu trở nên quan trọng từ những năm sau này do tác động củaquá trình toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh quốc tế Điều này đã tạo ra sân chơibình đẳng cho các chủ thể ở nông thôn, trước hết là các hộ nông dân và các tổ chức của

họ như HTX, các hội, câu lạc bộ và toàn cộng đồng nông thôn Nhưng trước sức ép củacạnh tranh thị trường sự tồn tại của các hộ nông dân qui mô nhỏ ngày càng trở nên rấtkhó khăn và nhiều rủi ro

Ba thể chế và chính sách trong phát triển nông thôn

Thị trường1982: khủng khoảng, thành

công mở cửa thị trường, thị

trường nông thôn phát triển

Nhà nước

Ưu thế trước 1980

Tổ chức dân sự1990: đảm bảo tính công bằng, điều hòa xã hội, giảm bớt tính phi xã hội

của thị trường

Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa 3 khối chủ thể trong phát triển nông thôn

Trang 26

2.2.3 Vai trò của các tổ chức dân sự-xã hội (quần chúng).

Từ 25 năm trở lại đây, trong nông thôn các nước trên thế giới đã có sự phát triểnnhanh chóng về số lượng, sự đa dạng, sự phức tạp của các hình thức tổ chức mang tínhkinh tế-xã hội kết hợp do người dân nông thôn tự lập ra Sự phát triển các tổ chức nàydiễn ra cùng với quá trình phi tập trung hóa hoạt động quản lý kinh tê-xã hội của Nhànước đã thúc đẩy hình thành những quan điểm và cách tiếp cận về phát triển nông thônmới

Đơn vị làng, xã được lựa chọn làm cơ sở cho liên kết cộng đồng để quản lý quản lícác tài sản có chức năng phục vụ nhu cầu cộng đồng, không thể bị phá vỡ Ở những nơi

mà chính quyền làng không đóng vai trò quản lý tài sản cộng đồng, thì việc hình thànhnhững tổ chức của dân trong làng là giải pháp tình thế bởi vì các tổ chức này mang nặngtính truyền thống và rất bảo thủ trước những yêu cầu thay đổi của cuộc sống

III Kinh nghiệm xây dựng và thực thi chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn một

số nước

3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản.

Thứ nhất: Cải thiện điều kiện cơ bản sản xuất của ngành nông nghiệp, thực hiện

kinh doanh nông nghiệp có hiệu quả cao, giúp nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực

và cung cấp ổn định các mặt hàng nông phẩm cần thiết cho quốc dân

Thứ hai: Nâng mức thu nhập của người làm việc trong ngành nông nghiệp bằng

hoặc gần bằng những người làm việc trong các ngành nghề khác, đem lại cho ngườinông dân một cuộc sống phong lưu, dư dả

Thứ ba: Năm 1969 ban hành “Luật chấn hưng nông thôn”, năm 1970 lại tiến hànhsửa đổi “Luật ruộng đất” và “Luật trợ nông” đồng thời ban hành chế độ bảo hiểm dưỡnglão nông nghiệp Năm 1971, chính phủ Nhật đã ban hành “Luật khuyến khích các khuvực nông thôn tham gia vào ngành công nghiệp”, khuyến khích công nghiệp thành phốchuyển về các vùng nông thôn

Có thể nói cơ cấu chính sách của Nhật Bản ngày nay và các luật chủ yếu có liênquan đến chế độ đất đai đều được hình thành trong thời kỳ này Trong thời gian thựchiện phong trào xây dựng thôn xã, đổi mới nông thôn, năm 1984 chính phủ Nhật bắtđầu sửa đổi “Luật chấn hưng nông nghiệp nông thôn” và “Luật cải cách ruộng đất” Năm

1987 đã ban hành “Luật quy hoạch làng mạc”, tiến hành quy hoạch lại phạm vi sử dụngđất ở làng mạc và các vùng ven đô

Trang 27

3.2 Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp.

3.2.1 Về Chính sách phát triển nông nghiệp.

Trước bối cảnh nông thôn lạc hậu, an ninh lương thực-thực phẩm không đảm bảo,

nước Pháp lựa chọn nông nghiệp là khâu đầu tiên đột phá trong phát triển nông thôn

Để tăng cường đầu tư vào nông nghiệp, năm 1960 nước Pháp đã ban hành “Dự luật chỉđạo nông nghiệp”, quyết định thành lập “quỹ phong trào điều chỉnh cơ cấu nôngnghiệp” Để khuyến khích nông dân trẻ làm nông nghiệp, năm 1974 nước Pháp bắt đầuthực hiện chính sách” trợ cấp thoát nông suốt đời”, chỉ cần người nông dân cao tuổitrong toàn quốc nghỉ sản xuất nông nghiệp, trao “quyền kinh doanh” nông nghiệp chothế hệ trẻ thì đều có thể được hưởng chế độ hưu trí của chính phủ

3.2.2 Về chính sách đô thị hóa và du lịch hóa nông thôn

Hình thành những khu nhà nghỉ, khu du lịch, vui chơi giái trí, khu bảo tồn thiênnhiên, khu thể thao, khu sản xuất nông nghiệp, khu sản xuất phi nông nghiệp tạo ramột qui hoạch lãnh thổ mới trên toàn nước Pháp Do đó, nông thôn Pháp thu hút rấtnhiều khách du lịch trong và ngoài nước, tạo ra tính đặc trưng cao bậc nhất thế giới chotừng vùng về văn hóa, sinh thái, sản phẩm nông sản và thực phẩm

3.2.3 Chính sách công nghiệp hóa nông thôn.

Trên nền tảng phát triển công nghiệp chế biến nông sản, Pháp thực hiện chính

sách công nghiệp hóa nông thôn Nông nghiệp, là nền tảng của nông thôn, nhưng nôngnghiệp không quyết định phát triển nông thôn mà phải là công nghiệp chế biến

3.3 Kinh nghiệm Hàn quốc

Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm Hàn Quốc là:

(i) Phát huy dân chủ, đưa nhân dân tham gia vào quá trình ra quyết định Để làmviệc này, trước hết nông dân tự bầu ra người lãnh đạo mà họ tín nhiệm, cả nam và nữ

Tổ chức của làng mang tính cộng đồng, không chịu ảnh hưởng của đoàn thể chính trịhoặc chính quyền địa phương gồm 5 đến 10 người để vạch kế hoạch và tiến hành dự ánphát triển nông thôn12 Sau đó mọi hoạt động của Chương trình đều được tiến hànhthông qua các cuộc họp để nông dân tự ra quyết định lựa chọn công trình, phương thứcđóng góp, giải pháp xây dựng, tự chịu trách nhiệm quản lý giám sát công trình

(ii) Tổ chức chương trình từ cơ sở lên Trung Ương, phối hợp chặt giữa các Bộ Cấpquan trọng nhất là cấp cơ sở, mỗi làng thông qua dân chủ bầu chọn bầu ra "Uỷ ban Pháttriển Làng mới" do một thủ lĩnh nam giới và một là nữ giới có quyền ngang nhau chỉ

12 Ở Việt Nam hoạt động phát triển ở địa phương tại cơ sở trước đây do Hợp tác xã và nay chủ yếu do Ủy ban nhân dân địa

Trang 28

huy Ở cấp chỉ đạo TW, chương trình do tổng thống trực tiếp lãnh đạo bên dưới là Uỷban Phối hợp Trung ương gồm các bộ và Thứ trưởng các Bộ liên quan13

(iii) Xây dựng đội ngũ lãnh đạo ở nông thôn làm nòng cốt cho chương trình pháttriển Mỗi làng nhân dân tự bầu ra người làm lãnh đạo cho phong trào của mình Đểnhững người lãnh đạo Phong trào ở cấp làng xã thực sự của dân, vì dân, những ngườilãnh đạo này độc lập với hệ thống hành chính và chính trị ở nông thôn, và không dànhcho họ bất kỳ một khoản trợ cấp vật chất nào Để đào tạo chính qui đội ngũ quan trọngnày, Chính phủ đầu tư ba trung tâm đào tạo quốc gia được trang bị rất hiện đại và sửdụng rộng rãi mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương phục vụ công táctập huấn ngắn hạn cho nông dân

(iv) Tất cả các làng đều lần lượt được tham gia chương trình14 Các giai đoạn củachương trình đều tiến hành đánh giá công khai do các tổ chức phát triển làng của dântham gia Các làng làm tốt bước trước mới được đầu tư để tham gia bước sau, làng nàolàm kém không được đầu tư và bị công khai chê bai trước công luận tạo nên tinh thần tựhào vì phát triển và xấu hổ vì làm ăn kém Trở thành niềm phong trào thi đua quầnchúng sôi động cả nước

(v) Tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách phát triển nông thôn, trọng tâm

là cán bộ cơ sở, sau đó là cán bộ các cấp Hình thành hệ thống trường, giáo trình có chấtlượng Các quan chức trung ương và địa phương được đưa về cùng sống và theo học vớicán bộ cơ sở ở các trường đào tạo phát triển nông thôn15

3.4 Kinh nghiệm Đài Loan 16

3.4.1 Về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp

Đài Loan có nhiều điểm giống Việt Nam là: qui mô ruộng đất trên mỗi hộ nôngdân nhỏ, sản xuất lúa nước là chính, có khả năng xuất khẩu nông sản, qui mô nền kinh

tế không lớn

Học tập Nhật Bản, Đài Loan đã chia đều quỹ đất cho nông dân, phát triển nông

hộ quy mô nhỏ, đẩy mạnh nhu cầu tiêu dùng nội địa Để phát triển nông nghiệp, ĐàiLoan sử dụng 1/3 số vốn viện trợ tái thiết của Mỹ vào phát triển nông thôn, chủ yếu làphát triển khoa học kỹ thuật, dạy nghề cho nông dân và cấp vốn tín dụng cho nông

13 Việt Nam chưa có một chương trình điều phối tập trung cho phát triển nông thôn Các chương trình liên quan do từng Bộ điều hành.

14 Chương trình 135 chọn làng nghèo tham gia chương trình, vì vậy nhiều địa phương nhận nghèo Phát triển không tạo được động lực thi đua, không thay đổi cách nghĩ của nông dân

15 Việt Nam chưa có hệ thống đào tạo chuyên môn cho phát triển nông thôn

16 Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Bình: Một số lí luận về PTNT, chính sách và kinh nghiệm

Trang 29

nghiệp Suốt trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, nông nghiệp Đài Loan tăngtrưởng với mức trung bình 4,5%/năm, chủ yếu nhờ thâm canh tăng năng suất bằng ápdụng kỹ thuật mới mà không tăng thêm vật tư nông nghiệp17

3.4.2 Chính sách phát triển nghành nghề nông thôn

Một điểm đáng chú ý là giai đoạn đầu công nghiệp hóa, công nghiệp phát triểnchậm Mỗi năm chỉ khoảng 0,3–2,3% lao động nông thôn chuyển ra thành phố ĐàiLoan đã thực thi chính sách tập trung phát triển ngành nghề nông thôn và chuyển đổi cơcấu nông nghiệp, thu hút thành công cả số lượng lao động tăng thêm hàng năm và làmgiảm tỷ lệ thất nghiệp Sau năm 1965, các ngành công nghiệp được bắt đầu phát triểnnhanh, lao động rút khỏi nông nghiệp chuyển sang công nghiệp tăng gấp 5 lần, lao độngnông thôn bắt đầu giảm mạnh, giá lao động tăng, sản xuất nông nghiệp chuyển sang cơgiới hóa Nhờ có đủ việc làm nên phân phối thu nhập ở nông thôn Đài Loan công bằng Đài Loan rất thành công trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nôngthôn Chính phủ thành lập 17 khu công nghiệp nông thôn để hỗ trợ phát triển Cácdoanh nghiệp thủ công và công nghiệp nông thôn được hỗ trợ tín dụng, công nghệ, đượcchính phủ bảo trợ ký kêt hợp đồng với nông dân để thu mua nguyên liệu và tiêu thụnông sản Các doanh nghiệp vừa và nhỏ họat động thành công trong việc làm vệ tinhcho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn

Năm 1991, công nghiệp chế biến tạo ra giá trị sản lượng 17,5 tỷ USD/năm (thịt15%, thức ăn gia súc 12%, đồ uống 18%, xay sát gạo 9% …) Các nhà máy chế biếnđều dựa trên quan hệ hợp đồng với nông dân sản xuất nguyên liệu

3.5 Kinh nghiệm Hà Lan 18

3.5.1 Chính sách ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp

Để duy cao để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Hà Lan tập trung đầu tưnghiên cứu và áp dụng khoa học, công nghệ 19.Ở Hà Lan, nghề trồng rau-hoa-cây cảnhchủ yếu sản xuất trong nhà kính, sản xuất ngoài trời chỉ chiếm 6% diện tích đất nôngnghiệp Chiếm 25% tổng diện tích nhà kính thế giới, 11.000 ha, hiệu quả tăng 5-6 lầnsản xuất ngoài trời Đầu tư nhà kính tốn kém, khoảng 1 triệu USD/ha Thiết bị điềuhành bằng tin học, sản xuất được cơ giới hoá, tự động hoá, gồm các khâu làm ấm,thông gió, hạ nhiệt, tưới nước, bón phân, phun thuốc, thanh trùng…

3.5.2 Chính sách phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu20

17 Tương đương với mức tăng trưởng của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới nhưng Việt Nam chủ yếu là nhờ tăng thêm vật tư và diện tích gieo trồng

18 Tài liệu tham khảo: Nguyễn Công Tạn, 2005, Đặng Kim Sơn trích dẫn, 2007.

19 Giai đoạn vừa qua, nông nghiệp Việt Nam tập trung đầu tư tài nguyên, lao động vật tư hơn là công nghệ.

Trang 30

Hà Lan có ngành công nghiệp chế biến nông sản hùng hậu, hiện đại, gồm chế biếnsữa, thịt, thuỷ sản, trứng, khoai tây, rau quả, kẹo bánh, dầu ăn, ngũ cốc, đồ uống, gia

vị, phụ liệu thực phẩm, thức ăn nhanh.v.v…Để có nguyên liệu cho chế biến, Hà Lan nhậpkhẩu một lượng lớn nguyên liệu không có lợi thế sản xuất, thông qua chế biến để nângcao giá trị gia tăng Hàng năm chi 1,3 tỉ USD, nhập toàn bộ đậu tưong để tiêu dùngtrong nước, và chế biến xuất khẩu, xuất siêu 800 triệu USD Hà Lan là cường quốc sảnxuất, xuất khẩu bia mà toàn bộ nguyên liệu sản xuất nhập khẩu, xuất siêu 1997 là810.000 tấn

Nền nông nghiệp Hà Lan hướng về xuất khẩu, cà chua, bơ, sữa bột… xuất khẩu100% sản lượng Hà Lan đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa tươi cắt, cây cảnh trongchậu, cà chua, khoai tây, hành tây, trứng gà còn vỏ, pho mát khô, sữa đặc, bia đạimạch bánh và dầu ca cao đứng thứ nhì thế giới về thịt lợn, sản phẩm sôcôla, thuốc lá.Hàng năm mỗi người tạo ra giá trị xuất khẩu 140.600 USD, vượt xa các nước khác(Pháp 39.200 USD, Australia 35.300 USD, Mỹ 19.900 USD) Mức xuất khẩu trên mộtđơn vị diện tích canh tác đạt 18570 USD/ha (không kể thuỷ sản Hiệu suất sản xuất củađất ở Hà Lan năm 1991 đạt 2468 USD/ha, hiệu suất lao động đạt 44.339 USD/người,hơn hẳn mọi nước trên thế giới

3.5.3 Chính sách thúc đẩy phát triển trang trại lớn

Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình, tỉ lệ lao động làmthuê rất ít Các hộ gia đình tiểu nông tự cấp, tự túc, trước đây nhờ tích luỹ vốn đãchuyển sang sản xuất hàng hoá nhỏ, tiếp đó chuyển sang hộ sản xuất chuyên mônhoá, rồi dần dần chuyển thành trang trại lớn hiện đại, sản xuất vì lợi nhuận, tạo nêndạng kinh tế tổ hợp “nông-công-thương” Các trang trại được khuyến khích tích tụ ruộngđất để có quy mô đủ lớn, gắn liền với quá trình tạo việc làm phi nông nghiệp, và giải thểcác trang trại nhỏ, làm ăn kém hiệu quả Bình quân qui mô trang trại Hà Lan năm 1997

Trang 31

hiệu suất sản xuất và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Hà Lan hơn hẳn nhiều nướckhác trên thế giới

3.5.4 Chính sách phát triển các tổ chức của nông dân

Tổ chức Hợp tác xã và các Hiệp hội ngành nghề của nông dân đóng vai trò quantrọng Các loại Hiệp hội ngành nghề và Hiệp hội thương mại, trong đó Hiệp hội ngànhhàng là tổ chức ngang của trang trại liên kết các bộ môn của trang trại, còn Hiệp hộihàng hoá là tổ chức ngành dọc, liên kết khâu cung ứng nguyên liệu đến tiêu thụ sảnphẩm của trang trại

3.5.5 Chính sách tín dụng

Ngân hàng hợp tác, đã có 110 năm lịch sử dịch vụ tiền tệ cho nông nghiệp, hỗ trợnông dân giải quyết vốn, mở rộng sản xuất, kể cả về tư vấn đầu tư, trở thành nhà chovay lớn nhất, đảm bảo 90% vốn cho các chủ trang trại, 40% vốn cho các doanh nghiệpnhỏ và vừa trong cả nước và nhiều hoạt động quốc tế Năm 2001, tập đoàn ngân hàngRabobank group là một trong 30 ngân hàng lớn nhất thế giới, có tài sản 140 tỉ USD,đứng thứ 2 trong toàn ngành ngân hàng Hà Lan

3.6 Kinh nghiệm Trung quốc

3.6.1 Đối sách của Trung quốc trong lĩnh vực nông thôn có thể tóm tắt như sau:

- Đa dạng hóa và cải thiện chất lượng sản phẩm nông nghiệp;

- Phát triển việc chế biến nông sản hướng tới sản xuất an toàn hơn, dinh dưỡngcao hơn, chất lượng tốt hơn mới có thể phát triển thị trường nông sản;

- Khai thác lợi thế so sánh của các địa phương: Những vùng ven biển và ngoại ôthành phố định hướng vào phát triển công nghệ sử dụng nhiều lao động và vốn Giảmbớt sản xuất lương thực và tăng sản xuất nghề làm vuờn, nghề cá, chăn nuôi giá trị cao.Tăng cường chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa trong nông nghiệp, hạn chế pháttriển cây trồng, vật nuôi tiêu tốn nhiều đất đai, nguồn nước;

- Phát triển các đô thị vừa và nhỏ thành mạng lưới của đô thị lớn để sẽ thúc đẩyquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, giảm sức ép ở các đô thị lớn;

- Thúc đẩy xây dựng môi trường sinh thái và thực hiện phát triển bền vững Nhànước hỗ trợ nông dân chuyển sang các hệ thống sản xuất sinh thái, bảo vệ môi trường,tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên;

3.6.2 Điều chỉnh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc.

(1) Thúc đẩy hình thành hệ thống thông tin thị trường, cải thiện tính minh bạchcủa thông tin thị trường để người dân (sản xuất, tiêu dùng và buôn bán) tiếp cận tốthơn;

Trang 32

(2) Phát triển hệ thống quản lí chất lượng sản phẩm, cả hệ thống kiểm tra giámsát của nhà nước cũng như hệ thống quản lí chất lượng nội bộ của doanh nghiệp Trợgiúp nông dân sản xuất có chất lượng;

(3) Điều chỉnh chính sách bảo hộ cho nông nghiệp phù hợp qui định của WTO; (4) Thúc đẩy đổi mới quản lí trong nông nghiệp Phát triển hệ thống quản lí nôngnghiệp sang công ty-hộ gia đình nông dân để tăng cường tiếp cận thị trường của nôngdân và các tổ chức nông dân;

(5) Cải thiện lưu thông nông sản để giảm chi phí lưu thông:

(6) Tái cấu trúc hệ thống tài chính, đầu tư cho nông nghiệp và hình thành hệthống bảo hiểm nông nghiệp;

(7) Tái cấu trúc hệ thống nghiên cứu và khuyển nông cho nông nghiệp theohướng nghiên cứu ứng dụng, mang tính tổng hợp cả kĩ thuật, kinh tế và xã hội

(8) Cải cách hệ thống hộ khẩu nhằm tạo điều kiện cho người dân định cư tại đô thị dề dàng hơn.

3.6.3 Một số biện pháp cụ thể về tam nông của Trung quốc như sau:

Đất đai

Thực hiện chính sách đất đai dễ dãi để thu hút đầu tư Nhà nước mua rẻ đất đaicủa người dân sau đó cho doanh nghiệp thuê và bán với giá cao Nhưng nhiều nơi, chínhquyền đia phương xác định giá không minh bạch, bán đất cho doanh nghiệp giá cao Cải cách sở hữu:

Hiện nay ở Trung quốc sở hữu đất đai là nhà nước, tại nông thôn, quyền sở hữurất khác nhau Tại cấp thôn, UBND thôn, là đại diện quyền sở hữu của người dân trongthôn Quyền sử dụng đất của người dân, được xác định mang tính chất rất ổn định, gầnnhư quyền tư hữu Đất sử dụng 30 năm, có thể kéo dài 70 năm Người dân có quyềnchuyền quyền sử dụng đất cho người khác, Ủy ban thôn chứng thực cho giao dịch này Người dân mong muốn chính sách đất đai vĩnh cửu, vĩnh viễn Mặc dù vậy do mâuthuẫn giữa tư hữu hóa và nghèo đói, bảo vệ tài nguyên Quá trình sử dụng đất đai chưathực sự ổn định, đang phát triển, do vậy trong thời gian tới Trung quốc sẽ chưa thay đổiquan điểm quản lí đất đai Dựa trên quan điểm: 1) tăng người nhưng không tăng đất; 2)Giảm người nhưng không giảm đất

Hiện nay tại Trung quốc cũng đang tranh luận có chia lại đất hay không, hay cứ đểnhư vậy Một số nơi có thử nghiệm: 80% đất chia lại, 20% để lại làm đất tập thể Thờigian sử dụng đất: Đồng bằng 50 năm, Miền núi 70 năm

Trang 33

- Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp vừa vànhỏ tại nông thôn (thủ tục vay và lãi suất), đặc biệt xác định danh sách các doanhnghiệp đầu rồng tại từng vùng để hỗ trợ.

- Hỗ trợ phát triển hệ thống tín dụng nhỏ kiểu Gramy Bank của Băng la dét (Châuphi) cho các vùng khó khăn

- Hỗ trợ, cổ vũ các địa phương phát triển các quĩ phát triển xã hội, lãi suất được đểlại địa phương

- Cho phép các ngân hàng tư nhân, hộ kinh doanh tín dụng thành lập và pháttriển: Việc này đã chính thức hóa kinh doanh tiền tệ, giảm cho vay nặng lãi ở nông thôn.Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh tiền tệ, nếu có hơn 10 vạn NDT, nếu xin phép sẽcho đăng kí kinh doanh tín dụng Những hộ này không được phép huy động vốn Cổ vũcác tổ chức xã hội, cá nhân thành lập các quĩ cho vay

Phát triển các tổ chức, hiệp hội, HTX

- Ngày 1/07/2007, đưa ra luật tập thể các ngành nông nghiệp, luật HTX chuyênngành của nông dân Toàn bộ Trung quốc có 150 nghìn HTX nông nghiệp, chủ yếunằm ở Miền đông và Miền trung Số lượng HTX này rất thấp so với qui mô của nền kinh

tế Trung quốc Nhà nước khuyến khích thành lập các hội kinh tế Kiên quyết khôngkhuyến khích tồn tại và thành lập các HTX như thời bao cấp Mặc dù có sự khuyến khíchphát triển, nhưng các HTX chủ yếu vẫn nằm trong tay một số người, ông chủ, các HTXgần như doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Trung quốc thúc đẩy phát triển mạnh các HTX chuyên ngành theo ngành hàng,phát triển các hiệp hội ngành nghề theo ngành, tăng cường liên kết dọc

- Chính sách hỗ trợ liên kết nông dân - doanh nghiệp: nhà nước cổ vũ, hỗ trợ cácdoanh nghiệp đầu rồng liên kết với nông dân để phát triển

Miễn giảm thuế

Do đặc thù Trung quốc mang tính lịch sử, đất nước Trung quốc chủ yếu sống bằngnền nông nghiệp và nông dân, vì vậy người dân đóng góp quá nhiều Trước khi miễngiảm, thuế nông nghiệp khoảng 30 tỷ NDT, các loại thế khác 100 tỷ NDT Khi thu thuếnông nghiệp, địa phương giữa một phần, phần còn lại Trung ương thu Hiện nay tất cảcác loại thuế này đã được miễn không thu nữa Việc miễn giảm thuể đã đặt chính quyền

cơ sở tại nhiều nơi gặp khó khăn trong đảm trách dịch vụ công và phát triển nông thôn.Đặc biệt tại vùng nghèo, vùng khó khăn

Môi trường

Trang 34

Đại hội 17 Đảng CS Trung quốc, TBT Hồ Cầm Đào đã đề cập cần cải thiện tình hìnhmôi trường nông thôn Ban đầu Trung quốc không ý thức được vấn đề, hiện nay TW đãđưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt Nếu các cơ sở sản xuất không đạt yêu cầu về môitrường, sẽ đóng cửa không cho sản xuất

Mô hình nông thôn mới

Tại các khu vực thử nghiệm, các mô hình nông thôn mới được chú trọng xây dựngtheo các mức độ, qui mô khác nhau Những mô hình này mang tính đa dạng tùy theocấp vùng, không có bộ tiêu chí chuẩn áp đặt cho mọi nơi Để định hướng cho nội dungnày, cuối năm 2004, TW Trung quốc đưa ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới

1 Sản xuất và kinh tế phát triển

2 Đời sống và sinh hoạt giàu có, thịnh vượng

3 Xã hội nông thôn văn minh

4 Môi trường nông thôn sạch sẽ, phong cảnh nông thôn mang đậm tính thiênnhiên, sinh thái tự nhiên

5 Quản lí nhà nước và cộng đồng dân chủ, vai trò tự chủ của ngươi dân trong xâydựng kinh tế, xã hội và quản lý đời sống được nâng lên

Chương II PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

I Phương pháp luận về phân tích, đánh giá chính sách phát triển NN, NT

1.1 Mục đích của phân tích, đánh giá chính sách phát triển NN, NT

Trang 35

Phân tích, đánh giá chính sách nông nghiệp, nông thôn là một khoa học dựa trên

cơ sở các lý thuyết kinh tế vĩ mô, vi mô về các đối tượng hoạt động kinh tế trong nôngnghiệp, nông thôn và mối quan hệ giữa chúng Mục đích của phân tích, đánh giá chínhsách nông nghiệp, nông thôn nhằm tìm ra các căn cứ khoa học giúp cho các nhà hoạchđịnh chính sách lựa chọn phương án có hiệu quả để đạt được mục tiêu đề ra

Phân tích, đánh giá chính sách nông nghiệp, nông thôn là cần thiết nhằm chuẩn bịcho các nhà hoạc định chính sách bổ sung, lựa chọn đúng đắn các chính sách, đồng thờigiúp cho việc hiểu biết và nắm được sự vận động của chính sách

Phân tích, đánh giá chính sách nông nghiệp, nông thôn có quan hệ đến tất cảnhững vấn đề có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn; từ những thành quả của sảnxuất nông nghiệp đến việc phát triển toàn diện nông thôn; bố trí sản xuất nông nghiệptrong mối liên hệ với sự phát triển nền kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô đến việc giải quyếtnhững vấn đề của sự phát triển nông nghiệp, nông thôn

Đối với các nước đang phát triển thì quá trình phát triển một nền nông nghiệp,nông thôn bền vững sẽ góp phần vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội và giữ vaitrò quan trọng đối với phát triển toàn kinh tế - xã hội Vì vậy, phân tích chính sách nôngnghiệp, nông thôn luôn trở thành tất yếu để tạo ra sự hiểu biết nhất quán về quá trìnhvận động của lĩnh vực này và tìm ra sự can thiệp hữu hiệu của Nhà nước khi quá trìnhvận động đó không đi theo định hướng tích cực

Việc phân tích ảnh hưởng của các chính sách giúp cho các cơ quan các cấp, cáclãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách thấy rõ những tác động đúng hướng hay khôngđúng hướng của Chính phủ đối với con đường phát triển nông nghiệp, nông thôn Từ đórút ra những cải tiến, hoàn thiện hay xây dựng mới những chính sách kinh tế -xã hội đốivới sự phát triển nông nghiệp, nông thôn

Khi phân tích chính sách cần lưu ý đến các mục tiêu đề ra đạt đến mức nào?Những mục tiêu nào chưa đạt được? Mặt khác phải xem xét các văn bản, chính sách cóliên quan đến việc thực hiện mục tiêu đó Có thể có cả mục tiêu kinh tế và phi kinh tế.Khi xem xét mục tiêu, phải trả lời câu hỏi ai hưởng lợi từ chính sách đó? Chẳng hạn khigiải quyết vấn đề an ninh lương thực thì vấn đề đặt ra là nhập khẩu lương thực hay tựtúc lương thực (sản xuất trong nước) Chính sách an ninh lương thực có lợi cho ai, ngườisản xuất hay người tiêu dùng?, hay cả hai

Hoặc khi đặt ra vấn đề trợ giá nông sản phẩm, thì cơ quan hoạch định chính sáchcần tính toán lựa chọn về hình thức trợ giá nào (trợ giá cho đầu vào hay đầu ra), mứctrợ giá bao nhiêu và thời gian kéo dài chính sách này bao lâu, đồng thời cần xem xét

Trang 36

những ảnh hưởng nghịch của chính sách này tới các chủ thể có liên quan, ví dụ ngânsách nhà nước sẽ mất mát thế nào nếu giành quá nhiều tiền cho trợ giá?, trợ giá liệu cólàm gia tăng tính lệ thuộc của người sản xuất vào chính sách không? …

Tóm lại, khi xem xét và phân tích một chính sách nào đó đối với nông nghiệp, nôngthôn, chúng ta cần phải lưu ý đến những ảnh hưởng tích cực và tiêu của chính sách đótới các chủ thể trực tiếp hưởng lợi chính sách và những chủ thể khác, cần lưu ý đến tácđộng lâu dài của chính sách và quy mô tác động của nó đối với kinh tế vĩ mô và vi mô.Đồng thời phải lưu ý đến những đặc điểm riêng của chính sách nông nghiệp không giốngvới những logic về chính sách đối với các ngành khác trước hết là công nghiệp

1.2 Phương pháp phân tích chính sách và các giai đoạn phân tích

1.2.1 Về phương pháp

Phân tích chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn là đánh giá quá trình hìnhthành, triển khai và những ảnh hưởng của chính sách đó tới kinh tế, xã hội đối với nôngnghiệp, nông thôn Nói cách khác là đánh giá sự vận hành của một chính sách theo chutrình đã trình bày ở Chương I

Kết quả của phân tích là những phát hiện về tác động tích cực hay tiêu cực (hạnchế) của một chính sách nào đó đối với nông nghiệp, nông thôn

Để phân tích, đánh giá một hoặc một số chính sách nào đó đối với sự phát triểnnông nghiệp, nông thôn có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, một số phươngpháp cơ bản là:

- Phương pháp kinh tế học vĩ mô;

- Phương pháp kinh tế học vi mô;

- Phương pháp phân tích ngành sản phẩm (chuỗi giá trị)

a Về phương pháp kinh tế vĩ mô

Phương pháp này được sử dụng với mục đích nhằm xác định cơ sở khoa học choviệc bố trí các nguồn lực vào các mục tiêu phát triển kinh tế sao cho có hiệu quả caonhất Phương pháp phân tích vĩ mô cho phép xác định, đánh giá sự can thiệp của Nhànước vào thị trường như thế nào?, tích cực hay tiêu cực, từ đó gợi mở phương thức canthiệp của Nhà nước vào thị trường như thế nào thì phù hợp và mang lại hiệu quả caonhất Ngoài ra phân tích kinh tế vĩ mô còn cho phép đánh giá sự hưởng lợi của các đốitượng điều chỉnh của chính sách, từ đó xem xét được những đối tượng hưởng lợi nhiều

và những đối tượng hưởng lợi ít, và bộ phận không được hưởng lợi từ chính sách, donhững thất bại của thị trường hay thất bại của chính sự can thiệp của chính sách

Trang 37

Phương pháp phân tích kinh tế học vĩ mô cho phép đánh giá tính như hiệu quảkinh tế - xã hội và công bằng trong sự phát triển của kinh tế - xã hội dưới tác động củacan thiệp chính sách nhà nước Hai trường hợp can thiệp chính sách thường xảy ra nhưsau:

- Sự can thiệp chính sách là phù hợp (nghĩa là chính sách đúng) trong các trườnghợp sau:

* Tăng cường, bảo đảm và cung cấp các hàng hóa công phục vụ cho phát triểnnông nghiệp, nông thôn như nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấpcác dịch vụ công giáo dục, y tế, nước sạch, môi trường…

* Kết hợp hài hòa các lợi ích của các nhân với lợi ích toàn xã hội;

* Hạn chế các lực lượng thị trường đang hướng tới độc quyền, phân bổ khônghợp lý các nguồn lực để phát triển NN, NT, hướng tới sự cân bằng mới;

* Trợ giúp những người khó khăn, gặp rủi ro và mất an sinh, đời sống;

- Ngược lại sự can thiệp của Chính sách là không phù hợp (gọi là không đúng)trong các trường hợp sau

- Làm giảm thu nhập quốc dân;

- Làm tăng hoặc giảm giá nông sản tùy tiện không theo quy luật cung cầu trênthị trường bình thường;

- Hạn chế đối với xuất, nhập khẩu nông sản đẫn đến làm méo mó thương mạinông sản của Việt Nam với thế giới thông qua các hạn mức (quota) hoặc các biện phápkhác;

- Tạo ra sự cách biệt không bình thường giữa giá nông sản trong nước với giánông sản cùng loại trên thị trường quốc tế;

- Trợ giá các vật tư đầu vào và hỗ trợ chi phí xuất khẩu nông sản;

- Những trường hợp can thiệp khác gây méo mó các hoạt động của thị trườngđầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp

b Phương pháp kinh tế vi mô

Phương pháp kinh tế vi mô có mục đích phân tích các hành vi của các chủ thểkinh tế trong NN, NT trước những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố thị trường như:

sự thay đổi của các loại giá đầu vào đầu ra của sản xuất, chế biến và tiêu thụ hàng hóanông sản

Phân tích vi mô cho phép làm rõ những tín hiệu phát sinh từ các chủ thể tham giasản xuất kinh doanh trong NN, NT và từ đó cho phép nhận biết sự phân bổ các nguồn

Trang 38

lực tự nhiên, lao động và vốn cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản có hiệu quảhay kém hiệu quả

Trong phân tích vi mô, người ta thường chú ý tới sự thay đổi hành vi của các tácnhân trên thị trường trước sự thay đổi của giá cả và những điều kiện khác như: chi phígiao dịch, chi phí tiếp cận thị trường (tiếp thị), khả năng tăng năng lực sản xuất…

Phân tích kinh tế vi mô thường dựa vào những quy luật biến đổi của thị trườngđầu vào, đầu ra của sản xuất và những phản ứng của người sản xuất (bên cung vàngười tiêu dùng (bên cầu) Trong đó, không phải lúc nào cũng có đông người mua, đôngngười bán, nghĩa là không có sự can bằng về cung cầu ổn định, bất biến; không có sảnphẩm nông sản đồng nhất về mọi mặt chất lượng, mẫu mã và giá bán Người tiêu dùng

và người bán thường không hoặc khó gặp nhau (ứng thuận với nhau) về nhu cầu và giá

cả hàng hóa Mặt khác thị trường nông sản không thể có tự do cạnh tranh thuần túy,đồng nghĩa với không có sự tham gia thị trường tùy tiện, mà luôn phải tuân thủ nhữngquy định có tính chất kiểm soát thị trường từ phía Nhà nước hoặc từ phía các tổ chứcHiệp hội ngành hàng Ngoài ra sự hạn chế tự do cạnh tranh còn xuất phát từ đặc điểm

sử dụng tài nguyên trong sản xuất nông nghiệp, nghĩa là việc sử dụng tài nguyên trongsản xuất nông nghiệp không thể tùy tiện và không thể theo ý muốn chủ quan, Khi cácnguồn tài nguyên trở nên hạn chế thì việc sử dụng chúng trong sản xuất nông nghiệpcàng trở nên khó khăn và bị kiểm soát ngặt nghèo hơn

Phương pháp phân tích kinh tế học vi mô đóng vai trò là công cụ để phân tích sựcan thiệp của Chính phủ vào thị trường, nơi gặp nhau của người sản xuất và người tiêudùng

Đối với người sản xuất (bên cung) thì việc phân bổ nguồn nhân lực sản xuất hạnhẹp của họ như thế nào có lợi nhất sẽ có ý nghĩa quan trọng, nghĩa là với nguồn lực hạnhẹp họ phải đạt được thu nhập lớn nhất, lợi nhuận lớn nhất Nói cách khác là quy luật tối

đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí trong những điều kiện sản xuất cụ thể Trongkhi đối với người tiêu dùng (bên cầu) với túi tiền có hạn nhưng họ lại muốn đạt đượcmột sự thỏa dụng tối đa các hàng hóa nông phẩm mà họ có nhu cầu

Phương pháp vi mô cho phép chúng ta xem xét thái độ và cách ứng xử của ngườisản xuất và người tiêu dùng trong quan hệ kinh tế thị trường Từ đó cho phép quyếtđịnh lựa chọn chính sách nên tác động vào khâu nào, tác nhân nào để điều chỉnh cácquan hệ thị trường giữa bên cung và bên cầu đạt tới sự hữu dụng cao nhất cho cả haibên và bền vững Phương pháp này đòi hỏi phải vận dụng các kiến thức, các khái niệm

Trang 39

và công cụ của kinh tế học vi mô và một trong những phương pháp thường được ứngdụng là phương pháp phân tích ngành sản phẩm.

c Phương pháp phân tích ngành sản phẩm (chuỗi giá trị nông sản)

Phương pháp phân tích ngành sản phẩm là phương pháp phân tích kinh tế học vi

mô, dựa trên nguyên tắc miêu tả, làm rõ toàn bộ những hoạt động và hành vi của cáctác nhân tham gia sản xuất và chế biến và tiêu thụ một sản phẩm nào đó Để làm đượcđiều này, các nhà kinh tế chia hoạt động sản xuất một sản phẩm nào đó thành mộtchuỗi các khâu (công đoạn) từ điểm xuất phát tới điểm cuối cùng của sản phẩm, tạothành chuỗi giá trị của ngành sản phẩm, trong đó có sự tham gia của nhiều tác nhânkhác nhau, với vai trò và lợi ích riêng

Phương pháp này cho phép xác định được mức độ tham gia về vật chất và giá trịcủa các tác nhân trong từng công đoạn cụ thể, từ đó phác thảo các tài khoản kinh tếtương ứng đối với từng tác nhân, thể hiện sự tham gia của chúng vào ngành sản phẩm(chuỗi giá trị)

Thông qua phân tích ngành sản phẩm có thể biết được sự phân bổ thu nhập giữacác tác nhân trong chuỗi, xác định được tính hợp lý và chưa hợp lý trong tham gia vàphân phối lợi ích chung tạo ra từ toàn chuỗi, từ đó đưa ra cơ sở để thiết kế các giải pháptác động, nhằm điều chỉnh lại sự tham gia và phân phối lợi ích giữa các công đoạn(khâu) trong toàn chuỗi hợp lý hơn Với ý nghĩa đó phương pháp phân tích ngành sảnphẩm có ý nghĩa quan trọng trong phân tích chính sách NN, NT Tuy nhiên phương phápnày chưa được ứng dụng thường xuyên trong công tác phân tích và hoạch định chínhsách, mà đang còn dừng lại ở nghiên cứu và thử nghiệm

1.2.2 Các giai đoạn của quá trình phân tích

Thông thường, phân tích chính sách trải qua 3 giai đoạn là: chuẩn đoán, đánh giá

và kết luận, đề xuất định hướng điều chỉnh hoặc thay đổi chính sách

a Chuẩn đoán Là khâu khởi đầu của quá trình phân tích chính sách, bao gồm các

hoạt động: thu thập thông tin, điều tra khảo sát, xử lý các thông tin thứ cấp và tổng hợptình hình (hiện trạng) để rút ra những thông tin cần thiết về đối tượng chịu điều chỉnh(hưởng lợi) của chính sách Quá trình này phải được tiến hành một cách tỷ mỷ, cẩn thậngiúp cho sự xem xét, chuẩn đoán tình trạng của đối tượng điều chỉnh của chính sáchđược chính xác nhất

b Đánh giá những ảnh hưởng, tác động của chính sách tới đối tượng điều chỉnh của

chính sách Hoạt động này bao gồm những phân tích định tính và định lượng để làm rõ

Trang 40

các sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến sự vận động, hành vi của đối tượng điềuchỉnh (hưởng lợi) của chính sách

Trong thực tế có rất nhiều vấn đề liên quan, ảnh hưởng tới hành vi của đối tượngđiều chỉnh như: thay đổi cung - cầu đối với sản phẩm do các đối tượng điều chỉnh làmra; biến động của giá cả thị trường; thay đổi cơ chế tổ chức và những quan hệ hànhchính-xã hội nơi đối tượng điều chỉnh của chính sách hoạt động Vì vậy trong đánh giáảnh hưởng cần tiếp cận theo các nhóm nhân tố tác động để đánh giá Cụ thể

- Thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: Bao gồm các nhân tố kĩ thuật như: sinhthái và sản xuất cơ bản, xã hội nhân chủng học, hệ thống sản xuất… Phân tích này có ýnghĩa cơ bản nhằm đánh giá tiềm năng, tìm ra thuận lợi, khó khăn thông qua tiến bộkhoa học - kỹ thuật, tìm ra nhân tố để phát triển nông nghiệp Sự can thiệp của Nhànước thông qua chính sách như thế nào?

- Thuộc lĩnh vực môi trường kinh tế - xã hội của khu vực sản xuất nông nghiệpbao gồm: giá cả thị trường, cơ chế tổ chức… Khi phân tích nhóm các nhân xã hội - nhânkhẩu học: cần lưu ý đến từng mặt của sản xuất (cung) nhất là nguồn lực Tác động củaNhà nước thông qua chính sách đối với nhóm này như thế nào cho hiệu quả nhất, chẳnghạn như: hạn chế sinh đẻ, bình đăng giới, đào tạo, giáo dục, chăm sóc sưc khỏe…

c Rút ra các kết luận về mặt thành công và hạn chế của việc thực thi từng chínhsách và đề xuất các hướng điều chỉnh chính sách cho giai đoạn tiếp theo phù hợp hơnvới thực tiễn

Quá trình phân tích chính sách sẽ kết thúc khi đưa ra được những kết luận về ảnhhưởng, tác động tích cực và chưa tích cực (hạn chế) của từng chính sách cụ thể theonhững mục tiêu đề ra Nếu các đối tượng chịu tác động của chính sách thay đổi hành vi

và phát triển theo đúng hướng mục tiêu đề ra, thì chính sách đó được xem là thành công

và có tác động tích cực Ngược lại một chính sách được xem là chưa thành công, nếunhư các mục tiêu của nó không đạt được, các đối tượng chịu tác động của chính sáchkhông hoặc ít thay đổi hành vi của chúng theo mục tiêu mà chính sách đó đề ra

Trong cả hai trường hợp trên, cơ quan hoạch định có nghĩa vụ xem xét các kếtquả phân tích và triển khai các điều chỉnh theo đề xuất của kết quả phân tích

d Các công cụ thường sử dụng trong phân tích, đánh giá chính sách

Có nhiều công cụ khác nhau để phục vụ cho công tác đánh giá chính sách (tácđộng của chính sách), đó là các công cụ định tính và định lượng khác nhau Những công

cụ phổ biến thường được sử dụng trong đánh giá chính sách là:

Ngày đăng: 17/04/2015, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. TS. Chu Tiên Quang; Các chính sách phát triển nông thôn; Khoá luận tốt nghiệp lớp lý luận chính trị cao cấp, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chính sách phát triển nông thôn
Tác giả: TS. Chu Tiên Quang
Nhà XB: Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Năm: 2002
5. TS. Chu Tiến Quang; Chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Tạp chí cộng sản số …năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: TS. Chu Tiến Quang
Nhà XB: Tạp chí cộng sản
Năm: 2007
7. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương- cơ quan hợp tác phát triển Đức;Cơ chế, chính sách phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam giai đoạn 2001- 2005 và định hướng 2006-2010; Báo cáo nghiên cứu; Hà nội 2005.8 TCTK, Niên giám thống kế 2008-20099 Bộ NN và PTNT, Báo cáo kế hoạch nông nghiệp, nông thôn 2011-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế, chính sách phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam giai đoạn 2001- 2005 và định hướng 2006-2010
Tác giả: Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, cơ quan hợp tác phát triển Đức
Nhà XB: Báo cáo nghiên cứu
Năm: 2005
1. Nguyễn Văn Bích và Chu Tiên Quang; Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tê nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; NXB Chính trị quốc gia; Hà Nội 1996 Khác
2. PGS. TS Lê Đình Thắng; Đổi mới và hoàn thiện một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn; NXB nông nghiệp; Hà Nội 1995 Khác
3. Hội khoa học kinh tế Việt Nam; Tài liệu tập huấn “ phát triẻn nông nghiệp, nông thôn theo hướng CMH, HĐH (tập I+II); NXB Chính trị quốc gia; Hà Nội 1998 Khác
6. TS Chu Tiến Quang; Cơ sở khoa học của chính sách xã hội nông thôn; Tài liệu hội thảo khoa học về chính sách xã hội, Trường ĐH KT QD Hà Nội năm 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Phát triển nông thôn theo vùng - Giáo trình xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn
Sơ đồ 1 Phát triển nông thôn theo vùng (Trang 18)
Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa 3 khối chủ thể trong phát triển nông thôn - Giáo trình xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn
Sơ đồ 2 Mối quan hệ giữa 3 khối chủ thể trong phát triển nông thôn (Trang 25)
Bảng 1 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông lâm thủy sản theo giá thực tế - Giáo trình xây dựng và phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn
Bảng 1 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông lâm thủy sản theo giá thực tế (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w