1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm Phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu học toán lớp 5

11 762 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đề xuất, giải pháp để phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán 5.. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp giáo viên phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán

Trang 1

Phần mở đầu

I Lí do chọn đề tài

1.Cơ sở lí luận

Từ xa đến nay, cha ông chúng ta rất coi trọng việc đào tạo, bồi dỡng nhân tài:

“ Những ngời tài giỏi là yếu tố cốt tử của một chính thể Khi yếu tố này dồi dào thì đất nớc phát triển mạnh mẽ, phồn vinh Những ngời tài giỏi có học thức là một sức mạnh đặc biệt quan trọng đối với đất nớc ” Chính vì vậy, quốc gia nào cũng đều đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo và bồi dỡng nhân tài cho đất n-ớc

Bác Hồ đã từng nói: “Nớc nhà cần phải kiến thiết, kiến thiết cần phải có nhân tài” Thực tế cho thấy các nớc phát triển trên thế giới đều phải nhờ vào nội lực Nội lực đó không phải chỉ có tài nguyên, sức lao động mà quan trọng hơn đó chính là nhân tài

Vì vậy, nói đến nội lực chúng ta nghĩ đến trí tuệ, tài năng - kho chất xám Dân tộc nào huy động đợc tiềm năng, trí tuệ thì đân tộc đó sẽ phát triển Chính vì lẽ đó, chúng ta cần chăm lo phát hiện, bồi dỡng, sử dụng và phát huy nhân tài

Để giải quyết đợc vấn đề trên, công việc này phụ thuộc hoàn toàn và giáo dục Một nền giáo dục có chất lợng là một nền giáo dục đáp ứng cả ba yêu cầu

về dân trí, nhân lực, nhân tài Không phải là tất cả, nhng hầu hết nhân tài đợc

đào tạo từ bậc Tiểu học lên đến Đại học

Trờng Tiểu học là vờn ơm những tài năng của đất nớc, là môi trờng quan trọng để phát triển những học sinh năng khiếu Tài năng không đợc phát hiện sớm và chăm lo bồi dỡng thì sẽ dần bị mai một đi Vì vậy, công tác tổ chức, bồi dỡng học sinh giỏi cần đợc quan tâm đúng mức, đặc biệt là ở bậc Tiểu học Nghị quyết TWII (Khoá VIII) nhấn mạnh: “ Nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện bậc Tiểu học và phát triển thế lực, trí tuệ, tâm lực cho mỗi ngời, giúp

họ vững vàng trớc cuộc sống, trong đó đặc biệt coi trọng việc phát hiện và bồi d-ỡng nhân tài”

Nhân tài không phải cứ tự nhiên mà phát triển, nó chỉ có thể phát triển cùng với sự nỗ lực học tập, tu dỡng thờng xuyên của mỗi ngời Đặc biệt, nó đợc phát triển tốt trong hoàn cảnh đất nớc thịnh vợng và đợc sự quan tâm của mọi thành viên, mọi tổ chức của xã hội

2.Cơ sở thực tiễn

Sự phát triển của mỗi ngời nói chung và năng khiếu nói riêng đợc thể hiện rất sớm Thực tế nhiều em ở lứa tuổi 6 - 11 tuổi đã bộc lộ rõ năng khiếu về âm nhạc, mĩ thuật, toán, văn, Song có năng khiếu mà không đợc bồi dỡng thì sẽ

Trang 2

dần tàn lụi theo thời gian Có năng khiếu toán (yếu tố chủ quan) mà đợc gia

đình, nhà trờng bồi dỡng chu đáo (yếu tố khách quan) thì có thể trở thành học sinh giỏi toán Một học sinh có năng khiếu toán có thể:

- Trở thành học sinh giỏi toán: Nếu đợc quan tâm, bồi dỡng

- Chỉ đạt mức trung bình: Nếu không có sự quan tâm và bồi dỡng Phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán là trách nhiệm của giáo viên và phụ huynh học sinh Trớc thực tế trên, trong quá trình thực hiện tôi

xin đa ra một vài kinh nghiệm trong việc: “ Phát hiện và bồi dỡng học sinh có

năng khiếu học toán lớp 5”

II Mục đích nghiên cứu

1.Thực trạng của việc phát hiện, bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán 5

2 Những đề xuất, giải pháp để phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán 5

III Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Nghiên cứu cơ sở lí luận

- Xác định nội dung, phơng pháp, mức độ yêu cầu của việc phát hiện và bồi d-ỡng học sinh có năng khiếu học toán 5

- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến nội dung đã nêu

2 Nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu tiết dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp giáo viên phát hiện và bồi dỡng học sinh

có năng khiếu học toán 5

VI Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

1 Đối tợng nghiên cứu

- Nghiên cứu về việc phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán ở

2 Phạm vi nghiên cứu

V Phơng pháp nghiên cứu

- Thu thập tài liệu, tìm đọc, phân tích tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu

- Khảo sát, điều tra, thực nghiệm, rút kinh nghiệm

- Xử lí các thông tin

Nội dung nghiên cứu

I Điều tra thực trạng

Trang 3

Qua thực tế giảng dạy và làm công tác bồi dỡng học sinh giỏi toán ở trờng Tiểu học Số 1 Thị trấn Tân Uyên tôi thấy:

- Đại đa số cha mẹ học sinh luôn quan tâm, có nguyện vọng bồi dỡng cho con mình khi học toán

- Một số giáo viên còn lúng túng trong việc phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu toán vì bản thân giáo viên còn cha nắm bắt đợc những biểu hiện để phát hiện học sinh có năng khiếu học toán

số em thích học môn toán chỉ có khoảng 9 em chiếm 40,9%

Những em học toán nhanh nhẹn, nắm bắt tốt vấn đề chỉ đạt 5 em chiếm 22,7%

II Đề xuất, giải pháp

1 Phát hiện học sinh có năng khiếu học toán

* Quá trình thực tiễn và những biểu hiện để phát hiện học sinh có năng khiếu học toán

Trong công tác, qua thực tế giảng dạy, tôi quan sát và nhận thấy: Trong cùng một lớp học có những học sinh hoạt động nhận thức, t duy thể hiện tính chất linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo Khi giải quyết nhiệm vụ học tập thờng có biểu hiện sau:

những thay đổi của các điều kiện

ng-ợc

huống, một bài toán hoặc thích xem xét một vấn đề nào đó theo nhiều khía cạnh khác nhau Chẳng hạn khi đã thấy qua một số ví dụ cụ thể nói chung tích của hai số tự nhiên là một số lớn hơn từng thừa số, đặt vấn đề tìm các phản ví dụ, phủ định phán đoán đó

chóng phát hiện điểm nút để tháo gỡ bằng cách tìm hớng giải quyết vấn đề hợp lí, độc đáo, nhanh gọn, sáng tạo

học hoặc giải các bài toán có lời văn đòi hỏi sự liên hệ, liên tởng Khi học hình học các em có khả năng hình dung ra cách biến đổi hình một cách linh hoạt ( Di chuyển, thay đổi hình từ dạng này sang dạng khác nhng giữ nguyên một số yếu tố cố định nh thể tích, diện tích, )

Trang 4

muốn dừng lại ở việc làm mẫu theo một định hớng cho sẵn Không sớm toại nguyện, thờng hay thắc mắc có lí trớc những vấn đề, hay hoài nghi có ý kiểm tra việc mình đã làm

Ví dụ: Hãy chia hình vuông thành 4 hình tam giác có diện tích bằng nhau

Những học sinh có năng khiếu với biểu hiện ban đầu đã không dừng lại một kiểu chia hình chéo (H1), mà các em sẽ suy nghĩ, tìm cách chia khác nhau nh các hình khác, ở đây chỉ cần vẽ đợc hình, các em sẽ tờng minh cách chia phép kiểm tra lúc này là sự bằng nhau về diện tích của các tam giác

(H1) (H2) (H3) (H4) (H5) (H6) Các ví dụ trên đã thể hiện rõ mức độ khác nhau, vì vậy đòi hỏi bản thân chúng ta với t cách là những nhà giáo dục phải chú ý theo dõi, phân tích một cách rất tinh tế mới nhận biết đúng, không lẫn lộn với những biểu hiện ngẫu nhiên Biết phát hiện và phát hiện đúng sẽ có tác động tốt đối với phát triển tiềm năng tiềm tàng của học sinh

Bên cạnh những biểu hiện trên, còn vài biểu hiện khác mà chúng ta còn phải nhìn nhận thông qua giao tiếp nh: ăn, nói, tiếp thu kiến thức nhanh, có trí nhớ tốt, thái độ tự giác, tìm tòi học hỏi

Kinh nghiệm cho thấy, để bồi dỡng đợc đội ngũ học sinh giỏi toán thì công tác phát hiện là quan trọng hàng đầu Do đó trong quá trình lên lớp tôi tiếp cận các em để kiểm tra và theo dõi sớm, phát hiện học sinh có năng khiếu học toán ngay từ đầu năm học để có kế hoạch bồi dỡng, phụ đạo thích hợp

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thấy rõ nhiệm vụ này cần đặt ra một cách

th-ờng xuyên, liên tục trong từng tiết dạy, bài dạy, buổi lên lớp, nói chuyện,

Tăng cờng phối hợp với gia đình, bạn bè của học sinh để kiểm nghiệm các nhận định của mình là cần thiết và đúng đắn 2 Phát huy tính tích cực chủ động nhận thức các kiến thức của học sinh. Để tiến tới bồi dỡng học sinh có năng khiếu toán, điều kiện cần thiết nhất là phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ttrong việc thực hiện nhiệm vụ chiếm lĩnh lợng kiến thức và kĩ năng học toán của học sinh Trong tiến hành tổ chức và điều khiển quá trình dạy học của bản thân, tôi cho rằng: Cần nắm vững chức năng từng loại phơng pháp dạy học, biết đợc mặt 2

1 3

4

1

2

3 4

1

2

3 4

1

2 3

4

1

2

4 3

1

2 3 4

Trang 5

u, mặt nhợc của từng phơng pháp dạy học để từ đó có các biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Trong quá trình dạy học, mỗi chúng ta đều hiểu rằng vai trò chủ động, tích cực của bản thân mỗi học sinh với t cách là chủ thể của quá trình nhận thức dới

sự tổ chức điều khiển của giáo viên trong quá trình đó, có thể chia ra làm hai

nhóm phơng pháp chủ yếu là thông báo luyện tập và hoạt động tìm tòi Nhóm

phơng pháp thứ nhất vai trò của ngời thầy cực kì quan trọng, ở đó sự tác động của ngời thầy với nhận thức khác nhau đẫn tới các sản phẩm nhận thức khác nhau trớc cùng một vấn đề Cùng một ngời thầy, trớc một nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mới (cũ) cho học sinh, ai khéo léo kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh để gây dựng cho các em niềm đam mê, ham muốn hiểu biết thì

ng-ời đó thành công Nhóm phơng pháp thứ hai đặt ra nhiệm vụ cho chúng ta phải chú ý theo dõi tiến trình nhận thức của từng học sinh để có những tác động có tính chất hớng đạo, để cho các em chủ động tìm tòi, nhận thức đạt hiệu quả cao nhất Một trong những tiêu chuẩn đánh giá trình độ tay nghề của giáo viên là biết kết hợp một cách hữu cơ các phơng pháp giảng dạy thích ứng làm phơng pháp tối u tác động quá ttrình nhận thức của học sinh để đạt hiệu quả cao nhất Một công cụ cực kì quan trọng có tác dụng tích cực trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đó là công cụ giải toán Cần khai thác tối đa hiệu quả công cụ giải toán trong việc đào tạo, bồi dỡng học sinh giỏi toán, ở đó cần làm cho học sinh nắm vững các dạng toán điển hình cùng các

ph-ơng pháp giải tph-ơng ứng Cần cung cấp cho học sinh một cách đầy đủ các

phơng pháp giải toán ở tiểu học nh 13 phơng pháp giải toán thờng dùng ở

tiểu học (tham khảo cuốn các phơng pháp giải toán ở tiểu học) Trong thực tế giảng dạy, chúng ta có thể thấy một số thầy, cô khi bồi dỡng học sinh có năng khiếu toán cha chú ý đến điều này, làm ảnh hởng đến sự phát triển t duy của trẻ, làm mất đi tính sáng tạo trong các em khi giải toán, các dạng toán mà thầy cô cung cấp cho các em nhiều khi cha gắn liền với thực tế cuộc sống, do đó các em khó liên hệ với thực tiễn, làm cho các em không nhận thấy hết đợc tính sinh động của toán học

Khi sử dụng công cụ để giải toán, để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, chúng ta cần giúp cho các em nắm vững các quy tắc suy luận (suy luận có lí, suy luận chứng minh diễn dịch ) để lựa chọn các phơng pháp giải quyết, giúp các em sớm nhận ra các yếu tố ban đầu (giả thiết) và yếu tố cuối cùng (kết luận) một cách rõ ràng Khai thác hai mối liên hệ đó theo hớng xuôi

và ngợc, cũng nh phát hiện nhanh các điểm nút của bài toán để lựa chọn phơng

Trang 6

pháp tổng hợp, trên cơ sở các phơng pháp giải đã biết để giải quyết nhiệm vụ đặt

ra Các em biết lựa chọn cùng lúc nhiều phơng pháp giải, nhiều phơng án giải và

điều này trở thành nhu cầu của các em phát triển tốt các năng lực t duy linh hoạt, sáng tạo, luôn có ý thức cải tiến, biết chọn ra con đờng tối u, con đờng ngắn nhất phát triển trí thông minh, óc tò mò, sáng tạo của trẻ

3 Phát triển t duy lôgíc cho học sinh

Phát triển t duy lôgíc là một trong những nhiệm vụ quan ttrọng trong việc bồi d-ỡng học sinh giỏi toán Cần lu ý rằng lôgíc suy luận thông thờng, tuy bản thân

nó không đạt đến chân lí mới, nhng nó có tác dụng tích cực trong việc chắp cánh cho những ý tởng sáng tạo vơn lên Vì thế, không thể phát triển

đợc năng lực t duy sáng tạo cho học sinh nếu không dạy cho các em biết t

duy một cách lôgíc, điều quan trọng là phải tập cho các em thói quen đặt vấn đề một cách lôgíc tuân theo sự lôgíc của dữ kiện, cân nhắc đến tính chất lôgíc của câu hỏi khi tìm câu trả lời Đứng trớc một bài toán, khi các em đã phân biệt

đợc dữ kiện (cái đã cho) và kết luận (cái cần tìm), cần phải dạy cho các em đặt câu hỏi tại sao? nh thế nào? vì sao lại thế? thế thì sao? làm nh vậy, chúng ta

đã dạy cho học sinh luôn có ý thức tìm tòi, sáng tạo Có nh thế chúng ta mới hoàn thành đợc nhiệm vụ kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh Thờng xuyên dạy học sinh cách mổ xẻ vấn đề đã biết dới dạng khai thác bằng

các câu hỏi mang tính lôgíc gần với cái tìm kiếm Cũng bằng cách đó, chúng ta phải giúp học sinh biết tìm ra mâu thuẫn xuất phát trong từng công việc nhằm giải quyết các mâu thuẫn phát sinh đó T duy trong lứa tuổi tiểu học mang tính chất cụ thể và hình tợng nhiều hơn là sự phát triển t duy lôgíc, song trong quá trình đào tạo và bồi dỡng học sinh giỏi toán chúng ta không thể không phát triển tốt t duy này

Ngoài ra chúng ta cần thờng xuyên tiến hành hỏi đáp trực tiếp giữa giáo viên

và học sinh với nhau, bởi qua việc hỏi đáp này, chúng ta kịp thời phát hiện, uốn nắn các em có những câu trả lời mang tính lôgíc chặt chẽ, có cấu trúc, tính lôgíc trong câu trả lời của học sinh đợc hớng dẫn và rèn luyện tốt trong quá trình tổ chức các hình thức khác nhau trong giờ học

4.Một vài biện pháp bồi dỡng học sinh có năng khiếu toán

Theo tôi, bồi dỡng học sinh có năng khiếu toán không chỉ thực hiện bằng cách giới thiệu với các em về các dạng toán hay hớng dẫn các em giải quyết các vấn đề cụ thể mà còn có thể bồi dỡng theo các biện pháp sau:

4.1.Biện pháp 1: Củng cố vững chắc và hớng dẫn đào sâu các kiến thức đã học thông qua những gợi ý hay những câu hớng dẫn, đi sâu vào nội dung bài

Trang 7

học và kiến thức trọng tâm, thông qua việc yêu cầu học sinh tự tìm các ví dụ minh hoạ.

Ví dụ: Khi so sánh hai phân số, giáo viên cho học sinh cách làm thông thờng nh:

a Nếu là so sánh các phân số tối giản thì ta quy đồng mẫu số hai phân số rồi so sánh hai tử số

b Nếu các phân số so sánh cha tối giản thì ta rút gọn phân số về phân số tối giản rồi mới quy đồng mẫu số và so sánh hai tử số

Ngoài ra, giáo viên còn hớng dẫn học sinhcó năng kiếu toán làm các cách khác

và đa ra ví dụ minh hoạ:

Cách 1: So sánh phân số với 1

 1

b

a

d c

Thì

d

c b

a

 Cách 2: So sánh qua một phân số trung gian

d

c b

a

 và d ce f

Thì b ae f

Cách 3: So sánh hai “phần bù” với 1 của mỗi phân số

d

c b

a

d

c b

a

4.2.Biện pháp 2: Ra thêm một số bài tập nâng cao, những bài tập khó hơn trình độ chung, đòi hỏi việc vận dụng sâu hơn các khái niệm đã học hoặc vận dụng những phơng pháp giải linh hoạt, sáng tạo hoặc phơng pháp tổng hợp.

Ví dụ: Sau khi học bài “Tìm số trung bình cộng”, giáo viên cho học sinh làm các bài tập sau:

Dạng1: Trung bình cộng

Bài toán: Tìm số có ba chữ số, biết trung bình cộng ba chữ số của số đó là 2 Dạng 2: Kém trung bình cộng

Bài toán: An có 20 nhãn vở, Bình có 16 nhãn vở, Chi có số nhãn vở kém trung bình cộng của ba bạn là 6 nhãn vở Hỏi Chi có bao nhiêu nhãn vở?

Dạng 3: Hơn trung bình cộng

Bài toán: An có 20 hòn bi, Bình có số bi bằng

2

1

số bi của An Chi có số bi nhiều hơn trung bình cộng của ba bạn là 6 hòn bi Hỏi Chi có bao nhiêu hòn bi?

Trang 8

Sau khi đọc đề, học sinh tìm hiểu và mau chóng phát hiện ra chỗ nút vấn đề cần giải quyết bằng phơng pháp giải linh hoạt, sáng tạo nên các em rất hứng thú khi làm những bài toán này

4.3.Biện pháp 3: Luôn đặt ra những yêu cầu giải bằng nhiều cách: Phân tích,

so sánh, chọn lọc phơng pháp tối u nhất cho một bài toán:

Sở dĩ chúng ta luôn đặt ra yêu cầu phải giải bằng nhiều cách vì việc đi saau vào tìm nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán có vai trò lớn trong việc rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức, rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo cho học sinh Chúng ta sẽ thấy rất rõ điều đó có tác dụng sau:

cho học sinh về tính chất của phép tính số học, về quan hệ giữa các phép tính

số học

so sánh các cách giải đó, chọn ra cách hay hơn và tích luỹ nhiều kinh nghiệm

để giải toán

tiết kiệm, bởi từ nhiều cách giải ấy học sinh có thể chọn ra con đờng ngắn nhất để đi đến đích, không vội bằng lòng với việc tìm đợc con đờng đầu tiên

rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo và khả năng suy nghĩ linh hoạt của học sinh

4.3.Biện pháp 4: thờng xuyên yêu cầu các em tự lập đề toán và tự giải trên cơ

sở là các tình huống cụ thể, sau đó tập cho các em thành thói quen tìm tòi, sáng tạo.

Việc học sinh tự lập đề toán thờng gặp ở tiểu học, việc đó không những giúp các em phát triển t duy độc lập mà còn giúp các em phát triển tính linh hoạt, sáng tạo của t duy, hơn nữa việc lập đề toán còn gây hứng thú cho các em trong việc nắm vững hơn cấu trúc, cách giải của bài toán, tạo điều kiện gắn với cuộc sống, vì các em phải tìm hiểu, chọn số liệu trong cuộc sống để lập đề toán, tập tự mình nêu vấn đề, giải quyết vấn đề nh cuộc sống thờng đòi hỏi Việc học sinh có

tự lập đợc đề toán theo các yêu cầu hay không là một tiêu chuẩn quan trọng để

đánh giá xem học sinh đã thực sự nắm đợc “dạng toán mới” cha

Khi yêu cầu học sinh tự lập đề toán, giáo viên có thể định hớng để các em thực hiện theo yêu cầu từ thấp đến cao với những hình thức sau:

a, Đa ra đề toán thiếu số liệu, học sinh tự tìm số liệu điền vào rồi giải

b, Đa ra đề toán thiếu câu hỏi, học sinh tự đặt câu hỏi rồi giải

Trang 9

c, Cho tự lập đề toán theo tóm tắt rồi giải

d, Tự lập đề toán theo cách giải đã cho sẵn

e, Cho lập đề toán tơng tự với bài toán vừa làm

4.5.Biện pháp 5: Tổ chức cho học sinh tự tìm tòi, tranh luận và thảo luận để tìm cách giải quyết vấn đề gọi tắt là tự phát hiện.

Cách tổ chức cho học sinh tự phát hiện vấn đề giúp cho học sinh có điều kiện thuận lợi để:

Kết quả thực hiện

Từ việc nắm vững các biểu hiện để phát hiện học sinh có năng khiếu học toán, nắm vững các biện pháp bồi dỡng, trong quá trình thực hiện, tôi thu đợc kết quả sau:

Tôi phát hiện trong lớp tôi trực tiếp giảng dạy có 9 học sinh thích học toán trên tổng số 22 học sinh Qua quá trình bồi dỡng theo các biện pháp trên tôi nhận thấy chất lợng học tập nâng cao hơn, các em học sinh tỏ ra hứng thú, say

mê khi học toán, đặc biệt khi đợc tiếp cận, tìm hiểu các vấn đề toán học, các em học một cách hào hứng, sôi nổi, thích làm các bài toán nâng cao, mở rộng

Kết quả cụ thể: Trong kì thi học sinh giỏi toán có 9 học sinh đạt giải cấp trờng

và có 1 học sinh đạt giải cấp huyện

Kết luận

Phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán có vai trò rất quan trọng, tôi thấy việc phát hiện và bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán ở tiểu học là tiền đề phát triển cho việc bồi dỡng học sinh giỏi ở các cấp học tiếp theo Giáo viên cần nắm vững các biểu hiện để phát hiện và biết sử dụng linh hoạt các biện pháp bồi dỡng, đầu t về thời gian cũng nh chất lợng giảng dạy

Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi rút ra trong quá trình thực hiện, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong đợc sự góp

ý của các đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

Ngày 12 tháng 3 năm 2010

Ngời viết

Trần Thị Bích Hiền

Mục lục

Phần mở đầu Trang

I.Lý do chọn đề tài 1

II.Mục đích nghiên cứu 2

III.Nhiệm vụ nghiên cứu 2

VI.Đối tợng nghiên cứu 3

Nội dung nghiên cứu I.Điều tra thực trạng 3

II.Đề xuất giải pháp 4

1.Phát hiện học sinh có năng khiếu học toán 4

2.Phát huy tính tích cực chủ động nhận thức kiến thức của học sinh 5

3.Phát triển t duy logíc cho học sinh 7

4.Một vài biện pháp bồi dỡng học sinh có năng khiếu học toán 8

Kết quả thực hiện 12

Ngày đăng: 17/04/2015, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w