Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều.Tổng diện tích đất tự nhiên là 330.910 km2 (2013) Diện tích đất đồi núi chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước 3. Với điều kiện khí hậu thuận lợi làm cho thảm thực vật rừng ở Việt Nam vô cùng phong phú về chủng loại và đa dạng sinh học cao, đặc biệt đối với cây trồng, vật nuôi có điều kiện để sinh trưởng và phát triển tốt. Đây có thể coi là một tiềm năng lớn cho phát triển nông – lâm nghiệp ở nước ta. Bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có nhiều khó khăn như: Tài nguyên bị suy thoái, thiên tai, dịch bệnh phát sinh nhanh, trình độ khoa học kỹ thuật của người lao động còn thấp, chủ yếu là lao động thủ công, đặc biệt là người dân miền núi, trung du, dẫn đến khả năng sử dụng đất chưa hợp lý, nhất là canh tác trên đất dốc. Nhiều nơi người dân vẫn còn chủ yếu sản xuất theo phương thức du canh, du cư hay canh tác độc canh làm cho nhiều nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nghiêm trọng, dẫn đến các hiện tượng xói mòn, rửa trôi… Nhiều diện tích đất lâm nhiệp và đất sản xuất nông nghiệp bị thoái hóa, giảm độ phì dẫn đến năng suất cây trồng ngày càng suy giảm. Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, nhà nước đã hoàn thành công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn nông thôn miền núi và đưa ra được một số chủ trương chính sách như : chính sách giao đất giao rừng, đầu tư vốn, kỹ thuật giúp phát triển nông – lâm nghiệp thông qua các chương trình dự án của nhà nước. Để sử dụng tài nguyên đất đai, khí hậu và phát huy vai trò của các cây trồng, vật nuôi ngày càng một hiệu quả cao thì có nhiều giải pháp và thách thức, trong đó phải kể đến các dạng mô hình sản xuất nông – lâm nghiệp. Một trong những dạng mô hình sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tận dụng đất đai, góp phần sử dụng đất bền vững phổ biến hiện nay là thiết kế và xây dựng mô hình nông lâm kết hợp (NLKH). Đây là phương thức sử dụng đất tổng hợp giữa lâm nghiệp với ngành nông nghiệp (gồm: trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản). Phương thức sản xuất này có nhiều ưu điểm đảm bảo việc sử dụng đất một cách tốt nhất đem lại nguồn thu nhập cho người dân, đảm bảo tính an toàn về môi trường được người dân các vùng chấp nhận. Tuy nhiên, vẫn phải có đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả của mô hình NLKH để có cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển NLKH bền vững. Dân Tiến là một xã vùng cao, nằm ở phía đông nam của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Trong nhiều năm trở lại đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và sự cố gắng của người dân, đã đưa ra và áp dụng các hệ thống NLKH trên diện tích đất của xã. Bước đầu hệ thống NLKH đã có thu nhập, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phải xem xét, cần có hướng phát triển để tạo ra được hệ thống sản xuất có hiệu quả cao và bền vững về cả 3 mặt : kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Để giúp người dân tại xã có những giải pháp để thiết kế xây dựng các hệ thống NLKH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất góp phần nâng cao đời sống cho người dân tại địa phương là việc làm cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển mô hình NLKH tại xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Để từ đó nhằm đánh giá được hiệu quả các mô hình và nhân rộng, đề xuất các giải pháp phát triển mô hình NLKH trong toàn xã, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tại địa phương.
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm
và mưa nhiều.Tổng diện tích đất tự nhiên là 330.910 km2 (2013) Diện tích đấtđồi núi chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước [3] Với điều kiện khí hậu thuận lợilàm cho thảm thực vật rừng ở Việt Nam vô cùng phong phú về chủng loại và
đa dạng sinh học cao, đặc biệt đối với cây trồng, vật nuôi có điều kiện để sinhtrưởng và phát triển tốt Đây có thể coi là một tiềm năng lớn cho phát triểnnông – lâm nghiệp ở nước ta
Bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có nhiều khókhăn như: Tài nguyên bị suy thoái, thiên tai, dịch bệnh phát sinh nhanh, trình
độ khoa học kỹ thuật của người lao động còn thấp, chủ yếu là lao động thủcông, đặc biệt là người dân miền núi, trung du, dẫn đến khả năng sử dụng đấtchưa hợp lý, nhất là canh tác trên đất dốc Nhiều nơi người dân vẫn còn chủyếu sản xuất theo phương thức du canh, du cư hay canh tác độc canh làm chonhiều nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nghiêm trọng, dẫn đến các hiện tượngxói mòn, rửa trôi… Nhiều diện tích đất lâm nhiệp và đất sản xuất nông nghiệp
bị thoái hóa, giảm độ phì dẫn đến năng suất cây trồng ngày càng suy giảm Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, nhà nước đã hoànthành công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn nông thôn miền núi và đưa
ra được một số chủ trương chính sách như : chính sách giao đất giao rừng,đầu tư vốn, kỹ thuật giúp phát triển nông – lâm nghiệp thông qua các chươngtrình dự án của nhà nước
Để sử dụng tài nguyên đất đai, khí hậu và phát huy vai trò của các câytrồng, vật nuôi ngày càng một hiệu quả cao thì có nhiều giải pháp và thách
Trang 2thức, trong đó phải kể đến các dạng mô hình sản xuất nông – lâm nghiệp Mộttrong những dạng mô hình sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tậndụng đất đai, góp phần sử dụng đất bền vững phổ biến hiện nay là thiết kế vàxây dựng mô hình nông lâm kết hợp (NLKH) Đây là phương thức sử dụngđất tổng hợp giữa lâm nghiệp với ngành nông nghiệp (gồm: trồng trọt, chănnuôi và thủy sản) Phương thức sản xuất này có nhiều ưu điểm đảm bảo việc
sử dụng đất một cách tốt nhất đem lại nguồn thu nhập cho người dân, đảmbảo tính an toàn về môi trường được người dân các vùng chấp nhận Tuynhiên, vẫn phải có đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả của mô hìnhNLKH để có cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch pháttriển NLKH bền vững
Dân Tiến là một xã vùng cao, nằm ở phía đông nam của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Trong nhiều năm trở lại đây được sự quan tâm của
Đảng, Nhà Nước và sự cố gắng của người dân, đã đưa ra và áp dụng các hệthống NLKH trên diện tích đất của xã Bước đầu hệ thống NLKH đã có thunhập, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phải xem xét, cần có hướngphát triển để tạo ra được hệ thống sản xuất có hiệu quả cao và bền vững về cả
3 mặt : kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
Để giúp người dân tại xã có những giải pháp để thiết kế xây dựng các
hệ thống NLKH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất góp phần nâng cao đờisống cho người dân tại địa phương là việc làm cần thiết Xuất phát từ những
lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển mô hình NLKH tại xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” Để từ đó nhằm đánh giá được hiệu quả các mô hình và nhân rộng,
đề xuất các giải pháp phát triển mô hình NLKH trong toàn xã, đẩy mạnh sựphát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tại địa phương
Trang 31.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài xây dựng nhằm đề xuất giải pháp để phát triển các mô hìnhNLKH từ đó nâng cao thu nhập, ổn định đời sống góp phần bảo vệ môitrường cho người dân tại xã Dân Tiến
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng phát triển mô hình NLKH tại xã Dân Tiến,huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được tiềm năng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triểnNLKH trên địa bàn xã
- Đề xuất các giải pháp phát triển mô hình NLKH nhằm nâng cao hiệuquả, tính bền vững và nhân rộng mô hình NLKH
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứukhoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong côngviệc để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở đểcủng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt độngthực tiễn
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp phát triển NLKH để phát huytiềm năng, hạn chế và đáp ứng được mong muốn của người dân, từ đó gópphần cho các cấp chính quyền trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợphát triển những hệ thống NLKH có hiệu quả cao nói riêng và phát triểnkhinh tế xã hội chung của địa phương
Trang 4
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thậpniên 60 bởi King (1979) Qua nhiều năm, nhiều khái niệm được phát triển đểdiễn tả hiểu rõ hơn về nông lâm kết hợp Sau đây là một khái niệm khác nhauđược phát triển cho đến hiện nay :
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai bền vững làm giatăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể
cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhautrên một diện tích đất và áp dụng các biện pháp kĩ thuật tương ứng với cácđiều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương [11]
Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp câylâu năm với hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinhthái xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian để gia tăng sứcsản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên đơn
vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kĩ thuật thấp và trên cácvùng đất khó khăn (Nair, 1987)[16]
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sảnphẩm rùng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diệntích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồngdân cư địa phương[11]
Nông lâm kết hợp là tên chung của hệ thống sử dụng đất trong đó cáccây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp…)được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoamàu và/ hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian
Trang 5Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động tương hỗ qua lại về cả mặtsinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng (Lundgren và Raintree,1983)[9].
Những khái niệm trên mô tả đơn giản hệ thống NLKH như một loạt cáchướng dẫn cho hoạt động sử dụng đất liên tục Ngày nay nó được xem như làmột ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự
đa dạng của quản lý tài nguyên một cách bền vững
Trong các văn bản của ICRAF định nghĩa về NLKH như sau: “NLKHbao gồm các hệ thống canh tác sử dụng đất khác nhau trong đó loài cây thân
gỗ lâu năm (bao gồm cả các cây bụi thân gỗ, các loài cây họ dừa và họ trenứa) được trồng với cây nông nghiệp hoặc vật nuôi cùng đơn vị diện tích đấtcanh tác đã được quy hoạch sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp,chănnuôi thủy sản Chúng được kết hợp với nhau đồng thời hay kế tiếp nhau vềmặt không gian và thời gian Mặt khác có loại hệ thống NLKH cả hai yếu tốsinh học và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau với các bộ phận hợp thành hệthống đó”[11]
2.2 Đặc điểm của mô hình NLKH
2.2.1 Đặc điểm NLKH
2.2.1.1 Theo ICRAF
Với định nghĩa trên, một hệ canh tác sử dụng đất được gọi là NLKHkhi nó có các đặc điểm sau:
- Có ít nhất hai loại thực vật (hay thực vật và động vật), trong đó phải
có ít nhất một loại cây gỗ lâu năm
- Một hệ thống NLKH có ít nhất hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra
- Chu kỳ sản xuất hệ thống NLKH thường dài hơn một năm
- Đa dạng về phương diện kinh tế và sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc
và chức năng sinh thái học) so với canh tác độc canh
Trang 6- Có mối quan hệ tương hỗ giữa thành phần cây thân gỗ và thành phầnkhác trong hệ thống.
- Chú trọng sử dụng các loại cây địa phương, bản địa đa tác dụng
- Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hóa
và đầu tư thấp
- Quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội
- Cấu trúc và chức năng của hệ thống phong phú, đa dạng hơn so vớicanh tác độc canh
2.2.2 Phân loại hệ thống NLKH
Theo Nair (1989), có bốn nguyên tắc đặt cơ sở cho việc phân loại đó là:
- Cơ sở cấu trúc: Cấu trúc thành phần và sự phối hợp theo không gianhay thời gian
- Cơ sở chức năng: Dựa trên vai trò chủ yếu của thành phần cây thân gỗ
- Cơ sở sinh thái: Dựa vào điều kiện sinh thái và sự tương thích sinhthái của hệ thống
- Cơ sở kinh tế, xã hội: Dựa vào mức độ đầu tư trình độ quản lý nôngtrại, mục đích thương mại
Các nguyên tắc trên có mối quan hệ với nhau, ngoài ra còn có cácnguyên tắc khác như: dân sinh kinh tế và vùng sinh thái được sử dụng và làmnền tảng chia theo nhóm mục đích[16]
Trang 7Thông qua sự phát triển những hệ thống NLKH trên thế giới, chúng tabiết được rằng NLKH đã được phát triển từ rất sớm và đã được các nước chútrọng áp dụng để có được hệ thống NLKH với quy mô và phương thức kếthợp đa dạng phong phú tạo hiệu quả cao.
2.3 Tình hình nghiên cứu NLKH trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu NLKH trên thế giới
Theo ước tính của (FAO,1994), du canh là nguyên nhân tạo ra hơn70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất ở Châu Phi, diện tích đất rừng
bỏ hóa sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở Châu Phikhoảng 16% Châu Mỹ La Tinh và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của ChâuÁ[12]
Theo King (1987), cho đến thời Trung cổ ở châu Âu, vẫn tồn tại mộttập quán phổ biến là "chặt và đốt" rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùngvới cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tácnày vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX, và vẫn còn ở một sốvùng của Đức đến tận những năm 1920[13]
Sau du canh là sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệtđới.Theo Blafozd 1958, nguồn gốc của tên gọi phương thức này là từ địaphương của ngôn ngữ Myanma “Taung” nghĩa là canh tác, “Ya” là đồi núi.Taungya nghĩa là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồngnghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc[6]
Vào cuối thế kỷ XIX hệ thống Taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ởMyanma dưới sự bảo về của thực dân Anh trong các đồn điền trồng gỗ Tếch
(Tectona Grandis) Người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các
hàng cây chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm, phươngthức này sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi, những nghiêncứu phát triển các hệ thống kết hợp này thường hướng vào mục đích sản xuất
Trang 8lâm nghiệp được thực hiên bởi các nhà lâm nghệp với việc luôn cố gắng bảođảm các nguyên tắc:
+ Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loài cây trồng là đốitượng cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống
+ Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp.+ Tối ưu hóa về thời gian canh tác từ cây trồng nông nghiệp sẽ bảo đảm
tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ
+ Loại cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loại cây nông nhiệp.+ Tối ưu hóa mật độ để đảm bảo sinh trưởng liên tục của cây trồng thân
gỗ Chính vì vậy mà các hệ thống này chưa được xem xét như một hệ thống
quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair,1987)[16].
Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, Châu Phi và khuvực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp đểnhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sảnphẩm phụ khác nhau như: gỗ, củi, đồ gia dụng,
Thông qua sự phát triển những hệ thống NLKH ở các nước trên thếgiới, chúng ta biết được rằng NLKH đã được phát triển từ rất sớm và đã đượccác nước chú trọng áp dụng để có được hệ thống NLKH với quy mô vàphương thức kết hợp đa dạng phong phú tạo hiệu quả cao
2.3.2 Tình hình nghiên cứu NLKH trong nước
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, các tập quán canh tácNLKH đã có từ lâu đời ở Việt Nam Với hệ thống canh tác nương rẫy truyềntrống của đồng bào dân tộc ít người
Hệ thống sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cảnước, làng truyền thống của người Việt cũng có thể xem là một hệ thốngNLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng chuyển vậtchất và năng lượng (Nguyễn Văn Sở và cs, 2002)[9]
Trang 9Từ thập niên 60,song song với phong trào thi đua sản xuất hệ sinh tháiVườn – Ao – Chuồng (V.A.C) được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triểnmạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều biến thế khác nhau thích hợpcho từng vùng sinh thái cụ thể Sau đó là hệ thống Rừng – Vườn – Ao – Chuồng(R.V.A.C) và vườn đồi được phát triển mạnh ở các khu vực dân cư miền núi.Các dự án được tài trợ của các tổ chức Quốc tế cũng giới thiệu các mô hình canhtác trên đất dốc theo đường đồng mức SALT(Sajjapongse,1982)[5].
Trong 2 thập niên gần đây phát triển nông thôn miền núi theo phươngthức NLKH ở các khu vực tiềm năng là một chủ trương đúng đắn của Đảng
và Nhà nước, những hệ thống NLKH đang ngày càng phát triển và nó thực sự
mở ra hướng đi mới trong nền sản xuất NLN nước nhà.Đặc biệt từ sau khi cócác nghị định của Thủ tướng chính phủ như: Nghị định 327/CP tháng 9 năm
1992 về chủ trương sử dụng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặtnước (Nghị định 327, năm 1992)
Nghị định 02/CP ban hành ngày 15/07/1994 quy định về việc giao đấtlâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
đã thúc đẩy hoạt động NLKH phát triển rộng rãi thêm một bước nữa hệ thốngNLKH đang tồn tại ở Việt Nam như : R.V.A.C, V.Rg, V.A.C, R.V.C, R
Đang ngày càng phát huy hiệu quả bảo vệ đất nước, tăng năng suất câytrồng góp phần ổn định cuộc sống của người dân trung du, miền núi, nhiều hộgia đình đã vươn lên làm giàu nhờ thực hiện NLKH
Theo Vũ Biệt Linh và cộng sự (1995) canh tác NLKH tạo năng suấtcao với nhiều sản phẩm hàng hóa, bảo vệ được tính đa dạng sinh học củavùng khí hậu nhiệt đới ẩm[8]
Báo cáo kết quả thực hiện dự án (1997) tại huyện Na Rì Bắc KạnTrường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chủ trì dự án Xây dựng mô hình ápdụng tiến bộ KHKT nhằm góp phần ổn định phát triển nông thôn vùng cao
Trang 10Dự án đã thiết kế 26 mô hình SALT đưa các giống cây ăn quả và đặc sản cógiá trị kinh tế cao như vải, nhãn, hồng không hạt, cam Cây lâm nghiệptrồng xen với cây họ đậu và cây lương thực Kết quả cho thấy cây ăn quả vải,nhãn có tỷ lệ sống 55%, các cây khác có tỷ lệ sống 80- 83% sinh trưởng pháttriển tốt Qua kết quả đánh giá sơ bộ các hệ thống canh tác NLKH là thànhcông , việc chuyển giao tiến bộ KHKT bằng xây dựng mô hình trình diễn làhướng đi đúng cần được nhân rộng[2].
Các hệ thống NLKH điển hình trong nước đã được tổng kết bởi FAO
và IRR năm 1995
Các chương trình nghiên cứu để phát triển các hệ thống NLKH đượcthực hiện trên quan điểm dựa vào người dân, có người dân tham gia, coi trọngkiến thức bản địa của người dân địa phương, từ lẽ đó ở Việt Nam hiện nay các
hệ thống NLKH đã trở nên quen thuộc hơn với người dân và đang ngày càngphát huy hiệu quả sử dụng đất, nước, môi trường sinh thái, tăng năng suất câytrồng góp phần ổn định cuộc sống nâng cao hiệu quả kinh tế người dân thamgia[7]
Các tác giả Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình đãphân hệ thống canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là “hệcanh tác” là đơn vị cao nhất Dưới hệ canh tác là “phương thức” hay “kiểu”canh tác, cuối cùng là hệ thống
Theo nguyên tắc phân loại này, hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được chiathành 8 hệ sau: hệ canh tác N – L, hệ L – Ng, hệ N – L – Ng, hệ O – CLG, hệ
L – S, hệ cây lấy gỗ đa tác dụng, hệ N – Ng, hệ N – L – S Các hệ này đượcchia làm 27 kiểu canh tác khác nhau tùy theo vùng sinh thái Cuối cùng là môhình NLKH hộ gia đình[5]
Trang 112.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Dân Tiến là một xã miền núi vùng cao có vị trí địa lý nằm ở phíaĐông Nam của huyện Võ Nhai cách trung tâm huyện 16km
- Phía Bắc, Tây Bắc tiếp giáp với xã Tràng Xá
- Phía Đông, Đông Bắc giáp với xã Phương Giao
- Phía Đông, Đông Nam giáp với xã Bình Long
- Phía Nam giáp với xã Đồng Vương, Canh Mậu, Xuân Lương huyệnYên Thế tỉnh Bắc Giang
- Phía Tây, Tây Nam giáp xã Liên Minh
Xã có tổng diện tích tự nhiên 5.473.83 ha, có 1.560 hộ 6.576 khẩu(2013) được phân thành 12 xóm
2.4.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu
Địa hình xã có tính đặc thù dãy núi đã vôi dốc đứng bị chia cắt bởi cáckhe nước ngầm là nguồn nước khá phong phú phục vụ cho sản xuất nông lâmnghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân
Hướng dốc chính của địa hình: Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và
từ các sườn núi dốc về Lạng Sơn chạy dọc theo tuyến quốc lộ ĐT 265
Dân Tiến nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Bắc Bộ.Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông ít mưa, khô và giá lạnh, nhiều sương
mù, sương muối ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp[3]
- Nhiệt độ trung bình : 24,50 C
- Độ ẩm trung bình : 81,5%
Trang 12- Lượng mưa trung bình trong năm: 2.000 mm, mùa mưa từ tháng 5đến tháng 10, mưa tập trung nhiều vào tháng 6,7 và tháng 8 Tổng lượng mưachiếm đến 75% lượng mưa cả năm.
- Nắng : Số giờ nắng bình quân trong năm 1200h/ năm, phù hợp vớimột số cây trồng như: cây lương thực, lúa, khoai, ngô , cây lâm nghiệp: keo,
mỡ , cây ăn quả: vải, na, nhãn, quýt , cây nông nghiệp ngắn ngày: câythuốc lá
- Chế độ gió: Theo hai hướng chính: Hướng Đông Nam vào mùa mưa
và hướng Đông Bắc vào mùa khô tương đối ổn định Vận tốc gió trung bìnhtheo hướng Đông Bắc đạt 1,2 m/s
2.4.1.3 Các nguồn tài nguyên, khoáng sản
* Đất đai :
Tổng diện tích đất tự nhiên 5.473,83 ha, gồm đất nông nghiệp4.123,49ha, đất phi nông nghiệp: 281,51ha, đất chưa sử dụng: 1.070,84 ha Trong đó:
+ Đất trồng lúa: 414,8ha
+ Đất trồng cây hàng năm: 1.088,98ha
+ Đất trồng cây lâu năm: 209,39ha
+ Đất chuyên dùng: 85,21ha
+ Đất ở: 49,36ha
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 2,07ha
+ Đất sông suối: 144,86ha
Mật độ dân cư: 59 người/ km2
* Tài nguyên rừng:
Dân Tiến có tổng diện tích đất rừng là 2.807,17ha Trong đó
828,68ha là rừng sản xuất, 1.929,49 là rừng phòng hộ, đây là diện tích rừng
Trang 13cần được bảo vệ chặt chẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượngmôi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn cho lòng hồ Quán Chẽ để phục vụnước tưới cho nông nghiệp, hạn chế xói mòn rửa trôi.
Trang 14* Tài nguyên nước:
Diện tích ao hồ, sông suối trên địa bàn xã là: 152,32 ha, trong đó diện
tích đang nuôi trồng thủy sản là 47,10 ha , diện tích có khả năng để nuôi trồngthủy sản là 17,95ha
Nguồn nước mặt trên địa bàn xã khá phong phú với hệ thống khe, suối, ao,
hồ thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản Ngoài ra, với lượng mưa trung bình/ nămkhá lớn đáp ứng một phần nhu cầu sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân
Nguồn nước ngầm do địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi đá vôi nênngoài phần nước mặt từ sông, suối, trên địa bàn xã còn có các nguồn nướcngầm từ trong núi đá vôi chảy ra với trữ lượng lớn
* Khoáng sản:
Nguồn tài nguyên về đá vôi của xã rất phong phú thuận lợi cho phát
triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng, ngành mỹ nghệ Bên cạnh đó xã còn
có nguồn đất sét khá dồi dào thuận lợi cho sản xuất gạch nung, lượng cát sỏitrên dòng sông rong tương đối rất thuận lợi cho công tác xây dựng tận dụngnguồn tài nguyên tại chỗ cho công tác xây dựng các công trình tại địaphương
2.4.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội
2.4.2.1 Dân số
Dân Tiến là xã có dân số đông, phân bố chưa đồng đều Hiện trạngdân số của từng thôn, xóm được thể hiện ở bảng 2.1
Trang 15
Bảng 2.1 Hiện trạng dân số xã Dân Tiến năm 2013
Bảng 2.2 Tổng hợp cơ cấu lao động xã Dân Tiến năm 2013
Trang 162.4.2.3 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông :
Toàn xã hiện có 22 tuyến giao thông nông thôn, tổng chiều dài100,8km, trong đó rải nhựa mặt đường 12km và bê tông hóa là 3,2 chiếm tỷ lệ26,6%, 45 tuyến giao thông ngõ xóm và nội đồng với tổng chiều dài là30,7km, trong đó ngõ xóm là 24,9km, nội đồng 5,8km đường nội đồng (đều làđường đất chưa được bê tong hóa)
Cầu giao thông có 4 cầu : trong đó cầu bê tông cốt thép 3 cầu, cầu sắtnông thôn 1 cầu
* Thủy lợi :
Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất trên địa bàn xã:
- Đập thủy lợi : Toàn xã có 6 đập do xã quản lý (bao gồm cả các đậpnhỏ lẽ), trong đó đã kiên cố được 2 đập đã được đầu tư xây dựng
- Hệ thống kênh mương : có 14,3km kênh mương do xã quản lý, trong
đó đã kiên cố được 4,3km
* Hệ thống cấp điện:
Toàn xã có 6 trạm biến áp 35/0,4KVA và 20km đường dây hạ thế(trong đó có 20km đạt chuẩn); số hộ sử dụng điện thường xuyên là 1.560 hộđạt 100%
Trang 17* Cơ sở vật chất văn hóa:
Hiện nay xã vẫn chưa có nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn, trênđịa bàn xã có 12/12 xóm đã có nhà văn hóa nhưng chưa đạt chuẩn và các xómđều chưa có khu thể thao
* Chợ:
Hiện nay xã vẫn chưa có chợ đạt tiêu chuẩn, chỉ có chợ họp tạm hàngngày và chợ phiên
* Bưu điện :
Hiện nay đã có 1 bưu điện văn hóa xã Số máy điện thoại cố định năm
2010 đạt 420 máy, mật độ đạt 40 máy/ 100 hộ dân
Xã đã có tủ sách pháp luật đặt tại Trụ sợ UBND xã, song số lượngngười dân đến tìm đọc còn hạn chế
Mạng đường truyền internet trên địa bàn xã đã đến 12/12 xóm, có 40
hộ sử dụng mạng internet (số liệu năm 2013)
* Hiện trạng nhà ở nông thôn:
Hiện trên địa bàn xã có 956 hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn đạt tỷ lệ
61,28% so với tổng số hộ, có 30 hộ có nhà tạm (chiếm tỷ lệ 1,92 so với tổng
số hộ)
Trong những năm qua, huyện Võ Nhai cùng với các xã đã tập trung đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như kiên cố hóakênh mương, đập chứa nước, tăng cường việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vậtnuôi, tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật chọn cây giống, con phù hợp cónăng suất cao, chất lượng tốt Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 5452 tấn/năm, trong đó thóc 2.240 tấn/năm
Trang 18
Bảng 2.3 Hiện trạng kinh tế xã Dân Tiến năm 2013
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất xã Dân Tiến năm 2013
STT Mục đích sử dụng đất Mã Diệc tích (ha) Cơ cấu (%)
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 19Đối tượng nghiên cứu là những hệ canh tác NLKH tại xã Dân Tiến,huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
3.1.2 Điạ điểm tiến hành nghiên cứu
Xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
3.1.3 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu của đề tài nghên cứu, tôi tiến hành nghiên cứunhững nội dung sau :
- Điều tra hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khuvực nơi tiến hành nghiên cứu
- Khảo sát đánh giá chung tình hình sản xuất, thống kê phân loại hệthống NLKH tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng những hệ canh tác NLKH đang có trên địabàn khu vực nghiên cứu
- Xác định những tiềm năng và hạn chế trong việc phát triển những
hệ canh tác NLKH hiện có trên địa bàn
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển những hệ canh tácNLKH tại xã Dân Tiến
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thu thập số liệu và giải quyết những vấn đề trong nộidung đề tài đưa ra, tôi áp dụng những phương pháp sau:
3.3.1 Công tác ngoại nghiệp
3.3.1.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có chọn lọc
Thu thập những số liệu có sẵn ở địa phương liên quan đến khóa luậntốt nghiệp như : Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất đai,các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tế về sử dụng đất và tài liệu NLKH đã
Trang 20được công bố, các báo cáo về hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp tại địa bànđiều tra.
Để tìm hiểu thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của
xã Dân Tiến Cần đến liên hệ với cán bộ chuyên trách về mảng NLKH tạiphòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn(NN & PTNT) xã Dân Tiến, kếthừa số liệu từ phòng NN & PTNT, phòng Địa chính và Thống kê của xã
3.3.1.1 Phương pháp điều tra quan sát thực tế
Quan sát trực tiếp các hệ thống NLKH có trên địa bàn nghiên cứu Từ
đó xây dựng sơ đồ lát cắt, sơ đồ hiện trạng
3.3.1.3 Phương pháp PRA và RRA
* Chọn mẫu điều tra: chọn hộ, chọn thôn
+ Chọn thôn:Chọn ra 3 thôn có nhiều hộ canh tác NLKH nhất, có tínhđại diện để tiến hành chọn một số hộ trong thôn nghiên cứu
+ Phương pháp chọn hộ điều tra :
- Lập danh sách các chủ hộ có mô hình / hệ thống NLKH (dựa vàothông tin cung cấp của chính quền địa phương kết hợp quan sát)
- Chọn hộ: Liệt kê tên các hộ theo thứ tự 1,2,3 Lấy tổng số hộ/35= x(bước nhảy là x), vậy cứ “x” hộ ta chọn một hộ, dùng bảng số ngẫu nhiên tachọn hộ đầu tiên và tiếp tục chọn được 35 hộ để điều tra.[4] (số hộ cần điềutra phải lớn hơn hoặc bằng 30 hộ gồm đủ các thành phần dân tộc, nhóm hộ) + Sử dụng bộ câu hỏi mở để đi phỏng vấn hộ gia đình về thông tinchung tình hình sử dụng đất về thu nhập và chi phí hộ điều tra
+ Phỏng vấn: Sử dụng các công cụ như phỏng vấn định hướng, phỏngvấn bán định hướng (tạo điều kiện tiếp cận với người phỏng vấn để khôngnhững thu được thông tin cần thiết mà còn tạo ra sự đồng cảm khuyến khích
sự thảo luận, trao đổi thông tin hai chiều phỏng vấn định hướng và phỏng vấnbán định hướng)
Trang 21+ Để đánh giá được hiệu quả của các hệ thống cũng như tiềm năng vàhạn chế trong phát triển NLKH của các hộ gia đình tiến hành các bước sau: Bước 1: Đến điều tra trực tiếp tại từng hộ gia đình để xác định hệthống NLKH mà hộ đang sản xuất.
Bước 2 : Thu thập đầy đủ các thông tin trong phiếu điều tra hộ thôngqua quá trình phỏng vấn
Để thu thập một số thông tin cần thiết trong quá trình điều tra, nghiêncứu tôi tiến hành họp với một số chủ hộ, trưởng thôn, phụ nữ, cán bộ KNKLtrong xã cũng như trong thôn Thông qua quá trình này có thể thu thập cácthông tin như hoàn thành sơ đồ VENN về vai trò của các tố chức xã hội tạiđịa phương, phân tích sơ đồ SWOT, tìm ra những thuận lợi, khó khăn, dựkiến hoạt động, đánh giá lựa chọn cây trồng vật nuôi trên địa bàn xã
3.3.2 Công tác ngoại nghiệp
* Tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin thu thập vào bảng biểu
* Nghiên cứu và thiết kế bảng một cách khoa học để tỏng hợp số liệu
* Phân nhóm các hệ thống theo mức thu nhập/ha bằng phương phápchia nhóm, ghép tổ theo công thức kinh nghiệm của Brook Caruther
Trang 22- A : thu nhập từ cây hàng năm
A= Tổng chi phí sản phẩm/năm – chi phí trung gian/năm
- B : Thu nhập từ cây ăn quả
B = Tổng giá trị sản phẩm/năm (giai đoạn kinh doanh) – chi phí
trung gian/năm (giai đoạn kinh doanh) – tổng chi phí giai đoạn
KTCB/chu kỳ kinh doanh dự kiến(năm)
- C : Thu nhập từ cây lâm nghiệp
Tổng giá trị sản phẩm cả chu kỳ - chi phí vật chất cả chu kỳ
C =
Số năm của chu kỳ
- D: Thu nhập từ chăn nuôi
D = Tổng giá trị sản phẩm/năm – chi phí trung gian/năm
Trang 23PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1 Khảo sát và đánh giá tình tình phát triển NLKH tại xã Dân Tiến
Qua quá trình điều tra và nghiên cứu trên địa bàn xã Dân Tiến về cácdạng hệ thống NLKH tôi nhận thấy:
Trong những năm gần đây được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhànước và các cấp, các ban nghành đoàn thể trong huyện, xã người dân đã mạnhdạn tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất độc canh sang phươngthức sản xuất NLKH là sự kết hợp các loại cây trồng vật nuôi lại với nhau dựatrên nền tảng việc canh tác truyền thống cùng với sự áp dụng khoa học kỹthuật tiên tiến Đây là một phương thức sản xuất kết hợp được nhiều thànhphần như nông – lâm – ngư nghiệp Áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
và đổi mới phương thức canh tác đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngườidân.Và đồng thời cũng tận dụng được những tiềm năng sẵn có về các nguồntài nguyên địa phương nói chung và từng hộ gia đình nói riêng như đất đai,cây trồng, vật nuôi, nguồn nước, khoáng sản
Phần lớn người dân đã nhận thấy sản xuất theo hình thức NLKH vừamang lại hiệu quả cao, tận dụng được khả năng của đất đai và còn tạo đượccông ăn việc làm, giải quyết cho số lao động dư thừa Đồng thời hệ thống sảnxuất còn có tác dụng bảo vệ đất và môi trường Mặc dù mới chỉ thật sự pháttriển từ mấy năm trở lại đây nhưng hệ mô hình NLKH bước đầu đã mang lạihiệu quả kinh tế đáng kể làm đổi mới bề mặt kinh tế của xã và cải thiện đờisống của bà con nhân dân
Trước tình hình sản xuất của người dân như vậy, cán bộ xã cũng đãthấy rõ đây là một vấn đề quan trọng trong sản xuất nên họ đã chú trọng vàthường xuyên tổ chức những buổi tập huấn, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm,
Trang 24tuyên truyền, truyền đạt tiến bộ KHKT đã được học cho người dân ứng dụngvào thực tiễn sản xuất.
Tại địa bàn xã Dân Tiến hiện nay có rất nhiều mô hình NLKH và pháthuy hiệu quả khá tốt Tuy nhiên, còn tồn tại một số hạn chế nên các hệ thốngđược xây dựng chưa hoàn thiện, việc quản lý hệ thống còn tồn tại một số bấtcập VÌ vậy cần có những giải pháp phù hợp góp phần thúc đẩy các mô hìnhNLKH ngày càng mở rộng và phát triển
Qua quá trình điều tra, phỏng vấn 35 hộ gia đình tôi có kết quả sau:(xem phụ lục 01)
Qua bảng ta thấy mô hình Rừng- Vườn- Chuồng- Ruộng có số tham gianhiều nhất, với tổng thu nhập ở mức trung bình từ 40-65 triệu đồng/năm Vì
mô hình này có nhiều nguồn thu nhập khác nhau như từ rừng, vườn đồi, vườnnhà, chuồng, cây ăn quả và ruộng Mô hình này có các thành phần liên kếtchặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, đồng thời được nhiều người dân ápdụng và phát huy sản xuất, chọn làm mô hình chính cho kinh tế hộ gia đình
Dạng mô hình Rừng – Vườn – Ruộng cũng khá phổ biến ở địa bàn xã.Đây là hệ thống mô hình mà người dân chủ yếu phụ thuộc vào rừng Phần lớnthời gian đầu tư và đầu tư của họ cho sản xuất lâm nghiệp và sản phẩm thunhập chính là gỗ, ngoài ra có cây hoa màu, lúa gạo và cây công nghiệp nhưchè không có nhiều vốn đầu tư cho chăn nuôi
Dạng mô hình Vườn - Chuồng – Ruộng được áp dụng ở những gia đìnhkhông có diện tích đất trồng cây lâm nghiệp Trong hệ thống mô hình này cócây công nghiệp, cây ăn quả, gia súc, gia cầm và lúa Vì vậy, nguồn thu nhậpchính của hộ gia đình là từ chăn nuôi và cây công nghiệp,sản phẩm từ cây ănquả hay lúa để cung cấp cho gia đình
Các mô hình còn lại có số hộ tham gia ít hơn, nhưng nguồn thu nhậpcủa hộ cũng không kém các hệ thống mô hình trên Mỗi loại hệ thống mô
Trang 25hình có kiểu đầu tư, chăm sóc khác nhau, để tạo ra các sản phẩm tốt và có giátrị trong mỗi hệ thống đó.
Nhìn chung, các hộ gia đình đó có quy mô sản xuất chưa lớn, tổng thunhập và tổng chi phí đạt mức trung bình và nhỏ Vì vậy, thu nhập/ năm chưacao, giá trị/CLĐ còn thấp, chưa có hiệu quả kinh tế nổi bật giúp các hộ có cơ
sở và thế mạnh để làm giàu nhanh chóng từ các hoạt động sản xuất trên các
mô hình NLKH này Cụ thể như sau (xem phụ lục 02)
Qua bảng ta thấy giá trị gia tăng của các hộ có sự chênh lệch tương đối.Nhìn chung mô hình Rừng - Vườn - Chuồng - Ruộng vẫn chiếm ưu thế vớimức các giá trị gia tăng tương đối ổn định, có sự chênh nhưng không nhiềulắm giữa các hộ.Tuy cùng một hệ canh tác nhưng ở mỗi hộ gia đình khácnhau thì các chỉ số này cũng có chênh lệch vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư địa hình, diện tích, loài cây trồng, trình độ sản xuất
Sau khi phân tích hiệu quả kinh tế của các nhóm hộ, tôi tiến hành phântích và nghiên cứu hiệu quả kinh tế mà 7 loại mô hình NLKH chính đang tồntại và phát triển trong 35 hộ được điều tra tại xã Dân Tiến Để thấy rõ đượchiệu quả kinh tế mà mô hình NLKH trên đem lại cho các hộ gia đình, tôi đãtiến hành phân tích tìm hiểu tình hình thu, chi của các loại hệ thống đó Kếtquả thu được như sau (Xem phụ lục 03)
Thông qua bảng ta nhận thấy rằng trong tổng số 7 mô hình điển hình tại
xã Dân Tiến, tỷ lệ thu và chi từ các thành phần của mô hình là không đồngđều và có sự chênh lệch rõ rệt Tỷ lệ chi cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp làlớn hơn nhiều so với các thành phần khác, chi phí cho làm vườn và ruộng là ít
và chiếm tỷ lệ nhỏ
Trang 264.2 Điều tra sự phân bố của các mô hình NLKH tại xã Dân Tiến
4.2.1 Các dạng mô hình NLKH và phân bố theo khu vực
Từ quá trình điều tra, phỏng vấn và quan sát, tôi đã thu được kết quảnhư sau:
Bảng 4.1: Các mô hình NLKH tại xã Dân Tiến
tham gia
Cơ cấu (%)
Phân bố ở các thôn Đồng
Quán
Làng Chẽ
Làng Mười
Loại 1: Mô hình Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng
Loại 2: Mô hình Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng – Ong
Loại 3: Mô hình Rừng – Vườn
Loại 4: Mô hình Vườn – Chuồng – Ruộng
Loại 5: Mô hình Ong – Cây ăn quả - Chuồng
Loại 6: Mô hình Rừng – Vườn – Ruộng
Loại 7: Mô hình Rừng – Ruộng
Các dạng mô hình này được người dân quan tâm chú trọng đầu tư vàphát triển vì nó mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập tương đối ổn định,thường xuyên và lâu dài cho người dân.Tính rủi ro thấp và phù hợp với điềukiện kinh tế đất đai của địa phương
Trang 27Loại mô hình Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng có số hộ tham gianhiều nhất là 13/35 hộ, chiếm 37,14% Đây là mô hình có vốn đầu tư bỏ ra ởmức trung bình, sản xuất trên diện tích tương đối rộng, đòi hỏi trình độ canhtác, lao động nhất định nhưng đồng thời cũng thu được lợi nhuận khá cao và
ổn định
Đây là loại mô hình có sự kết hợp giữa cây lâm nghiệp – cây côngnghiệp (chè) – cây ăn quả với chăn nuôi gia súc, gia cầm cùng ruộng cấy lúa.Các thành phần trong mô hình được bố trí một cách hợp lý theo chiều từ trênxuống, để có thể tận dụng tối đa về không gian dinh dưỡng cũng như điềukiện đất đai sẵn có Loại mô hình này có thu nhập ổn định và lâu dài trênnhững đơn vị diện tích canh tác có khả năng cải tạo đất, bảo vệ môi trườngtốt Là loại mô hình có số hộ tham gia nhiều, đây được coi là mô hình phổbiến của xã
Loại mô hình Rừng – Vườn – Ruộng có 6/35 hộ thâm gia chiếm17,14% Đây là loại mô hình có sự kết hợp giữa phát triển đồi rừng , cây ănquả, cây công nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày và trồng lúa Hệ thống nhiều diệntích đất rừng và đất đồi nên công việc sản xuất chủ yếu diễn ra ở rừng và đồi.Nông nghiệp phụ thuộc mùa vụ nên dành ít thời gian trên diện tích nông nghiệp
Loại mô hình Vườn – Chuồng – Ruộng có 5/35 hộ tham gia chiếm14,29% Đây là loại mô hình có cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày hoặcdài ngày, kết hợp với chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và ruộng lúa Loại
mô hình này không có diện tích đất rừng nên công việc sản xuất chủ yếu diễn
ra ở vườn đồi, vườn nhà, chăn nuôi và trên diện tích đất nông nghiệp
Bốn loại mô hình còn lại có tổng số tham gia là 11/35 hộ Các loại môhình này có thu nhập tương đối cao, nhưng điều quan trọng của các mô hìnhnày là thu nhập không được ổn định, phải tìm ra loại giống cây trồng, vật nuôi
Trang 28phù hợp với nhu cầu thị trường nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồngthời phải bảo vệ được môi trường sinh thái.
4.2.2 Phân bố của các dạng mô hình NLKH theo diện tích
Bảng 4.2: Phân bố các dạng mô hình NLKH theo diện tích
Ở diện tích từ 1,5 – 3,5 ha và 4 – 6,5 ha trở lên đều có 14 hộ chiếm40% Đây là 2 mức diện tích dành cho các hộ có sức sản xuất trung bình, diệntích vừa đủ và thu nhập khá ổn định
Diện tích từ 10 – 20 ha có 7 trong tổng số 35 hộ điều tra, chiếm 20%.Diện tích đất phát triển mô hình ở các hộ này là lớn, thu nhập từ sự bố trí cơcấu cây trồng trên diện tích này tương đối cao, đảm bảo ổn định cuộc sống vàcải thiện dần đời sống người dân
4.2.3 Phân bố các dạng mô hình NLKH của các hộ theo nhóm hộ điều tra
Qua thời gian điều tra và thu thập số liệu từ các hộ gia đình tham giasản xuất NLKH tôi thấy các hộ có mức thu nhập tương đối chênh lệch khálớn.Một số hộ có điều kiên thuận lợi cho phát triển kinh tế nên có mức thunhập khá cao so với một số hộ có diện tích đất sản xuất ít hơn, mức độ đầu tưthấp hơn
Do hiệu quả kinh tế mang lại từ các hoạt động sản xuất nông – lâmnghiệp của các hộ không giống nhau và ngoài các hoạt động sản xuất này các
hộ gia đình còn có các nguồn thu nhập khác nên điều nay cũng sẽ góp phầnkhông nhỏ đến sự quyết định phân loại kinh tế, xếp hạng kinh tế hộ gia đình
Trang 29Sau đây là tổng hợp số liệu điều tra về phân bố các dạng mô hình NLKH củacác hộ theo nhóm hộ điều tra tại xã Dân Tiến.
Bảng 4.3 Phân bố các dạng mô hình NLKH của các hộ
Theo nhóm hộ điều tra
-R-V
- Rg- O
C-R-V R-V
- Rg
V-C -Rg
CAQ -C
Những mô hình sản xuất khác cũng khá phát triển nhưng do địa bàn xãnhiều thôn không thuận lợi để sản xuất phát triển mô hình đó 1 cách tối đa,đem lại hiệu quả kinh tế tốt nhất.Qua đó ta thấy rằng những hộ áp dụng môhình sản xuất Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng này có số hộ đạt khá là caonhất, có 13 hộ tham gia thì có 7 hộ đạt mức khá, 6 hộ đạt mức trung bình.Còn
Trang 306 mô hình sản xuất còn lại số hộ tham gia cũng tương đối khá và hiệu quảđem lại là đáng kể Số hộ xếp loại khá lớn hơn số hộ xếp loại trung bình.
4.3 Đánh giá hiệu quả các dạng mô hình NLKH tại xã Dân Tiến
4.3.1 Phân bố các dạng mô hình theo VA
Để thấy được hiệu quả kinh tế của một dạng mô hình NLKH nào đó,các chỉ tiêu như VA/1CLĐ, VA/ĐVĐT,VA/ha là rất quan trọng Qua quátrình điều tra, phỏng vấn, thu thập và xử lý số liệu tôi có kết quả như sau:
Bảng 4.4 Phân bố các dạng mô hình theo VA/1CLĐ
R-V -C- Rg- O
V
V -Rg
R- C -Rg
V- CAQ -C
Mức 1 CLĐ bình thường của người dân khi đi làm là 50.000/1 công.Vậy như bảng trên thì có tới 12 hộ chưa đạt mức CLĐ thường có ( chiếm 34,3
%) số hộ còn lại đạt trên hoặc tương đương với mức CLĐ
Trang 31Bảng 4.5 Phân bố các dạng mô hình theo VA/1 ĐVĐT
R-V -C- Rg- O
R-V R-V
-Rg
V-C -Rg
CAQ -C
Trang 32Bảng 4.6: Phân bố các dạng mô hình NLKH theo VA/ha
Dạng MH
VA/ha
(Triệu đồng)
R-V -C- Rg
R-V -C- Rg -O
R-V R-V
-Rg
V-C -Rg
CAQ -C
Thông qua bảng trên ta thấy, hoạt động hoạt động sản xuất trên
mô hình Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng có số lượng hộ tham gia nhiều nhấtvới mức diện tích từ 4,5 – 12,5 ha Dạng mô hình Vườn – Chuồng – Ruộng cómột hộ đạt tới mức 24,5 – 28,5 Các dạng mô hình còn lại đều tương đối ổnđịnh ở mức trung bình Riêng mức 20,5 – 24,5 không có hộ nào
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của các dạng mô hình NLKH/1 năm
ST
Số hộ tham gia
Diện tích (ha)
Tổng thu
Trang 33Qua kết quả tổng hợp ở bảng 4.7 ta nhận thấy rằng:
Dạng mô hình loại 1(R – V – C – Rg) thu hút số hộ tham gia nhiều nhấtvới tổng thu 898 triệu/năm với mỗi bình quân đạt được 69,07 triệu đồng/năm/MH
Dạng mô hình loại 4 (R – V – Rg) có số tham gia đông thứ 2 vớimức tổng thu là 249 triệu đồng/năm Đạt VA/MH 32,3 triệu đồng/năm, dạng
mô hình này có thành phần cây công nghiệp cây ăn quả phong phú và cây lâmnghiệp là cây nguyên liệu đem lại thu nhập tương đối cho người dân
Trong các dạng mô hình trên, dạng O – CAQ – C có VA/MH lớn nhất
80 triệu đồng/năm/MH Đây là dạng mô hình tương đối mới của xã, với cây
ăn quả là cây chủ lực, ong được đặt dưới các gốc cây ăn quả này và chăn nuôigia súc, gia cầm.Tuy nhiên dạng mô hình này chưa được nhiều hộ gia đìnhtham gia, do dạng mô hình này cần nguồn vốn đầu vào khá lớn, cùng với đó
là trình độ sản xuất nhất định và địa hình canh tác phù hợp
Dạng mô hình có số hộ tham gia nhiều tiếp theo là dạng V – C – Rg vớimức VA/MH đạt 31,4 triệu đồng/năm, đây là mức thu nhập trung bình củangười dân Ở dạng mô hình này các hộ gia đình không có diện tích đất lâmnghiệp nên việc sản xuất chủ yếu từ vườn đồi với các loại cây công nghiệp,cây ăn quả, chăn nuôi gia súc đem lại mức thu nhập khá ổn định trong thờigian ngắn
Đối với bốn dạng mô hình còn lại, nguồn thu chủ yếu của các hộ giađình này là từ cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và chăn nuôi Lúa vẫn là câylương thực được trồng phổ biến trong các dạng mô hình có ruộng của 35 hộnày Nhưng đây không phải là nguồn thu nhập mang lại hiệu quả kinh tế cao
Tùy từng dạng mô hình khác nhau, từng hộ gia đình khác nhau với mứcđầu tư khác nhau, có điều kiện đất đai, địa hình, cây trồng vật nuôi khác nhau,
số lượng và trình độ lao động khác nhau mà có được nguồn thu nhập khác
Trang 34nhau Có những dạng mô hình đầu tư cao nhưng không đem lại hiệu quả vàngược lại, có những hộ đầu tư không lớn nhưng lại có thu nhập và lợi nhuận cao.
Vì vậy mỗi dạng mô hình khác nhau để đem lại hiệu quả kinh tế caonhất cần phải cân bằng sản xuất các thành phần trong hệ thống một cách khoahọc và hợp lý, tận dụng các nguồn lực có sẵn một cách tốt nhất, khai thác mộtcách hợp lý những gì đang có tại gia đình, địa phương để đem lại hiệu quảkinh tế tối ưu nhất cho các hộ
4.3.2 Đánh giá hiệu quả môi trường của các dạng mô hình NLKH tại xã Dân Tiến
Nhiều năm trước đây, do đời sống của người dân còn gặp nhiều khókhăn, trình độ dân trí còn hạn chế, giao thông đi lại khó khăn nên người dânchỉ chú trọng làm thế nào để cùng trên một đơn vị diện tích họ có thể tận dụngđược tối đa tiềm năng sẵn có của đất đai để sản xuất, thu được năng suất caonhất đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ.Vì vậy, họ rất ít khi và hầu nhưkhông để ý đến vấn đề bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường xungquanh Đối với hầu hết người dân, kinh tế là mục đích sản xuất kinh doanh hàngđầu, kiến thức bảo vệ môi trường chưa được đi sâu vào suy nghĩ và thói quencủa họ
Vài năm gần đây, do môi trường ngày càng ô nhiễm và ảnh hưởngkhông nhỏ đến sản xuất và đời sống của họ.Vấn đề bảo vệ môi trường đãđược nêu ra và là trách nhiệm chung của tất cả mọi người Trong tất cả cácquá trình sản xuất, việc bảo vệ môi trường luôn được ưu tiên đặt lên hàng đầu
và không tách rời với các hoạt động khác Các hộ gia đình chính là những nạnnhân phải chịu những tác động, hậu quả ô nhiễm môi trường do chính mình
và mọi người xung quanh gây ra
Để đánh giá được khả năng bảo vệ môi trường của các dạng mô hìnhNLKH là rất khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian và tiến trình nghiên cứu Mặt
Trang 35khác, do hiệu quả bảo vệ môi trường không thể thấy ngay được trong thờigian ngắn nên tôi chỉ có thể đánh giá một cách khái quát thông qua phươngpháp cho điểm với những tiêu chí nhất định.
Trong quá trình đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường của các dạng
mô hình NLKH, ở mỗi tiêu chí đưa ra, dạng mô hình nào có khả năng bảo vệmôi trường tốt nhất thì cho điểm cao nhất và ngược lại, thang điểm sẽ giảmdần theo hiệu quả đối với từng tiêu chí Nội dung cụ thể và kết quả sẽ đạtđược như sau:
Bảng 4.8 Kết quả cho điểm đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường
của các dạng mô hình NLKH tại xã Dân Tiến
Dạng MH
Tiêu chí
R-V -C- Rg
R-V -C- Rg- O
-Rg
V-C -Rg
CAQ -C R-Rg
Qua bảng trên ta thấy dạng mô hình Rừng – Vườn – Ruộng đạt sốđiểm cao nhất đối với các tiêu chí điều tra là 77 điểm, xếp thứ tự ưu tiên caonhất.Xếp thứ tự ưu tiên thứ 2 là dạng mô hình Rừng – Vườn – Chuồng –Ruộng với 76 điểm Hai dạng mô hình có điểm thấp nhất là dạng mô hìnhVườn – Chuồng – Ruộng đạt 64 điểm và Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng –
Trang 36Ong đạt 65 điểm Sự chênh lệch về điểm giữa các tiêu chí đối với từng dạng
mô hình là không lớn lắm, điều này chứng tỏ hiệu quả bảo vệ môi trường củacác dạng mô hình NLKH này là khá tốt và có hiệu quả cao trên địa bànnghiên cứu
4.3.3 Đánh giá hiệu quả về xã hội
Một số hộ canh tác được các hộ gia đình và người dân chấp nhậnphụ thuộc vào một số yếu tố sau: Vốn đầu tư, hiệu quả giải quyết công ăn việclàm, giá trị kinh tế mang lại, tận dụng được các nguồn lực có sẵn, sản phẩmđầu ra dễ tiêu thụ đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Dựa vào kết quả của việc điều tra đánh giá có sự tham gia của ngườidân, đồng thời căn cứ vào cơ cấu thu chi của các dạng mô hình NLKH hiện
có, tôi tiến hành nghiên cứu hiệu quả xã hội của các dạng mô hình NLKH tại
xã Dân Tiến theo các tiêu chí sau:
4.3.3.1 Hiệu quả giải quyết công ăn việc làm cho người dân
Đối với xã hội Việt Nam hiện nay nói chung và đối với ngành nông lâmnghiệp nói riêng, vấn đề đang được Đảng và nhà nước cũng như các cấp, cácngành quan tâm chú trọng đến đó là việc giải quyết công ăn việc làm cho sốlao động dư thừa Không chỉ những lao động ở thành phố, đô thị mà đặc biệt
là lao động ở khu vực nông thôn Vì vậy ở nông thôn, tỷ lệ phụ nữ, người già
và trẻ em chiếm tỷ lệ rất lớn[10]
Trong thực tế mỗi loại mô hình sản xuất NLKH đều cần sử dụng và có
số lao động khác nhau, không có loại mô hình NLKH nào mà số công laođộng khác mô hình nào Vì vậy, loại mô hình nào có số lao động dải đều khắp
cả năm thì được đông đảo người dân chấp nhận và áp dụng nhiều trong sản xuất
Lý do là dạng mô hình đó đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội là giảiquyết công ăn việc làm cho số lao động dư thừa trong năm và mang lại thunhập đáng kể Mặt khác, cũng giải quyết được tâm lý mong muốn có việc làm
Trang 37thường xuyên cho người dân và hạn chế được những tiêu cực, các tai nạn nảysinh trong xã hội Hiệu quả giải quyết công ăn việc làm được thể hiện quabảng sau:
Bảng 4.9 Kết quả điều tra các dạng hệ thống theo số ngày công
Dạng MH
Số CLĐ
R-V -C- Rg
R-V -C- Rg- O
R-V R-V
-Rg
V-C -Rg
CAQ -C
4.3.3.2 Khả năng phát triển hàng hóa của dạng mô hình NLKH
Khả năng phát triển hàng hóa của dạng mô hình NLKH được thể hiệntrên nhiều khía cạnh khác nhau, có thể được thể hiện bằng sản phẩm của cây
Trang 38trồng ,vật nuôi trong dạng mô hình đó hoặc mức độ tiêu thụ Để đi sâu tìmhiểu và đánh giá khả năng này chúng ta cần xem xét các chỉ tiêu :
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Sự ổn định của giá cả sản phẩm
- Khả năng dễ chế biến bảo quản
- Nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm đó lâu dài không, mức độphổ biến sản phẩm trên thị trường
- Khả năng cạnh tranh
- Uy tín, thương hiệu sản phẩm
Qua ý kiến đánh giá của người dân và nghiên cứu thực tế trên thịtrường tôi nhận thấy, sản phẩm được làm ra từ tất cả các dạng mô hình đều trởthành mặt hàng trao đổi trên thị trường, nên mô hình nào càng tạo ra nhiềumặt hàng sản phẩm thì khả năng phát triển trên thị trường càng lớn, tính đadạng và bền vững càng cao
Các loại dạng mô hình có sản phẩm tham gia thị trường chủ yếu là từcây lâm nghiệp như gỗ, củi hay cây công nghiệp dài ngày hay ngắn ngàynhư chè, đỗ tương cây ăn quả như vải, nhãn cây thực phẩm (rau, củ,dưa ) và các sản phẩm do chăn nuôi (lợn, gà, trâu, bò, dê )
Trang 39Bảng 4.10 Đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm của mô hình
Ghi chú
Hộ gia đình
Thị trường
4.4 Kết quả điều tra một số dạng mô hình NLKH đại diện tại xã Dân Tiến
Trang 40Qua tiến hành điều tra trực tiếp từ 35 hộ, tôi tiến hành phân loại dạng
mô hình và nhận thấy, mỗi loại mô hình đều có những nét đặc trưng riêng vàhiệu quả kinh tế khác nhau Để hiểu rõ hơn về điều này, tôi tiến hành điều tra
3 dạng mô hình tại 3 thôn của xã
Do điều kiện của mỗi khu vực là khác nhau nên tình hình canh tác làkhông giống nhau, tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn nên với mỗi thôntôi chọn ra một dạng mô hình điển hình và tiến hành điều tra, nghiên cứu Tạithôn Đồng Quán tôi tiến hành điều tra dạng mô hình Rừng – Vườn – Chuồng– Ruộng, tại thôn Làng Chẽ tôi tiến hành điều tra dạng mô hình Vườn –Chuồng – Ruộng, tại thôn Làng Mười tôi tiến hành điều tra dạng mô hìnhRừng – Vườn – Ruộng
Loại 1: Dạng mô hình Rừng – Vườn – Chuồng – Ruộng đây là dạng môhình có quy mô tương đối lớn, có kết cấu chặt chẽ và phức tạp Dạng mô hìnhnày gồm có cây lâm nghiệp + cây công nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày + cây
ăn quả + gia súc, gia cầm + ruộng Dạng mô hình này mang tính bền vững cao
vì có sự hỗ trợ qua lại của nhiều thành phần Lượng vốn bỏ ra tương đối cao,đòi hỏi các hộ tham gia phải có điều kiện về đất đai, nhân lực và tài chínhnhất định, có kỹ thuật canh tác đem lại hiệu quả kinh tế cao
Loại 2: Dạng mô hình Vườn – Chuồng – Ruộng, dang mô hình này baogồm cây công nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày + cây ăn quả + gia súc, giacầm + ruộng Dạng mô hình có mức đầu tư trung bình nhưng sản phẩm môhình đem lại có lợi nhuận đáng kể cho hộ sản xuất
Loại 3: Dạng mô hình Rừng – Vườn – Ruộng, thành phần của dạng môhình này gồm có cây lâm nghiệp + cây công nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày+ cây ăn quả + ruộng Dạng mô hình có diện tích đất sản xuất rộng, do đó tậptrung nhiều cho sản xuất lâm nghiệp, địa hình phức tạp, kết cấu chặt chẽ,lượng vốn bỏ ra ở mức trung bình, thu nhập đạt mức khá