MỤC LỤC Phần I: MỞ ĐẦU 7 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 7 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 9 1.2.1. Mục tiêu chung 9 1.2.2. Mục tiêu cụ thể 9 1.3. Ý nghĩa của đề tài 9 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 9 Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 11 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 11 2.1.1. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại 11 2.1.2. Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại 12 2.1.3. Những tiêu chí để xác định hộ là trang trại 13 2.1.4. Phát triển kinh tế trang trại 15 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kinh tế trang trại 17 2.1.6. Ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường của kinh tế trang trại 19 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 19 2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 19 2.2.2. Tình hình phát triển trang trại ở Việt Nam 21 2.2.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Phù Ninh có liên quan đến sản xuất nông nghiệp và mô hình kinh tế trang trại 24 2.2.4. Những kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan 33 Phần III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 3.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 35 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 35 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 35 3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35 3.2. Nội dung nghiên cứu 35 3.2.1. Đánh giá chung tình hình phát triển mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh 35 3.2.2. Phân tích kết quả sản xuất của một số mô hình trang trại tiêu biểu 36 3.2.3. Đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh. 36 3.3. Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 36 3.3.1. Tiếp cận nghiên cứu 36 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu 38 3.3.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 40 Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42 4.1. Đánh giá tình hình phát triển trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh 42 4.1.1. Tình hình phát triển trang trại của huyện 42 4.1.2. Thông tin đặc điểm chung của các trang trại 44 4.1.3. Thuận lợi và khó khăn trong phát triển mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh 49 4.2. Phân tích kết quả sản xuất của mộ số mô hình trang trại tiêu biểu 50 4.2.1. Các tiêu chí cơ bản 50 4.2.2. Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mô hình trang trại (MH1 và MH2) 56 4.2.3. Kết luận phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất của 2 mô hình lựa chọn đánh giá 65 4.3. Đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh 66 4.3.1. Định hướng 66 4.3.2. Giải pháp cho phát triển mô hình trang trại ở Phù Ninh 67 Phần V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75 5.1. Kết luận 75 5.2. Khuyến nghị 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT, cảm ơn các thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm.
Trong thời gian thực tập tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới thầy PGS TS Dương Văn Sơn người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ Trạm Khuyến nông, các khuyến nông viên tại các xã cùng toàn bộ các hộ gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại huyện Phù Ninh
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Trong quá trình nghiên cứu mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì những
lý do chủ quan và khách quan cho nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Minh Hải
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
Trang 5MỤC LỤC
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
Trang 6Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với đa số dân số sống ở khu vực nông thôn và đại bộ phận làm nông nghiệp Do vậy, để phát triển chúng ta phải lấy nông nghiệp làm nền tảng, phải bắt đầu từ nông nghiệp, phải thay đổi nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất manh mún sang một nền nông nghiệp tiên tiến, phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển công thương nghiệp Cụ thể như: phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, khai khoáng, sản xuất cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá, chuyên canh các vùng cây công nghiệp, trồng cây ăn quả, kinh tế trang trại, đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản
Quá khứ và hiện tại cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng, mà nổi bật lên là nền nông nghiệp của chúng ta đang có những khởi sắc đáng kể: Hàng hóa xuất khẩu của nước ta chủ yếu là nông sản, chúng ta đứng tốp đầu về xuất khẩu lúa gạo, cà phê, hồ tiêu Chính nông nghiệp đã giúp đất nước ta không bị ảnh hưởng nhiều trong thời kì khủng hoảng kinh tế vừa qua Và một trong những thành phần tạo nên tác động to lớn của nền nông nghiệp đến sự phát triển của đất nước đó là mô hình trang trại Mô hình trang trại hình thành và phát triển là một điều tất yếu của sự hội nhập, của nền kinh tế thị trường, của một nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng
Mô hình trang trại ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển mạnh trong những năm gần đây Có thể xem việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư TW (khóa IV), nghị quyết X của Bộ Chính trị (khóa VI) về phát huy vai trò tự chủ của nền kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của nền kinh tế trang trại với những thành tựu của công cuộc đổi mới Sau
Trang 7Nghị quyết TW V khóa XII (năm 1993) quy định 5 quyền sử dụng đất, thì kinh tế trang trại phát triển khá nhanh và đa dạng.
Mô hình trang trại phát triển bước đầu có hiệu quả góp phần chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp nông thôn Theo xu hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa, tạo ra nhiều vùng sản xuất tập trung, tạo tiền đề cho công nghiệp chế biến nông sản Phát triển kinh tế trang trại góp phần tăng tốc độ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khai thác thêm diện tích đất hoang hóa, cải thiện môi trường sinh thái Đồng thời huy động được vốn đầu tư lớn trong dân để đầu tư cho phát triển nông - lâm - ngư nghiệp
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển mô hình trang trại vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết như: Một số trang trại hình thành còn mang tính tự phát, hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn thiếu sự quan tâm của các
cơ quan, tổ chức kinh tế nhà nước trong việc thực hiện các chính sách như: Tín dụng, đất đai, thị trường tiêu thụ sản phẩm, khuyến nông, ứng dụng các tiến bộ KHKT Các trang trại còn gặp khó khăn trong vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường, kỹ thuật, trình độ quản lý của các trang trại còn hạn chế
Phù Ninh là một huyện trung du miền núi phía Bắc, có nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các mô hình trang trại như; đất đai rộng, lao động dồi dào Đặc biệt được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương Cùng với sự phát triển của loại hình kinh tế này trên
cả nước, mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh cũng đã có những bước phát triển nhanh và mạnh Hiện nay, trên địa bàn huyện có nhiều mô hình trang trại, sau một thời gian hình thành và phát triển đã phát huy được kết quả bước đầu Nhưng sự phát triển các mô hình trang trại trong huyện hiện nay còn gặp nhiều vấn đề khó khăn chưa được giải quyết như: trình độ quản lý, hiểu biết về khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường, vốn
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của địa phương, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Điều tra mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.
Trang 81.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Góp phần hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại, điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh một số mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh, từ đó đề xuất những biện pháp từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng phát triển trang trại trên địa bàn nghiên cứu, bao gồm thực trạng về sản xuất trang trại, thị trường và nghiên cứu một số nội dung kinh tế
- Phân tích kết quả sản xuất của một số mô hình trang trại tiêu biểu
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức lý thuyết đã được học trên lớp
- Giúp sinh viên có phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học, tiếp thu thực tế để thấy rõ được những việc mà một cán bộ khuyến nông phải làm
- Bổ sung thêm kiến thức về các hoạt động khuyến nông cho sinh viên
- Bổ sung thêm tài liệu cho khoa, trường, cán bộ khuyến nông và các cơ quan trong ngành
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo điều tra, đánh giá mô hình trang trại và kinh tế trang trại trên địa bàn xã và huyện Ngoài ra từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu, có thể cho địa phương nơi đây một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về hiện trạng phát triển mô hình trang trại và kinh tế trang trại qua đó phần nào giúp định hướng
Trang 9những kiến nghị lên cơ quan quản lí cấp trên kịp thời đưa ra những phương hướng chỉ đạo sát đúng nhằm mở rộng và phát triển mô hình trang trại và kinh
tế trang trại trên địa bàn huyện
- Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng (thuận lợi và khó khăn) chủ yếu trong phát triển mô hình trang trại và kinh tế trang trại Góp phần thúc đẩy mở rộng, phát triển về mô hình trang trại và kinh tế trang trại trên địa bàn huyện
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên của các lớp, khóa sau
Trang 10Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại
Đến nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề kinh tế trang trại Ở mỗi vùng, mỗi khu vực các tác giả đều có những nhận xét, những quan điểm riêng về trang trại và KTTT Họ nhìn nhận từ những góc độ khác nhau
và nhận thức cũng rất khác nhau Trước hết họ đã phân biệt giữa KTTT và kinh tế hộ nông dân, thấy được sự khác biệt giữa chúng Trên cơ sở đó họ đã
có những khái niệm đầy đủ và đúng đắn về trang trại và KTTT
- Theo Lê Trọng “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường được Nhà nước bảo
hộ theo luật định”
- Theo tác giả Trần Đức: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nước có mục đích chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức, quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”
Nhận thức được vai trò của KTTT trong nền kinh tế đất nước Nghị quyết của Chính phủ số 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT đã chỉ rõ
“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao
Trang 11hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”.
* Đặc trưng của kinh tế trang trại
- Trang trại là một cơ sở sản xuất - kinh doanh hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp
- Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế nông hộ nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hóa cao hơn
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương (đất đai, vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ)
- Hoạt động sản xuất - kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường
- Nguồn gốc sở hữu của trang trại là thành phần kinh tế tư nhân là chủ yếu, song do sự tác động của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế nên
nó ngày càng mở rộng ra nhiều hình thức sở hữu, từ một thành phần kinh tế đến nhiều thành phần kinh tế
Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn trên, tôi đưa ra khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại như sau:
Trang trại là một tổ chức kinh tế cơ sở lấy hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp làm mục đích sản xuất kinh doanh chính, trong đó có kết hợp thêm ngành nghề, dịch vụ phụ trợ phi nông nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau trong nông thôn, được hình thành chủ yếu trên cơ sở kinh doanh nông hộ, có quy mô sản xuất, thu nhập, giá trị và tỷ suất hàng hóa cao vượt trội kinh tế nông hộ, có năng lực tổ chức quản lý và ứng dụng cá tiến bộ khoa học công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh
tế cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
2.1.2 Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại
Trên thế giới, trải qua hàng thế kỷ đến nay trang trại gia đình đã xuất hiện, đã tồn tại, phát triển ở các nước công nghiệp phát triển và đang được mở
Trang 12rộng khuyến khích phát triển trên toàn thế giới Trang trại gia đình đã có được
vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi đất nước
Ở nước ta, kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại gia đình mới phát triển trong những năm gần đây, song các nghiên cứu đã cho thấy vai trò tích cực của nó đã thể hiện rõ nét cả về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường
a Về mặt kinh tế
Kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng nhất đối với nền kinh tế đất nước nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những sản phẩm có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, góp phần từng bước tạo nên những vùng chuyên môn hóa thâm canh cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Từ đó góp phần thúc đẩy công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn
c Về mặt môi trường
Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực lâu dài của mình
mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ môi trường trước hết là trong phạm vi trang trại Các trang trại vùng núi, đồi gò đã góp phần tích cực vào việc trồng và bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái
2.1.3 Những tiêu chí để xác định hộ là trang trại
Trang 13Tuỳ theo từng vùng, từng khu vực mà có các mức, cách nhìn nhận khác nhau Để phân biệt giữa KTTT và kinh tế hộ nông dân cần dựa trên những căn
cứ về trang trại
Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Về tiêu chí xác định kinh tế trang trại, Điều 5 quy định như sau:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;
3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
* Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
* Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế:
a Đối với trang trại trồng trọt
- Trang trại trồng cây hàng năm:
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung
Trang 14+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.
- Trang trại trồng cây lâu năm:
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung.+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên
- Trang trại lâm nghiệp:
+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b Đối với trang trại chăn nuôi
- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
- Chăn nuôi tiểu gia súc: lợn, dê
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên
- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thự thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1).
2.1.4 Phát triển kinh tế trang trại
* Vấn đề cơ bản của lý thuyết phát triển:
Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển Theo Raaman Weitz
“Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của
Trang 15con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với nhà nước, với cộng đồng” Nhìn chung các ý kiến đều nhất trí cho rằng mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân.
Phát triển kinh tế hiểu một cách chung nhất là một quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội
Từ các quan niệm trên ta thấy vấn đề cơ bản nhất của phát triển kinh tế là: Sự tăng thêm về khối lượng sản phẩm, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội; Sự tăng thêm về quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo thời gian do những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định
* Phát triển kinh tế trang trại:
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của trang trại và những mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Như vậy có thể hiểu phát triển kinh tế trang trại là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của trang trại cả về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời là quá trình giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Phát triển kinh tế trang trại phải được đặt trong mối quan hệ hài hoà với yếu tố xã hội và bảo vệ môi trường là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển bền vững của kinh tế trang trại
Trang 16Phát triển kinh tế trang trại là hình thức phát triển nông nghiệp hàng hoá Phát triển kinh tế trang trại không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng cả về chất lượng các trang trại, bảo đảm sự phát triển kinh tế theo hướng chuyên môn hoá, ở đó diễn ra sự phân công lao động mạnh mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, cũng như bảo đảm việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý và có hiệu quả Phát triển kinh tế trang trại là phát triển nền
nông nghiệp hợp lý, tiên tiến và hiện đại.
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kinh tế trang trại
2.1.5.1 Các yếu tố mang tính chủ đạo
* Yếu tố chính sách:
Yếu tố chính sách bao gồm các chính sách của Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương với mục đích xác định vai trò, vị trí của kinh tế trang trại trong nền kinh tế của đất nước, những chính sách tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển
Các chính sách về đất đai, khoa học kỹ thuật, công nghệ, chính sách tín dụng, chính sách về lao động, chính sách về thị trường, chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế trang trại là những chính sách hết sức quan trọng trực tiếp tác động vào quá trình hình thành và phát triển của các trang trại Sự tác động của các chính sách bao giờ cũng có mặt tích cực và rủi
ro do sự nhận thức của con người về các quy luật kinh tế và vận dụng vào những điều kiện cụ thể
* Yếu tố kinh tế nông hộ:
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, kinh tế nông hộ ngày càng phát triển Quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, vốn, lao động, tri thức khoa học kỹ thuật đến một quy mô nhất định sẽ hình thành kinh tế trang trại
* Yếu tố kinh tế thị trường:
Trang 17Đây là yếu tố có tính chất quyết định đến sự phát triển của kinh tế trang trại Trang trại sản xuất và kinh doanh cái gì, sản xuất kinh doanh bằng cách nào và sản phẩm làm ra tiêu thụ ở đâu lại phụ thuộc vào việc sản phẩm của các trang trại làm ra có đáp ứng được nhu cầu thị trường hay không? Rõ ràng kinh tế thị trường tạo ra những thách thức, những đòi hỏi khắt khe, đồng thời cũng tạo ra những cơ hội đối với kinh tế trang trại.
2.1.5.2 Các yếu tố khác
* Sự phát triển của khoa học kỹ thuật:
Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế trang trại Trong những năm qua nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đã được áp dụng mạnh mẽ và nhanh chóng vào trong nông nghiệp Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá như là yếu tố đầu vào cho sản xuất của các trang trại đó là các loại vật tư, phân bón, giống cây con các loại, máy móc thiết bị Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã tạo ra một khả năng to lớn góp phần tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
Số lượng trang trại ngày càng tăng lên trong đó có nhiều trang trại đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh những loại cây trồng vật nuôi, những loại sản phẩm mới có năng suất và chất lượng cao hơn và do đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại một cách rõ rệt
* Trình độ của chủ trang trại:
Việc quản lý sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại trên thực tế là quản lý một doanh nghiệp Vì vậy, chủ trang trại phải có trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho trang trại hoạt động có hiệu quả Trong nền kinh tế tiểu nông, chỉ cần có những người nông dân, chủ hộ cần cù lao động, còn trong kinh tế thị trường lại cần có những chủ trang trại
Trang 18đồng thời là chủ doanh nghiệp năng động, đủ năng lực điều hành quản lý trang trại đạt hiệu quả cao
Năng lực quản lý điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng về quản
lý tư liệu sản xuất, quản lý lao động, quản lý vốn sản xuất kinh doanh, quản lý điều hành, xây dựng kế hoạch, quy hoạch sản xuất, tiêu thụ nông sản phẩm
Tài liệu thống kê ở các nước trong khu vực cũng cho thấy trình độ học vấn chuyên môn của chủ trang trại tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu nhập của các trang trại
2.1.6 Ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường của kinh tế trang trại
- KTTT là hình thức doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội, phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và quy luật sinh học của cây trồng vật nuôi
- KTTT góp phần phát triển kinh tế của nhiều vùng, tập trung khai thác những vùng đất trống, đồi trọc, những vùng hoang hoá tạo vai trò to lớn về mặt xã hội Đồng thời sử dụng lao động dư thừa đặc biệt là lao động thời vụ ở nông thôn góp phần cải thiện đời sống, tránh những tệ nạn xã hội
- KTTT có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng
và phát triển nông thôn mới tiến tới phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, nền nông nghiệp sinh thái bền vững
+ Khái niệm thuật ngữ khác có liên quan:
- Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Marx - Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán
Trang 192.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Kinh tế trang trại phát triển đầu tiên ở Tây Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Tiếp đó, kinh tế trang trại phát triển ở hầu hết các nước công nghiệp hoá ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại Dương cho đến ngày nay Ở Châu Á, kinh tế trang trại được hình thành và phát triển muộn hơn, chủ yếu ở những nước công nghiệp đầu tiên và những năm 50
Nước Mỹ là nơi có kinh tế trang trại rất phát triển Năm 1950 ở Mỹ có 5.648.000 trang trại và có xu hướng giảm dần về số lượng Năm 1960 còn 3.962.000 trang trại, năm 1970 còn 2.954.000 trang trại và năm 1992 còn 1.925.000 trang trại Như vậy số lượng trang trại từ năm 1950 đến năm 1992 giảm bình quân là 2,6% Trong khi đó diện tích bình quân của trang trại cũng tăng lên, năm 1950 là 86 ha, năm 1960 là 120 ha, năm 1970 là 151 ha và năm
1992 là 198,7 ha, diện tích trang trại tăng bình quân hàng năm 2%
Ở Châu Âu, năm 1950 có 453.000 trang trại, đến năm 1987 giảm xuống 254.000 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,1% Nước Pháp năm
1955 có 2.285.000 trang trại, năm 1993 còn 801.400 trang trại, tốc độ trang trại giảm bình quân hàng năm là 2,7% Diện tích bình quân của trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên nước Anh năm 1950 là 36 ha, năm 1987 là 71 ha, ở Pháp 1955 là 14 ha, năm 1985 là 35,1 ha, ở Cộng hoà Liên bang Đức năm 1949
là 11 ha, năm 1985 là 15 ha, Hà Lan 1950 là 7 ha, năm 1987 là 16 ha
Như vậy, ở các nước tư bản Tây Âu và Mỹ, số lượng trang trại đều có
xu hướng giảm, quy mô trang trại lại tăng lên
Các nước Châu Á bước vào công nghiệp hoá muộn hơn các nước Âu
Mỹ hàng trăm năm Vì vậy, kinh tế trang trại sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá cũng xuất hiện muộn hơn
Trang 20Ở Nhật Bản, năm 1950 số trang trại là 6.176.000, năm 1993 là 3.691.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm là 1,2% Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha, năm 1993 là 1,38 ha, tốc độ tăng diện tích bình quân hàng năm 1,3%, ở Đài Loan, năm 1955 số trang trại
là 744,000 năm 1988 là 739.000 Tốc độ trang trại giảm bình quân 0,02% Diện tích trang trại bình quân năm 1955 là 1,12 ha năm 1988 là 1,21 ha Tốc
độ tăng diện tích trang trại bình quân hàng năm 0,2%, ở Hàn Quốc, năm 1953
có 2.249.000 trang trại, năm 1979 giảm xuống 1.172.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm 0,7%, diện tích bình quân của trang trại tăng bình quân hàng năm là 0,9%
Do bình quân ruộng đất thấp nên Nhà nước đã quy định mức hạn điền với nông dân như ở Nhật Bản, Hàn Quốc (không quá 3 ha) Ấn Độ (không quá 7,2 ha) Ở Nhật bản năm 1990 số trang trại dưới 0,5 ha chiếm 41,9%, từ 0,5%
ha đến 1 ha chiếm 30,7% trên 1 ha chiếm 25,6% Ở Hàn Quốc năm 1985 diện tích trang trại dưới 0,5 ha chiếm 29,7%; từ 0,5 đến 1 ha chiếm 34,7% trên 1
ha chiếm 35,6%
Như vậy ở Châu Á nói chung hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra chậm nên tình trạng phân tán manh mún ruộng đất cũng là một trong những trở ngại trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại Trong sự phát triển kinh tế trang trại gia đình, vấn đề tích tụ ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh không chỉ chịu sự tác động từ cạnh tranh, phân hoá mà còn chịu tác động từ chính sách luật pháp của Nhà nước
2.2.2 Tình hình phát triển trang trại ở Việt Nam
* Thời kỳ trước năm 1986:
Trang trại ở nước ta hình thành từ thời nhà Lý Lúc đầu hình thức trang trại là các điền trang thái ấp, tồn tại đến thời Pháp thuộc Điền trang thời Lý Trần là các quý tộc họ Mạc được triều đình ban bổng lộc, đồn điền thời phong
Trang 21kiến do Nhà nước phong kiến tạo lập nên Đồn điền thời Pháp thuộc chủ yếu
do hình thức bóc lột của thực dân Pháp đối với nông dân ta
Trong giai đoạn từ 1955 - 1986, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước và được giao cho các nông trường quốc doanh, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất quản lý Hộ nông dân không được coi là đơn vị kinh tế tự chủ nên không được giao quyền sử dụng đất Các chính sách của Nhà nước ban hành nhằm hạn chế thị trường tự do, ngăn cấm tự do giao lưu kinh tế nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Điều này làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển của kinh
tế trang trại, làm cho nền nông nghiệp của nước ta trì trệ, lạc hậu Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã phần nào nhận thấy sai lầm trong quản lý kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, sửa sai bằng việc ban hành chỉ thị 100/CT/TW Đây được coi là bước đột phá của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, quá trình phát triển nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn
Tóm lại, trước năm 1986, kinh tế nông nghiệp mang tính tập trung quan liêu bao cấp, chỉ có hai thành phần kinh tế chủ yếu là nông trường quốc doanh
và hợp tác xã nông nghiệp
* Sau năm 1986:
Trước những sai lầm trong quản lý kinh tế, ở Đại hội VI tháng 12/1986, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Tiếp đó, đến tháng 4 năm 1988, trong nông nghiệp có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về “Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp” Đặc biệt là từ Nghị quyết 6 khoá VI năm 1989, Đảng chỉ ra rằng gia đình xã viên trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời luật kinh tế tư nhân cũng được công bố trên báo Nhân dân ngày 3/1/1991 Đây chính là những cơ sở để kinh tế trang trại phát triển với quy mô ngày càng lớn, chất lượng hoạt động ngày càng cao
Trang 22Từ sau cơ chế đổi mới, đặc biệt là từ sau năm 1989, kinh tế trang trại phát triển rất nhanh ở các vùng Nam Bộ, Đồng Tháp Mười, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, Đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh miền núi phía Bắc Theo số liệu điều tra, năm 1989 nước ta có 5.125 trang trại, đến năm 1992 tăng lên 13.246 trang trại (tăng gấp 2,53 lần) Cùng thời gian đó, quy mô đất đai tăng từ 22.946 ha lên 58.282 ha (tăng gấp 2,5 lần), đến năm 1999 tăng lên 396.286 ha (tăng gấp 6,81 lần so với năm 1992) Cùng với sự gia tăng của quy mô đất đai, quy mô vốn bình quân 1 trang trại cũng tăng đáng kể Năm 1989, bình quân 1 trang trại có số vốn là 100,23 triệu đồng
và tăng lên 199,96 triệu đồng (tăng khoảng 2 lần) năm 1999 Nhờ quy mô vốn, đất đai tăng nên tổng giá trị sản phẩm bình quân của các trang trại trong những năm 1997 - 1999 khoảng 9.575 tỷ đồng, chiếm khoảng 7,98% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt là tỷ suất nông sản hàng hoá của các trang trại năm 1999 là 86,74%, tăng 1,1 lần so với năm 1992 (78,6%) Ngày 02/02/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Sau 12 năm thực hiện (2000 - 2012), tình hình kinh tế trang trại đã có bước phát triển mới cả về số lượng, quy mô và kết quả
Gần đây các mô hình kinh tế trang trại phát triển nhanh chóng và ngày một gia tăng về quy mô và số lượng, hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh ngày một phong phú Phạm vi hoạt động của các trang trại phân bố rộng khắp trên tất cả vùng sinh thái Kinh tế trang trại đã phát triển thêm một bước cao hơn đó là hình thức trang trại sản xuất kinh doanh kết hợp với du lịch sinh thái Loại hình này đang được phát triển mạnh ở ven các trung tâm thành phố lớn, ven các khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng Tuy chưa có số liệu cụ thể nhưng chúng ta phải ghi nhận rằng loại hình trang trại này đang hình thành và phát triển nhanh chóng là điều tất yếu khách quan
Trang 23Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế trang trại và những thành quả mà
nó đạt được trong những năm gần đây cho thấy chủ trương khuyến khích kinh
tế trang trại là hoàn toàn đúng đắn, hợp lòng dân và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường
Bên cạnh những thành tựu trên, hiện nay kinh tế trang trại ở nước ta đang gặp phải một số khó khăn chủ yếu là: Phần lớn chủ trang trại chưa được cấp sổ đỏ nên chưa yên tâm đầu tư sản xuất; thiếu vốn sản xuất; thị trường và giá cả nông sản vẫn chưa đồng bộ và chưa thực sự khuyến khích các chủ trang trại đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
2.2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Phù Ninh có liên quan đến sản xuất nông nghiệp và mô hình kinh tế trang trại
2.2.3.1 Điều kiện tự nhiên
- PhÝa B¾c gi¸p huyÖn §oan Hïng
- PhÝa Nam gi¸p thµnh phè ViÖt Tr× vµ huyÖn L©m Thao
- PhÝa T©y gi¸p thÞ x· Phó Thä vµ huyÖn Thanh Ba
- PhÝa §«ng gi¸p huyÖn LËp Th¹ch - tØnh VÜnh Phóc
Huyện Phù Ninh có huyện lỵ là thị trấn Phong Châu và bao gồm 18 xã (Trạm Thản, Tiên Phú, Liên Hoa, Vĩnh Phú, Trung Giáp, Bảo Thanh, Trị Quận, Hạ Giáp, Gia Thanh, Phú Nham, Tiên Du, Phù Ninh, An Đạo, Tử Đà, Bình Bộ, Phú Mĩ, Lệ Mĩ) với tổng diện tích đất tự nhiên là 16.724,05 ha và dân số là 110.660 người (tháng 1/2013)
Trang 24Địa hình của Phù Ninh đợc phân thành 6 cấp độ dốc:
- Cấp I (dới 30), diện tích 6.559,17 ha, chiếm 39,22% tổng diện tích
- Cấp II (từ 30 - 80), diện tích 1.072,01 ha, chiếm 6,41% tổng diện tích
- Cấp III (từ 80 - 150), diện tích 3.846,53 ha, chiếm 23% tổng diện tích
- Cấp IV (từ 150 - 200), diện tích 4.348,25 ha, chiếm 26% tổng diện tích
- Cấp V (từ 200 - 250), diện tích 667,29 ha, chiếm 3,99% tổng diện tích
- Cấp VI (trên 250), diện tích 230,79 ha, chiếm 1,38% tổng diện tích
Từ những phân tích trên cho thấy địa hình Phù Ninh tuy phong phú đa dạng nhng ít phức tạp, độ cao trung bình không lớn (không quá 50 - 60 m)
Địa hình ít phức tạp rất thuận lợi trong việc sử dụng đất vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thuận lợi cho việc bố trí quy hoạch, xây dựng các công trình công cộng nh: giao thông, thuỷ lợi
* Khớ hậu
Phù Ninh nằm ở vùng núi phía bắc Việt Nam nên mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam là nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh
Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 Đặc điểm của mùa này là nhiệt độ cao, gió thịnh hành là gió Đông nam và ma nhiều Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ngày là 26,870C, lợng ma trung bình tháng là 197,7 mm, số ngày ma trung bình là 12,3 ngày/tháng, số giờ nắng trung bình
là 4,22 giờ/ngày, tổng tích ôn toàn mùa là 5.752,50C
Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc trong tháng 3 của năm sau Mùa lạnh có nhiệt độ trung bình là 190C, lợng ma trung bình tháng là 66,2
Trang 25mm, số ngày ma trung bình là 7,8 ngày/tháng, số giờ nắng trung bình là 1,62 giờ/ngày, tổng tích ôn toàn mùa là 2.873,30C Nhiệt độ trung bình ngày là 23,60C, lợng ma hàng năm là 1715 mm, độ ẩm trung bình là 85,5%, tổng tích
ôn trong năm là 8.625,80C
* Chế độ thủy văn
Địa phận huyện Phù Ninh có sông Lô chảy qua, tổng chiều dài phần sông chảy qua là 32 km Theo kết quả tính toán lợng nớc sông Lô chảy qua huyện Phù Ninh hàng năm là khá lớn Trong các tháng mùa ma, lu lợng dòng chảy trung bình khoảng 1.647 m3/giây, trong các tháng mùa khô lu lợng dòng chảy trung bình khoảng 520 m3/giây
2.2.3.2.Điều kiện kinh tế - xó hội
* Tỡnh hỡnh đất đai
Trong sản xuất nông nghiệp đất đai vừa là đối tợng sản xuất và là t liệu sản xuất chủ yếu Do đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên này đòi hỏi phải hợp lý trên cơ sở bảo vệ và cải tạo rất cần đợc quan tâm
+ Tỡnh hỡnh sử dụng đất: Cơ cấu đất của huyện Phự Ninh thay đổi qua cỏc năm theo sự phỏt triển kinh tế của huyện
Với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 16.724,05 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ cao, năm 2013 là 12.181,07 ha (chiếm 72,84% tổng diện tích) Diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua 3 năm là 120,52 ha (bình quân qua 3 năm giảm là 0,49%) Trong đú, diện tớch đất sản xuất nụng nghiệp và đất lõm nghiệp giảm là: 34,62 ha và103,64 ha (tơng ứng
BQ qua 3 năm giảm là 0,2% và 1,56%), diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản tăng qua 3 năm là 17,74 ha tơng ứng tăng là 6,77%
Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ hơn với diện tích năm
2005 là 3.764,53 ha, chiếm 22,51% tổng diện tích Qua 3 năm diện tích đất phi nông nghiệp tăng 81,96 ha (BQ qua 3 năm tăng là 1,67%) Diện tích đất phi
Trang 26nông nghiệp tăng là do quá trình đô thị hoá, dân số tăng làm cho nhu cầu đất ở
và đất chuyên dùng đợc mở rộng Diện tích đất ở qua 3 năm tăng là 52,26 ha (BQ tăng 3,97%), đất chuyên dùng tăng là 65,77 ha (BQ tăng 1,61%) Diện tích
đất cha sử dụng giảm qua 3 năm là 1,85 ha (BQ giảm 0,12%)
Trang 27Bảng 2.1: Tình hình phân bổ đất đai của huyện Phù Ninh qua 3 năm (2011 - 2013)
Trang 28Các chỉ tiêu bình quân của huyện có sự biến động nhỏ, bình quân đất nông nghiệp/khẩu giảm dần qua các năm, đến năm 2013 chỉ còn 0,11 ha/khẩu
đã giảm 0,003 ha (BQ qua 3 năm giảm 1,34%) Bình quân đất nông nghiệp/lao
động cũng giảm dần qua 3 năm, lợng giảm là 0,019 ha (giảm 4,58%) Bình quân đất sản xuất nông nghiệp/khẩu cũng giảm, từ 0,081 ha (năm 2003) còn 0,079 ha (năm 2013), giảm 1,24% Đất sản xuất nông nghiệp/lao động giảm từ 0,17 ha (năm 2011) còn 0,159 ha (BQ 3 năm giảm 3,29%)
Tóm lại, điều kiện đất đai ở Phù Ninh khá thuận lợi cho phát triển mụ hỡnh trang trại, vùng núi phát triển cây ăn quả, cây lâm nghiệp, vùng đồng bằng phát triển chăn nuôi, thuỷ sản
* Tỡnh hỡnh dõn số và lao động
Trong quỏ trỡnh sản xuất, dõn số và lao động là một trong những yếu tố quyết định quan trọng đến hiệu quả cụng việc, là một trong những nguồn lực tỏc động mạnh đến quỏ trỡnh sản xuất của xó hội Dõn số ngày một tăng, nhu cầu đất ở tăng theo đó làm cho diện tớch đất nụng nghiệp giảm xuống
+ Tỡnh hỡnh hỡnh dõn số: Tổng số nhân khẩu tăng lên 2035 khẩu từ 108.625 khẩu (năm 2011) đến 110.660 khẩu (năm 2013) (BQ qua 3 năm tăng 0,93%) Trong đó, khẩu nông nghiệp chiếm một lợng lớn, năm 2005 là 91.460 khẩu chiếm 82,65% tổng nhân khẩu, qua 3 năm khẩu nông nghiệp tăng là
1802 khẩu (BQ tăng 0,99%) Khẩu phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nh năm 2005 là 19.200 chiếm 17,35%, tuy khẩu phi nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ nhng đang dần chuyển dịch cơ cấu, BQ qua 3 năm tăng 233 khẩu (tăng là 0,61%)
Trang 29Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Phù Ninh qua 3 năm (2011 - 2013)
Chỉ tiờu ĐVT SL Năm 2011 CC (%) SL Năm 2012 CC (%) SL Năm 2013 CC (%) 12/11 So sỏnh (%) 13/11 BQ
1 Tổng nhõn khẩu Khẩu 108.625 100,00 109.578 100,00 110.660 100,00 100,88 100,99 100,93
Trang 30+ Tỡnh hỡnh lao động: Tổng số lao động của huyện qua 3 năm tăng lên
3616 lao động (BQ qua 3 năm tăng 3,45%) Trong đó, lao động nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn là 86,02% (năm 2013), lao động nông nghiệp tăng lên 2844 lao động (tăng 3,14%) Lao động phi nông nghiệp tăng với tốc độ khá cao là 772 lao động (tăng 5,39%) Đó là sự chuyển dịch cơ cấu từ lao
động sản xuất nông nghiệp sang lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất tăng lên Đây là tín hiệu tốt cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong huyện, lao động chuyển dần sang lao động phi nông nghiệp với trình độ, thu nhập cao hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
Tổng số hộ qua 3 năm tăng lên 1492 hộ (BQ tăng 2,95%) Trong đó hộ nông nghiệp tăng lên là 2,82% từ 20.612 (năm 2003) đến 21.790 (năm 2005)
Hộ phi nông nghiệp tăng lên 314 hộ (BQ tăng 3,59%) Hộ nông nghiệp tuy số tơng đối tăng thấp hơn hộ phi nông nghiệp nhng số tuyệt đối hộ nông nghiệp tăng lên là 1178 ngời
Bình quân khẩu/hộ giảm dần qua 3 năm từ 4,36 khẩu (2003) còn 4,19 khẩu (2005), (BQ qua 3 năm giảm 1,97%) Bình quân (BQ) lao động/hộ qua 3 năm tăng lên là 0,22 lao động (BQ tăng 0,48%)
Nói chung, tình hình dân số lao động ở Phù Ninh ổn định, lực lợng lao động nông nghiệp đã chuyển dần sang lao động phi nông nghiệp Với số lao động bình quân trên hộ ta thấy, lao động ở huyện là khá dồi dào thuận lợi cho phát triển mụ hỡnh trang trại
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện trình độ, năng lực sản xuất cũng nh sự phát triển kinh tế xã hội của địa phơng Cơ sở vật chất là điều kiện không thể thiếu trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế xã hội Mức trang bị ngày Càng cao thỡ sản xuất càng phỏt triển, năng suất lao động càng tăng Tuy nhiờn, trong việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phải đảm bảo tớnh hợp lý,
Trang 31đồng bộ phù hợp với trình độ quản lý và điều kiện sản xuất cụ thể của từng vùng thì mới đem lại HQKT cao Trong sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng cần thiết và trực tiếp phục vụ cho sản xuất nh: hệ thống thuỷ lợi, nhà kho, hệ thống đờng giao thông, thông tin liên lạc, điện lới, ngoài ra, còn nhóm cơ sở hạ tầng gián tiếp phục vụ cho sản xuất nh : Y tế, giáo dục, dịch vụ.
Bảng 2.3: Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện Phù Ninh
Trang 32+ Tỡnh hỡnh cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện:
- Về giao thụng: Huyện Phù Ninh có tuyến quốc lộ 2 chạy qua với tổng chiều dài là 17 km chạy dọc theo phía tây của huyện, bên cạnh đó hệ thống đ-ờng tỉnh lộ, huyện lộ và các tuyến giao thông nông thôn đợc bố trí hợp lý, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và lu thông hàng hoá trên địa bàn huyện cũng nh với các huyện lân cận Trong đó đờng tỉnh lộ dài 78,5 km đã đợc dải nhựa, đờng huyện lộ có tổng chiều dài là 16 km đã đợc dải nhựa 3 km Hệ thống đờng liên xã, liên thôn, nội thôn, nội đồng có tổng chiều dài 770 km đã
- Y tế: Y tế của huyện đảm bảo chữa trị cho nhân dân trong huyện, ngoài bệnh viện huyện còn có các trạm xá với đội ngũ cán bộ có tâm huyết với nghề, hiện nay toàn huyện có 11 bác sỹ, 23 y sỹ
- Giáo dục: Giáo dục có bớc phát triển mạnh, số trờng trung học phổ thông là 5 trờng, trung học cơ sở là 21 trờng, tiểu học là 21 trờng, đến nay toàn huyện có 11 trờng đạt chuẩn quốc gia
Trang 332.2.4 Những kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan
Từ khái quát tình hình phát triển trang trại ở một vài nước và ở Việt Nam, điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Phù Ninh, các bài học có thể rút ra cho phát triển mô hình trang trại ở Việt Nam và Phù Ninh là:
Thứ nhất, quá trình phát triển mô hình trang trại ở hầu hết các nước trên
thế giới (các nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển) đều có xu hướng chung là:
- Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá, số lượng trang trại nhiều, quy mô
nhỏ Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng trang trại giảm, quy
mô tăng
- Mô hình trang trại là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp trong
quá trình công nghiệp hoá Chính công nghiệp hoá đã đặt ra yêu cầu khách quan cho công nghiệp hoá và tạo điều kiện cho kinh tế trang trại hình thành
và phát triển
- Mô hình trang trại là kết quả tất yếu của kinh tế hộ gắn với sản xuất
hàng hoá Kinh tế trang trại có thể và có điều kiện phát triển ở tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp và tất cả các vùng khác nhau (đồi núi, đồng bằng và ven biển, )
- Các trang trại phát triển theo xu hướng gia tăng về quy mô (vốn, lao
động, ) trên một đơn vị diện tích
Thứ hai, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, lao động
Thứ ba, bồi dưỡng và đào tạo chủ trang trại là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới ở nhiều nước công nghiệp phát triển, chủ trang trại muốn được Nhà nước công nhận về trình độ quản lý và tư cách pháp nhân, phải tốt nghiệp các trường kỹ thuật và quản lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực
Trang 34tập lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác Ở nước ta, chủ trang trại xuất thân từ nông dân chiếm đa số Điều này hạn chế khả năng
áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ở trong nước và trên thị trường quốc tế, đòi hỏi chủ trang trại phải có trình độ quản lý cao để có khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế
Thứ tư, sự hình thành và phát triển thị trường tiêu thụ nông sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mô hình trang trại
Thứ năm, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển mô hình trang trại
Nguyên tắc chung của hội nhập kinh tế quốc tế là phải giảm dần thuế nhập khẩu, hạn chế định lượng, để thúc đẩy cạnh tranh tự do, lành mạnh, bình đẳng cho nông sản của các nước Các chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ đầu ra cho kinh tế trang trại dần được thay thế bằng đầu vào (cơ sở hạ tầng, nghiên cứu khoa học, đào tạo lao động, ) Để các trang trại nước ta có thể hội nhập tốt vào kinh tế thế giới, các chính sách cho phát triển kinh tế trang trại cần chú ý đặc biệt đến hỗ trợ đầu vào cho sản xuất của trang trại
Trang 35Phần III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số trang trại điển hình trên địa bàn huyện Phù Ninh theo mô hình, điều kiện sinh thái khác nhau và mối quan hệ giữa các ngành nghề trong trang trại
+ Nghiên cứu tình hình phát triển mô hình trang trại qua năm 2013
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu điều tra về sản xuất của trang trại, về thị trường sản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh của một
số trang trại điển hình
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
+ Địa điểm thực tập: Trạm Khuyến Nông huyện Phù Ninh - Phú Thọ + Thời gian thực hiện từ: 15/1/2014 đến 12/5/2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau đây:
3.2.1 Đánh giá chung tình hình phát triển mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh
- Tình hình phát triển trang trại của huyện
- Các dạng hình và quy mô mô hình trang trại
- Trình độ chuyên môn và độ tuổi của chủ trang trại
Trang 36- Thuận lợi và khó khăn trong phát triển trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh
- Những vấn đề nảy sinh khi phát triển mô hình trang trại huyện Phù Ninh
3.2.2 Phân tích kết quả sản xuất của một số mô hình trang trại tiêu biểu
- Sản xuất:
+ Quy mô trang trại và phân bố
+ Các đặc điểm đặc trưng của trang trại và chủ trang trại: danh tính chủ trang trại (họ tên, giới tính, thời gian hoạt động, lao động & nhân khẩu, vốn, )
+ Khoa học kỹ thuật công nghệ áp dụng: máy móc thiết bị áp dụng, + Sản phẩm: số lượng, sản lượng
- Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của một số mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh:
+ Kết quả và hiệu quả sản xuất
+ Kết quả phân tích một số chỉ tiêu kinh tế của trang trại
3.2.3 Đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển mô hình trang trại trên địa bàn huyện Phù Ninh.
- Quan điểm và định hướng giải pháp
- Các giải pháp đề xuất
3.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận vi mô:
Trang 37Thu thập thông tin thông qua tiếp xúc trực tiếp với các chủ trang trại bằng những phương pháp khác nhau.
- Tiếp cận hệ thống:
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống có nghĩa là khi tiếp cận một đối tượng nghiên cứu cụ thể phải xem xét, đặt nó trong một hệ thống mối quan hệ nhất định
Tiếp cận hệ thống dọc: Tiếp cận theo hệ thống dọc ở đây chủ yếu là theo quản lý xã hội gồm: Trung ương - tỉnh - huyện - xã - làng, bản, thôn, xóm - hộ gia đình ; theo hệ thống chính sách có: Hệ thống các chủ trương, chính sách vĩ mô của nhà nước có liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông dân, trang trại; hệ thống các chính sách, quy định của các bộ ngành Trung ương để triển khai các chủ trương chính sách vĩ mô nêu trên; hệ thống các chủ trương, quy định của địa phương có liên quan Khi xem xét về hệ thống chính sách còn phải tiếp cận các chính sách có liên quan khác như: Chính sách về đất đai; chính sách về vốn, lao động; chính sách về thị trường; chính sách về khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; các chính sách
hỗ trợ phát triển sản xuất Hệ thống chính sách này còn được xem xét trong phạm vi không gian, thời gian nhất định
Tiếp cận hệ thống ngang: Chủ yếu là hệ thống các trang trại có cùng một ngành nghề sản xuất; hệ thống các trang trại có trong cùng một thời điểm, một giới hạn địa lý nhất định như một xã, một huyện, hay trong toàn tỉnh ; Trang trại là một bộ phận gắn bó hữu cơ trong hệ sinh thái miền núi, gắn với môi trường, nguồn nước
Tiếp cận hệ thống ngành bao gồm: Tiếp cận trong một ngành sản xuất: Trong nông nghiệp thì có chăn nuôi, trồng trọt; trong ngành chăn nuôi có nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, đại gia súc, chăn nuôi gia cầm Tiếp cận đa ngành như: Nông nghiệp (trong đó có trang trại) - Lâm nghiệp (có trang trại) -
Trang 38Công nghiệp chế biến (chế biến các sản phẩm nông - lâm nghiệp) - Dịch vụ (đầu vào, đầu ra các sản phẩm từ nông nghiệp, trang trại); tiếp cận hệ thống ngành trong nghiên cứu kinh tế trang trại của hộ nông dân của huyện Phù Ninh đồng nghĩa với việc cần phân tích đánh giá xem ngành nghề sản xuất của các trang trại được tổ chức như thế nào; phân loại các loại hình cụ thể để nghiên cứu, trên cơ sở đó xem xét tính hoàn chỉnh, hợp lý và hiệu quả của hệ thống ngành cho phù hợp với trình độ sản xuất kinh doanh và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng.
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Những số liệu này được thu nhập từ việc điều tra tổng thể các trang trại của huyện được công nhận theo tiêu chí mới bằng phiếu điều tra Những số liệu này được dùng để phân tích về tình hình hiện trạng phát triển trang trại, việc đầu tư sản xuất, tiêu thụ, kết quả, hiệu quả kinh tế, những khó khăn và thuận lợi trong việc phát triển mô hình trang trại của huyện Phù Ninh
- Quan sát thực tế:
Là phương pháp thu thập thông tin một các chủ quan thông qua quan sát, đánh giá trực tiếp về điều kiện kinh tế xã hội, đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân trên địa bàn nghiên cứu Sử dụng phương pháp quan
Trang 39sát để có thể giải thích những sự kiện và hiện tượng đang nảy sinh trong đời sống, kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu.
- Phỏng vấn bán cấu trúc:
Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài Bảng kiểm kê liệt kê vấn đề cần nghiên cứu sẽ được hình thành để thu thập các thông tin số liệu liên quan
- Phỏng vấn trực tiếp bằng những biện pháp hỏi đáp trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định được tình hình, kết quả, ngoài ra còn thu thập được mong muốn, khúc mắc, những khó khăn, thuận lợi trong mỗi trang trại, phản ánh định lượng cũng như định tính của trang trại
- Điều tra phỏng vấn bằng bảng hỏi:
+ Xây dựng bảng hỏi: Nội dung, cấu trúc bảng hỏi, điều tra thử, hoàn thiện phiếu điều tra
+ Chọn mẫu điều tra: Cách chọn mẫu, dung lượng mẫu
Để nghiên cứu đánh giá đúng đắn, khách quan nhất về thực trạng các trang trại, chúng tôi dùng phương pháp: Chọn mẫu phân loại, nghiên cứu dựa trên cơ sở phân loại mô hình trang trại theo phương thức sản xuất với 15 trang trại trong tổng số 30 trang trại (năm 2013), trong đó việc lựa chọn này sẽ tạo
ra điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu của chúng tôi trong từng mô hình, từng khu vực với những điều kiện cụ thể, được chia ra thành các mô hình khác nhau:
Mô hình 1: Trồng trọt với 5 trang trại
Mô hình 2: Chăn nuôi với 6 trang trại
Mô hình 3: Thủy sản với 2 trang trại
Mô hình 4: Tổng hợp với 2 trang trại
Trên cơ sở đó, chúng tôi điều tra thực trạng trang trại bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phiếu điều tra
Trang 40+ Phiếu điều tra: chủ yếu được dùng để thu thập số liệu về tình hình chung kết quả sản xuất, chi phí sản xuất, lao động, phản ánh mặt định lượng.
+ Tiến hành điều tra chính thức để thu thập số liệu
3.3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Nhập số liệu trên Excel
Những thông tin số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ, kiểm tra độ chính xác, ngoài ra được xử lý qua máy vi tính với phần mềm ứng dụng
- Xử lý và phân tích số liệu trên Excel bằng PivotTable
Phương pháp xử lý số liệu được dùng định lượng, định tính những thông tin, tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân làm cơ sở cho phân tích
3.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
* Phương pháp phân tích kinh tế
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên cơ sở các phương pháp của thống kê Do các hiện tượng kinh tế là những hiện tượng xã hội số lớn (xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc, trong nhiều điều kiện khác nhau) Nội dung của phương pháp thống kê kinh tế bao gồm:
- Điều tra thu thập tài liệu trên cơ sở quan sát số lớn
- Tổng hợp, hệ thống hoá tài liệu trên cơ sở phân tổ thống kê
- Phân tích tài liệu qua phân tích mức độ của hiện tượng, phân tích tình hình biến động và mối liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hiện tượng
* Những nội dung chỉ tiêu kinh tế nghiên cứu chung
Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của trang trại bao gồm:
+ Giá trị sản xuất (GO) là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm.+ Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (VA): là phần chênh lệch được tính bởi hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian