1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây bương lông điện biên tại đoan hùng phú thọ” là cần thiết,

38 798 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 239 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tre trúc là loại lâmsản quan trọng đứng thứ hai sau gỗ phân bố trong một số trạng thái rừng tựnhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng ở khá nhiềunơi và có trên 20

Trang 1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Theo Manraud trước năm 1945, tỷ lệ che phủ của rừng nước ta chiếm43% tổng diện tích đất đai của cả nước nhưng theo số liệu thống kê năm

2000, tỷ lệ che phủ đó chỉ còn lại xấp xỉ 32%, theo thống kê năm 2005, độche phủ của rừng đã xấp xỉ 37% Việc khôi phục và phát triển tài nguyên rừng

là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết, việc lựa chọn cây trồng là yếu tố quantrọng quyết định tới sự thành công trong công tác này Để phủ xanh diện tíchrừng của nước ta không chỉ có cây gỗ mà còn có các loài lâm sản ngoài gỗ.Trong đó có tre trúc cũng là lâm sản ngoài gỗ (LSNG) Tre trúc là loại lâmsản quan trọng đứng thứ hai sau gỗ phân bố trong một số trạng thái rừng tựnhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng ở khá nhiềunơi và có trên 200 loài tre trên cả nước Đây là loại lâm sản ngoài gỗ có giá trịkinh tế và có đặc điểm sinh trưởng nhanh và tái sinh mạnh, trồng một lần khaithác nhiều lần nên luôn có nguồn thu hàng năm nếu trồng tre, do vậy cònđược mệnh danh là cây của người nghèo Ở nông thôn nước ta trước đây hầunhư tất cả các vật dụng trong đời sống, sản xuất đều được làm từ Tre Ngàynay tuy tốc độ đô thị hoá cao, nhiều vật dụng thay thế nhưng cây Tre cũngkhông thể vắng bóng với cư dân thành phố từ cái tăm, đôi đũa bằng Tre vẫntiện dụng hơn tăm gỗ, đũa nhựa Và khi đời sống nâng cao thì cây Tre được

sử dụng làm cảnh rất phổ biến ở thành phố Tre - Trúc là lâm sản ngoài gỗ córất nhiều công dụng, có thể nói từ thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt

để, bộ phận được sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh Do thân khí sinh củaTre - Trúc có nhiều đặc tính tốt nên sử dụng trong xây dựng nhà cửa, đóng đồgia dụng, làm bố mảng, cầu phao Hiện nay công nghiệp phát triển, Tre - Trúc

là nguồn nguyên liệu quý giá cho sản xuất giấy cao cấp, cho ván sàn, ván ép,

đồ mộc cao cấp, chiếu trúc, than hoạt tính, thủ công mỹ nghệ…, có thể nói

Trang 2

Tre - Trúc thay thế được gỗ trong nhiều lĩnh vực Với công nghệ chế biến cao,những sản phẩm sản xuất từ Tre - Trúc không những đẹp mà còn có độ bềncao, khả năng chịu nén, chịu lực tốt Mỗi loài tre có những giá trị sử dụngkhác nhau, có phân bố, đặc điểm sinh thái và kỹ thuật gây trồng khác nhau.Phân bố các loài tre từ ngay mực nước biển đến hơn 4000 m Xuất phát từcách tiếp cận từ đặc điểm sinh thái kết hợp kiến thức bản địa của người dânđịa phương để lựa chọn được loài cây phù hợp với từng vùng địa lý khácnhau Trong số các loài tre trong cả nước thì có cây Bương lông điện biên làmột trong số các loài cây đem lại lợi ích kinh tế cho người dân Để có đượclợi ích kinh tế cao thì biện pháp kỹ thuật nhân giống cũng rất quan trọng đểphát triển cây Bương lông điện biên cho năng suất và chất lượng cao nhằmcung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp Bương lông điện biên

(Dendrocalamus giganteus), có tên gọi khác là Mạy púa mơi, Bương lớn,

Bương lớn Điện Biên Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ởViệt Nam, chiều cao 15 - 20 m, đường kính gốc 20 -– 25 cm, có vách dày,chiều dài đốt từ 25 – 30 cm, ít cành nhánh, chắc và bền có khả năng cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp chế biến thay thế cho gỗ cho hiệu quả rất cao.Nhưng hiện nay việc kinh doanh cây Bương lông Điện Biên vẫn theo hướngquảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tựnhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao như vốn có của nó Đặc biệtviệc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do nhângiống bằng gốc rất hạn chế về số lượng giống, người dân chưa nắm được kỹthuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom cành nên sốlượng giống cung cấp ra thị trường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng

mô hình, hơn nữa người dân địa phương chỉ cho rằng trồng bằng giống gốcmới cho năng suất, trong khi đó nhiều loài tre mọc cụm khác việc nhân giống

và trồng bằng giống cành đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao như: Luồng

(Dendrocalamus barbatus), Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus),vv Như

Trang 3

vậy, việc gây trồng Bương lông Điện Biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật nhângiống có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng; chưađược quan tâm nghiên cứu Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi thực hiệnchuyên đềđề tài “Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Bương

lông điện biên tại Đoan Hùng - Phú Thọ” là cần thiết, để đáp ứng cơ sở

khoa học và yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông điện biên

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội biết được phương pháp giảiquyết vấn đề khoa học , tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học, giảiquyết vấn đề khoa học ngoài hiện trườngài thực tiễn

- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiêncứu đề tài cụ thể

- Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tạiđịa bàn nghiên cứu

- Đề tài góp phần xác định cơ sở khoa học xây dựng hướng dẫn kỹthuật nhân giống cây Bương lông điện biên

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống như hom thân,hom gốc, hom cành chét và một số biện pháp kỹ thuật nhân giống Bương lông

Trang 4

điện biên Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinhdoanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vữngcủa hệ sinh thái rừng.

- Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài câybương

- Giúp hiểu rõ hơn về khả năng tái sinh, phục hồi rừng và có cơ sở đề ranhững biện pháp lâm sinh như khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giầu rừng để

có thể tận dụng được những khu rừng sinh trưởng phát triển tự nhiên mang lạihiệu quả hơn cho cuộc sống của người dân cũng như việc cải tạo môi trường,tăng mức độ đa dạng sinh học

Trang 5

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae) Các

loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới Tre trúc dễtrồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng chorất nhiều mục đích khác nhau Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốcdân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi

Tre trúc thường có thân cứng như gỗ, song có đặc trưng là thân thườngrỗng trong ruột, có hệ thân ngầm và phân cành khá phức tạp, và có hệ thống

mo thân hoàn hảo, được sử dụng hiệu quả trong quá trình phân loại Thânngầm của tre trúc thường phát triển trong đất thành mạng lưới hay chỉ pháttriển thành một số đốt ngắn ở gốc cây Các đốt thân ngầm thường có nhiều rễ

và chồi ngủ Chồi sẽ mọc lên thành cây tre, trúc (thân khí sinh) trên mặt đấthay phát triển thành thân ngầm mới Tre trúc có 3 loài thân ngầm chính làthân ngầm mọc cụm, thân ngầm mọc rải và thân ngầm kiểu hỗn hợp

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tre, trúc

đã và đang được quan tâm nghiên cứu và phát triển Nhiều loài tre, trúc đượcnhân dân gây trồng để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảmxói mòn, chống sụt lở vùng đầu nguồn, ven sông suối, cung cấp nguyên liệucho chế biến, thúc đẩy phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.Đặc biệt, trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới, việc phát triển vùngnguyên liêu tre, trúc theo Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ cần được quan tâm nghiên cứu theohướng phát triển bền vững

Loài Bương lông điện biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi,Bương lớn, Bương lớn Điện Biên Là một trong những loài tre có kích thướclớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15 - 20 m, đường kính gốc 20 - 25cm, có vách

Trang 6

dày, chiều dài đốt từ 25 – 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyênliệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao Việc phát triển mở rộng diệntích trồng loài cây này rất khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về sốlượng giống, người dân chưa nắm được kỹ thuật nhân giống bằng phươngpháp chiết cành hoặc giâm hom cành nên số lượng giống cung cấp ra thịtrường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình

Các nghiên cứu về cây Bương lông điện biên rất ít, đặc biệt là nghiên

cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh, nhân giống và chế … Chính vì vậy, đềtài nghiên cứu được đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

Thân cây bương to, dài, chắc, bền nên thường được dùng làm cộtbuồm, làm nhà Các dân tộc vùng cao dùng bương lớn làm máng dẫn nước,làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quảcao Măng Bương to,ăn ngon, ăn tươi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp.Một bụi cây to có thể cho tới 180kg măng tươi/bụi/năm Măng tươi của bươngđược thị trường rất ưa chuộng vì có vị hơi đắng rất đặc biệt, măng đầu vụ cóthể bán 2.000-3.000đ/kg; trọng lượng măng lúc khai thác có thể đạt tới 15kg/măng Có bụi một năm thu được 10-15 măng Một số hộ buôn bán còn muamăng tươi về sau đó luộc và bảo quản trong chum, vại to để 4-5 tháng saumới bán cho được giá

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tre có từ rất sớm cùng với nghiên cứu phân loại các loài thực vật, đầutiên là Luoreiro (1750) khi công bố các loài tre mới Các loài tre trúc phân bố

tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao

4000 m (so với mực nước biển), song tập trung chủ yếu ở vùng thấp tới đai caotrung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [ ] Các loài tre trúc có thể mọc hoangdại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều cácmôi trường sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995) Theo Rao and Rao

Trang 7

(1995), cả thế giới có khoảng 1.250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp cácchâu lục, trừ châu Âu Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loạitre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999) [ ].Kết quả tại bảng 2.1 là số liệu năm 1995 về sự đa dạng của các loài tre trúc trênthế giới.

Bảng 1 Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới (Biswas 1995)

Nước Số chi Số

loài

Diện tích (ha) Nước-Vùng lãnh thổ

Số chi

Số loài

Diện tích (ha)

Trung Quốc 26 300 2.900.000 Singapore 6 23

Ohnberger (1999) đã thống kê trên thế giới có 1575 loài tre, thuộc 111chi, 10 phân tông và 6 tông Nhân giống tre được nhiều tác giả quan tâm và

đề cập đến như Banik (1979, 1985), Hassan (1977), R Swarup & A

Gambhir (2008), Nautiyal et al (2008) bằng nhiều phương pháp khác như bằng hạt, chiết, nuôi cấy mô, chồi gốc Theo Banik (1979) hạt B.tulda có tỷ lệ

nảy mầm chỉ 24.78% và 5% cây con tồn tại ở vườn ươm Nhưng nhân giống

bằng gốc đạt tỷ lệ cao hơn, chẳng hạn đạt 5% ở Melocana baccifera, 9% ở B.tulda, 33% ở Oxytanenthera nigrociliata, 40% ở Dendrocalamus longispathus và 100% ở Bambusa vulgaris (Hassan 1977) [ ].

Trang 8

Phương pháp chiết tỷ lệ ra rễ ở các loài tre vách dày được áp dụng ở

Băng-la- đét đạt 45-56% ở các loài Bambusa vulgaris, B.polymorpha và D.giganteus (Banik 1985) A Benton et al (2011) nghiên cứu về phương pháp

chiết (air-layering method) đối với tre cho rằng: đảm bảo ra rễ tốt ở trên câytrước khi cắt xuống Nhưng phương pháp này chỉ áp dụng ở những vùng có

độ ẩm cao và bị hạn chế ở phần dưới của cây và thường phần này không dùnglàm vật liệu nhân giống

Chồi gốc (cành chét) của các loài Bambusa balcooa, B.longispiculata, B.tulda, B.vulgaris, Dendrocalamus longispathus, Melocana baccifera, Neohouzeaua dulloa và Oxytenathera nigrociliata đã được sử dụng để trồng

rừng ở ấn độ tỷ lệ thành công đạt 44-76% khi trồng vào tháng 4, 3-38% vàotháng 6 và chồi mầm một tuổi đạt tỷ lệ sống cao hơn cây 2-3 tuổi Nhân giống

bằng phương pháp chiết thân đối với loài Bambusa longispiculata đạt tỷ lệ ra

rễ 25% nhưng tỷ lệ ra rễ tăng lên 54% khi có xử lý với hóc môn tăng trươngIBA 200 ppm Sử dụng hóc môn IBA và NAA khi giâm hom thân (mỗi hom 1

đốt, gồm 2 mấu) đạt tỷ lệ ra rễ 80% ở Bambusa arundinacea, 70% ở Dendrocalamus strictus (S Nautiyal et al 2008).

Có 607 ha rừng tre của 9 loài (Dendrocalamus strictus, D.asper, D.hamiltonii, Bambusa bambos, B.nutans, B.balcooa,Pseudooxytanthera, Guadua angustifolia) được trồng bằng giống nuôi cấy mô Điều này rất có lợi

ích về mặt kinh tế và có thể trồng rừng qui mô lớn Công nghệ này đạt chấtlượng tốt có thể triển khai trồng rừng trên toàn quốc Ấn độ (R Swarup &Gambhir 2008)

Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) với “Cultivation & Utilization onBamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinhmăng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinhdưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cầnphải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất

Trang 9

măng và thân khí sinh Theo nghiên cứu về Dendrocalamus giganteus Loài

Dendrocalamus giganteus Munro được công bố năm 1868 (Munro 1868), đây

là một trong hai những loài tre lớn nhất của chi Dendrocalamus cũng như trecủa thế giới Loài tre này đều có đường kính thân từ 20 - 30cm, cao từ 20 -30m, vách dày 2 – 2,5 cm, vỏ có màu xanh lục Đây cũng là loài tre có giá trịkinh tế cao ở Trung Quốc Nghiên cứu của Sobita Devi và Sharma, (1993)cho rằng bao phấn dài 7,5-10 mm, bầu nhụy có lông; quả thóc thuôn dàikhoảng 7-8 mm, nhiễm sắc thể 2n = 72 Theo báo cáo của Kurseong of West

Bengal năm 1880 – 1888 thì chu kỳ ra hoa của D giganteus là khoảng 40 năm Nghiên cứu của Luxmi Chauhan et al., (1988) về tế bào của D giganteus cho thấy chiều dài sợi là 0.325 μm Các nghiên cứu về tăng trưởng

cho thấy mùa sinh trưởng bắt đầu từ tháng tám đến tháng mười một và banngày tốc độ tăng trưởng chậm, tăng trưởng nhanh hơn xảy ra vào ban đêm(Osmaston, 1918) [ ] Sharma và ctv (1972) đã sử dụng Polyethylene glycol(PEG) kết hợp với các chất bảo quản hóa học như axit boric 2 % và natri

pentachlorophenate theo tỷ lệ 1:1 để bảo quản D Giganteus [ ] Guha et al., (1975) sau khi tiến hành các thí nghiệm về D giganteus đã kết luận rằng dùng sản phẩm loài D giganteus làm nguyên liệu giấy tốt hơn loài D Strictus [ ].

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tre gần gũi với con người trong lao động sản xuất hàng ngày Từ đôiquang, chiếc đòn gánh, cán cuốc, tay hái, tay liềm, cối xay, dần, sàng, thúng,mủng… Người dân sống với ruộng đồng, bờ bãi, rặng tre, Tre thành vật dụngdựng cửa, dựng nhà, dựng nên mái ấm Tre thành nguồn vui cho trẻ thơ từchiếc thuyền lá tre đến que chuyền đánh chắt, cánh diều, chiếc sáo Từ đó cóthể thấy tre rất quan trọng đối với đời sống của người dân không chỉ cung cấpcấp nguồn thực phẩm mà còn là nguyên liệu làm các đồ vật dụng trong giađình, ngày nay tre còn được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp sảnxuất giấy

Trang 10

Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre, với 194 loàithuộc 26 chi, trong đó có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là cácloài chưa có tên hoặc có các loài/phân loài mới Trong nhiều năm trở lại đây,rất nhiều chi, loài mới được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và bổsung vào danh lục tre nứa của nước nhà Công trình đầu tiên nghiên cứu về trenứa ở Việt Nam là Camus and Camus (1923) đã thống kê có 73 loài tre trúccủa Việt Nam [ 11] Năm 1978 Vũ Văn Dũng công bố Việt Nam có khoảng

50 loài [4 ] Năm 1999 Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 123 loài, số lượngcác loài tre trúc của Việt Nam đã tăng lên đáng kể Không dừng lại ở đó vàogiai đoạn 2001-2003, Nguyễn Tử Ưởng, Lê Viết Lâm (Viện Khoa học Lâmnghiệp Việt Nam) cùng với GS Xia Nianhe, chuyên gia phân loại tre

(chi Bambusa) của Viện thực vật học Quảng Châu, Trung Quốc đã xác định ở

Việt Nam có 113 loài của 22 chi, kiểm tra và cập nhật 11 tên khoa học mới,đặc biệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu đầu được định tên khoa học ởViệt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét

nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có

11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài chưa có tên Dự đoán, nếu được thống kê đầy đủ số loài tre của

Trang 11

Việt Nam có thể lên 200- 250 loài Năm 2001 theo công bố của Chương trìnhTổng kiểm kê rừng toàn quốc, Việt Nam có 789.221ha rừng tre thuần loại,702.871ha rừng hỗn giao tre nứa tự nhiên, cộng với trên 70.000 ha rừng tretrồng và hàng trăm triệu cây tre trồng phân tán Tre đựơc sử dụng rộng rãitrong xây dựng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn; từ việc sử dụng làm cọcmóng, giàn dáo, các kết cấu cần chịu lực đến sàn, trần, mái nhà, vách ngăn,khung nhà để xuất khẩu, ước tính số lượng Tre được sử dụng trong xây dựngchiếm tới 50% sản lượng khai thác hàng năm Vì vậy trong chương trìnhtrồng mới 5 triệu ha rừng, nhóm Tre có vị trí được quan tâm Kết quả hội thảo

"Xác định loài cây trồng rừng và chọn loài ưu tiên" tại các vùng lâm nghiệpcũng đã chọn "Tre" là loài cây trồng ở tất cả các vùng (Nguyễn Tử Ưởng,1995) [ ]

Quá trình khảo sát đã phát hiện ra một số chi được coi là mới đối với

nước ta là chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi Tre quả thịt (Melocalamus) với 10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có 1 loài Một số loài mới được phát hiện là Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có đặc điểm

ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995) [11 ]; trúc dây

Bidoup (Ampelocalamus) có ngoại hình giống như trúc dây Ba Bể; nhiều loài nứa (Schizostachyum), le (Gigantochloa) và lồ ô (Bambusa) Một số chi có nhiều loài là chi Tre (Bambusa) có 55 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài

và chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài.

Qua một số năm điều tra khảo sát (2003-2006), Trần Văn Tiến và

Nguyễn Hoàng Nghĩa (2007) đã xác định được phân tông tre (Bambussinae) ở Việt Nam hiện nay có 8 chi: chi Tre (Bambusa), chi Le Bắc Bộ (Bonia), chi Luồng (Dendrocalamus), chi Le (Gigantochloa), chi Tre lông (Kinabaluchloa), chi Giang (Maclurochloa), chi Tre quả thịt (Melocalamus), chi Tầm vông (Thyrsostachys) mà các chi này có các loài mới hoặc mới ghi

Trang 12

nhận ở Việt Nam Dựa trên một số đặc điểm hình thái hoa của 37 loài thuộc 5chi cũng như các cơ quan dinh dưỡng nhằm giới thiệu một số đặc điểm dễnhận biết và xây dựng khoá phân loại các chi thuộc phân tông tre

(Bambusinae) ở Việt Nam [ ].

Nhu cầu về tre ở nước ta ngày càng tăng, trong khi đó diện tích tre nứa

tự nhiên đang suy giảm nhanh chóng, do vậy trong Chương trình trồng mới 5triệu ha rừng tre nứa cũng được chọn để trồng rừng để tạo vùng nguyên liệucho chế biến phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Đỗ Văn Bản (2006) đã giới thiệu

một số loài Tre thông dụng cho trồng rừng như: Dendrocalamus aff giganteurs Munro (Mạy púa mơi), Dendrocalamus aff latifflorus Munro (Mai xanh), Dendrocalamus aff pachuystachys Hsueh et D.Z.Li, Dendrocalamus (Bương hoa lớn), Dendrocalamus longivaginus sp.nov., Bambusa sinospinosa McClure (Tre là Ngà), Dendrocalamus minor (McClure) chia et Fung ( Tre mỡ Lạng Sơn), Phyllostachys hetercycla (Carr.) Mitford, Bambusa bicorniculata sp nov (Dendrocalamus barbatus Hsuch et D Z Li ( Luồng, mét), Dendrocalamus yunnanicus Hsuch et D Z Li ( Mai dây, mai

ống),…

Các nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh tương đối phong phú Các nghiêncứu tập trung các vấn đề nhân giống, khảo nghiệm, kỹ thuật gây trồng, kỹthuật chăm sóc và khai thác các loại riêng biệt Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉchú trọng vào một số loài có giá trị kinh tế cao và trồng tập trung (ví dụLluồng, Ttre điền trúc ), trong khi còn rất nhiều loài rất có tiềm năng phân

bố trong rừng hỗn giao tre nứa khắp Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu vìcác mục tiêu khai thác sử dụng, cũng như đa dạng sinh học và bảo tồn

2.3 Tình hình kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Trang 13

Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giớigiữa tỉnh Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang Diện tích tự nhiêncủa huyện Đoan Hùng là 302,4 km² Ranh giới hành chính của huyện đượcxác định như sau:

+ Phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh

+Phía Nam giáp huyện Thanh Ba

+Phía Tây Nam và phía Tây giáp huyện Hạ Hòa, đều là các huyện củatỉnh Phú Thọ

+Phía Tây Bắc, Đoan Hùng giáp huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái +Phía Bắc và phía Đông, huyện Đoan Hùng giáp các huyện của tỉnhTuyên Quang, kể từ Bắc sang Đông lần lượt là các huyện: Yên Sơn (phíaBắc) và Sơn Dương (phía Đông) Trên phần phía Đông Bắc huyện có đoạncuối của sông Chảy (phần hạ du thủy điện Thác Bà), đổ nước vào sông Lôngay tại đây Men theo phần lớn ranh giới với huyện Sơn Dương - TuyênQuang, là dòng sông Lô, một con sông lớn của hệ thống sông Hồng, nhưngngã ba sông Chảy - sông Lô lại nằm sâu trong lòng huyện

2.3.1.2 Địa hình

Với đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ miền trung du và miền đồi núicao, huyện Đoan Hùng có tổng diện tích đất tự nhiên 30.244,47 ha Trong đódiện tích đất gò đồi chiếm phần lớn diện tích Địa bàn huyện Đoan Hùng nằmtrên trục quốc lộ 2 và quốc lộ 70, địa hình phức tạp đồi núi xen kẽ các cánhđồng lầy thụt huyện có 27 xã và một thị trấn, gồm 14 dân tộc, trong đó dântộc kinh chiếm phần lớn dân số trong vùng

Địa hình của huyện khá phức tạp thấp dần từ bắc xuống nam, từ tâysang đông độ dốc trung bình 3-5 độ, có nhiều cánh đồng chua, lầy thụt, nằm ởcác khe dốc, có chiều dài từ tây bắc xuống đông nam là 31 km, chiều rộng từđông sang tây là 14 km sự thay đổi đọ cao của các vùng trong huyện thấp dần

về phía sông lô, sông chảy, cụ thể địa hình được chia làm 3 tiểu vùng

Trang 14

Tiểu vùng 1 ( tiểu vùng Thượng huyện) diện tích là 12.347 ha bao gồm

9 xã: Bằng Luân, Minh Lương, Bằng Doãn, Quế Lâm, Phúc Lai, Đông khê,tây Cốc, Ca Đình, Ngọc Quan) chiếm khoảng 41%tổng diện tích tự nhiên Địahình nơi đây có nhiều núi cao, rừng tự nhiên suy kiệt, chủ yếu là rừng trồng,

đọ dốc trung bình 12-25 độ với dải gò đồi bát úp mấp mô có đọ cao trungbình từ 50-100m tạo nên khoảng giưa là các thung lũng nhỏ hẹp thích hợp chotrồng rừng sản xuất, cây công nghiệp và cây ăn quả

Tiểu vùng 2 (tiểu vùng vên sông Lô, sông Chảy) có diện tích là 10.800 habao gồm 13 xã ( chí Đám, Vân Du, HÙNg quan, nghinh xuyen, phuong trung,phong phú, thị trấn đoan hùng, hữu đô, phú thứ, đại nghĩa, hùng long, sóc đăng,

vụ quang), chiếm 35,7 diện tích tự nhiên, là vùng chuyển tiếp có dạng núi thấpxen kẽ các dải đồng bằng hẹp ven sông lô, sông chảy đất vùng ven sông nên chủyếu là đất phù sa cổ và 1 phần sình lầy, thích hợp cho trồng cây lương thực, raumàu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả

Tiểu vùng 3 (tiểu vùng hạ huyện) có diện tích là 7.097,47 ha, bao gồm

6 xã Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Minh Tiến)chiếm khoảng 23,5% tổng diện tích tự nhiên, dạng núi thấp, xen kẽ vùng đồibát úp có nhiều cánh đồng dạng lòng chảo , có đọ cao phổ biến từ 25- 50 m,

có ưu thế về chăn nuôi, trồng cây công nghiệp dài ngày và cây nguyên liệucho nhà máy giấy bãi bằng

Bảng … 2.2 Đặc điểm địa hình của huyện theo dạng địa hình năm 2007

Dạng địa hình Diện tích (ha) Đặc điểm

1 Dạng thấp trũng 6.450 Chiếm khoảng 21,3% tổng DTTN,

độ cao từ 13,5m – 25m xen kẽ cácdải đồi phân bố không liên tục, có

độ dốc 0 -8 độ

2 Dạng gò đồi 14.244,3 Chiếm 47% tổng DTTN, gồm có

gò đồi thấp với độ cao 30m- 50m

và gò đồi cao với đọ cao 50- 100m,

Trang 15

Đoan Hùng thuộc vùng trung du bắc bộ, chịu ảnh hưởng của nhiệt đới

gió mùa nóng ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa lượng mưa cao, cườngđộọ mạnh chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, trời nắng gắt đôi khi cónhững đợt lốc xoáy cục bộ và mưa đá Mùa khô ít mưa, có gió mùa Đông Bắcthổi vào, trời rét, nhiệt độ thấp

Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:

- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24ºc, mùa nóng nhiệt độ từ

27 - 28ºC, mùa lạnh nhiệt độ từ 15 - 16ºC

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình 1780 mm/năm, phân bố theo mùa

rõ rệt mùa mưa kéo dài 7 tháng ( tháng 5- tháng 11)

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hằng năm là 85%, mùamưa độ ẩm cao có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 24%

2.3.1.4 Thuỷ văn.

Huyện chịu ảnh hưởng chủ yếu của hệ thống sông Chảy và sông Lô.Sông Lô chảy qua huyện từ xã Chí Đám tới xã Vụ Quang qua các xã: ChíĐám, thị trấn Đoan Hùng, Sóc Đăng, Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ, HùngLong, Vụ quang, với chiều dài 25km

Sông Chảy có chiều dài qua huyện khoảng 22 km bát đầu từ vùng tiếpgiáp Yên Bái là Đông Khê, Quế Lâm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam quacác xã Phương Trung, Nghinh Xuyên, Phong Phú, Hùng Quan, thị trấn ĐoanHùng, Vân Du, Chí Đám và đổ vào sông Lô tại Mom Cầy (Ngọc Trúc - ChíĐám)

Trang 16

Hai con sông này có lượng phù sa thấp hơn sông Hồng, nước chảy xiết,vào mùa mưa lũ hợp lại gây nên những trận lụt lớn cho vùng, lưu lượng1.150m/s vì vậy công tác phòng hộ đê được cấp chính quyền và nhân dântrong vùng rất coi trọng.

- Ngòi, với 28 ngòi ( ngòi Nạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi sống, ngòiruỗn, ngòi Rằm …), cứ bình quân 3,36 km² lưu vực 1km ngòi dài tạo nên chohuyện một hệ thống tưới tiêu phong phú, vùa đẻ tiêu nước khi mưa lũ, và đưanước lên các xã vùng thượng huyện vào mùa khô

- Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên nền phù sa cổ: Đất có hàmlượng

mùn và đạm tổng số nghèo, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo,kali tổng số và trao đổi giàu và trung bình Nhóm đất này thích hợp với đấtsản xuất lâm nghiệp

- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Đất này được hình thành

do sản

phẩm dốc tụ Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là thịt trung bình đếnthịt nặng Hàm lượng mùn và đạm tổng số khá, lân tổng số và lân dễ tiêunghèo, đất có độ PH chua và rất chua Nhóm đất này chủ yếu sử dụng để gieotrồng lúa nước và các loại cây màu

Trang 17

- Nhóm đất Feralít phát triển trên tầng đá mẹ sa thạch, phiến thạch, đấtnghèo

dinh dưỡng, có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình Độ PH củađất chua, hàm lượng mùn và đạm tổng số nghèo, lân tổng số và lân dễ tiêutrung bình, kali nghèo Nhóm đất này thích hợp cho các loài cây công nghiệpnhư: Chè

- Nhóm đất phù sa sông suối, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đếnthịt

nặng Đất có phản ứng trung tính, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá,lân tổng số giàu và dễ tiêu, ka li tổng số và trao đổi nghèo Nhóm đất nàythích hợp với một số cây ngắn ngày như: Ngô, Đậu tương

2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

2.3.2.1.Hiện trạng dân số, dân tộc, lao động và phân bố dân cư

Trang 18

a) Dân số

Năm 2010, dân số Đoan Hùng là 104.471 người; mật độ dân số bình quân345,23 người/km2, dân số nông thôn chiếm 93,63% và dân số thành thi chiếm6,37% Số người trong độ tuổi lao động là 57.000 người, chiếm 54,56% tổngdân số (trong đó lao động hoạt động trong khu vực kinh tế Nhà nước có 2,7nghìn người, chiếm 0,005% tổng số lao động) Cơ cấu dân số của huyện ĐoanHùng là dân số trẻ, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và trẻ em ở độ tuổi laođộng và trẻ em ở độ tuổi đi học và chưa đi học lớn, chiếm trên 80% tổng dân

số toàn huyện

b) Lao động

Trong giai đoạn 2010 – 2020 huyện sẽ phấn đấu tạo công ăn việc làm

cho người lao động, đưa thêm các ngành nghề mới vào sản xuất, xây dựng cácTrung tâm đào tạo và hướng nghiệp, tạo thêm lực lượng lao động mới có taynghề và trình độ kỹ thuật cao Công tác đào tạo, dạy nghề đã được các cấp,các ngành quan tâm Các trường, lớp, trung tâm dạy nghề phát triển dướinhiều hình thức, dạy nghề ngắn hạn phát triển mạnh Thông qua việc thựchiện các chương trình, mục tiêu và các dự án phát triển kinh tế - xã hội,chương trình quốc gia về giải quyết việc làm; trong giai đoạn từ 2005 - 2012huyện đã tạo việc làm mới và làm thêm cho gần 25.000 lao động với các nghềchính như may mặc, thêu ren, sửa chữa cơ khí, điện dân dụng, tin học vănphòng, dược, chăn nuôi, trồng trọt,

2.3.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

a) Giao thông

Trang 19

- Đường bộ: Đoan Hùng có mạng lưới giao thông phát triển, xuyên dọchuyện có 2 tuyến đường quốc lộ 2 và quốc lộ 70 Trong đó 12 xã có đườngquốc lộ đi qua và 16 xã có đường rải cấp phối Đến nay có 28/28 xã, thị trấntrong huyệncó đường giao thông đến tận trung tâm xã, tạo thành mạng lướinối liền giữa các xã trong huyện với trung tâm huyện và các trung tâm kinh tếtrong vùng.

- Đường thuỷ: Có 2 hệ thống đường thuỷ quan trọng trong lưu thônghàng hoá và các lâm đặc sản trong khu vực đó là sông Lô và sông Chảy

b) Thủy lợi

Toàn huyện hiện có 70 km kênh mương; 14 trạm bơm với công suất tưới1.400 ha và tiêu 450 ha Hệ thống mương máng dẫn nước cũng thường xuyênđược đầu tư cải tạo và xây mới Tổng diện tích đất được tưới có 3.200 ha,diện tích còn lại vẫn còn phải chờ vào nước mưa nên thường xuyên ở trongtình trạng khô hạn.Do địa hình của huyện chủ yếu là đồi, các cánh đồng nhỏ

lẻ, phân tán, thung lũng hẹp không bằng phẳng Vì vậy, vấn đề thuỷ lợi củahuyện chủ yếu là đắp đập, làm mương, phải giữ nước phục vụ việc tưới chosản xuất nông nghiệp theo phương thức tự chảy Đồng thời hiệu quả sử dụngcủa các hồ đập còn ở mức thấp, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp và khai thác cóhiệu quả hơn nữa các công trình thuỷ lợi nhằm đáp ứng tốt hơn cho sản xuấtnông nghiệp

c) Hệ thống đĐiện - nước

Hệ thống điện phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh của người dântrên địa bàn huyện được cung cấp từ đường dây 35KV từ Thác Bà, đường dây10KV sau trạm trung gian Tây Cốc và trạm trung gian Thanh Ba 10KV Đếnnay hệ thống lưới điện trên địa bàn huyện khá hoàn chỉnh, tất cả các xã, thịtrấn trong huyện đều có ít nhất là 1 trạm biến áp, 100% số thôn được sử dụngđiện lưới quốc gia (có 98% số hộ và 95% số dân được dùng điện lưới quốc gia để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt)

Ngày đăng: 17/04/2015, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12.Nguyễn Tử Ưởng, 2001. Tài nguyên tre Việt Nam. Thông tin KHKT Lâm nghiệp, số 6, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên tre Việt Nam
13.Lê Viết Lâm (2005), Nghiên cứu phân loại họ phụ Tre (Bambusoideae) ở Việt Nam, Tài liệu hội nghị 2. KHCN Lâm nghiệp, 20 năm đổi mới (1986-2005) - Phần lâm sinh, tr. 312-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị 2. KHCN Lâm nghiệp, 20 năm đổi mới (1986-2005) -Phần lâm sinh
Tác giả: Lê Viết Lâm
Năm: 2005
16.FAO, 2005, World bamboo resources- a thematic study prepared in the framework of the Global forest Resources Assessment 2005.FAO Sách, tạp chí
Tiêu đề: World bamboo resources- a thematic study prepared inthe framework of the Global forest Resources Assessment 2005
17.Camus E.G and A. Camus, 1923. Graminees [Graminae]. In: Lecomte M.H.and F. Gagnepain (Editors): Flore generale de L’Indo-Chine. Vol.7. Masson, Paris. pp.581 – 650 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flore generale de L’Indo-Chine
Tác giả: Camus E.G, A. Camus
Nhà XB: Masson
Năm: 1923
18.Hassan, S.M, 1977, Studies on the vegetative propagation of bamboos. Bano Biggyan Patrika (Journ. of Bang. For. S C.).6(2): 64-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on the vegetative propagation ofbamboos
11.Rao VR, Rao AN, 1995, Bamboo and Rattan, Genetic Resources and Use.Proceedings of the First INBAR Biodiversity, Genetic Resources and Conservation Working Group, 7-9 November 1994, Singapore. IPGRI, 78 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bamboo and Rattan, Genetic Resources and Use
Tác giả: Rao VR, Rao AN
Nhà XB: IPGRI
Năm: 1995
14.Nguyễn Tử Ưởng và Nguyễn Đình Hưng, 1995. Sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên tre ở Việt Nam. Tạp chí Lâm nghiệp, 8/1995, 3 - 5.15.2.Tài liệu tiếng Anh Khác
12.Wong, K.M., 1995. The Bamboos of Peninsular Malaysia. FRIM, Kuala Lumpur, Malaysia, 200pp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w